1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kê Biên, Bán Đấu Giá Tài Sản Theo Pháp Luật Thi Hành Án Dân Sự Từ Thực Tiễn Quận 10

82 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 814,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kê biên tài sản của người phải thi hành án là biệnpháp cưỡng chế thi hành án dân sự quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2018 được sửa đổi, bổ sung năm 2014, theo đó Chấp hàn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN HOÀN

KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TỪ THỰC TIỄN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN HOÀN

KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TỪ THỰC TIỄN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8 38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ: “Kê biên, bán đấu giá tài sản theo pháp

luật thi hành án dân sự từ thực tiễn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” là do chính

tôi thực hiện

Toàn bộ các tài liệu, cơ sở pháp lý, các dẫn chứng số liệu được tôi sử dụng để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn đều đảm bảo chính xác, trung thực theo yêu cầu của một luận văn khoa học

Tp Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 8 năm 2019

Tác giả

Lê Văn Hoàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập, nghiên cứu tại Học viện Khoa học Xã hội, bản thân tôi

đã lĩnh hội được rất nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu của các thế hệ Thầy, Cô giáo, của các anh, chị, bạn bè cùng lớp, cùng khóa, cùng trường; các kiến thức, kinh nghiệm là hành trang để tôi công tác, vận dụng vào cuộc sống ngày càng tốt hơn Trong thời gian học tập tại trường, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy, Cô, gia đình và bạn bè Trước tiên, tôi xin gửi biết ơn sâu sắc nhất đến quý Thầy, Cô ở Học viện Khoa học Xã hội với tri thức và tâm huyết của mình đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của quý Thầy,

Cô ở Học viện Khoa học Xã hội và Thầy hướng dẫn Với tình cảm chân thành và sâu sắc nhất, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy, Cô đã tạo điều kiện

giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Kê biên, bán đấu giá tài sản theo pháp

luật thi hành án dân sự từ thực tiễn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh”

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo – TS Nguyễn Mạnh Cường đã quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo để tôi hoàn thành luận văn này với kết quả tốt nhất

Tuy nhiên, với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế, luận văn này không thể tránh được những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy, cô để tôi có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức của mình, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này

Tôi xin chân thành cảm ơn

Tp Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 8 năm 2019

Tác giả

Lê Văn Hoàn

MỤC LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 7

1.1 Kê biên tài sản theo pháp luật thi hành án dân sự 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thi hành án dân sự 7

1.1.2 Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 9

1.1.3 Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục kê biên tài sản 10

1.2 Khái quát chung về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 199

1.2.1 Bán đấu giá tài sản 199

1.2.2 Bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự 22

1.2.3 Nội dung pháp luật về bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự 23

1.2.4 Trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 28

Chương 2: THỰC TIỄN KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 30

2.1 Đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 30

2.2 Thực tiễn kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 31

2.2.1 Thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 311

2.2.2 Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân trong việc kê biên tài sản để thi hành án dân sự tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 411

2.3 Thực tiễn bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 444

2.3.1 Thẩm định giá tài sản kê biên 444

2.3.2 Thực tiễn bán đấu giá tài sản tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 455

Trang 6

2.3.3 Một số khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân trong bán đấu giá tài sản

để thi hành án dân sự 59

Chương 3 : GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 612

3.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 612

3.1.1 Kiến nghị sửa đổi bổ sung một số quy định của Luật Thi hành án dân sự liên quan đến kê biên, bán đấu giá tài sản 612 3.1.2 Kiến nghị sửa đổi bổ sung một số quy định của Luật Đấu giá tài sản 6464 3.1.3 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định 62/1015/NĐ-

CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự liên quan đến kê biên, bán đấu giá tài sản 65

3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của việc kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố

Hồ Chí Minh 69

3.2.1 Nâng cao năng lực cho Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành

án dân sự trong thực hiện kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án 69 3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện các nội dung phối hợp và thực hiện tốt cơ chế phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự 69 3.2.3 Tranh thủ sự chỉ đạo, phối hợp, hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương trong kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án 70 3.2.4 Giám sát chặt chẽ việc bán đấu giá tài sản kê biên của các tổ chức bán đấu giá 70

KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phán quyết của Tòa án được chấp hành phần lớn thông qua hoạt động thi hành

án, đã tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật Do vậy, hoạt động thi hành án dân sự có một ý nghĩa hết sức quan trọng, trực tiếp góp phần giữ vững kỷ cương phép nước, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Đảng, Nhà nước, các tổ chức và công dân

Kê biên tài sản của người phải thi hành án là biệnpháp cưỡng chế thi hành án dân sự quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2018 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), theo đó Chấp hành viên tiến hành các trình tự, thủ tục theo quy định tiến hành kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành để thi hành các nghĩa vụ của người phải thi hành án bằng tiền trong các bản án, quyết định của Tòa án [32, Tr.24]

Bán đấu giá là một trong những hình thức mua bán tài sản, hàng hóa phổ biến trong nền kinh tế thị trường Thông qua bán đấu giá, người mua và người bán có thể mua và bán được tài sản, hàng hóa Đấu giá tài sản là một hoạt động mang tính dịch

vụ của tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc của Hội đồng bán đấu giá tài sản Nhà nước theo quy định của pháp luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau nhằm thu về khoản tiền nhất định nào đó cho mục đích nhất định hoặc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các cá nhân, tổ chức có liên quan Đối với hoạt động thi hành án dân sự, việc bán đấu giá tài sản được thực hiện trong hai trường hợp Trường hợp thứ nhất là việc Chấp hành viên thực hiện ký hợp đồng bán đấu giá với

tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc các Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thuộc Sở Tư pháp; trường hợp thứ hai là Chấp hành viên tự mình thực hiện việc bán đấu giá tài sản nhằm mục đích thu tiền để tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

Việc cải cách thủ tục hành chính, quy định các trình tự, thủ tục kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành các bản án, quyết định của Tòa án phù hợp và đạt hiệu quả cao đang là một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra cho các cơ quan thi hành án

Trang 8

dân sự nói chung và tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Thực tiễn kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh đã và đang đạt được những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn tại địa phương; tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế, xã hội; góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đảm bảo các mục tiêu hội nhập và phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thi hành án dân sự nói chung

và công tác kê biên, bán đấu giá trong thi hành án dân sự trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng dự báo tiếp tục gặp rất nhiều khó khăn, thách thức trong thời gian tới, như: khó khăn về thể chế, mặc dù pháp luật về thi hành án dân sự đã quy định tương đối đầy đủ, chi tiết, cơ bản điều chỉnh được các quan hệ phát sinh trong đời sống kinh tế, xã hội Tuy nhiên, trong thực tiễn tổ chức thi hành án vẫn còn bộc lộ các khó khăn, vướng mắc, chồng chéo giữa các văn bản quy pháp luật, các ngành luật cần phải tiếp tục sửa đổi bổ sung hoàn thiện Khó khăn về các vụ việc thi hành án phát sinh ngày càng tăng về số vụ việc và giá trị thi hành, người phải thi hành

án luôn tìm cách trì hoãn, thậm chí chống đối thi hành án ngày càng diễn biến phức tạp; đòi hỏi của xã hội và người dân đối với công tác thi hành án ngày càng cao; người phải thi hành án lợi dụng các quyền khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đối với tài sản để trốn tránh, kéo dài thi hành án gây bức xúc cho người được thi hành án ngày càng phổ biến và đa dạng; ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận không nhỏ người dân

và doanh nghiệp chưa cao, có tâm lý chạy theo đám đông, gây khó khăn cho cơ quan thi hành án và Chấp hành viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; một số cơ quan,

tổ chức, cá nhân chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trong phối hợp, hỗ trợ thi hành án; một số Chấp hành viên, cán bộ thi hành án còn hạn chế về năng lực, kỹ năng tác nghiệp, lơ là, chủ quan trong quá trình tổ chức thi hành án nên hiệu quả chưa cao Do đó, đòi hỏi khách quan phải tiếp tục có các đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện thể chế; đề xuất các giải pháp để khắc phục các hạn chế, tồn tại, nâng cao hiệu

Trang 9

quả của công tác thi hành án dân sự nói chung và thủ tục kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự nói riêng

Vì những lý do trên tôi chọn đề tài: “Kê biên, bán đấu giá tài sản theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” làm luận

văn tốt nghiệp Việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự để nâng cao năng lực, kỹ năng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp cụ thể và khả thi góp phần hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này, đồng thời khắc phục những khó khăn, hạn chế, bất cập trong hoạt động kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cưỡng chế kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự đã có một số tác giả nghiên cứu:

