1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ)

87 383 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 790,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ)Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ)Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ)Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ)Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ)Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ)Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ)Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ)Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ THU TRANG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do TS Hoàng Thị Quỳnh Chi – Vụ pháp chế và quản lý khoa học – Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, hướng dẫn

Tất cả các tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu có điều gì sai

sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà nội, ngày 14 tháng 9 năm 2017

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thu Trang

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 6

NHỮNG VẤN ĐẾ CHUNG VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO PHÁP LUẬT 6

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 6

1.1 Quy định của pháp luật thi hành án dân sự về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 6

1.2 Khái niệm và đặc điểm về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 10

1.3 Khái quát chung về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự 15

Chương 2 29

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 29

VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC GIANG 29

2.1 Thực trạng thụ lý, ban hành quyết định thi hành án trong hoạt động xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng 29

2.2 Thực trạng thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 34

2.3 Thực trạng kê biên, giao bảo quản tài sản trong hoạt động xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 37

2.4 Thực trạng xác định giá trị tài sản trong hoạt động xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng 44

2.5 Thực trạng bán tài sản trong hoạt động xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất51 2.6 Thực trạng thanh toán tiền thi hành án trong hoạt động xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 55

2.7 Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất trong trường hợp tài sản thế chấp là tài sản hộ gia đình, tài sản chung với người khác 60

2.8 Xử lý tài sản thế chấp quyền sử dụng đất là tài sản bảo lãnh của bên thứ ba trong quan hệ thi hành án dân sự 66

Chương 3 69

PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO 69

PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 69

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất69 3.2 Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 71

3.3 Giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 76

3.4 Giải pháp, kiến nghị riêng đối với tỉnh Bắc Giang 77

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, Hoạt động cho vay có đăng ký bảo đảm của các tổ chức tín dụng và đặc biệt là hoạt động cho vay vốn có thế chấp bằng tài sản đã và đang diễn ra rất sôi động và ngày càng trở nên quan trọng, không thể thiếu trong bối cảnh nền kinh tế thị trường

Trong số các tài sản được sử dụng làm tài sản thế chấp thì quyền sử dụng đất là tài sản được sử dụng phổ biến và được bên nhận thế chấp ưa chuộng hơn so với các bất động sản khác Mặc dù, nhìn chung tính thanh khoản của tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất (QSDĐ) không cao như đối với tài sản bảo đảm thông thường khác nhưng đây lại là loại tài sản có giá trị lớn, ổn định và tồn tại mãi mãi

Thông thường chỉ khi nào khách hàng không có tài sản là QSDĐ hoặc QSDĐ đã được thế chấp hết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mà không

đủ thì bên nhận thế chấp mới áp dụng đến các biện pháp khác hoặc nhận tài sản khác làm tài sản bảo đảm

Tuy có vai trò quan trọng như vậy nhưng hiện nay việc xử lý tài sản thế chấp QSDĐ là một vấn đề nhức nhối đối với các chủ thể nhận thế chấp Ngoài những vướng mắc do nguyên nhân khách quan như thị trường bất động sản

"đóng băng" thì nguyên nhân dẫn đến tình trạng này còn do các văn bản pháp luật liên quan xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ vừa chồng chéo vừa thiếu hụt Những quy định này thực sự gây khó khăn cho các chủ thể khi xác lập, thực hiện quan hệ thế chấp và đặc biệt còn gây lúng túng cho các cơ quan chức năng khi áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp xảy ra

Từ những nguyên nhân nêu trên, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học các quy định của pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất để hiểu đúng và thực hiện đúng, cũng như phát hiện ra những điểm bất cập và hướng tới hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành là thực sự cần

Trang 6

thiết và cấp bách Lựa chọn đề tài: "Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang" làm đề

tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ, với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ, để nâng cao hiệu quả của quá trình xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ trong quá trình tổ chức thi hành án

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tình hình nghiên cứu Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luậ n văn, có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong luật dân sự Việt Nam [7]; Nguyễn Văn Hoạt (2004), Bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng bằng thế chấp tài sản [12]; Hoàng Anh Tuấn (2006), Pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Việt Nam - những vấn đề

lý luận và thực tiễn; Lê Thị Thu Thủy (2006), Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng; [27] Nguyễn Thị Nga (2009), Pháp luật

về thế chấp quyền sử dụng đất ở Việt Nam ; Đỗ Văn Đại (2012), Luật nghĩa

vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Bản án và bình luận bản án; Vũ Thị Hồng Yến (2013), Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành [30]; Phan Huy Hiếu (2012), Biện Pháp bảo đảm thi hành án dân sự [9]; Phạm Nguyễn Đức Tài (2014), xử lý tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng theo pháp luật thi hành án dân

sự [24]; và một số các bài viết có nội dung liên quan đến vấn đề xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất trên các tạp chí luật học chuyên ngành

Xét trong mối quan hệ với các nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu của

đề tài luận văn thì các công trình khoa học nêu trên đề cập đến những vấn đề

về xử lý tài sản thế chấp của tất cả các loại tài sản hoặc chỉ tập trung vào việc

Trang 7

xác lập, đăng ký giao dịch thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ theo các phương thức quy định trong pháp luật về giao dịch bảo đảm hoặc nghiên cứu hoạt động xử lý tài sản bảo đảm thi hành án nói chung mà không

đi sâu vào một loại biên pháp bảo đảm thi hành án dân sự cụ thể nào Dựa trên những ý tưởng gợi mở từ các công trình nêu trên, luận văn được xem như là một công trình nghiên cứu độc lập và có tính hệ thống về xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng của các quy định pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng

Nhiệm vụ nghiên cứu, từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau: Tìm hiểu, phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến thế chấp tài sản, quyền sử dụng đất, thế chấp quyền sử dụng đất và xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất; Nêu quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất; Phân tích ý nghĩa và vai trò của việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất; Hệ thống hóa các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đặc biệt nêu và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ theo pháp luật thi hành án dân sợ ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những vấn đề bất cập, hạn chế và nguyên nhân; Kiến nghị một số phương hướng và giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợngnghiên cứu

Luận văn tâp trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo

Trang 8

pháp luật thi hành án dân sự và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại tỉnh Bắc Giang

để đưa ra những đánh giá, nhận định về hệ thống pháp luật THADS hiện hành Thứ ba, luận văn tìm hiểu thực trạng xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ từ đó đưa

ra hướng giải quyết phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam Thứ tư, luận văn đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật

và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về xử lý tài sản thế chấp

là QSDĐ Nội dung đề tài không phân tích toàn bộ các quy định, thủ tục thi hành án dân sự, mà chỉ tập trung phân tích những hoạt động liên quan đến xử

lý tài sản thế chấp là QSDĐ có phát sinh những bất cập khi áp dụng thực tiễn tại tỉnh Bắc Giang

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở phương pháp nêu trên, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học

cơ cụ thể: phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, khảo sát để làm sáng tỏ mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài Những đóng góp mới của đề tài Luận văn có một số đóng góp mới như sau: Góp phần làm rõ hơn các vấn đề

lý luận pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ; Góp phần đánh giá đầy

Trang 9

đủ, khách quan về thực trạng pháp luật và hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ theo pháp luật THADS ở Việt Nam hiện nay nói chung và trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tập trung và có hệ thống về những vấn đề lí luận về xử lý tài thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật THADS và thực tiễn tại tỉnh Bắc Giang

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ thực trạng hoạt động xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ theo pháp luật THADS Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn những nội dung về xử lý tài sản kê biên trong quá trình tổ chức THADS tại các cơ quan THADS tỉnh Bắc Giang cũng như đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật ở khía cạnh lập pháp và thực tiễn áp dụng

Những giải pháp luận văn đưa ra có tính chất định hướng cho hoạt động tổ chức THADS nói chung và trình tự, thủ tục kê biên xử lý tài sản thế chấp là quyền

sử dụng đất nói riêng

Cùng với đó, luận văn còn có ý nghĩa là tài liệu tham khảo cần thiết cho các nhà khoa học pháp lý, cán bộ thực tiến đang Công tác tại cơ quan Thi hành án dân

sự, các sinh viên và học viên cao học

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự

Chương 2: Thực trạng pháp luật thi hành án dân sự về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Giang

