1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Quản trị học trong nền kinh tế tri thức (PTITHCM 2020)

16 110 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm tr

Trang 1

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI:

QUẢN TRỊ HỌC TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC

NHÓM 6

Trang 2

MỤC LỤ

1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3

1.1 Khái niệm về nền kinh tế tri thức 3

1.2 Các yếu tố cơ bản quyết định sự hình thành nền kinh tế tri thức 4

1.2.1 Sự bùng nổ thông tin, tri thức, công nghệ 4

1.2.2 Sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của đội ngũ công nhân tri thức 4

1.2.3 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 5

1.2.4 Nhà nước thay đổi chức năng quản lý vĩ mô 5

1.2.5 Quan hệ sản xuất mang tính xã hội hóa cao 5

1.2.6 Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hóa 6

1.3 Các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức 6

1.4 Tác động của nền kinh tế tri thức đối với quản trị 6

1.5 Quản trị doanh nghiệp thế giới thay đổi xâu sắc theo xu hướng 6

2 QUẢN TRỊ HỌC TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC TẠI CÔNG TY HONDA VIỆT NAM 7

2.1 Giới thiệu về công ty HONDA Việt Nam 7

2.2 Tình huống 7

2.2.1 Quản trị doanh nghiệp thay đổi theo xu hướng bùng nổ thông tin, tri thức, công nghệ 7

2.2.2 Quản trị doanh nghiệp thay đổi theo xu hướng thương mại điện tử 11

Trang 3

2.2.3 Quản trị doanh nghiệp thay đổi theo xu hướng toàn

cầu hóa cân bằng lợi thế giữa các quốc gia 12

3 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ, ĐỀ XUẤT 13

3.1 Nhận xét, đánh giá 13

3.2 Đề xuất 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Khái niệm về nền kinh tế tri thức

- Khái niệm kinh tế tri thức manh nha xuất hiện từ đầu những năm 1960 của thế kỷ trước, tiên phong bởi Fritz Machlup và Peter Drucker Trong hơn bốn thập kỷ qua,

đã có nhiều nghiên cứu nhằm xác định và giải thích cơ chế của nền kinh tế này Trong những năm qua kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, cả những nước phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, kinh tế tri thức là khái niệm không dễ hiểu vì dựa trên hai khái niệm trừu tượng là kinh

tế và tri thức, và do vậy đã được hiểu nhiều ít khác nhau Nền kinh tế tri thức, còn gọi là kinh tế dựa vào tri thức (Knowledge - BasedEconomy) là nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, trên cơ sở phát triển khoa học và công nghệ cao "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và

sử dụng tri thức và thông tin" (OECD 1996)

- "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải

và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế" (APEC 2000)

- Ngân hàng Thế giới (WB,2000) đánh giá "Đối với các nền kinh tế tiên phong trong nền kinh tế Thế giới, cán cân giữa hai yếu tố tri thức và các nguồn lực đang nghiêng về tri thức Tri thức thực sự đã trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định mức sống - hơn cả yếu tố đất đai, hơn cả yếu tố tư liệu sản xuất, hơn cả yếu tố lao động Các nền kinh tế phát triển nhất về công nghệ ngày nay thực sự đã dựa vào tri thức"

Trang 4

- Còn theo Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh: Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà việc sản sinh ra và khai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải

- Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu – Trưởng ban công nghệ thông tin thì “Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống”.