Luận văn Thạc sỹ: “Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay Ngân hàng trong thi

hành hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố

Hồ Chí Minh”, của tác giả Phạm Ngọc Thanh (Bảo vệ năm 2017 tại Học Viện Khoa

học Xã hội) Mục đích của luận văn này đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật liên quan đến tài sản bảo đảm, kê biên tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng trong thi hành án dân sự Luận văn đã nêu lên thực trạng kết quả đạt được, cũng như những vướng mắc, khó khăn, bất cập trong việc kê biên tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng trên địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh Tác giả cũng nêu ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật để góp phần nâng cao hiệu quả của việc kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thi hành cho các ngân hàng,

tổ chức tín dụng

Luận văn Thạc sỹ: “Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn

Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả

Triệu Thị Diễm Thúy (Bảo vệ năm 2018 tại Học Viện khoa học xã hội) Mục đích của luận văn này đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật

về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự Luận văn đã nêu lên thực trạng kết

Trang 10

quả đạt được, cũng như những vướng mắc, khó khăn, bất cập trong việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiến quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh Tác giả cũng nêu ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật để góp phần nâng cao hiệu quả của việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Các nghiên cứu khoa học trên đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kê biên, bán đấu giá trong thi hành án dân sự Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống về thực trạng kê biên, bán đấu giá tài sản theo pháp luật thi hành án dân sự tại địa phương cụ thể Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Do đó, sau khi nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa các quan điểm của các công trình khoa học trên, tác giả nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về thực trạng

kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống

cơ sở lý luận nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về kê biên, bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự Luận văn cũng luận giải những cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục liên quan đến việc kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Nhiệm vụ nghiên cứu: trên cơ sở phân tích và đánh giá những vấn đề lý luận, pháp lý về kê biên, bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật thi hành án dân

sự Từ đó nhận diện, đánh giá những thuận lợi, khó khăn, những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật từ thực tiễn vận dụng, áp dụng tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị để góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng, đảm bảo đúng quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự; kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân

sự và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là hoạt động kê biên, bán đấu giá tài sản

trong thi hành án dân sự từ thực tiễn Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố

Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu: về nội dung: nghiên cứu phần lý luận chung về kê biên,

bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự; phần thực tiễn áp dụng pháp luật về kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án và kiến nghị hoàn thiện, nâng cao hiệu quả;

về chủ thể, địa phương áp dụng: Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng

Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật và hệ thống pháp luật hiện hành

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Tác giả nghiên cứu làm sáng tỏ các quy định pháp luật về kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự Từ thực tiễn tại địa phương, đã phân tích, đánh giá, nhận diện tương đối toàn diện những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc, bất cập trong vận dụng, áp dụng và thực thi trên thực tế công tác về kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó đưa

ra các đề xuất, kiến nghị, giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật

về thi hành án dân sự và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác của bản thân và đơn vị

Các nội dung thể hiện trong đề tài sẽ là tài liệu để tham khảo, nghiên cứu cho các đối tượng muốn quan tâm, tìm hiểu về kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành

án dân sự Đồng thời, kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu góp phần phục vụ cho việc

Trang 12

nâng cao kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng và kinh nghiệm công tác cho các cán bộ, công chức công tác trong ngành thi hành án dân sự Là cơ sở để các cơ quan nhà nước, địa phương hoạch định, xây dựng các chính sách liên quan đến thi hành án dân sự phù hợp, đạt hiệu quả cao

7 Kết cấu của luận văn

Bao gồm phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kê biên, bán đấu giá tài sản theo pháp

luật thi hành án dân sự

Chương 2: Thực tiễn kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự tại

Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật góp phần nâng cao

hiệu quả kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự tại Chi Cục Thi hành

án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ

TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Kê biên tài sản theo pháp luật thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thi hành án dân sự

1.1.1.1 Khái niệm về thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự là hoạt động của hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự,

có chức năng tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, nhằm khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức và người dân Theo quy định của luật thi hành án dân sự, thì các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bao gồm:

“- Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;

- Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;

- Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;

- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

- Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh

mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;

- Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;

- Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản” [32, tr.10]

1.1.1.2 Đặc điểm của thi hành án dân sự

Điều 106 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Bản án, quyết định của Tòa án

nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng;cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” [27, tr.26] Các bản

án, quyết định dân sự đã có hiệu lực của Toà án phải được đảm bảo thi hành theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự

Trang 14

Theo nguyên tắc Hiến định nêu trên thì hoạt động thi hành án dân sự là nhằm đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, việc xác định bản chất của thi hành án dân sự vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận cả từ góc độ lý luận và thực tiễn Dựa trên những luận cứ khác nhau, có quan điểm cho rằng thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp; hoạt động hành chính hay hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp Xuất phát từ các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự ở nước ta, nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm cho rằng thi hành án dân sự là hoạt động đặc thù, vừa có tính chất của hoạt động hành chính, vừa có tính chất của hoạt động tư pháp Điều này thể hiện

ở một số điểm sau đây:

Thi hành án dân sự và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả

với nhau Đối với các bản án hình sự hình sự, nếu ở giai đoạn điều tra, các cơ quan tiến hành tố tụng không kiên quyết áp dụng đầy đủ, kịp thời các biện pháp ngăn chặn như kê biên, thu giữ, phong tỏa tài sản thì đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đương sự đã cố tình tẩu tán tài sản, dẫn đến tình trạng án tồn đọng không thể thi hành được Hoặc nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, cụ thể, rõ ràng, được dư luận đồng tình, ủng hộ thì đến giai đoạn thi hành án việc thi hành sẽ được dễ dàng, nhanh chóng Trái lại, nếu bản án, quyết định của Tòa án được tuyên không công bằng, toàn diện, khách quan, thiếu tính khả thi sẽ gây khó khăn, cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước Nếu việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét

xử, góp phần củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước

Quá trình thi hành án dân sự là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về tài sản, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, do đó các trình tự, thủ tục về quá trình thi hành án dân sự cũng được quy định chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục

tố tụng trước đó vì đều liên quan đến quyền và lợi ích của con người, của công dân

Trang 15

1.1.2 Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự

Kê biên tài sản là một trong những biện pháp cưỡng chế bắt buộc của cơ quan Thi hành án do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo Bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành

án mà không tự nguyện thi hành

1.1.2.1 Điều kiện áp dụng biện pháp kê biên tài sản

Để áp dụng được biện pháp kê biên tài sản, cần phải căn cứ các quy định của Luật Thi hành án dân sự, gồm:

- Bản án, quyết định của Tòa án: Bản án, quyết định của Tòa án là một trong những căn cứ bắt buộc, không thể thiếu để thực hiện biện pháp kê biên tài sản Điều này được quy định tại khoản 1, điều 70 của Luật Thi hành án dân sự về căn cứ cưỡng

chế: “bản án, quyết định” Chấp hành viên phải dựa trên cơ sở bản án, quyết định

của Tòa án để áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản

- Quyết định thi hành án: Quyết định thi hành án là văn bản do Thủ trưởng cơ quan Thi hành án có thẩm quyền ban hành theo một trình tự, thủ tục nhất định để thi hành một hoặc nhiều khoản của bản án, quyết định dân sự theo thủ tục thi hành án dân sự, làm căn cứ cho việc tổ chức cưỡng chế thi hành án, bảo đảm lợi ích nhà nước,

tổ chức và công dân

- Người phải thi hành án có tài sản, đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành, sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

1.1.2.2 Nguyên tắc áp dụng biện pháp kê biên tài sản

Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phù hợp, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết

Trang 16

Sau khi ra quyết định kê biên, Chấp hành viên phải tiến hành thủ tục thông báo cho các đương sự và những cơ quan, tổ chức có liên quan biết được nội dung cưỡng chế Thông báo cưỡng chế là thủ tục bắt buộc mà cơ quan thi hành án gửi, tống đạt cho các đương sự và những cơ quan, tổ chức hữu quan để các đương sự và cơ quan đó thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Theo quy định thì việc thông báo được thực hiện dưới nhiều hình thức như: thông báo trực tiếp, niêm yết công khai, thông báo trên cácphương tiện thông tin đại chúng, ngoài ra còn có một số hình thức thông báo khác như: thư tín, điện tín, fax, email hoặc các hình thức khác Người đảm nhận việc thông báo quyết định kê biên là Chấp hành viên, thư ký thi hành án giao văn bản cần thông báo cho người được thông báo, do bưu tá, người được cơ quan thi hành án ủy quyền, tổ chức tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum, sóc, Ủy ban nhân dân, Công an cấp xã; Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, Giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người được thông báo có địa chỉ, cư trú, công tác

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản phải căn cứ vào bản án, quyết định và từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Nguyên tắc này đòi hỏi rất cao về mặt chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức Chấp hành viên

1.1.2.3 Căn cứ áp dụng biện pháp kê biên tài sản

Khi tổ chức thi hành một bản án liên quan đến kê biên tài sản của người phải thi hành án, thì căn cứ để tổ chức cưỡng chế thi hành án phải theo quy định chung, trong đó hồ sơ thi hành án phải có: Bản án quyết định, đơn yêu cầu thi hành án, Quyết định thi hành án, các văn bản tài liệu xác minh quá trình tổ chức thi hành án và cuối cùng là Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên

kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án

1.1.3 Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục kê biên tài sản

1.1.3.1 Ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án

Thứ nhất, thẩm quyền ra quyết định kê biên tài sản

Theo quy định tại khoản 5 Điều 20 Luật Thi hành án dân sự, thì thẩm quyền này thuộc về Chấp hành viên được phân công tổ chức vụ việc