Chương 3: Phương hướng, giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về

xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐẾ CHUNG VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO PHÁP LUẬT

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Quy định của pháp luật thi hành án dân sự về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất

1.1.1 Giai đoạn từ 1946 đến 1980

Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, để khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác xét xử và thi hành án dân sự, ngày 24/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 13/SL, quy định

về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán, trong đó, khoản 3, Điều 3 của Sắc lệnh quy định: Ban Tư pháp xã có quyền “Thi hành những mệnh lệnh của các Thẩm phán cấp trên” Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh

số 85/SL về “cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng” Điều 19 của Sắc lệnh này quy định: “Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ,

mà chính Tòa án huyện hay Tòa án trên đã tuyên” Theo quy định này, việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây được giao cho Thẩm phán huyện thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án

Từ năm 1960 đến năm 1980, trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và các sắc lệnh, Luật Tổ chức tòa án nhân dân, ngành Tòa án nhân dân đã quan tâm tới việc xây dựng, phát triển tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự Trong giai đoạn này, với việc ra đời chức danh Chấp hành viên và sự phát triển đội ngũ Chấp hành viên trong ngành Tòa án nhân dân các cấp, hoạt động của đội ngũ Chấp hành viên đã góp phần bảo đảm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường và bảo

vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa[6]

Trang 11

1.1.2 Giai đoạn từ 1981 đến 1993

Lần đầu tiên Hiến pháp năm 1980 đã ghi nhận thành nguyên tắc hiến định về giá trị thi hành của các bản án, quyết định: Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm túc chấp hành (Điều 137) Đây chính là những cơ sở pháp lý quan trọng giúp các cơ quan Thi hành án dân sự có những chuyển biến quan trọng trong lịch sử phát triển của mình trong giai đoạn 1981-1989

Với việc ban hành Pháp lệnh THADS năm 1989, cơ chế thi hành án đã

có bước thay đổi căn bản Theo Pháp lệnh này, cơ chế kết hợp quyền tự định đoạt của đương sự với sự chủ động của Cơ quan thi hành án và Chấp hành viên đã tạo ra sự phát triển mới trong công tác thi hành án dân sự Quyền tự định đoạt của đương sự, một trong những nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự Thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập tiếp theo giai đoạn xét xử, trong giai đoạn này người được thi hành vẫn có quyền tự định đoạt quyền lợi của mình, có quyền yêu cầu người phải thi hành án thi hành những phán quyết của Tòa án, nhưng cũng có quyền tự hòa giải, thỏa thuận với người phải thi hành án về phương thức thi hành, thậm chí không yêu cầu người phải thi hành

án thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án Quyền tự định đoạt của đương sự đã trở thành một nguyên tắc quan trọng trong công tác thi hành án dân sự

Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử giai đoạn trước khi áp dụng pháp lệnh thi hành án dân năm 1993 các quy định pháp luật về xử lý tài sản cầm cố thế chấp còn mang tính ý chí của nhà nước, Tòa án chủ động ra quyết định thi hành án, kể cả phần xử lý tài sản Nhà nước không tổ chức cơ quan thi hành

án độc lập mà chỉ trực thuộc Tòa án các cấp để tổ chức thi hành án dưới sự chỉ đạo của Chánh án Tòa án địa phương Hoạt động ngân hàng mang tính chất kế hoạch, tập trung nhiều hơn tính chất kinh doanh tiền tệ, nên việc xử lý

Trang 12

tài sản thế chấp cúng mang tính mệnh lệnh, hành chính nhiều hơn quan hệ dân

đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành; giá trị tiền, tài sản phải thi hành ngày càng lớn, tính chất ngày càng phức tạp

Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 đã quy định về xử lý tài sản cụ thể: Điều 29 Kê biên tài sản, Điều 31 Định giá tài sản đã kê biên, Điều 34 Bán đấu gái tài sản đã kê biên, Điều 36 Bán đấu giá nhà, Điều 37 Thứ tự thanh toán tiền bán tài sản Pháp lệnh Thi hành án dân sư năm 2004 có những quy định mới so với trước đây là về việc thu phí thi hành án Người được thi hành

án có đơn yêu cầu thi hành án thì phải nộp phí thi hành án đối với khoản phải thi hành án có giá ngạch tính trên giá trị tài sản mà người đó thực nhận Từ ngày 01/4/2004 các tổ chức tín dụng khi thu được nợ do cơ quan thi hành án

tổ chức thi hành cũng phải nộp phí thi hành án Mức phí thi hành án do Chính phủ quy định cho từng thời kỳ là khác nhau Quy định của pháp luật về kê biên tài sản, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản được quy định từ Điều 41 đến Điều 52 Pháp lệnh THADS năm 2004 Trình tự, thủ tục tổ chức thi hành án ngày càng được củng cố chặt chẽ, hoàn thiệt hơn trong quá trình kê biên xử lý tài sản đảm bảo thi hành án

Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 ra đời thay thế pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 đã tạo nên bước chuyển biết rõ rệt trong hoạt động thi hành án dân sự nói chung vào hoạt động xử lý tài sản thế chấp cho các tổ

Trang 13

chức tín dụng nói chúng, đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường các hoạt động tín dụng cho vay ngày cảng phát triển Tuy nhiên, pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 chưa tạo ra được những cơ sơ pháp lý cho việc xã hội hóa về thi hành án dân sự Cơ quan thi hành án dân sự vẫn phải thực hiện nhiều công việc nhưng không phù hợp với chuyên môn được đâò tạo như về định giá, về bán đấu giá…dẫn đến quá trình kê biên xử lý tài sản thể chấp để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng nhiều khi không đạt hiệu quả cao[6]

1.1.4 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay

Ngày 14/11/2008, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Thi hành án dân sự năm 2008, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước tới nay Luật thi hành án ra đời nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức cơ quan quản lý, góp phần hoàn thiện các quy định về thủ tục thi hành án, khắc phục những quy định còn chưa phù hợp của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004

Tiếp theo sự ra đời của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Chính phủ

đã ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dân thi hành luật này

Cụ thể là: Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết và hướng dấn thi hành một số điều của Luật THADS năm 2008 Việc bán đấu giá tài sản cũng được thực hiện theo Nghị định 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010

Tuy nhiên thực tế áp dụng luật lại gặp nhiều khó khăn bất cập trong công tác tổ chức thi hành án Hàng loạt những vấn đề, gải pháp được đặt ra trong quán trình áp dụng Luật THADS năm 2008 nói chung và vấn đề xử lý

nợ xấu của Ngân hàng ngày cảng tăng cao, các hoạt động tín dụng ngày càng phong phú đa dạng, quán trình phát triển nền kinh tế hội nhập của các Doanh nghiệp không tránh khỏi nhứng rủi ro khi tham ra vào sân chơi kinh tế quốc

tế, và hàng loạt các tổ chức cá nhân, Doanh nghiệp vay vốn thế chấp tài sản Ngân hàng không trả được nợ, khởi kiện ra tòa và có đơn yêu cầu thi hành án Vấn đề xử lý tài sản kê biên diễn ra ngày càng phức tạp, nhiều quy định Luật THADS 2008 chưa điều chỉnh kịp

Trang 14

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, ngày 25 tháng 11 năm 2014 tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, ngày 20 tháng 7 năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản này đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành

án dân sự trong thời gian tới Nhiều văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến việc xử lý tài sản thế chấp để thi hành án như Luật đất đai 2013, Bộ Luật Dân

sự 2015 , Luật Đấu giá 2017…

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục diến biêt phức tạp, tốc độ phục hồi nền kinh tế chậm và tiền ẩn nhiều rủi ro, hoạt động của các tổ chức tín dụng, ngân hàng gặp nhiều khó khăn, nợ xầu tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh, việc thu hồi các khoản nợ theo các bản án, quyết định của Tòa án đa có hiệu lực thi hành Theo đó, số lượng việc và giá trị án tín dụng, ngân hàng ngày càng tăng cao Việc áp dụng pháp luật trên thực tế còn nhiều bất cập, cơ quan thi hành na sđã gặp phải một số vướng mắc nhất định như thụ lý và ban hành Quyết định thi hành án liên quan đến tổ chức tín dụng, kê biên và giao bảo quản tài sản thế chấp đặc biệt là tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, định giá, định giá lại tài sản, xử lý tài sản không bán được, bán đấu giá tài sản và thanh toán tiền

từ việc xử lý tài sản và một số vướng mắc khác liên quan đến quá trình xưy lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất[6]