- Dù cho tên gọi thế nào đi nữa, trong nền kinh tế này, trí thức vừa là nội dung vừa

là động lực của sản xuất

1.2 Các yếu tố cơ bản quyết định sự hình thành nền kinh tế tri thức

1.2.1 Sự bùng nổ thông tin, tri thức, công nghệ.

- Trong sản xuất, nền kinh tế tri thức lấy các ngành công nghệ cao làm nền tảng Những ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nanô,… chúng đang hội tụ với nhau tạo thành nền tảng cho một hệ thống công nghệ mới của thế kỷ XXI - công nghệ của nền kinh tế tri thức Hệ thống công nghệ mới này đang làm biến đổi sâu sắc quá trình sản xuất, cách thức sản xuất kinh doanh, phương thức tổ chức quản lý,… Và như vậy, nó chi phối toàn bộ quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế quốc dân Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của các nhà kinh tế học cho rằng, chỉ khi nào có được các ngành công nghệ cao mà giá trị do tri thức mới mang lại chiếm 2/3 tổng giá trị sản phầm

là ngành kinh tế tri thức và khi nào nền kinh tế bao gồm chủ yếu các ngành kinh tế tri thức thì gọi là nền kinh tế tri thức

- Trong hệ thống công nghệ mới thì công nghệ thông tin có ý nghĩa quyết định Mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội hiện đại đều có tác động và in dấu ấn của công nghệ thông tin Sự phát triển của công nghệ thông tin (siêu xa lộ thông tin, Internet,…) giúp cho thông tin và tri trức phát huy được những mặt mạnh của nó Với tốc độ truyền tải thông tin nhanh chóng đã làm cho nhịp điệu cuộc sống, sản xuất kinh doanh sôi động hẳn lên, thế giới dường như đang thu hẹp lại, vòng đời của kỹ thuật và sản phầm càng rút ngắn

Trang 5

- Công nghệ thông tin đang là điểm tựa, xương sống của nền kinh tế quốc dân, nên các ngành kinh tế phải dựa vào đó để đổi mới và phát triển Vì vậy, hoạt động sáng tạo trở thành hoạt động đăc trưng của nền sản xuất tương lai và "sáng tạo cái mới" được coi là nhân tố nội tại, là linh hồn của nền kinh tế tri thức Hoạt động sáng tạo chủ yếu là sáng tạo công nghệ mới, sản phẩm mới, phương thức quản lý mới,… trong đó sáng tạo công nghệ mới trở thành loại hình sản xuất tiêu biểu nhất

1.2.2 Sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của đội ngũ công nhân tri thức

- Về lao động, trong các doanh nghiệp tri thức, khoa học và sản xuất được nhất thể hoá Những người làm việc trong đó đa số là công nhân tri thức Họ là những người vừa nghiên cứu vừa sản xuất Hiện nay ở Mỹ, 93 triệu người lao động (tức 80% lực lượng lao động) không phải dành ra thời gian để làm ra vật phẩm mà họ chuyển sang làm các công việc như di chuyển vật phẩm, xử lý thông tin, cung cấp dịch vụ Tại các nước thuộc OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) hiện nay công nhân tri thức chiếm tới 60-70% lực lượng lao động

1.2.3 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 6

- Các ngành công nghiệp dịch vụ dựa trên tri thức như thông tin, tài chính, dịch vụ, bảo hiểm, xã hội, chăm sóc sức khỏe,… đóng góp trên 40% GDP

1.2.4 Nhà nước thay đổi chức năng quản lý vĩ mô

- Tạo tối đa môi trường thông thoáng cho doanh nghiệp tự chủ, đẩy nhanh hội nhập quốc tế

1.2.5 Quan hệ sản xuất mang tính xã hội hóa cao

- Sở hữu vượt xa khỏi phạm vi tư nhân, trở thành sở hữu tập thể, sở hữu đa quốc gia,

sở hữu xã hội

- Phân phối theo lao động dựa vào sự cống hiến đích thực của người lao động

1.2.6 Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hóa

- Thị trường và sản phẩm mang tính toàn cầu, một sản phẩm sản xuất ở bất kỳ nơi nào cũng có thể nhanh chóng có mặt trên Thế giới

- Nền kinh tế tri thức lấy thị trường toàn cầu làm hướng hoạt động chính Tri thức, thông tin lưu động không có biên giới làm cho nền kinh tế tri thức mang tính toàn cầu Công nghệ thông tin làm cho hợp tác kinh tế, văn hóa mang tính toàn cầu, đồng thời cạnh tranh gay gắt trên cả bình diện trong nước lẫn quốc tế