Trang 17

Thứ hai, về thời điểm ra quyết định kê biên tài sản

Theo quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án dân sự thì hết thời gian tự nguyện thi hành án (hoặc chưa hết thời hạn tự nguyện nhưng thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Đều 45 Luật Thi hành án dân sự) và xác định người phải thi hành án có tài sản thuộc diện được kê biên để đảm bảo thi hành án Thời hạn tự nguyện thi hành án

là 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án Việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong thời hạn tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên phải chứng minh người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án

Thứ ba, điều kiện để ra quyết định cưỡng chế kê biên tài sản

Người phải thi hành án được xác định là có điều kiện thi hành án khi người đó

có tài sản để thi hành án Để xác định thế nào là có tài sản để thi hành án, Chấp hành viên phải căn cứ vào quy định tại Bộ Luật dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật khác có liên quan, cụ thể: Về tài sản, theo quy định tại Điều 105 Bộ Luật dân sự, thì tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai:

- Bất động sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật

- Động sản là những tài sản không phải là bất động sản

- Quyền tài sản: Theo quy định tại Điều 115 Bộ Luật dân sự năm 2015 thì, quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng

là quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác

- Giấy tờ có giá: Theo quy định tại khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010; khoản 1 Điều 3 Thông tư 04/2016/TT-NHNN và khảo 1 Điều

2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN, thì: Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sử dụng giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác Như vậy, giấy tờ có

Trang 18

giá là loại giấy tờ trên đó thể hiện một giá trị thanh toán hoặc quy đổi được thành tiền

và được phép giao dịch trên thị trường theo quy định của pháp luật

Thứ tư, lựa chọn tài sản để ra quyết định kê biên

Để có cơ sở ban hành quyết định kê biên tài sản, Chấp hành viên phải lựa chọn tài sản để kê biên (trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên kê biên tài sản cụ thể) Khi lựa chọn tài sản để thực hiện kê biên, Chấp hành viên cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Chỉ kê biên tài sản của người phải thi hành án hoặc tài sản của người phải

thi hành án đang do người thứ ba giữ

Theo quy định tại khoản 3, Điều 71 Luật Thi hành án dân sự, khi ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải có căn cứ pháp

lý để xác định đấy là tài sản thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án Ví dụ: đối với tài sản là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản như quyền sử dụng đất, ô tô, mô tô, tàu thuyền…thì căn cứ pháp lý là giấy chứng nhận quyền sử dụng, sở hữu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người phải thi hành án [32, Tr.15]

- Phải lựa chọn tài sản kê biên tương ứng với nghĩa vụ thi hành án

Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/NĐ-CP ngày

18/07/2015 của Chính phủ thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế nói chung, biện pháp

kê biên tài sản của người phải thi hành án nói riêng cần đảm bảo tài sản bị kê biên phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết Do

đó, Chấp hành viên phải lựa chọn tài sản kê biên ít nhất là lớn hơn hoặc bằng nghĩa

vụ thi hành án và các chi phí cần thiết Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp kê biên toàn bộ tài sản đó để đảm bảo thi hành án [14, Tr.6]

- Về thứ tự lựa chọn tài sản kê biên

Trường hợp kê biên tài sản chung của người phải thi hành án với người khác:

Trang 19

Theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 24 Nghị định số 62/NĐ-CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ, thì: “Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản

chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của đương sự” [14, tr.21] Như

vậy, Chấp hành viên chỉ lựa chọn việc kê biên tài sản chung của người phải thi hành

án với người khác là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có căn cứ pháp lý chứng minh người phải thi hành án không có tài sản khác đủ để thi hành án

Trường hợp người phải thi hành án tự nguyện giao tài sản để kê biên: Theo quy định tại khoản 4 Đều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/07/2015 của Chính phủ, thì trường hợp người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc tổ chức thi hành án và tài sản

đó đủ để thi hành án và các chi phí liên quan thì Chấp hành viên lập biên bản giải thích cho họ về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án Người phải thi hành án bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với tài sản khác cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành á [14, Tr.22] Do đó, khi nhận được đề nghị của người phải thi hành án về việc kê biên một tài sản cụ thể, Chấp hành viên cần phải tuân thủ các yếu tố sau khi chấp nhận kê biên tài sản đó: tính pháp lý của tài sản, giá trị của tài sản, tính thanh khoản của tài sản, khả năng thuận lợi hay khó khăn của việc giao tài sản cho người trúng đấu giá

để quyết định có lựa chọn kê biên tài sản đó hay không

Trường hợp kê biên tài sản của doanh nghiệp: Theo quy định tại khoản 5 Điều

24 Nghị định 62/NĐ-CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ, quy định: Cơ quan thi hành

án dân sự chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải thi hành án, nếu sau khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do người thứ ba giữ mà vẫn không đủ để thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thận khác Như vậy, đối với nghĩa vụ của người phải thi hành án là doanh nghiệp thì Chấp hành viên phải lựa chọn xử lý tiền và các loại tài sản có giá trị như tiền trước khi xử lý các tài

Trang 20

sản khác (nhà xưởng, máy móc, thiết bị…) của doanh nghiệp [14, Tr.22]

- Một số lưu ý khi lựa chọn tài sản kê biên:

Không lựa chọn những tài sản mà pháp luật quy định không được kê biên: Khi thực hiện việc kê biên tài sản, phải tuân thủ quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án dân sự, quy định những tài sản sau không được kê biên:

“1 Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc

phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan,

tổ chức

2 Tài sản sau đây của người phải thi hành án là cá nhân:

a) Số lương thực đáp ứng yêu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;

b) Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;

c) Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; d) Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán địa phương;

đ) Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình;

e) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình

3 Tài sản sau đây của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ

sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:

a) Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực,

b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;

c) Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy, nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường” [32, tr.77]

Việc kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp Theo quy định tại Điều 90 Luật

Thi hành án dân sự; khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/NĐ-CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ; Điều 4 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC

Trang 21

thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền kê biên tài sản đã cầm cố, thế chấp trong một

số trường hợp như: người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án thì Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án; kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản nào khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành

án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác [14, tr.21]

Theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của

Quốc hội, về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng thì: “Các tải sản bảo

đảm của khoản nợ xấu của bên phải thi hành án đang bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu không bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều 90 Luật Thi hành

án dân sự, trừ trường hợp thi hành bản án, quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và trường hợp có sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu” [33, tr.13]

Như vậy, quyền kê biên của Chấp hành viên đối với tài sản của người phải thi hành án đã cầm cố, thế chấp cho tổ chức tín dụng để đảm bảo cho khoản nợ xấu đã

bị hạn chế Do đó, trong trường hợp kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành

án có tài sản nhưng đang cầm cố, thế chấp cho các tổ chức tín dụng, thì Chấp hành viên yêu cầu tổ chức tín dụng xác định bằng văn bản khoản nợ xấu đó có phải là nợ xấu hay không theo quy định tại Điều 4 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 để làm cơ

sở cho việc thi hành án

Thứ năm, thực hiện báo cáo kết quả xác minh và đề xuất việc kê biên tài sản cho Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên là người quyết định việc tổ chức thi hành án nói chung và việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng Tuy nhiên, theo quy trình tổ chức thi hành án trong nội bộ cơ quan

Trang 22

thi hành án, trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản Chấp hành viên

đề xuất cả nội dung cưỡng chế kê biên tài sản trong trường hợp cần huy động lực lượng cưỡng chế đểThủ trưởng cơ quan thi hành án trao đổi, đề nghị các cơ quan liên quan cử người tham gia phối hợp, hỗ trợ việc cưỡng chế

Quyết định kê biên tài sản là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp người phải thi hành án có nhiều nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản không đủ để thi hành án Mặt khác, việc chậm ra quyết định cưỡng chế có thể dẫn đến trường hợp người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản gây khó khăn cho việc thi hành án Do đó, ngay sau khi có kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án

có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên phải báo cáo, đề xuất hướng xử lý tài sản cho Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, đồng thời ban hành quyết định kê biên, xử lý tài sản

Thứ sáu, về nội dung quyết định kê biên tài sản

Nội dung quyết định kê biên, xử lý tài sản được thực hiện theo Mẫu số B26 và C26-THA được ban hành theo Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của

Bộ Tư pháp

1.1.3.2 Tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản

Thứ nhất, xây dựng kế hoạch cưỡng chế kê biên tài sản

Khi cưỡng chế kê biên tài sản, thành phần tham gia ngoài cơ quan thi hành án, còn có các cơ quan liên quan như: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức kê biên, các

cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, nhà ở, công an, cứu thương, cứu hỏa…tham gia