1.2 Khái niệm và đặc điểm về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất

1.2.1 Tài sản và tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất

Tài sản là một khái niệm quen thuộc được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong các lĩnh vực khoa học chuyên ngành như kinh tế,

Trang 15

pháp lý, kế toán tài chính, tài sản cũng là khái niệm cơ bản và được nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng dưới các góc độ khác nhau Theo đó, tài sản thường được hiểu là những đối tượng phải mang lại lợi ích nào đó với con người và

có thể định giá được thành tiền

Trong ngôn ngữ pháp lý tài sản là của cải được con người sử dụng Của cải luôn gắn liền với thuộc tính giá trị và không ngừng biến đổi để hoàn thiện Chính vì vậy khái niệm tài sản trong khoa học pháp lý không phải là một khái niệm bất biến

Dưới góc độ pháp lý, theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 thì tài sản được quy định trong luật dân sự [2], bao gồm: Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015 thì Bất động sản bao gồm [2]: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; Tài sản khác theo quy định của pháp luật

Thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng là một trong những quyền cơ bản của người sử dụng đất Theo Điều 167 Luật Đất đai 2013 về “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất” [14] quy định hộ gia đình, cá nhân

sử dụng đất được thực hiện quyền thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn tại

tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam Tuy nhiên, đối với đất thuê trả tiền hàng năm thì người sử dụng đất chỉ được thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê theo quy định tại điển đ khoản 2 Điều 179 Luật Đất đai 2013 về ” Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân

sử dụng đất”[14]

Thời điểm để có thể mang quyền sử dụng đất thế chấp vay vốn ngân hàng, theo quy định tại Điều 168 Luật Đất đai 2013 là khi người sử dụng đất

Trang 16

đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất[14] Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền thế chấp sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất của nhà nước; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền thế chấp khi có đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Xử lý tài sản thế chấp quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự là việc tài sản là quyền sử dụng đất đã được cá nhân, tổ chức đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thế chấp bằng tài sản ra xử lý theo trình

tự, thủ tục của pháp luật về thi hành án dân sự để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các đương sự

1.2.2 Xử lý tài sản là quyền sử dụng đất có đăng ký thế chấp

Một vấn đề không thể thiếu được trong các quy định về thế chấp QSDĐ

là xử lý QSDĐ đã thế chấp Bởi lẽ, không phải bất cứ lúc nào, bất cứ ai (người thế chấp) cũng đều thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình

Trên thực tế, có rất nhiều nguy cơ có thể làm cho người sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ Ví dụ: do các nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn … hoặc gặp rủi ro, thua lỗ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh dẫn đến mất khả năng thanh toán, sử dụng không có hiệu quả nguồn vốn vay hay cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến hạn …Do vậy, trong trường hợp này vấn đề xử lý QSDĐ đã thế chấp được đặt ra, nhằm bảo đảm quyền lợi cho bên nhận thế chấp

Khi xác định xử lý tài sản là QSDĐ có đăng ký thế chấp theo pháp luật

về THADS thì nguồn pháp luật được áp dụng cơ bản nhất là Luật Thi hành án dân sự (THADS) [15], bên cạnh đó còn có nhiều các văn bản pháp luật khác

có liên quan điều chỉnh quan hệ này như Bộ luật dân sự với các nguyên tắc cơ bản trong giao dịch dân sự, luật đất đai, luật nhà ở, Luật xây dựng, các quy định về quyền sở hữu, các quy định về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao

Trang 17

dịch bảo đảm, pháp luật về thẩm định giá, Luật đấu giá, Luật Thương Mại, Luật Ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng…

Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ theo pháp luật THADS cũng rất đa dạng Thông thường các chủ thể tham gia quan

hệ pháp luật này gồm bên có tài sản, tổ chức tín dụng, cơ quan THADS với cách thức xử lý tài sản theo thỏa thuận không có sự can thiệp của cơ quan THADS thì các chủ thể này gồm bên có tài sản, bên vay tín dụng và tổ chức tín dụng

Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật xử lý tài sản do pháp luật quy định Trong quan hệ pháp luật nay, mỗi chủ thể có các quyền, nghĩa vụ khác nhau Chủ thể có quyền thực hiện quyền yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt các hành động cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ

1.2.3 Các phương thức xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự

Xử lý tài sản là QSDĐ có đăng ký thế chấp được thực hiện theo các phương thức:

- Phương thức bán đấu giá tài sản bảo đảm: Dù pháp luật có quy định niêm yết việc bán đấu giá, địa điểm,… nhằm bảo đảm cho việc bán đấu giá tài sản bảo đảm phù hợp với nguyên tắc công khai, minh bạch, đạt hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, việc niêm yết tại nơi có bất động sản bán đấu giá là một việc cực kỳ khó khăn, phức tạp do người có tài sản phải xử lý cố tình không tuân thủ pháp luật, không tự nguyện thi hành Phương thức này, chi phí tổ chức bán đấu giá tài sản khá cao; hiện tượng thông đồng, ép giá giữa những người đăng ký mua tài sản đấu giá cũng không loại trừ Bên cạnh đó, do chủ thể bán đấu giá tài sản không có chức năng cưỡng chế, thu giữ tài sản thế chấp nên nhiều khi phiên đấu giá đã hoàn tất nhưng lại không thu được tiền vì bên bảo

Trang 18

đảm không chịu giao tài sản cho bên mua hoặc không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu, sử dụng tài sản cho người trúng đấu giá theo quy định

- Phương thức nhận chính tài sản thế chấp là QSDĐ để thay thế nghĩa

vụ trả nợ: thỏa thuận là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự,

do vậy việc thoản thuận và tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận có tài sản thế chấp là QSDĐ luôn được đặt ra và ưu tiên áp dụng nhằm tránh cho các bên nhưng thiệt hại không cần thiết Trường hợp giá trị của tài sản thế chấp là QSDĐ lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm Từ thực tiễn cho thấy, dường như hai bên rất khó tìm được sự đồng thuận về giá trị của tài sản bảo đảm dùng để khấu trừ nghĩa vụ nợ, đặc biệt khi giá trị tài sản bảo đảm tại thời điểm xử lý thấp hơn giá trị khoản vay

- Phương thức xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ thông qua khởi kiện, thi hành án: Với thủ tục khởi kiện bên bảo đảm ra Tòa án để yêu cầu giải quyết việc trả nợ thường phải mất thời gian tương đối dài, dù thời hạn luật định tối

đa cũng chỉ 06 tháng và phát sinh nhiều chi phí, do vậy, các ngân hàng thường rất ít sử dụng phương thức thu nợ bằng biện pháp khởi kiện khách hàng ra Tòa án Đó là chưa kể đến, khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật rồi, việc xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ của người phải thi hành án cũng không được mấy thuận lợi Trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án liên quan đến các tổ chức tín dụng để thu hồi nợ là một trong các loại việc được xếp vào thi hành án kinh doanh thương mại Việc thu hồi nợ phụ thuộc rất nhiều người phải thi hành án tự nguyện trả nợ hoặc giữa ngân hàng và bên phải thi hành án thoả thuận với nhau, hoặc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, định giá, bán đấu giá Tổ chức tín dụng có thể thu hồi được nợ sớm hay muộn phụ thuộc vào kết quả thi hành án

Mặc dù đã có bản án, quyết định đã có hiêu lực pháp luật của Tòa án tuyên phát mại tài sản bảo đảm, nhưng trong quá trình thi hành bản án, quyết