1.3 Các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức

- Sản phẩm trí tuệ từ khi phát mình đến ứng dụng vào thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội bằng con đường ngắn nhất

- Tri thức là nguồn vốn cơ bản của quá trình tái sản xuất xã hội Trong nền kinh tế tri thức do văn hóa có môi trường phát triển rộng lớn và tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

- Kết cấu kinh tế - kỹ thuật thay đổi theo xu hướng tri thức hóa

- Kinh tế tri thức động lực thúc đẩy tiến trình xã hội hóa quan hệ sản xuất

1.4 Tác động của nền kinh tế tri thức đối với quản trị

- Đẩy nhanh quản trị theo quá trình toàn cầu hóa – phân công lao động xã hội trong quản trị trở nên sâu sắc và rộng khắp toàn cầu

- Quản trị doanh nghiệp thế giới thay đổi sâu sắc

Trang 7

1.5 Quản trị doanh nghiệp thế giới thay đổi xâu sắc theo xu hướng

1 Những hàng hóa, dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao chiếm vị trí chủ chốt trong thương mại quốc tế

2 Thương mại điện tử là lĩnh vực phát triển nhanh nhất và sẽ đóng vai trò hàng đầu trong thương mại quốc tế

3 Quá trình chuyển kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa đã và đang làm thay đổi các lợi thế so sánh của các quốc gia trong thương mại quốc tế theo hướng giảm dần các lợi thế truyền thống như đất đai, tài nguyên, nhân công rẻ, vị trí địa lý và tăng vai trò, giá trị của các yếu tố tri thức trong tiến trình quản trị:

- Các nước đang phát triển vừa phải hoàn thành các nhiệm vụ của cuộc cách mạng công nghiệp lần hai, vừa có thể “đi tắt, đón đầu” tiến vào cuộc cách mạng lực lượng sản xuất lần thứ ba này với sự tích cực, năng động, sáng tạo của mình Đây cũng chính là ưu thế của nền kinh tế tri thức: Nó có thể tạo ra cơ hội tương đối bình đẳng trong mọi quốc gia dân tộc, bởi vì ở đây sức cạnh tranh chủ yếu tạo nên bởi trí thông minh và tinh thần sáng tạo mà dân tộc nào cũng có thể phát huy được

2 QUẢN TRỊ HỌC TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC TẠI CÔNG TY HONDA VIỆT NAM

2.1 Giới thiệu về công ty HONDA Việt Nam

- Công ty Honda Việt Nam được thành lập năm 1996, là công ty liên doanh gồm 3 đối tác: Công ty Honda Motor (Nhật Bản - 42%), Công ty Asian Honda Motor (Thái Lan - 28%), Tổng công ty Máy động lực và Máy Nông Nghiệp Việt Nam (30%) Vào tháng 3/2005, Honda Việt Nam chính thức nhận được giấy phép của

Bộ kế hoạch và Đầu tư cho phép sản xuất lắp ráp ô tô tại Việt Nam

- Công ty Honda Việt Nam tuy mới chỉ được thành lập và hoạt động trong khoảng

20 năm nhưng đã có những thành tích đáng kể trong nền công nghiệp sản xuất và lắp ráp động cơ xe máy và ô tô Hiện nay, công ty Honda Việt Nam có 2 nhà máy sản xuất xe máy chính cùng với một nhà máy ô tô ở Vĩnh Phúc Với sản phẩm xe gắn máy, Honda đã thực sự trở thành thương hiệu hàng đầu tại thị trường Việt Nam với hơn 70% thị phần xe gắn máy, vượt xa so với Yamaha, Suzuki, SYM