để đảm bảo việc cưỡng chế được thành công, an toàn và hiệu quả

Thứ hai, thông báo về việc kê biên tài sản

Chấp hành viên phải tiến hành thủ tục thông báo về việc kê biên tài sản cho người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, biên bản thông báo được thực hiện theo mẫu số D19 Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 [4, Tr.7] Theo quy định tại Điều 39 Luật Thi hành

án dân sự về thông báo thi hành án thì thông báo việc kê biên tài sản phải được gửi đến cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc kê biên theo quy định trong thời

Trang 23

hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán tài sản, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án Ngoài ra, Chấp hành viên phải thông báo trước ít nhất là 03 ngày làm việc về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên cho đại diện chính quyền cấp xã, tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế

Việc thực hiện thông báo trước khi kê biên tài sản là nhằm để các cơ quan có liên quan và các đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan sắp xếp, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện các nghĩa vụ của mình theo luật định

Tương tự như việc thông báo cưỡng chế nói chung, thông báo kê biên tài sản

có thể được thực hiện bằng các hình thức như: Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan,

tổ chức, cá nhân khác; thông báo qua đường bưu điện; niêm yết công khai; thông báotrên các phương tiện thông tin đại chúng Việc thông báo phải được thực hiện trong thời hạn là 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản Chi phí thông báo do người phải thi hành án chịu Trong trường hợp đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có thay đổi về địa chỉ liên lạc thì phải kịp thời thông báo cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền tổ chức thi hành án biết để thực hiện việc thông báo theo địa chỉ mới Nếu không thông báo địa chỉ mới thì việc thông báo theo địa chỉ được xác định trước

đó cũng được xem là thông báo hợp lệ

Thứ ba, chuẩn bị cho việc kê biên tài sản

Để việc cưỡng chế kê biên tài được chủ động, đat hiệu quả cao thì công tác chuẩn bị việc kê biên cũng rất quan trọng; công tác chuẩn bị càng kỹ lưỡng, chi tiết thì hiệu quả càng cao, các nội dung cần thiết cho hoạt động cưỡng chế kê biên tài sản gồm: Lập danh sách những người tham dự, gửi giấy mời và thông báo rõ thời gian, địa điểm để họ tham gia buổi kê biên Chuẩn bị các biểu mẫu nghiệp vụ như: biên bản kê biên, biên bản giao bảo quản tài sản, biên bản mở khóa, phá khóa, biên bản liệt kê, niêm phong tài sản Chuẩn bị các công cụ, phương tiện cưỡng chế như: phương tiện vận tải, bao bì, loa, giấy niêm phong

Thứ tư, tiến hành việc kê biên tài sản

Trong quá trình tổ chức kê biên có nhiều người và nhiều cơ quan hỗ trợ, phối hợp, tuy nhiên Chấp hành viên là người chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện

Trang 24

kê biên tài sản, khi kê biên tài sản Chấp hành viên phải thực hiện kiểm tra danh sách, lực lượng tham gia theo kế hoạch; kiểm tra các đương sự; công bố quyết định cưỡng chế kê biên tài sản, chủ trì yêu cầu các thành phần tham gia cưỡng chế vào vị trí thực hiện nhiệm vụ đã được phân công

Thứ năm, lập biên bản kê biên tài sản

Khi kê biên tài sản phải lập biên bản kê biên Việc lập biên bản có thể do Chấp hành viên hoặc cán bộ thi hành án lập Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên;

mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng Biên bản kê biên có chữ ký của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản Đối với biên bản kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì biên bản phải ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê biên và có chữ ký của những người tham gia Trong trường hợp người phải thi hành án không chịu ký vào biên bản kê biên thì phải ghi rõ lý do trong biên bản

và mời người làm chứng ký tên vào biên bản

Thứ sáu, giao người bảo quản tài sản kê biên

Trên cơ sở kết quả kê biên, Chấp hành viên lựa chọn các hình thức giao bảo quản tài sản kê biên theo quy định tại Điều 58 Luật Thi hành án dân sự Khi giao tài sản cho người phải thi hành án hoặc người thân thích của họ bảo quản, Chấp hành cần phải thông báo cho người nhận bảo quản biết trách nhiệm của họ trong việc bảo quản tài sản và họ phải có trách nhiệm để tổ chức thẩm định giá, người đăng ký mua tài sản được xem tài sản Việc giao tài sản cho cá nhân hay tổ chức nào bảo quản chờ

xử lý có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bán đấu giá và giao tài sản cho người mua trúng đấu giá sau này, vì thế Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự phải cân nhắc hiệu quả của công việc mới quyết định giao cho cá nhân hay tổ chức nào bảo quản tài sản kê biên, việc giao bảo quản tài sản phải được lập biên bản ghi rõ loại tài sản; tình trạng tài sản; giờ, ngày, tháng, năm giao; họ, tên Chấp hành viên, đương sự,

Trang 25

người được giao bảo quản, người làm chứng (nếu có); quyền, nghĩa vụ của người được giao bảo quản tài sản và có chữ ký của các bên, trường hợp có người từ chối ký thì phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do

1.2 Khái quát chung về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

1.2.1 Bán đấu giá tài sản

1.2.1.1 Khái niệm bán đấu giá tài sản

Đấu giá là một trong những hình thức mua bán tài sản phổ biến trong nền kinh

tế thị trường Trong lý thuyết kinh tế, đấu giá là phương pháp xác định giá trị của một tài sản có mức giá không thể xác định Thông qua đấu giá, người mua và người bán

có thể mua và bán được tài sản với giá gần đúng với giá trị của tài sản đó

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, thì đấu giá là bán theo phương thức để cho những người mua trả giá công khai, ai trả giá cao nhất thì bán

Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp “Đấu giá tài

sản thông qua thủ tục trả giá công khai giữa nhiều người muốn mua và người trả giá cao nhất là người được quyền mua tài sản” [6, tr.19] Đấu giá tài sản có thể là bắt

buộc (theo quyết định của tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền) hoặc tự nguyện (theo nhu cầu của chủ sở hữu tài sản) Người bán tài sản có thể tự tổ chức đấu giá hoặc thông qua người bán đấu giá chuyên nghiệp, kinh doanh đấu giá

Theo khoản 2, Điều 5 Luật đấu giá tài sản “Đấu giá tài sản là hình thức bán

tài sản có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự và thủ tục

Trên thực tế, các hoạt động mua bán đấu giá đã tồn tại và phát triển một cách khách quan cần có sự điều chỉnh của pháp luật Bộ luật Dân sự, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác ra đời đã điều chỉnh các quan hệ này Vì vậy, theo nghĩa rộng thìđấu giá tài sản được hiểu là phương thức tổ chức mua bán tài sản công khai

có nhiều người cùng tham gia trả giá và người nào trả giá cao nhất là người mua được tài sản đó Với cách hiểu này, bán đấu giá tài sản đã được hiểu là một chế định pháp luật dân sự - thương mại bao gồm các quy phạm pháp luật về đấu giá Các quy phạm

Trang 26

này quy định về nguyên tắc, hình thức, điều kiện, trình tự, thủ tục, nội dung đấu giá…thông qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia

Bên cạnh đó, bán đấu giá tài sản còn được hiểu là một hợp đồng dân sự, thương mại tức là bán đấu giá tài sản cũng là sự thỏa thuận giữa các bên mà theo đó bên bán chuyển giao tài sản và chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua, còn bên mua có quyền nhận tài sản và trả tiền cho bên bán Là hợp đồng mua bán nên hợp đồng đấu giá cũng mang bản chất của hợp đồng mua bán nói chung, đó là hợp đồng ưng thuận, hợp đồng song vụ và có đền bù Tuy nhiên, hợp đồng mua bán đấu giá có những nét đặc thù riêng khác với hợp đồng mua bán thông thường ở đặc điểm và bản chất của nó

Như vậy, có rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về đấu giá nhưng tất

cả các quan điểm, định nghĩa đó đều thể hiện bản chất của đấu giá, đó là: Phương thức mua bán công khai có nhiều người tham gia trả giá Qua đó, có thể đưa ra khái

niệm cơ bản về bán đấu giá tài sản như sau: “Bán đấu giá tài sản là một hình thức

mua bán đặc biệt theo đó người mua tự trả giá dựa trên giá khởi điểm do bên bán đưa ra Người nào trả giá cao nhất sẽ được quyền mua tài sản đấu giá Đấu giá được

tổ chức công khai theo những nguyên tắc và trình tự, thủ tục nhất định”

1.2.1.2 Đặc điểm của bán đấu giá tài sản

Thứ nhất, chủ thể tham gia đăng ký mua tài sản bán đấu giá phải từ hai chủ thể trở lên

Chủ thể tham gia đăng ký đấu giá và tham gia phiên đấu giá phải từ hai người trở lên Đây là quy định khác biệt đối với các trường hợp mua bán hàng hóa không thông qua đấu giá, quy định này đảm bảo tính cạnh tranh trả giá và đảm bảo cho tài sản được bán với giá cao nhất

Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ nhưng phải tuân theo quy định chặt chẽ Theo quy định tại Điều 49 Luật đấu giá tài sản 2016 có quy định, việc đấu giá tài sản trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá chỉ được tiến hành sau khi đã tổ chức cuộc đấu giá lần đầu nhưng không thành và được thực hiện như sau:

Trang 27

Trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham gia cuộc đấu giá và chấp nhận giá khởi điểm hoặc chấp nhận mức giá sau khi đã giảm thì tài sản được bán cho người đó nếu người có tài sản đấu giá đồng ý bằng văn bản

Thứ hai, hoạt động bán đấu giá phải tuân theo trình tự thủ tục do Luật đấu giá tài sản quy định, tất cả mọi thủ tục đều phải được công khai minh bạch

Luật đấu giá tài sản đã quy định chặt chẽ về nguyên tắc, trình tự thủ tục bán đấu giá tài sản; đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, bồi thường thiệt hại; quản lý nhà nước về đấu giá tài sản Các thủ tục như chào mời các doanh nghiệp đấu giá, ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá, thông báo công khai việc mua hồ sơ bán đấu giá, tiền đặt trước, thời gian xem tài sản, chi phí bán đấu giá Tất cả quá trình trên đều phải tuân theo trình tự chặt chẽ, thống nhất Nếu vi phạm về thủ tục thì kết quả bán đấu giá sẽ bị hủy gây tốn thời gian, tiền bạc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích của các bên tham gia đấu giá, người có tài sản bán đấu giá

Thứ ba, tính công khai là nét đặc trưng của hoạt động bán đấu giá

Mọi thông tin liên quan đến cuộc bán đấu giá đều phải được thông báo công khai theo trình tự thủ tục quy định, nhằm đảm bảo sự khách quan và trung thực trong suốt quá trình tổ chức bán đấu giá

Việc tuân thủ nghiêm túc và triệt để trình tự, thủ tục luật định khi bán đấu giá sẽ đảm bảo hiệu quả về mặt pháp lý cho tài sản được đấu giá Khi đó các thông tin về tài sản bán đấu giá sẽ được thông tin đến đông đảo người có nhu cầu mua và người có tài sản đấu giá sẽ có cơ hội bán được với giá cao nhất

Thứ tư, tài sản trong đấu giá rất đa dạng

Tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức là những tài sản được phép giao dịch theo quy định của pháp luật, ví dụ như hàng hóa, một số loại đồ cổ, tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm, phương tiện giải trí, bất động sản, đồ dùng gia đình, hàng tiêu dùng, đồ văn phòng, máy tính Tài sản trong thi hành án dân sự là các tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; tài sản là tang vật, phương

Trang 28

tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tài sản nhà nước phải bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước

1.2.2 Bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự

1.2.2.1 Khái niệm bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự

Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là hình thức bán đấu giá do pháp luật quy định nhằm để thi hành nghĩa vụ trả tiền trong bản án, quyết định của Tòa án các cấp; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh

Sau khi kê biên, định giá tài sản, nếu người phải thi hành án và người được thi hành án không thỏa thuận được việc thi hành án thì Chấp hành viên căn cứ vào loại tài sản là bất động sản hay động sản, căn cứ vào kết quả thẩm định giá để xác định thủ tục bán tài sản theo quy định của pháp luật

1.2.2.2 Đặc điểm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là hoạt động mang tính đặc thù do Chấp hành viên thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định nhằm xử lý tài sản của người phải thi hành án để thi hành các bản án, quyết định của Tòa án Do vậy, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự cónhững đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án chỉ phát sinh sau khi

Chấp hành viên hoặc các cơ quan tố tụng khác cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án, người bảo lãnh

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán tài

sản đấu giá là bình đẳng với nhau

Thứ ba, Chấp hành viên phải phong tỏa tài khoản tiền đặt trước, cho người

tham gia đấu giá nộp vào và không cho rút ra

Thứ tư, hợp đồng bán đấu giá tài sản có thể hủy theo quy định riêng của Luật

thi hành án

Trang 29

1.2.3 Nội dung pháp luật về bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự

Sau khi thực hiện việc kê biên tài sản và thẩm định giá tài sản, theo quy định tại khoản 2 Điều 98 Luật thi hành án dân sự, nếu các đương sự không thỏa thuận được việc lựa chọn tổ chức bán đấu giá tài sản, thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá

Tuy nhiên, theo quy định thì Chấp hành viên được quyền bán tài sản trong các trường hợp sau: Thứ nhất, Chấp hành viên sẽ tổ chức bán đấu giá tài sản mà tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản Đây là trường hợp Chấp hành viên tự mình thực hiện việc bán đấu giá theo đúng quy định của Luật thi hành án dân sự và Luật đấu giá tài sản như đối với một Đấu giá viên thông thường Thứ hai, Chấp hành viên tự mình thực hiện bán đấu giá đối với các tài sản là động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá

Trình tự thủ tục bán đấu giá tài sản được quy định chặt chẽ từ Điều 101 đến Điều 104 Luật thi hành án dân sự, Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự, Luật đấu giá tài sản, Nghị định 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật đấu giá tài sản; Thông tư số 45/2017/TT-BTP ngày 12/5/2017 của Bộ Tư pháp, cụ thể:

- Thứ nhất, lựa chọn ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản đối với tổ chức đấu giá tài sản

Thời hạn, thực hiện trong 10 ngày kể từ ngày có chứng thư thẩm định giá hoặc thỏa thuận về giá giữa các đương sự gồm người được thi hành án và người phải thi hành án, Chấp hành viên phải có nghĩa vụ ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá Việc bán đấu giá tài sản đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng

Trang 30

Luật Thi hành án dân sự đã quy định Chấp hành viên thực hiện ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản phải tuân thủ các quy định như sau:

Trường hợp Chấp hành viên lựa chọn thì phải thông báo trên trang thông tin điện tử Cục thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi có tài sản đấu giá

Nội dung hợp đồng: Đây là những điều khoản của hợp đồng dịch vụ đấu giá, là nội dung khá quan trọng, Chấp hành viên phải nghiên cứu thật kỹ và chỉnh sửa lại điều khoản hợp đồng cho phù hợp với thực tế tài sản, sau đó chính thức phát hành

Điều khoản phí bán đấu giá: Theo quy định tại Điều 66 Luật đấu giá tài sản

2016 quy định về thu lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản gồm thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản do người có tài sản đấu giá và Tổ chức đấu giá tài sản thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản Chi phí đấu giá tài sản bao gồm chi phí niêm yết, thông báo công khai, chi phí thực tế hợp lý khác cho việc đấu giá tài sản do người có tài sản đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản thỏa thuận [28, Tr.34]

Điều khoản tiền bán đấu giá thành: Theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Nghị

định 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn

thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, quy định: “Người mua được tài

sản bán đấu giá phải nộp tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày đấu giá thành Trong thời hạn không quá 30 ngày, trường hợp khó khăn, phức tạp thì không quá 60 ngày, kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền, cơ quan thi hành án phải tổ chức việc giao tài sản cho người mua được tài sản, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng” [14, tr.24]

Điều khoản về hủy kết quả bán đấu giá: Theo quy định tại Điều 102 Luật Thi

hành án dân sự, thì: “Người mua được tài sản đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi

kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản” [32, tr.88] Quy định

trên đã giới hạn chủ thể có quyền khởi kiện đề nghị Tòa hủy kết quả bán đấu giá, nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của người mua tài sản đấu giá

Theo quy định tại Điều 72 Luật đấu giá tài sản 2016, thì việc hủy kết quả đấu giá tài sản được thực hiện trong các trường hợp:

Trang 31

+ Theo thỏa thuận giữa người có tài sản đấu giá, Tổ chức đấu giá tài sản và người trúng đấu giá về việc hủy kết quả đấu giá tài sản hoặc giữa người có tài sản đấu giá và người trúng đấu giá về việc hủy giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, hủy bỏ hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, trừ trường hợp gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức

+ Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định của pháp luật về dân sự trong trường hợp người trúng đấu giá có hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5 Điều 9 của Luật đấu giá tài sản 2016

+ Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản bị hủy bỏ theo quy định tại khoản 6 Điều

33 của Luật đấu giá tài sản 2016

+ Người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản, Đấu giá viên có hành vi thông đồng, móc nối, dìm giá trong quá trình tham gia đấu giá dẫn đến làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá hoặc hồ sơ tham gia đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản

+ Theo quyết định của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp đấu giá tài sản nhà nước khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản

6 Điều 33 của Luật đấu giá tài sản 2016 [28, tr.28]

- Thứ hai, tổ chức thực hiện hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản

Người thực hiện gồm đấu giá viên và tổ chức đấu giá Đấu giá viên, tổ chức bán đấu giá sẽ tiến hành các thủ tục như bán hồ sơ đấu giá, thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản, hướng dẫn người đăng ký mua tài sản xem tài sản Người chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá trình bán đấu giá là Chấp hành viên Việc bán đấu giá đối với bất động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản

Ban hành Quy chế cuộc đấu giá: Để thực hiện việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản, Chấp hành viên cần tham khảo các quy chế bán đấu giá tài sản của các tổ chức đấu giá chuyên nghiệp, các nội dung, nội quy bán đấu giá phải được công khai và phù hợp với quy định tại Điều 34 Luật đấu giá tài sản, gồm các nội dung cơ bản

Trang 32

gồm: tên tài sản hoặc danh mục tài sản, số lượng, chất lượng của tài sản đấu giá, nơi có tài sản đấu giá, giấy tờ về quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đấu giá; thời gian, địa điểm xem tài sản đấu giá; thời gian, địa điểm bán hồ sơ tham gia đấu giá; giá khởi điểm của tài sản đấu giá trong trường hợp công khai giá khởi điểm; tiền mua hồ sơ tham gia đấu giá, tiền đặt trước; thời gian, địa điểm, điều kiện, cách thức đăng ký tham gia đấu giá; thời gian, địa điểm tổ chức cuộc đấu giá; hình thức đấu giá, phương thức đấu giá; các trường hợp bị truất quyền tham gia đấu giá, các trường hợp không được nhận lại tiền đặt trước

Thực hiện việc niêm yết công khai đấu giá tài sản: Đối với tài sản là động sản thì Chấp hành viên phải niêm yết việc đấu giá tài sản tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, nơi trưng bày tài sản và nơi tổ chức cuộc đấu giá ít nhất là 7 ngày làm việc trước ngày mở cuộc đấu giá Như vậy, theo quy định này trong trường hợp có tổ chức trưng bày tài sản thì mới phải thực hiện việc niêm yết tại nơi trưng bày tài sản Đối với tài sản là bất động sản, Luật đấu giá tài sản đã giảm thời gian niêm yết, tức là giảm 15 ngày và bỏ quy định phải niêm yết tại nơi có bất động sản đấu giá Theo đó, trường hợp đấu giá tài sản là bất động sản thì Chấp hành viên, tổ chức bán đấu giá phải niêm yết việc đấu giá tài sản tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, nơi tổ chức cuộc đấu giá và Ủy ban nhân dân cấp xã phường nơi có bất động sản đấu giá ít nhất là 15 ngày trước ngày mở cuộc đấu giá

Luật Đấu giá tài sản quy định trách nhiệm lưu trữ, tài liệu, hình ảnh niêm yết trong hồ sơ đấu giá của tổ chức đấu giá Đối với trường hợp niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi có bất động sản đấu giá thì Chấp hành viên phải lưu tài liệu, biên bản về việc niêm yết có xác nhận về việc niêm yết của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường và phải lưu giữ trong hồ sơ thi hành án bản sao toàn bộ hồ sơ đấu giá

Thông báo công khai việc bán đấu giá: Luật đấu giá tài sản quy định thông báo công khai bán đấu giá phải đầy đủ các nội dung gồm: tên, địa chỉ của Tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá; tên tài sản hoặc danh mục tài sản, số lượng, chất lượng của tài sản đấu giá; nơi có tài sản đấu giá; giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản bán đấu giá; thời gian, địa điểm xem tài sản đấu giá; thời gian,

Trang 33

địa điểm bán hồ sơ tham gia đấu giá; giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá trong trường hợp công khai giá khởi điểm; tiền mua hồ sơ tham gia đấu giá, tiền đặt trước; thời gian, địa điểm tổ chức cuộc đấu giá; hình thức đấu giá, phương thức đấu giá

Theo Điều 57 Luật Đấu giá tài sản 2016 thì việc thông báo công khai đấu giá tài sản, ngoài việc niêm yết theo quy định tại Điều 35 Luật Đấu giá tài sản 2016, thì đối với tài sản đấu giá là động sản có giá khởi điểm từ năm mươi triệu đồng trở lên và bất động sản thì tổ chức đấu giá tài sản phải thông báo công khai ít nhất hai lần trên báo in hoặc báo hình của Trung ương hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản đấu giá và trang thông tin điện tử chuyên ngành về đấu giá tài sản, mỗi lần thông báo công khai cách nhau ít nhất 2 ngày làm việc Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 3 Luật Báo chí 2016 thì “báo in là loại hình báo chỉ sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in” và “báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau”

Tổ chức xem tài sản đấu giá: Chấp hành viên có trách nhiệm tạo điều kiện cho những người có nhu cầu tham gia mua đấu giá tài sản thực hiện việc xem tài sản bán đấu giá theo thời gian, địa điểm trong thông báo bán đấu giá

Bán hồ sơ, tiếp nhận hồ sơ: Chấp hành viên phải có trách nhiệm giám sát tổ

chức bán đấu giá thực hiện việc bán hồ sơ tham gia đấu giá, tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá trong giờ hành chính, liên tục kể từ ngày niêm yết việc đấu giá tài sản cho đến trước ngày mở cuộc đấu giá 02 ngày Tổ chức bán đấu giá không được đặt thêm yêu cầu, điều kiện đối với người tham gia đấu giá trừ các điều kiện đăng ký tham gia đấu giá quy định tại Luật đấu giá tài sản và pháp luật luật có liên quan

Tổ chức cuộc đấu giá, điều hành cuộc đấu giá: Đấu giá viên phải là người giữ vai trò chủ đạo, khéo léo dẫn dắt những người tham gia đấu giá, khuyến khích họ trả giá, tạo không khí sôi nổi cho cuộc bán đấu giá Tùy theo sự lựa chọn về hình thức đấu giá và phương thức đấu giá để đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất nhưng không trái các nguyên tắc của pháp luật Do vậy, theo

Trang 34

Điều 40 Luật đấu giá tài sản 2016, thì tổ chức đấu giá tài sản thỏa thuận với người có tài sản đấu giá để lựa chọn một trong các hình thức và phương thức đấu giá sau đây để tiến hành cuộc đấu giá cho phù hợp và hiệu quả

- Thứ ba, hoàn thiện các thủ tục của cuộc đấu giá tài sản

Tổ chức bán đấu giá phải hoàn thiện tất cả thủ tục bán đấu giá trong thời hạn

3 ngày làm việc kể từ khi kết thúc phiên đấu giá; nội dung: ghi kết quả đấu giá vào Sổ đăng ký đấu giá; hoàn thiện hồ sơ đấu giá, chuyển hồ sơ đấu giá; chuyển tiền đặt trước của người mua trúng đấu giá cho cơ quan thi hành án dân sự có tài sản đưa ra đấu giá; trả tiền đặt trước cho những người không trúng đấu giá; ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, chủ thể thực hiện gồm chấp hành viên, người mua trúng đấu giá

và tổ chức bán đấu giá; thu tiền của người mua bán tài sản đấu giá; giao tài sản cho người mua trúng đấu giá, thời hạn thực hiện hợp đồng là 75 ngày kể từ ngày trúng đấu giá Tuy nhiên, trong trường hợp vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn tùy theo thỏa thuận trong hợp đồng

1.2.4 Trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Luật đấu giá tài sản đã quy định một cách cụ thể, chi tiết hơn về Tổ chức đấu giá và Đấu giá viên, Luật đấu giá tài sản đã luật hóa các quy định về trình tự thủ tục bán đấu giá, bổ sung nhiều quy định mới về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản nói chung, cũng như bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự nói riêng

Tại Điều 55 Luật Đấu giá tài sản đã quy định về việc áp dụng trình tự, thủ tục trong trường hợp đấu giá tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá Theo đó, việc đấu giá các tài sản quy định tại khoản 1 Điều 4 như: tài sản Nhànước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật; tài sản theo quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm; tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành

án dân sự thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Chương III và Chương IV của Luật Đấu giá tài sản 2016 Do đó, khi thực hiện việc đấu giá tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên cần căn cứ các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và quy định tại Luật Đấu giá tài sản 2016 và các văn bản hướng đẫn thi hành để thực hiện

Trang 35

theo các trình tự, thủ tục sau:

- Thứ nhất, lựa chọn ký hợp đồng dịch vụ đấu giá với tổ chức đấu giá

Thực hiện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có chứng thư thẩm định giá; lựa chọn tổ chức bán đấu giá (theo thỏa thuận của đương sự hoặc Chấp hành viên lựa chọn), trường hợp Chấp hành viên lựa chọn thì phải thông báo trên Trang thông tin điện tử Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản đấu giá; thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng dịch vụ đấu giá; ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá

- Thứ hai, tổ chức thực hiện hợp đồng dịch vụ đấu giá

Người thực hiện là Đấu giá viên và Tổ chức đấu giá; người kiểm tra, giám sát

là Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự; thời hạn thực hiện: đối với động sản

là 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, đối với bất động sản là 45 ngày kể từ ngày ký hợp đồng; nội dung các công việc của Tổ chức bán đấu giá và Đấu giá viên phải thực hiện là ban hành quy chế cuộc đấu giá, thực hiện việc niêm yết công khai, thông báo công khai việc bán đấu giá, tổ chức cho khách hành xem tài sản, bán và tiếp nhận hồ

sơ, thu tiền đặt trước, tổ chức và điều hành cuộc đấu giá

- Thứ ba, hoàn thiện các thủ tục của cuộc đấu giá

Thời hạn thực hiện là 03 ngày làm việc kể từ khi kết thúc phiên đấu giá; người thực hiện là tổ chức bán đấu giá; nội dung công việc là ghi kết quả đấu giá vào sổ đăng ký đấu giá, hoàn thiện hồ sơ đấu giá, chuyển hồ sơ đấu giá, chuyển tiền đặt trước của người mua trúng đấu giá cho cơ quan thi hành án dân sự, lập thủ tục trả tiền đặt trước cho người không trúng đấu giá

- Thứ tư, ký và thực hiện hợp đồng mua bán tài sản đấu giá

Ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá: chủ thể là Chấp hành viên, người mua trúng đấu giá và tổ chức bán đấu giá; thực hiện hợp đồng mua bán tài sản đấu giá: thu tiền mua tài sản của người trúng đấu giá, phối hợp tiến hành các thủ tục giao tài sản cho người trúng đấu giá sau khi họ nộp đủ tiền; thời hạn thực hiện hợp đồng: 75 ngày

kể từ ngày tổ chức bán đấu giá và xác định được người mua tài sản

Tiểu kết chương 1

Trang 36

Trong chương này tác giả trình bày một số vấn đề lý luận liên quan đến khái niệm, đặc điểm bản chất của thi hành án dân sự; của kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự Tác giả cũng đi sâu phân tích các quy định của pháp luật về đặc điểm, điều kiện áp dụng, trình tự, thủ tục cưỡng chế kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự Từ đó làm cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng cưỡng chế kê biên, bán đấu giá tài sản theo pháp luật thi hành án dân

sự qua thực tiễn tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh được đề cập ở chương tiếp theo

Chương 2 THỰC TIỄN KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN

DÂN SỰ QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Quận 10, thành phố

Hồ Chí Minh

Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính cấp huyện có diện tích 571,8 ha, dân số 266.320 người, có 15 đơn vị hành chính cấp phường Trên lĩnh vực kinh tế, hoạt động thương mại – dịch vụ phát triển mạnh, mạng lưới phát triển đa dạng, với hơn 7.162 doanh nghiệp, 26 Hợp tác xã và 9.230 hộ sản xuất – kinh doanh

Trang 37

cá thể, 07 chợ (trong đó có 02 chợ loại II và 05 chợ loại III), 02 trung tâm thương mại, 08 siêu thị, 01 khu chuyên doanh dược phẩm và trang thiết bị y tế

Là địa bàn phát triển kinh tế năng động, ví trí địa lý thuận lợi, kết nối với các quận trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh Số vụ việc tranh chấp về dân sự, kinh

tế, thương mại ngày càng tăng về số vụ việc và giá trị; số lượng vụ việc và giá trị phải thi hành án ngày càng tăng năm sau cao hơn năm trước

2.2 Thực tiễn kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

2.2.1 Thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả thi hành hành án dân sự 9 tháng đầu năm 2019 trên toàn quốc (từ ngày 01/10/2018 đến ngày 30/6/2019) đã thụ lý và giải quyết:

- Về việc: Tổng số thụ lý là 765.766 việc, tăng 33.037 việc (tăng 4,51% so với cùng kỳ năm 2018), trong đó: Số cũ chuyển sang là 341.855 việc; Số thụ lý mới là 423.911 việc, tăng 11.030 việc (tăng 2,67% so với cùng kỳ năm 2018) Tổng số phải thi hành là 758.323 việc, tăng 33.037 việc (tăng 4,56% so với cùng kỳ năm 2018), trong đó: Số có điều kiện thi hành là 558.468 việc, tăng 6.457 việc (tăng 1,17% so với cùng kỳ năm 2018); chiếm 73,65% trong tổng số phải thi hành (giảm 2,46% so với cùng kỳ năm 2018) Đã thi hành xong 336.404 việc, tăng 2.958 việc (tăng 0,89%

so với cùng kỳ năm 2017); đạt tỉ lệ 60,24% (giảm 0,17% so với cùng kỳ năm 2018)

Số việc chuyển kỳ sau 421.919 việc, tăng 30.079 việc (tăng 7,68% so với cùng kỳ năm 2018)

- Về tiền: Tổng số thụ lý là 241.358 tỷ 271 triệu 213 nghìn đồng, tăng 63.859

tỷ 293 triệu 641 nghìn đồng (tăng 35,98% so với cùng kỳ năm 2018), trong đó: Số cũ chuyển sang là 140.804 tỷ 330 triệu 025 nghìn đồng; Số thụ lý mới là 100.553 tỷ 941 triệu 188 nghìn đồng, tăng 45.902 tỷ 984 triệu 317 nghìn đồng (tăng 83,99% so với cùng kỳ năm 2018) Tổng số phải thi hành là 231.401 tỷ 299 triệu 159 nghìn đồng, tăng 56.631 tỷ 748 triệu 508 nghìn đồng (tăng 37,54% so với cùng kỳ năm 2018), trong đó: Số có điều kiện thi hành là 149.246 tỷ 423 triệu 501 nghìn đồng, tăng 48.877

Trang 38

tỷ 635 triệu 488 nghìn đồng (tăng 48,70% so với cùng kỳ năm 2018); chiếm 64,50% trong tổng số phải thi hành (tăng 4,58% so với cùng kỳ năm 2018) Đã thi hành xong là 23.899 tỷ 852 triệu 564 nghìn đồng, tăng 7.259 tỷ 948 triệu 424 nghìn đồng (tăng 43,63% so với cùng kỳ năm 2018); đạt tỉ lệ 16,01% (giảm 0,57%

so với cùng kỳ năm 2018) Số tiền chuyển kỳ sau 207.501 tỷ 446 triệu 595 nghìn đồng, tăng 56.631 tỷ 748 triệu 508 nghìn đồng (tăng 37,54% so với cùng kỳ năm 2018) [35, tr.5]

Kết quả thi hành hành án dân sự 9 tháng đầu năm 2019 tại thành phố Hồ Chí Minh (từ ngày 01/10/2018 đến ngày 30/6/2019) đã thụ lý và giải quyết:

- Về việc: Tổng số thụ lý là 98.353 việc, tăng 33.037 việc (tăng 0,10% so với cùng kỳ năm 2018), trong đó: Số cũ chuyển sang là 43.327 việc; Số thụ lý mới là 55.026 việc, tăng 1.673 việc (tăng 3,14% so với cùng kỳ năm 2018), trong đó: Số có điều kiện thi hành là 97.355 việc, chiếm 74,62% trong tổng số phải thi hành (giảm 4,58% so với cùng kỳ năm 2018); Đã thi hành xong 43.116 việc, đạt tỉ

lệ 59,35% (giảm 2,31% so với cùng kỳ năm 2018) Số việc chuyển kỳ sau 54.239 việc, trong đó số viêc có điều kiện thi hành là 29.532 việc, so với cùng kỳ năm 2018) giảm 348 việc (1,16%)

- Về tiền: Tổng số thụ lý là 94.433 tỷ 705 triệu 534 nghìn đồng, tăng 29.792

tỷ 341 triệu 996 nghìn đồng (tăng 46,09% so với cùng kỳ năm 2018), trong đó: Số cũ chuyển sang là 47.830 tỷ 131 triệu 008 nghìn đồng; Số thụ lý mới là 46.603 tỷ 584 triệu 526 nghìn đồng, tăng 33.932 tỷ 272 triệu 869 nghìn đồng (tăng 267,79% so với cùng kỳ năm 2018), trong đó: Số có điều kiện thi hành là 60.606 tỷ 563 triệu 780 nghìn đồng, tăng 48.877 tỷ 635 triệu 488 nghìn đồng (tăng 48,70% so với cùng kỳ năm 2018); chiếm 65,56% trong tổng số phải thi hành (tăng 129,95% so với cùng kỳ năm 2018) Đã thi hành xong là 12.703 tỷ 041 triệu 852 nghìn đồng, tăng 7.259 tỷ

948 triệu 424 nghìn đồng (tăng 43,63% so với cùng kỳ năm 2018); đạt tỉ

lệ 20,96% (tăng 0,34% so với cùng kỳ năm 2018), Số tiền chuyển kỳ sau 79.739 tỷ

823 triệu 879 nghìn đồng, trong đó số tiền có điều kiện thi hành là 47.903 tỷ 521 triệu

Trang 39

929 nghìn đồng, tăng 26.981 tỷ 552 triệu 439 nghìn đồng (tăng 128,96% so với cùng kỳ năm 2018) [20, tr.7]