Trang 19

định nêu trên vẫn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Có những khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tạo ra, nhưng cũng có nhiều khó khăn do chính bản án và người phải thi hành án tạo ra Đối với loại án tín dụng ngân hàng để

xử lý tài sản theo đúng trình tự, thu hồi đọc nợ cho Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào những tác động của thị trường

Tuy nhiên, dù áp dụng biện pháp cưỡng chế trong xử lý tài sản có đăng

ký giao dịch bảo đảm, nhưng nguyên tác tôn trọng sự thỏa thuận của các bên cũng luôn được áp dụng khi có sự thống nhất ý chí của các bên, nghĩa là việc thoản thuận xử lý tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm luôn được ưu tiên áp dụng bất kể giai đoạn nào của quá trình xử lý tài sản

1.3 Khái quát chung về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm thi hành án dân sự

Xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội và quá trình Toà án giải quyết các tranh chấp dân sự phát sinh thì bản án, quyết định dân sự - kết quả giải quyết của Toà án nhân danh Nhà nước - là sự xác nhận quyền và nghĩa vụ dân sự của các đương sự có liên quan Vì vậy, theo quy định của Điều 106 Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2013 [11] “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”, thì bản án, quyết định dân sự có hiệu lực của Toà án phải được đảm bảo thi hành theo những trình tự, thủ tục THADS

Theo nguyên tắc hiến định nêu trên và yêu cầu khách quan trong hoạt động của Nhà nước, hoạt động THADS nhằm đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh các bản án, quyết định dân sự Tuy nhiên, việc xác định bản chất của THADS vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận cả từ góc độ lý luận và thực tiễn Dựa trên những luận cứ khác nhau, có quan điểm cho rằng THADS là hoạt động tư pháp; hoạt động hành chính hay hoạt động mang tính chất hành chính – tư

Trang 20

pháp Xuất phát từ các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác THADS ở nước ta, nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm cho rằng THADS là hoạt động đặc thù, vừa có tính chất của hoạt động hành chính, vừa có tính chất của hoạt động tư pháp Điều này thể hiện ở một số điểm sau đây:

- Cơ sở của hoạt động thi hành án là các bản án, quyết định dân sự của Toà án; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng);

- Thi hành án dân sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án; trong quá trình thi hành

án, Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu cơ quan thi hành án hoãn việc thi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm ) Tuy nhiên, thi hành án lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành dân sự đối với thi hành án dân sự Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa

vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả Tính chấp hành trong thi hành án phản ánh một đặc trưng chứng tỏ nó không đơn thuần

là hoạt động tố tụng thuần tuý Bên cạnh các chủ thể là Tòa án, Viện kiểm sát, chúng ta có thể thấy các chủ thể tham gia vào giai đoạn thi hành án đông đảo

và đa dạng hơn so với các giai đoạn tố tụng trước đó, ví dụ Ủy ban nhân dân địa phương nơi người phải thi hành án cư trú; cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án làm việc [15]

- Thi hành án và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả với nhau Trong lĩnh vực thi hành án hình sự, nếu ở giai đoạn điều tra, các

cơ quan tiến hành tố tụng không kiên quyết áp dụng đầy đủ, kịp thời các biện

Trang 21

pháp ngăn chặn như thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản thì đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đương sự cất giấu, tẩu tán tài sản dẫn đến tình trạng án tồn đọng không thể thi hành được Hoặc nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể, được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc thi hành án sẽ

dễ dàng, nhanh chóng hơn nhiều Ngược lại, nếu bản án, quyết định của Tòa

án được tuyên không khách quan, toàn diện và công bằng, thiếu tính khả thi sẽ gây cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các

cơ quan nhà nước Đồng thời, việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, củng cố, tăng cường uy tín của

cơ quan xét xử

- Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2013 và Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân thì Viện Kiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểm sát chung như trước đây, có nghĩa là không thực hiện chức năng kiểm sát đối với hoạt động hành chính mà chỉ kiểm sát đối với hoạt động tư pháp [11] Tuy nhiên, trong Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân hiện hành vẫn có một chương với nhiều điều quy định về kiểm sát thi hành án Trong thực tiễn, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã ban hành nhiều kháng nghị đối với các quyết định về thi hành án Tuy nhiên, tính chất của kháng nghị trong giai đoạn thi hành án có nhiều điểm không giống với kháng nghị trong giai đoạn xét xử Điều này cho thấy rõ mối quan hệ mật thiết, đan xen giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với cơ quan thi hành án, giữa pháp luật tố tụng tư pháp với pháp luật về thi hành án, giữa quan hệ pháp luật tố tụng với quan hệ pháp luật về thi hành án

- Quá trình thi hành án nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể, do đó, các trình tự, thủ tục thi hành án cũng được quy định chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng trước đó vì đều liên quan đến quyền con người, quyền công dân Hơn nữa, yêu cầu đặt ra đối với những người tiến hành các trình tự, thủ tục thi hành án, kể cả Chấp

Trang 22

hành viên trong thi hành án dân sự cũng không thấp hơn những người tiến hành tố tụng trước đó là phải độc lập và tuân theo pháp luật để bảo đảm duy trì sự thật trong bản án, quyết định của Tòa án và tiến tới đạt được sự thật trên thực tế; nếu không độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thì giá trị sự thật mà bản

án, quyết định của Tòa án đã xác định sẽ không còn nguyên nghĩa của nó, trừ trường hợp các đương sự có sự thỏa thuận tự nguyện khác trong quá trình thi hành án

- Bản chất của thi hành án là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa

án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình Mục đích cuối cùng của thi hành án là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trên thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của hoạt động hành chính Mặt khác, tính chất chấp hành không chỉ là yêu cầu trong hoạt động thi hành án mà còn là yêu cầu bắt buộc trong các giai đoạn tố tụng trước

đó với ý nghĩa cao nhất là chấp hành các quy định của pháp luật, bản thân pháp luật được Nhà nước ban hành có tính bắt buộc chung mà mọi người phải tôn trọng thực hiện

1.3.2 Cơ sở pháp lý của việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự

Xử lý được tài sản bảo đảm là con đường khá hiệu quả để tổ chức tín dụng (TCTD) có thể thu hồi nợ Thời gian gần đây, câu chuyện về quyền xử

lý tài sản bảo đảm của TCTD được nhắc tới với tần suất khá phổ biến, một phần bởi những khó khăn và bức xúc mà TCTD gặp phải trong thực tế Trong bối cảnh đó, một loạt quy định mới đã được ban hành và có tác động trực tiếp

đến quyền này của TCTD Theo quy định tại khoản 1, điều 303, Bộ luật Dân

sự (BLDS) - có hiệu lực từ ngày 1-1-2017, các bên có thể thỏa thuận một

Trang 23

trong những phương thức sau đây để xử lý tài sản cầm cố, thế chấp : (i) bán đấu giá tài sản; (ii) bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; (iii) bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;

hoặc (iv) phương thức khác [2]

Việc xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ được điều chỉnh bằng nhiều ngành luật khác nhau, tôn trọng các nguyên tắc của luật dân sự So với quy định cũ,

có thể thấy nhà làm luật đã bổ sung phương thức cho phép TCTD tự bán tài sản bảo đảm (mà không cần có ủy quyền từ bên bảo đảm), trong đó Luật THADS là cơ sở pháp lý quan trọng, quy định trình tự, thủ tục xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất Ngoài ra, hoạt động xử lý tài sản thế chấp trong THADS còn được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác như luật Đất Đai, Luật Nhà ở, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Doanh Nghiệp [15]…

Việc xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ trong THADS có cơ sở từ các bản

án, quyết định của Tòa án, Trọng tài Thương mại hay Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đã có hiệu lực pháp luật