Trang 8

Ngoài ra, ở lĩnh vực sản xuất ô tô, Honda cũng đang được ưa chuộng với 2 dòng sản phẩm chính là CIVIC và CR-V đỉnh cao về phong cách và chất lượng Tính đến hết 2016, doanh số cộng dồn của Honda ô tô Việt Nam đạt sản lượng 50 nghìn

xe Thành tích hoạt động sản xuất kinh doanh của Honda Việt Nam được đánh giá

là cao trong ngành, ngay cả khi nền kinh tế gặp khó khăn thì doanh số bán hàng của công ty vẫn rất lớn Không chỉ chú trọng hoạt động kinh doanh, công ty còn tích cực tham gia vào các hoạt động hỗ trợ giáo dục, bảo vệ môi trường, hoạt động tình nghĩa, từ thiện

2.2 Tình huống

2.2.1 Quản trị doanh nghiệp thay đổi theo xu hướng bùng nổ thông tin, tri thức, công nghệ

- Các doanh nghiệp trong nền kinh tế tri thức phải luôn mang đến những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng bằng những cách tiếp cận mới nhất, công nghệ nhất Không ngoài ngoại lệ, công ty Honda đã cho nghiên cứu, hợp tác phát triển và đưa công nghệ vào quản trị, dịch vụ, sản phẩm của mình như sau:

Dịch vụ: Công ty Honda đã cho ra mắt ứng dụng My Honda+, dùng công nghệ

để chăm sóc khách hàng tối ưu

- Đặt tên cho ứng dụng là “My Honda+”, Honda Việt Nam hy vọng sẽ phát triển được một ứng dụng mang lại nhiều quyền lợi nhất có thể cho khách hàng, giúp họ được sở hữu và chủ động trải nghiệm tất cả các tiện ích trên hệ thống

- Việc ra mắt ứng dụng là bước đệm để Honda Việt Nam tiến đến việc đưa công nghệ Big Data vào hoạt động của hãng, với mục đích quản lý thông tin, nâng cấp dịch vụ và chăm sóc khách hàng tốt hơn Với sự bùng nổ công nghệ trong thời đại công nghệ số, sản phẩm được kỳ vọng sẽ tạo nên một bước đột phá trong quá trình

sử dụng và bảo dưỡng các phương tiện ô tô và xe máy tại thị trường Việt Nam và đặc biệt là một kênh thông tin liên lạc gần gũi và kịp thời giữa Honda và khách hàng Việt

Trang 9

Các tính năng của ứng dụng My Honda+

Giới thiệu sản phẩm

- Ứng dụng “My Honda+” do Honda Việt Nam và FPT Software phối hợp phát triển, cung cấp rất nhiều tiện ích hỗ trợ trực tiếp trong quá trình sử dụng sản phẩm như: Bảo hành điện tử (thay thế cho phiếu bảo hành), theo dõi lịch sử sửa chữa, quá trình bảo dưỡng cũng như số lần kiểm tra định kỳ còn lại; tìm kiếm đại lý của Honda khắp cả nước, tìm hiểu thông tin chi tiết của các sản phẩm, đăng ký lái thử… Ngoài ra, ứng dụng cũng sẽ thông báo cho người dùng khi có chương trình khuyến mãi mới, chương trình giải trí, nhắc khách hàng bảo dưỡng xe khi đến hạn… cùng nhiều thông tin khác

- My Honda+ là ứng dụng hiếm hoi tích hợp đầy đủ tất cả các tính năng về bảo hành, tìm kiếm đại lý, thông tin sản phẩm…

Quản trị thông tin: Honda Việt Nam tin tưởng lựa chọn GEN là đối tác giới thiệu giải pháp quản trị quan hệ khách hàng CRM (phần mềm genCRM) cho các đại lý (HEAD) của mình.