Quận 10 là quận trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, những năm gần đây kinh

tế tiếp tục tăng trưởng ở mức cao, an sinh xã hội ngày càng được cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội được đảm bảo; hàng năm đạt và vượt các chỉ tiêu về kinh tế xã hội

do thành phố giao; công tác thi hành án dân sự ngày càng được quan tâm và chú trọng, hàng năm đều đạt và vượt các chỉ tiêu, nhiệm vụ về thi hành án dân sự do ngành giao

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nợ xấu giảm dần nhưng vẫn còn ở mức cao, nhiều vụ án về dân sự, kinh tế phức tạp có giá trị lớn phải thi hành ngày càng phổ biến; do sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường dẫn đến nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, rơi vào tình trạng giải thể, phá sản dẫn đến không thanh toán được các khoản nợ vay từ các tổ chức tín dụng dẫn đến các tranh chấp trong quan hệ giao dịch dân sự, thương mại tăng lên nhiều với giá trị bồi thường, hoàn trả ngày càng lớn; nhiều vụ tranh chấp hợi đồng tín dụng, hợp đồng mua bán tài sản giá trị lớn, tài sản khó xử lý, đây là thách thức rất lớn cho công tác thi hành án dân sự Trước tình hình trên, được sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời của lãnh đạo Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự, Quận ủy, Ủy ban nhân dân Quận 10; sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các cơ quan liên quan; cùng với sự nỗ lực, phấn đấu của toàn thể cán bộ công chức làm công tác thi hành án dân sự với tinh thần quyết tâm chính trị cao, nên công tác thi hành án dân sự trên địa bàn Quận 10 đã thu được nhiều kết quả tích cực, góp phần hoàn thành các chỉ tiên, nhiệm vụ được giao

Năm 2018 Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 đã đạt và vượt các chỉ tiêu về thi hành án được cấp trên giao; cụ thể: về việc đã thi hành xong 1760 việc, đạt tỷ lệ 80,27% (so với chỉ tiêu do Bộ Tư pháp giao vượt 7,27%); về tiền đã giải quyết được 210.140.396.000 đồng, đạt 42,39% (so với chỉ tiêu do Bộ Tư pháp giao vượt 10,39%) [11, tr.3]

Số liệu kê biên tài sản trong những năm gần đây, cụ thể: Năm 2016 Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 đã tổ chức kê biên 31 tài sản để đảm bảo thi hành án

Trang 40

(trong đó động sản 12, bất động sản là 19) [9, tr.5] Năm 2017 tổ chức kê biên 39 tài sản để đảm bảo thi hành án (trong đó động sản 15, bất động sản là 24) [10, tr.6] Năm

2018 tổ chức kê biên 35 tài sản để đảm bảo thi hành án (trong đó động sản 10, bất động sản là 25) [11, tr.6]

Trong thời gian qua công tác thi hành án dân sự nói chung và công tác kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại Quận 10, thànhphố Hồ Chí Minh được sự quan tâm, chỉ đạo, phối hợp, hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả của lãnh đạo các cấp Thành phố

và quận; sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, đoàn thể tại địa phương, đặt biệt là các cơ quan trong khối nội chính quận, thể hiện:

Việc phối hợp với Tòa án, Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 để giải quyết các khó khăn, vướng mắc do án tuyên không rõ, khó thi hành; trong việc xác định quyền

sở hữu, phân chia tài sản để thi hành án; phối hợp trong xét miễn, giảm các khoản nghĩa vụ thi hành thu cho ngân sách nhà nước Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10

đã chủ trì xây dựng quy chế phối hợp giữa Tòa án, Viện Kiểm sát, Công an với Chi cục Thi hành án dân sự trong công tác thi hành án dân sự

Việc phối hợp với các cơ quan chức năng trong thực hiện cưỡng chế kê biên tài sản Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 đã phối hợp có hiệu quả với các cơ quan chức năng, đặc biệt là lực lượng công an, cảnh sát hỗ trợ tư pháp quận; Ủy ban nhân dân, Công an các phường, các cơ quan chuyên môn; các tổ chức đoàn thể chính trị,

xã hội tại địa phương thực hiện thành công nhiều vụ việc cưỡng chế kê biên tài sản trên địa bàn đảm bảo an ninh, an toàn và hiệu quả

Thực tiễn kê biên tài sản để thi hành án dân sự tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh:

- Kê biên tài sản bảo đảm là nhà, đất có diện tích thay đổi so với diện tích có

trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thời điểm thế chấp và nội dung bản án

Trong thực tiễn tổ chức thi hành án, các nghĩa vụ trong các bản án, quyết định của Tòa án chủ yếu là nghĩa vụ trả tiền; tài sản kê biên, xử lý thi hành án phần lớn là bất động sản liên quan đến quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở Căn cứ để kê

Ngày đăng: 28/03/2020, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2016) Thông tư 323 quy định về kiểm tra, giám sát và đánh giá chất lượng hoạt động thẩm định giá, ban hành ngày 16/12/2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 323 quy định về kiểm tra, giám sát và đánh giá chất lượng hoạt động thẩm định giá
2. Bộ Tư pháp (2016) Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống Thi hành án dân sự (19/7/1946 - 19/7/2016), (Kèm theo Quyết định số 373/QĐ- BTP ngày 08/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống Thi hành án dân sự (19/7/1946 - 19/7/2016), (Kèm theo Quyết định số 373/QĐ-BTP ngày 08/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp)
3. Bộ Tư pháp (2018) Phát biểu chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại Hội nghị triển khai công tác thi hành án Dân sự - Hành chính năm 2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát biểu chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại Hội nghị triển khai công tác thi hành án Dân sự - Hành chính năm 2019
4. Bộ Tư pháp (2016) Thông tư số 01/2016/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự, ban hành ngày 01/02/2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 01/2016/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự
5. Bộ Tư pháp (2017) Thông tư số 02/2017/TT-BTP hướng dẫn một số nội dung quản lý công chức, viên chức, người lao động thuộc hệ thống tổ chức thi hành án dân sự, ban hành ngày 23/03/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 02/2017/TT-BTP hướng dẫn một số nội dung quản lý công chức, viên chức, người lao động thuộc hệ thống tổ chức thi hành án dân sự
7. Bộ Tư pháp - Bộ Tài nguyên và Môi trường –Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Ngân hàng nhà nước (2014) Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP- BTNMT-NHNN của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi Trường, Ngân hàng Nhà nước, hướng dẫn một số vấn đề xử lý tài sản bảo đảm, ban hành ngày 16/6/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi Trường, Ngân hàng Nhà nước, hướng dẫn một số vấn đề xử lý tài sản bảo đảm
9. Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 (2016) Báo cáo Tổng kết Công tác Thi hành án Dân sự năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ năm 2017, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết Công tác Thi hành án Dân sự năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ năm 2017
10. Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 (2017) Báo cáo Tổng kết Công tác Thi hành án Dân sự năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ năm 2018, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết Công tác Thi hành án Dân sự năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ năm 2018
11. Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 (2018) Báo cáo Tổng kết Công tác Thi hành án Dân sự năm 2018 và phương hướng nhiệm vụ năm 2019, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết Công tác Thi hành án Dân sự năm 2018 và phương hướng nhiệm vụ năm 2019
12. Chính phủ (2010) Nghị định 17 về bán đấu giá tài sản, ban hành ngày 04/03/2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 17 về bán đấu giá tài sản
14. Chính phủ (2015) Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự, ban hành ngày 18/07/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự
15. Chính phủ (2017) Nghị định 62/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật đấu giá tài sản, ban hành ngày 16/05/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 62/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật đấu giá tài sản
16. Chính phủ (2013) Nghị định 89/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giá về thẩm định giá, ban hành ngày 06/08/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 89/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số "điều của Luật giá về thẩm định giá
17. Chính phủ (2013) Nghị định 110 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia định, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, ban hành ngày 24/09/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 110 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia định, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
18. Chính phủ (2015) Nghị quyết 01/NQ -CP của Chính phủ về Chương trình hành động của Bộ tư pháp về tập trung giải quyết các vụ việc liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng, ban hành ngày 03/01/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 01/NQ -CP của Chính phủ về Chương trình hành động của Bộ tư pháp về tập trung giải quyết các vụ việc liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng
19. Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (2018) Báo cáo kết quả công tác thi hành án dân sự năm 2018 và phương hướng nhiệm vụ năm 2019, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác thi hành án dân sự năm 2018 và phương hướng nhiệm vụ năm 2019
20. Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (2019) Báo cáo kết quả công tác thi hành án dân sự, hành chính 9 tháng năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ năm 3 tháng cuối năm 2019, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác thi hành án dân sự, hành chính 9 tháng năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ năm 3 tháng cuối năm 2019
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005) Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ban hành ngày 02/06/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
22. Ngân hàng nhà nước Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh – Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (2015) Quy chế phối hợp số 13083/CNNHNNVN-CTHADS ngày 19/08/2015, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp số 13083/CNNHNNVN-CTHADS ngày 19/08/2015
24. Quốc hội (2015) Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, ban hành ngày 25/11/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w