1.3.3 Các trường hợp thi hành án dân sự liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất có đăng ký thế chấp

Thứ nhất, tài sản là QSDĐ có đăng ký thế chấp cho nghĩa vụ thanh toán

nợ mà bên thế chấp bảo lãnh là người được thi hành án Khi bên vay tín dụng không thanh toán nợ theo đúng hợp đồng, các tổ chức tín dụng tiến hành khởi kiện buộc người vay phải thanh toán nợ Thông thường, trong quan hệ thi hành án thì các tổ chức tín dụng là bên được thi hành án, có quyền yêu cầu xử

lý tài sản cầm cố thế chấp, bảo lãnh nghĩa vụ nợ vay Do vậy, tài sản thế chấp trong trường hợp này là tài sản bảo đảm trực tiếp cho nghĩa vụ nợ vay, đồng thời là nghĩa vụ thi hành án đang được tổ chức thi hành Trong trường hợp này, khi xử lý tài sản, bên nhận thế chấp đồng thời là người được thi hành án,

là một bên đương sự trong quan hệ THADS và cũng có nghĩa vụ theo quan hệ pháp luật THADS Mặt khác, việc xử lý tài sản, hầu như luôn được thực hiện

Trang 24

khi không có sự thỏa thuận, thống nhất với nhau giữa các bên, ngay cả khi giá trị tài sản thấp hơn nghĩa vụ đã được bảo đảm

Thứ hai, tài sản là QSDĐ có đăng ký thế chấp cho nghĩa vụ thanh toán

nợ mà bên nhận thế chấp, bảo lãnh không phải là đương sự thi hành án Trong trường hợp này, tài sản đã đăng ký thế chấp không bảo đảm trực tiếp cho nghĩa vụ thi hành án đang được tổ chức thi hành, mà vẫn được ưu tiên bảo đảm cho nghĩa vụ tín dụng đã được đăng ký Ngoài ra, trong trường hợp này đòi hỏi những điều kiện khác như chỉ được kê biên, xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác, hoặc còn nhưng không đủ để thi hành án và giá trị tài sản kê biên phải lớn hơn nghĩa vụ

đã được bảo đảm và chi phí thi hành án Như vậy, trường hợp giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn nghĩa vụ đã được bảo đảm thì cơ quan THADS không được kê biên tài sản thuộc diện này

Trong cả hai trường hợp trên, khi xử lý tài sản thì nghĩa vụ đã được bảo đảm luôn được ưu tiên thanh toán Do vậy, trong các trường hợp xử lý tài sản thì bên thế chấp có đăng ký giao dịch bảo đảm luôn được ưu tiên thanh toán của giao dịch bảo đảm đã được đăng ký

1.3.4 Quyền yêu cầu thi hành án và thẩm quyền tổ chức thi hành án đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất

Quyền yêu cầu thi hành án là quyền của đương sự (không chỉ người được thi hành án mà cả người phải thi hành án) yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật về THADS

Người được thi hành án cần lưu ý rằng có bản án, quyết định mà Tòa

án, cơ quan có thẩm quyền tuyên mình là người được hưởng quyền và lợi ích không đồng nghĩa với việc cơ quan có thẩm quyền sẽ tự động đưa bản án, quyết định đó ra thi hành Bởi bản án, quyết định thuộc diện được đưa ra thi hành có nhiều nội dung khác nhau về quyền, nghĩa vụ của các bên đương sự

Trang 25

(cá nhân, pháp nhân) đối với nhau, đối với người khác hoặc đối với nhà nước,

và cách thức xử lý đối với các tài sản, vật chứng có liên quan đến từng vụ việc cụ thể như tịch thu, tiêu hủy, trả lại cho đương sự hoặc chủ sở hữu hợp pháp…Trong số những nội dung của bản án, quyết định thuộc diện trên, Luật THADS phân biệt những loại việc thuộc trách nhiệm của cơ quan THADS phải chủ động ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành và những loại việc cơ quan THADS chỉ được đưa ra thi hành khi có đơn yêu cầu thi hành án của đương sự

Vậy, những nội dung nào của bản án, quyết định chỉ được đưa ra thi hành khi có đơn yêu cầu thi hành án của đương sự? Luật THADS quy định về quyền yêu cầu thi hành án thuộc về người được thi hành án và người phải thi hành án Theo đó, người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án [15] Việc xử lý tài sản đăng ký thế chấp trong THADS thì người được thi hành án là những người có quyền theo các phán quyết, thông thường các tổ chức tín dụng là người được thi hành án, bởi họ là những người cho vay, nhận thế chấp, cầm cố tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người phải thi hành án là bên có nghĩa vụ cũng muốn thực hiện ngay các nghĩa vụ thi hành án Trong những trường hợp này, Luật THADS cho phép họ được quyền yêu cầu thi hành án Quy định này thể hiện không phân biệt, đối xử quyền yêu cầu thi hành án giữa người được thi hành án và người phải thi hành án, giữa người có quyền và người có nghĩa cụ Quy định này cũng nhằm cho các bên thấy được trách nhiệm thực hiện nghĩa

vụ và lợi ích của việc thực hiện nghĩa vụ theo bản án nói chung Ví dụ: người phải thi hành án yêu cầu thi hành bản án mà họ có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, sau khi yêu cầu thi hành án, họ có thể thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ bằng cách thanh toán trực tiếp cho ngân hàng hoặc nộp tiền tại cơ quan thi hành án…

Trang 26

Quyền yêu cầu thi hành án của các tổ chức tín dụng là quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền thi hành án đưa các phán quyết ra thi hành trên thực tế, thông thường các yêu cầu này có nội dung xử lý tài sản đăng ký giao dịch bảo đảm để thu hồi các khoản nợ vay Quyền yêu cầu thi hành án của các

tổ chức tín dụng là một trong những quyền được quy định tại Bộ luật dân sự

và cụ thể hóa tại các quy định của ngành Luật Ngân hàng và các tổ chức tín dụng Quyền yêu cầu thi hành án của các tổ chức tín dụng được xác định từ các phán quyết của cơ quan xét xử, tuy nhiên để thực hiện được quyền yêu cầu thi hành án này, các tổ chức tín dụng phải có quyền và quyền còn hiệu lực hay nói cách khác là còn thời hiệu thực hiện yêu cầu thi hành án Thời hiệu yêu cầu thi hành án là khoảng thời gian, thời hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

tổ chức thi hành bản án, quyết định hay các phán quyết đã có hiệu lực thi hành Hết thời hạn người được thi hành án, người phải thi hành án thì không

có quyền yêu cầu thi hành án Thời hiệu yêu cầu thi hành án là năm (05) năm,

kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được

ấn định trong bản án, quyết định hoặc theo định kỳ thì thời hạn năm (05) năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn hoặc theo định kỳ Ngoài ra, Luật THADS cũng cho phép các bên xác định thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn, thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án [15]

Như vậy, thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó người được thi hành án, người phải tiến hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án Hết thời hạn đó, nếu người được thi hành án, người phải thi hành án vẫn không có đơn yêu cầu thi hành án, thì người được thi hành án

Trang 27

không còn quyền yêu cầu thi hành phần bản án, quyết định chưa yêu cầu thi hành án nữa, còn người phải thi hành án không còn nghĩa vụ phải thi hành phần bản án, quyết định đó cho người được thi hành án nữa Bản án, quyết định hết hiệu lực thi hành (đối với phần thi hành theo đơn yêu cầu) Luật Thi hành án dân sự chỉ quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án chứ không quy định thời hạn thi hành một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật là bao lâu, khi đã có đơn yêu cầu thi hành án trong thời hiệu nêu trên thì bất cứ khi nào có điều kiện thi hành án là phải thi hành

Tuy nhiên, thời hiệu yêu cầu thi hành án chỉ áp dụng đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu Vì vậy, trường hợp, nếu người phải thi hành án phải thi hành các khoản không thuộc trường hợp cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 [15], thì khi hết thời hạn 5 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật mà người được thi hành án không có đơn yêu cầu thi hành án, thì người phải thi hành án có quyền chứng minh thời hiệu thi hành án đã hết Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 62/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định đối với trường hợp đã trả đơn yêu cầu thi hành án trước ngày 01/7/1015

mà đương sự yêu cầu thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định trả đơn phải ra quyết định thi hành án và tổ chức việc thi hành

án [18]

1.3.5 Trình tự, thủ tục xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự

Theo quy định của Luật THADS, đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận, theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án Sau khi ban hành quyết định thi hành án theo

Trang 28

yêu cầu, người phải thi hành án có 10 ngày tự nguyện thi hành án Hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hu hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chế thi hành án [15]