- Ngày nay, các công nghệ mới không ngừng được cập nhật đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải sáng tạo, đổi mới thường xuyên để có thể cải tiến các sản phẩm

Trang 10

của mình một cách tốt nhất Một hệ thống an toàn có được tích hợp trên sản phẩm hay không cũng là điều mà khách hàng bận tâm Nếu như Volvo có City Safety; Mercedes-Benz có CPA Plus - Collision Prevention Assist Plus; Mazda có i-Activsense thì Honda Sensing là công nghệ hỗ trợ lái mà Honda phát triển

Giới thiệu sản phẩm

- Ngoài các chức năng chuẩn của một phần mềm quản lý khách hàng CRM, giải pháp genCRM áp dụng cho các đại lý còn có các tính năng nâng cao như:

o Quản lý thông tin chi tiết xe như biển số, số khung, số máy

o Quản lý lịch sử sửa chữa bảo dưỡng của xe (số lần bảo dưỡng, chi tiết sửa chữa, số km của xe mỗi lần thực hiện sửa chữa,…)

o Tự động tạo lịch bảo dưỡng định kỳ và nhắc lịch bảo dưỡng

o Tự động tạo và nhắc lịch thay thế phụ tùng và các hạng mục sửa chữa

o Chăm sóc khách hàng sau bảo dưỡng

Sản phẩm: Honda tích hợp hệ thống Sensing trên mọi mẫu xe của hãng dự kiến năm 2021.

Giới thiệu sản phẩm

- Theo đánh giá từ giới chuyên môn, những mẫu xe ô tô được ứng dụng Sensing có mức độ giảm thiểu tai nạn lên tới 11%, giảm mức độ tổn thương cho người sử dụng xe khi xảy ra va chạm trên 28%

- Sensing là một hệ thống an toàn bao gồm nhiều tính năng hỗ trợ cho xe ô tô và lần đầu tiên hệ thống được trình làng là trên mẫu xe Honda CR-V thế hệ thứ 5 vào tháng 7/2017 Honda Sensing là trang bị an toàn với nhiều tính năng tích hợp

Có tổng cộng 7 tính năng của Honda Sensing bao gồm cảnh báo chuyển làn đường (LDWS), hạn chế lệch khỏi đường (RDM), phanh giảm thiểu va chạm, phanh chủ động (CMBS), cảnh báo va chạm phía trước thích hợp cho cảnh báo an toàn trong thành phố (FCW) và kiểm soát hành trình chủ động (ACC)

Trang 11

- Ngoài ra còn có các tính năng an toàn như hệ thống kiểm soát hành trình thích ứng, hệ thống giữ làn đường, hệ thống cảnh báo lái xe khi buồn ngủ, đèn pha tự động, hệ thống cảnh báo người đi bộ… Vì vậy Honda Sensing có thể hỗ trợ tốt trong việc giảm thiểu, hạn chế tai nạn xảy ra Một số tùy chọn của những mẫu xe ở các nước châu Âu, Honda còn tích hợp thêm các tính năng như nhận dạng biển báo giao thông (TSR), hỗ trợ quan sát điểm mù xe ô tô (BSI hay BSM), hệ thống quan sát giao thông (CTM)

2.2.2 Quản trị doanh nghiệp thay đổi theo xu hướng thương mại điện tử

- Honda tối ưu, hiện đại hóa dịch vụ bán hàng của mình bằng cách cho các sản phẩm (xe máy, ô tô, linh kiện) xuất hiện trên các sàn thương mại điện tử nổi tiếng trên toàn cầu và cả trong nước như Amazon, Ebay, Tiki, Sendo,…đi kèm với đó là những ưu đãi hấp dẫn trong chính sách mua hàng lẫn dịch vụ hậu mãi Điều này đã

có tác động tích cực một phần đến việc cắt giảm chi phí trong việc thuê mướn showroom, nhân công bán hàng,… đặc biệt ở những nơi mà vốn mà những chi phi

ấy luôn thuộc top đắt đỏ nhất cả nước như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh cùng với đó tạo cho khách hàng sự thuận tiện, hiện đại hơn trong việc mua sắm của mình bằng

sự đa dạng của các hình thức thanh toán điện tử đi kèm

Ngày đăng: 12/09/2021, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w