Trình tự, thủ tục xử lý tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm nói chung

và xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ theo pháp luật THADS nói riêng là toàn bộ quá trình áp dụng các quy định pháp luật về THADS của Chấp hành viên, cơ quan THADS, cũng như việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật THADS này

Trình tự, thủ tục xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ theo pháp luật THADS

là hoạt động kê biên, xử lý tài sản thế chấp theo pháp luật THADS phải đáp ứng các điều kiện cơ bản như: Như bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, thụ lý ban hành quyết định thi hành án theo yêu cầu, thông báo quyết định thi hành án hợp lệ cho đương sự, hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà đương sự không tự nguyện thi hành thì xác minh, đủ căn cứ theo quy định pháp luật thì Chấp hành viên ban hành Quyết định cưỡng chế kê biên xử lý tài sản

Trình tự thủ tục xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ Theo Luật THADS năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định tại Mục 6 cưỡng chế đối với tài sản là vật và Mục 8 cưỡng chế đối với tài sản là QSDĐ Theo quy định thì trách nhiệm của Chấp hành viên trước khi kê biên đối với tài sản là QSDĐ nói chung và tài sản là QSDĐ đã đăng ký thế chấp tại một tổ chức tín dụng nhất định thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đó Trong trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên

có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế

Trang 29

chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án [15]

Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định Chấp hành viên chỉ kê biên QSDĐ của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai Do

đó, trong quá trình xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ Chấp hành viên cần xác minh cụ thể QSDĐ có được chuyển nhượng không, có trường hợp khi thế chấp thì thửa đất đó chưa thuộc diện nhà nước thu hồi, giải tỏa, tuy nhiên, đến giai đoạn thi hành án thì Nhà nước đã có quyết định thu hồi g,iải tỏa, do vậy việc việc xác minh tại cơ quan đăng ký đất đai về tình trạng thửa đất trước khi

kê biên xử lý để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng là rất quan trọng và cần thiết

Đất đai là một loại tài sản đặc biệt, do vậy trình tự thủ tục xử lý kê biên tài sản là QSDĐ phải tuân thủ theo một trình tự thủ tục nghiêm ngặt, bởi đất đai là một tài sản có giá trị lớn, sau khi thế chấp QSDĐ thì người có tài sản thế chấp vẫn tiếp tục sử dụng, khai thác các giá trị mà đất đai mang lại nhưng canh tác, xây dựng nhà cửa, cơ sở sản xuất kinh doanh…do vậy quy trình xử

lý tài sản thế chấp là QSDĐ yêu cầu Chấp hành viên phải áp dụng đầy đủ các quy định liên quan đến việc xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên, tài sản gắn liền với đất có trước thời điểm thế chấp và tài sản gắn liền với đất có sau thời điểm thế chấp

Ngay sau khi kê biên đương sự thỏa thuận được về giá, tổ chức thẩm định giá, tỏ chức bán đấu giá tài sản, thì việc xử lý tài sản được pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của đương sự, tuy nhiên thỏa thuận đó phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xác hội [15] Trong quá trình

xử lý tài sản các bên không thỏa thuận được thì Chấp hành viên áp dụng

Trang 30

các quy định của Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành để thực hiện việc ký hợp đồng thẩm định giá và bán đấu giá tài sản, quyết định giảm giá tài sản trong trường hợp bán đấu giá tài sản không thành, từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án [15]

Trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án Đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành

án thì bị cưỡng chế thi hành án

Trong trường hợp bán đấu giá thành thì Chấp hành viên giao tài sản cho người trúng đấu giá, nếu người phải thi hành án không tự nguyện giao tài sản cho người trúng đấu giá thì Chấp hành viên ban hành Quyết định cưỡng chế giao tài sản, phân phối và thanh toán khoản tiền thi hành án thu được từ việc bán tài sản

Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng

Trang 31

chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác Quy định này tạo cho tâm lý người mua tài sản thi hành án yên tâm quyền lợi của họ luôn được đảm bảo, cũng như thu hồi được tiền xử lý tài sản cho người được thi hành án nói chung và người được thi hành án là các tổ chức tín dụng nói riêng thu hồi được dứt điểm tiền thi hành án, giảm lượng án nợ xấu của các tổ chức tín dụng [15]

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thi hành án là việc thực hiện trên thực tế các quyền, nghĩa vụ đã được bản án, quyết định ghi nhận Hoạt động thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, mặt khác là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội và công dân bị xâm hại Trong thi hành án dân sự các bên đương sự có thể tự thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo bản án, quyết định hoặc yêu cầu để thông qua cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó Pháp luật về thi hành án dân sự hiện hành chủ yếu quy định thủ tục thi hành các bản án, quyết định thông qua cơ quan thi hành án

Hoạt động Thi hành án dân sự liên quan đến việc xử lý tài sản thế chấp

là quyền sử dụng đất là hoạt động của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự để xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự hiện nay là

cơ quan thi hành án dân sự trực thuộc Bộ tư pháp và Bộ Quốc phòng, tổ chức

có thẩm quyền tổ chức thi hành án là các văn phòng Thừa pháp lại, mà đại diện

là các thừa phát lại trình tự thủ tục xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho các

tổ chức tín dụng là việc banh hành quyết định thi hành án, kê biên, thẩm định giá bán đấu giá, gia tài sản cho người mua tài sản trúng đấu giá, thanh toán tiền thi hành án Quá trình xử lý tài sản thế chấp là quá trình liên tục, xuyên suốt theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định

Trang 32

Nghiên cứu vấn đề xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang, từ đó nêu ra được một số bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật và đề xuất giải pháp xử lý, hoàn thiện dần các văn bản liên quan

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC GIANG

2.1 Thực trạng thụ lý, ban hành quyết định thi hành án trong hoạt động xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng

2.1.1 Kết quả thi hành án dân sự tại tỉnh Bắc Giang từ năm 2015 đến nay

Năm 2015, tổng số thụ lý là 12.036 việc, với số tiền 1.122.532.917.000đ, (trong đó: số cũ chuyển sang: 3.850 việc, với số tiền: 461.564.232.000đ; số thụ lý mới: 8.186 việc, với số tiền: 660.968.685.000đ) Kết quả, đã giải quyết xong 7.750/8.279việc đạt t lệ 94%, với số tiền 329.644.081.000đ/588.983.758.000đ có điều kiện thi hành đạt t lệ 56% Trong đó số án liên quan đến tín dụng ngân hàng là: Tổng số việc phải giải quyết: 165 việc, với số tiền 724.459.833.000đ, (trong đó: số cũ chuyển 71 việc, với số tiền 344.853.204.000đ, Thụ lý mới năm 2016: 94 việc, với số tiền 379.606.629.000đ Đã giải quyết xong (xong + đình chỉ): 83 việc, với số tiền 571.050.824.000đ Còn tồn: 82 việc, với số tiền 571.050.824.000đ chuyển năm 2016

Năm 2016, tổng số thụ lý là 12.288 việc, với số tiền 1.308.012.522.000đ, (trong đó: số cũ chuyển sang: 4.284 việc, với số tiền: 775.225.504.000đ; số thụ lý mới: 8.004 việc, với số tiền: 644.424.252.000đ) Kết quả, đã giải quyết xong 7.324/8.800 việc đạt t lệ 83%, với số tiền 162.987.419.000đ/1.058.177.697.000đ có điều kiện thi hành đạt t lệ 15,4% Trong đó số án liên quan đến tín dụng ngân hàng là: Tổng số việc phải giải quyết: 205 việc, với số tiền 661.381.321.000đ, (trong đó: số cũ chuyển 82 việc, với số tiền 571.050.824.000đ, Thụ lý mới năm 2016: 123 việc, với số

Trang 34

tiền 90.330.497.000đ Đã giải quyết xong (xong + đình chỉ): 90 việc, với số tiền 122.297.228.000đ Còn tồn: 115 việc, với số tiền 539.084.093.000đ chuyển năm 2017

11 tháng Năm 2017, tổng số thụ lý là 11.658 việc, với số tiền 1.298.055.031.000đ, (trong đó: số cũ chuyển sang: 4.717 việc, với số tiền: 1.078.883.403.000đ; số thụ lý mới: 6.941việc, với số tiền: 219.171.629.000đ) Kết quả, đã giải quyết xong 6.842/8.561 việc đạt t lệ 80%, với số tiền 158.193.262.000đ/666.472.955.000đ có điều kiện thi hành đạt t lệ 23,7% Trong đó số án liên quan đến tín dụng ngân hàng là: Tổng số việc phải giải quyết: 217 việc, với số tiền 641.342.581.000đ, (trong đó: số cũ chuyển 115 việc, với số tiền 539.084.093.000đ, Thụ lý mới 11 tháng năm 2017: 102 việc, với số tiền 102.258.488.000đ Đã giải quyết xong (xong + đình chỉ): 68 việc, với số tiền 95.476.712.000đ Còn tồn: 149 việc, với số tiền 545.865.869.000đ Đạt t lệ 36,76% về việc, 20,66% về tiền (1)

Từ kết quả phân tích ở trên cho thấy số lượng việc và tiền liên quan đến

án TDNH chiếm t lệ rất lớn trong tổng số việc phải thi hành Tuy nhiên, lượng việc và tiền xử lý thu hồi nợ cho các TDNH lại tương đối thấp Tại địa bàn tỉnh Bắc Giang công tác THADS nói chung và THADS liên quan đến các

tổ chức TDNH nói riêng gặp rất nhiều khó khăn trên thực tế, dẫn đến tuy số việc thụ lý hàng năm không nhiều nhưng số tiền phải thi hành án lớn, quá trình tổ chức thi hành một vụ việc thường kéo dài, nên chỉ tiêu thi hành án về tiền thường đạt thấp

2.1.2 Quy định về điều kiện thụ lý và ban hành Quyết định thi hành án

Trình tự, thủ tục kê biên xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ phải đảm bảo các điều kiện về thụ lý và ban hành Quyết định thi hành án Luật THADS năm

2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định về các điều kiện cần có để thụ

lý và ban hành quyết định thi hành án gồm [15]:

Trang 35

Thứ nhất: Có Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có

hiệu lực pháp luật nhưng thuộc trường hợp đượ thi hành ngay Bản án, quyết định này là nhứng phán xét của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thi hành án như Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Theo quy định tại Điều 2 thì 1 Bản án, quyết định đã có hiệu lục pháp luật: a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án

sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; b) Bản án, quyết định của Tào án cấp phúc thẩm; c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý

vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án; e) Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; g) Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản

2 Những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc

dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị như: Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Thứ hai: Bản án, quyết định, phán quyết của cơ quan có thẩm quyền

phải còn thời hiệu yêu cầu thi hành án Theo quy định tại Điều 30 Thời hiện yêu cầu thi hành án 1 Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn Đối với Bản án, quyết định thi hành án theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn 2 Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời hạn hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án 3

Trang 36

Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì thời hạn có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án

Thứ ba: Quyền yêu cầu thi hành án là một trong nhứng quyền của tồ

chức các nhân phát sinh từ các loại bản án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS

Thứ tư: Người có quyền yêu cầu thi hành án phải yêu cầu thi hành án,

để thể hiện yêu cầu thi hành an không chỉ bằng đơn mà còn bằng hình thức khác có thể bang biên bản ghi nhận yêu cầu thi hành án Đây là một trong nhứng điều kiện bắt buộc để thụ lý và ban hành Quyết định thi hành án về xử

lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng

2.1.3 Một số bất cập trong thụ lý và ban hành Quyết định thi hành án

Trong thời gian qua, tại các cơ quan THADS tỉnh Bắc Giang, đơn yêu cầu thi hành án của các tổ chức tín dụng vẫn còn nhiều sai sót, không có đầy

đủ các nội dung theo quy định của Luật, như:

- Việc xác định chủ thể có quyền yêu cầu thi hành án Người được thi hành án theo bản án, quyết định của Tòa án là tổ chức tín dụng, không phải là

tổ chức cá nhân đại diện nhưng người làm đơn yêu cầu thi hành án là đại diện của các tổ chức tín dụng đại diện (chi nhánh) nhưng lại không thể hiện đầy đủ giấy ủy quyền, giấy tờ hợp lệ

- Nội dung yêu cầu thi hành án không đúng với thực tế thực hiện nghĩa

vụ theo bản án, có sai sót khi trích lại nội dung bản án, quyết định của Tòa án; một số trường hợp người phải thi hành án đã thi hành được một phần nghĩa vụ thi hành án bằng cách thanh toán trực tiếp cho tổ chức tín dụng nhưng khi làm đơn yêu cầu thi hành án, tổ chức tín dụng vẫn yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành đủ số tiền theo bản án, quyết định của Tòa án, dẫn đến việc sau khi cơ quan thi hành án thụ lý giải quyết, tổ chức tín dụng phải làm đơn rút yêu cầu

Trang 37

thi hành án đối với phần này để không phải nộp phí thi hành án Việc này cũng làm phát sinh nhiều thủ tục, gây cản trở cho quá trình tổ chức thi hành

án đối với nghĩa vụ còn lại

Còn sự nhầm lẫn giữa việc nhận đơn và thụ lý đơn yêu cầu thi hành án Khi nộp đơn yêu cầu thi hành án, một số tổ chức tín dụng cho rằng việc cơ quan thi hành án đã nhận đơn yêu cầu thi hành án là đã hoàn tất thủ tục thụ lý Thực tế cho thấy, sau khi nhận đơn yêu cầu thi hành án của các tổ chức tín dụng thì cơ quan thi hành án kiểm tra, phát hiện một số điểm không phù hợp như người ký đơn yêu cầu thi hành án không đúng thẩm quyền, thiếu giấy ủy quyền của người có quyền yêu cầu thi hành án, nội dung giấy ủy qu yền chưa đầy đủ, các tài liệu liên quan đến giao dịch bảo đảm không được kèm theo…các trường hợp này cơ quan thi hành án hoàn trả hồ sơ và đề nghị bổ sung những nội dung cần thiết và thời hạn ra quyết định thi hành án được xác định là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án kèm đầy đủ các tài liệu liên quan

Đối tượng phải thi hành án là các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần đến giai đoạn thi hành án các doanh nghiệp hầu như đã ngừng hoạt động, người đại diện theo pháp luật thay đổi liên tục hoặc không hợp tác, thường xuyên thay đổi địa chỉ, trốn tránh không làm việc nhằm kéo dài thời gian tổ chức thi hành án, gây khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên Khi thụ lý thi hành án thì cơ quan thi hành án chỉ xử lý được tài sản thế chấp là bên bảo lãnh còn thực tế làm việc với người phải thi hành án là rất khó khăn, do vậy làm ảnh hưởng đến việc tổ chức, xử lý thi hành án

Ví dụ: Hồ sơ thi hành án số 245/QĐ-CCTHA ngày 10/6/2014 của Chi cục trưởng Chi cục THADS thành phố Bắc Giang thì Công ty TNHH Mạnh Giang do ông Nguyễn Văn Mạnh làm giám đốc phải trả cho Ngân hàng Đông

Á chi nhánh Bắc Giang số tiền 1,3 t đồng và lãi xuất chậm thi hành án Trường hợp công ty TNHH Manh Giang không thanh toán tiền thì Ngân hàng

Trang 38

sẽ yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn Lập, Nguyễn Văn Minh Quá trình tổ chức thi hành án Chấp hành viên xác minh được ông Nguyễn Văn Mạnh đã đi thụ hình tại trại giam về tội lừa đảo, Công ty TNHH Mạnh Giang đã ngừng hoạt động, xác minh tài sản và số dư tài khoản tại Ngân hàng không còn gì, để xử lý được tài sản thế chấp thì việc thông báo các văn bản giấy tờ cho ông Nguyễn Văn Mạnh là Giám đốc đại diện của công ty là rất phức tạp, tốn nhiều thời gian v à ảnh hưởng đến tiến độ xử lý hồ sơ thi hành án Cũng tại hồ sơ trên khi ban hành Quyết định thi hành án thì ông Lê Văn Hùng là giám đốc đại điện của Ngân hàng Đông Á nhưng đến giai đoạn xử lý tài sản kê biên thì Ngân hàng Đông Á có thay đổi về người đại diện Việc tổ chức thi hành án lại bị gián đoạn một thời gian vì Quyết định thi hành án ghi theo quyết định thỏa thuận của Tòa án thì ông Lê Văn Hùng là đại diện theo pháp luật của Ngân hàng, nay có thay đổi do vậy việc Chấp hành viên lại phải thực hiện thủ tục sửa đổi bổ sung một phần về quyết định thi hành án

2.2 Thực trạng thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất

2.2.1 Thỏa thuận tự xử lý tài sản

Việc tự nguyện thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án, xuất phát từ sự nhận thức, tôn trọng pháp luật, tôn trọng các quyền và nghĩa vụ lẫn nhau của các bên đương sự Trên cơ sở những điều kiện thi hành án mình sẵn có, các bên ý thức và thực hiện nghĩa vụ của mình, tôn trọng các quyền của bên còn lại Sự tự nguyện xuất phát từ nhận thức đầy đủ

về pháp luật, sự ý thức tôn trọng pháp luật của cá nhân, tổ chức, mặt khác tự nguyện thi hành án dân sự cũng xuất phát do tác động của dư luận xã hội, của tập thể, họ hàng, trong đó gồm cả sự tác động tích cực và quan trọng của cơ quan thi hành án Thoản thuận tự xử lý tài sản là một trong những hình thứ c mua bán, chuyển nhượng và dùng số tiền thu được để thanh toán cho tổ chức

Trang 39

tín dụng đang có quyền thi hành Việc thoản thuận tự xử lý tài sản giúp cho các bên tránh được những thiệt hại không cần thiết như các chi phí phát sinh trong quá trình thi hành án Mặt khác, việc tự xử lý tài sản thường bị hạn chế trên thực tế bởi tâm lý chung của người nhận chuyển nhượng tài sản ngại thủ tục và e dè các rủi ro phát sinh, đặc biệt là loại tài sản thế chấp là QSDĐ

Trong thực tế, việc thoản thuận tự xử lý tài sản thường diễn ra trước khi

cơ quan thi hành án tiến hành các thủ tục kê biên và xử lý tài sản Tuy nhiên, thỏa thuận là một trong những nguyên tắc diễn ra trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình tổ chức thi hành án

Thỏa thuận thi hành án đối với loại việc thế chấp tài sản là QSDĐ thì Ngân hàng thường cho người phải thi hành án khoản lãi suất chậm thi hành án, hai bên tợ cho nhau và rút đơn đình chỉ yêu cầu phần lãi suất

Ví dụ: Hồ sơ thi hành án số 83/QĐ-CTHADS ngày 19/5/2014 của Chi cục THADS thành phố Bắc Giang thì ông Tuân bà Nga phải trả Ngân hàng NNPTNT tỉnh Bắc Giang 3,7 t và lãi xuất chậm thi hành án Quá trình tổ chức thi hành, Chấp hành viên đã thực hiện việc kê biên, bán đấu giá tài sản, trước khi bán đấu giá tài sản lần 3 người phải thi hành án và Ngân hàng đã thỏa thuận được việc tự xử lý tài sản thi hành án, ông Tuân, bà Nga trả cho Ngân hàng số tiền 3,7 t đồng và Ngân hàng đồng ý cho phần lãi xuất chậm thi hành án đề nghị cơ quan thi hành án đình chỉ phần lãi suất

2.2.2 Thỏa thuận giao tài sản để đối trừ nghĩa vụ

Quá trình tổ chức thi hành án, ở bất kỳ giai đoạn nào đương sự đều có thể thỏa thuận về phương thức thi hành án cũng như hình thức thực hiện nghĩa

vụ thi hành án Thỏa thuận giao tài sản để đối trừ nghĩa vụ thi hành án là cách người phải thi hành án, người chủ tài sản thống nhất với bên được thi hành án

là các tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ thi hành án bằng cách chuyển nhượng tài sản cho bên được thi hành án các bên đương sự phải thống nhất được giá trị tài sản thề chấp tại thời điểm xử lý tài sản, bởi giá trị tài sản được

Trang 40

xác định sẽ là cơ sở để các bên đối trừ khoản tiền nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện

Theo quy định tại Điều 100 Luật THADS quy định giao tài sản để thi hành án quy định: “1 Trường hợp đương sự thỏa thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thỏa thuận Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản phải được sự đồng ý của những người được thi hành án khác và phải thanh toán lại cho những người được thi hành án khác số tiền tương ứng t lệ giá trị mà họ được hưởng; 2 Việc giao tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thỏa thuận.”[15]

Trên thực tế, việc thỏa thuận giao tài sản thế chấp để đối trừ nghĩa vụ thi hành án rất ít diễn ra trên thực tế Thông thường tổ chức tín dụng không có chức năng kinh doanh bất động sản do vậy việc các tổ chức tín dụng nhận tài sản thế chấp là QSDĐ xẩy ra rất ít trên thưc tế Thực tế tại địa bàn tỉnh Bắc Giang hầu như không có vụ việc nào người được thi hành án là tổ chức tín dụng nhận tài sản để đối trừ nghĩa vụ

2.2.3 Thỏa thuận trong quá trình cơ quan thi hành án xử lý tài sản

Thỏa thuận về giá trị tài sản kê biên là QSDĐ là việc các bên thống nhất xác định giá trị tài sản là QSDĐ bằng một số tiền cụ thể hoặc lựa chọn một tổ chức thẩm định giá để thẩm định giá tài sản kê biên, làm cơ sở để tiếp tục xử lý tài sản Nguyên tắc tự do tự nguyện, cam kết, thoả thuận là nguyên tắc đặc trưng của pháp luật dân sự, xuất phát từ tính độc lập về sở hữu, tính tự chủ, tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm về tài sản của các chủ thể Trong các mối quan hệ dân sự, cũng như trong hoạt động THADS, các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng, các bên đương sự sẽ hiểu nhau hơn, hàn gắn được mối quan hệ nhưng trên hết giải quyết vụ việc sẽ đạt hiệu quả: thủ tục nhanh gọn, rút ngắn thời gian, đỡ tốn

Ngày đăng: 28/11/2017, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo công tác thi hành án dân sự năm 2015, năm 2016, 11 tháng năm 2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang Khác
2. Bộ Luật Dân sự đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015 Khác
3. Nguyễn Quang Dũng (2016), Chi cục Thi hành án dân sự Bắc Từ Liêm, Hà Nội Khác
4. Lê Thị Kim Dung (2016) quyền xử lý tài sản thế chấp bảo lãnh khoản vay cho bên thứ ba, Vụ Nghiệp vụ 1, Tổng cục Thi hành án dân sự Khác
5. Đỗ Văn Đại (2012), Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Bản án và bình luận bản án Khác
6. Đề cương Tuyên truyền k niệm 70 năm ngày truyền thống Thi hành án dân sự (19/7/1946 - 19/7/2016) (2016), Cổng thông tin Điện tử, Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp Khác
7. Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong luật dân sự Việt Nam Khác
8. Nguyễn Minh Hằng (2014) kê biên, bán đấu giá tài sản quyền sử dụng đất để thi hành án, Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp Khác
9. Phan Huy Hiếu (2012), Biện Pháp bảo đảm thi hành án dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
10. Hiến pháp đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 15/4/1992, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 Khác
11. Hiến pháp đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 28/11/2013 Khác
12. Nguyễn Văn Hoạt (2004), Bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng bằng thế chấp tài sản Khác
13. Nguyễn Thị Thu Hương (2011), Pháp luật về xử lý nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
14. Luật Đất đai đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2013 Khác
15. Luật Thi hành án dân sự đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 Khác
16. Luật Các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/6/2010 Khác
17. Nghị quyết số 48-NQ/TƯ ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Khác
18. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự Khác
19. Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về việc thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Khác
20. Pháp lệnh Thi hành án dân sự số 23/LCT/HĐNN8 ngày 28/8/1989 của Hội đồng Nhà nước – nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w