TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC: VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ MỚI “KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ “HỘI NHẬP KINH TẾ VỚI KINH TẾ ĐỘC LẬP” I. TỔNG QUAN i 1. Tổng quan và lý do chọn đề tài i 2. Mục đích thực hiện đề tài ii 3. Nhiệm vụ đặt ra của đề tài ii II. NỘI DUNG 1 Chương 1: Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến trong phép biện chứng duy vật 1 1.1. Các định nghĩa 1 1.2. Tính tất yếu phải hội nhập quốc tế 2 Chương 2: Mối liên hệ giữa xây dựng nhà nước độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế 3 2.1. Mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng nhà nước độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế 3 2.1.1. Kinh tế 3 2.1.2. Chính trị 4 2.1.3. Văn hóa 5 2.2. Vấn đề hội nhập quốc tế của Việt Nam 6 2.2.1. Thành tựu 6 2.2.2. Hạn chế 8 2.3. Một số kiến nghị nhằm giữ vững độc lập tự chủ dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập quốc tế 9 III. KẾT LUẬN 10 IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO Phụ lục Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến trong phép biện chứng duy vật 1.1. Các định nghĩa: Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến, nó chẳng qua là bộ môn khoa học nghiên cứu những quy luật vận động phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Như vậy phép biện chứng đã thừa nhận sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan tồn tại theo mối quan hệ phổ biến, chúng vận động, phát triển theo quy luật nhất định. Phép biện chứng có nhiệm vụ phải chỉ ra những quy luật đó để định hướng cho con người trong nhiệm vụ thực tiễn. Phép biện chứng có ba hình thức cơ bản trong quá trình phát triển của triết học đó là: Phép biện chứng chất phác, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật .
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ MỚI
“KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
&
“HỘI NHẬP KINH TẾ VỚI KINH TẾ ĐỘC LẬP”
Trang 2I TỔNG QUAN i
1 Tổng quan và lý do chọn đề tài i
2 Mục đích thực hiện đề tài ii
3 Nhiệm vụ đặt ra của đề tài ii
II NỘI DUNG 1
Chương 1: Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến trong phép biện chứng duy vật 1
1.1 Các định nghĩa 1
1.2 Tính tất yếu phải hội nhập quốc tế 2
Chương 2: Mối liên hệ giữa xây dựng nhà nước độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế 3
2.1 Mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng nhà nước độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế 3
2.1.1 Kinh tế 3
2.1.2 Chính trị 4
2.1.3 Văn hóa 5
2.2 Vấn đề hội nhập quốc tế của Việt Nam 6
2.2.1 Thành tựu 6
2.2.2 Hạn chế 8
2.3 Một số kiến nghị nhằm giữ vững độc lập tự chủ dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập quốc tế 9
III KẾT LUẬN 10
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO [Phụ lục]
Trang 3Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến trong phép biện chứng duy vật
1.1 Các định nghĩa:
Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến, nó chẳng qua là bộ môn khoa học nghiên cứu những quy luật vận động phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Như vậy phép biện chứng đã thừa nhận sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan tồn tại theo mối quan hệ phổ biến, chúng vận động, phát triển theo quy luật nhất định Phép biện chứng có nhiệm vụ phải chỉ
ra những quy luật đó để định hướng cho con người trong nhiệm vụ thực tiễn Phép biện chứng có
ba hình thức cơ bản trong quá trình phát triển của triết học đó là: Phép biện chứng chất phác, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật
Thời cổ đại, do trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát triển nên các nhà triết học chỉ dựa vào cảm giác, vào cái nhìn trực tiếp để xem xét mọi vật Phép biện chứng này còn thiếu nhiều căn cứ khoa học do vậy mà nó đã bị phép siêu hình, xuất hiện từ nửa cuối thế kỉ
XV thay thế Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn thiện trong triết học của Hêghen Tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Hêghen được thể hiện ở chỗ: Ông coi ý niệm tuyệt đối có trước và trong quá trình vận động phát triển cuối cùng nó lại trở về với chính mình trong tinh thần Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà triết học trước đó Mác và Anghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lí, những phạm trù cơ sở, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực Trong hệ thống đó nguyên lí về mối liên
hệ phổ biến là một trong những nguyên lí khái quát nhất Mối liên hệ phổ biến là khái niệm đúng
để chỉ sự ràng buộc, nương tựa, tác động qui định lẫn nhau của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Trong thực tế người ta luôn đặt ra các câu hỏi các sự vật hiện tượng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau hay không? Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại trong trạng thái độc lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia Nếu giữa chúng có mối quan hệ thì cũng chỉ là mối liên hệ bên ngoài Còn những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập vừa qui định tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau Phép duy vật biện chứng khẳng định mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến Sự vật là tiền đề, là điều kiện tồn tại và phát triển của nhau Chúng thường xuyên thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau làm cho ranh giới giữa các lớp sự vật không phải là tuyệt đối mà bao giờ cũng có lớp trung gian chuyển tiếp Mối liên hệ phổ biến không chỉ diễn ra giữa các sự vật khác nhau mà còn diễn ra trong bản thân từng sự vật và đều là khách quan Mặc dù sự vật tồn tại trong những mối liên hệ phổ biến với
Trang 4nhiều mối liên hệ khác nhau nhưng vị trí, vai trò của từng mối liên hệ không giống nhau trong tổng số mối liên hệ về sự vật, trong đó có mối liên hệ giữ vai trò quyết định đén sự tồn tại, vận động biến đổi của sự vật như mối liên hệ bên trong, bản chất Còn những mối liên hệ khác chỉ có những ảnh hưởng nhất định
Tuy vậy mọi mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là khách quan, là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng Ngay cả những vật vô tri vô giác cũng đang hàng ngày chịu sự tác động của các
sự vật, hiện tượng khác như: ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và đôi khi cũng chịu sự tác động của con người Con người - một sinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên luôn chịu sự tác động của các
sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên và ngay cả các yếu tố trong chính bản thân nó Ngoài sự tác động của tự nhiên như các sự vật khác còn tiếp nhận sự tác động của xã hội và của những người khác Chính con người và chỉ có con người mới có thể tiếp nhận vô vàn mối quan hệ đó Vấn đề là con người phải hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình giải quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu lợi ích của xã hội và của bản thân Mối liên
hệ không chỉ mang tính khách quan mà còn mang tính phổ biến Tính phổ biến của mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: thứ nhất bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào không có quan hệ, liên hệ với quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội Chính vì thế hiện nay trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt của đời sống xã hội Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu như: đói nghèo, bệnh tật
Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tuỳ theo điều kiện nhất định Song, dù dưới những hình thức nào chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất Nghiên cứu mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giới ta còn thấy
rõ tính đa dạng, nhiều vẻ của nó Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra các mối liên hệ khác nhau theo từng cặp: Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại và phát triển bản thân sự vật, hiện tượng qui định tính đa dạng của mối liên hệ Vì vậy trong một sự vật có thể bao gồm rất nhiều mối liên hệ chứ không phải chỉ có một mối liên hệ xác định Song mỗi cặp mối liên hệ có những đặc trưng riêng tuy theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể các mối liên hệ tương ứng sẽ giữ vai trò quyết định Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận của mối liên hệ phổ biến Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả của sự vận động
và phát triển của chính các sự vật Tuy sự phân chia thành các loại mối liên hệ chỉ mang tính tương đối nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mối liên
hệ đó để có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình Từ
Trang 5nội dung của mối liên hệ phổ biến bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng phong phú do đó trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải có quan điểm toàn diện tránh quan điểm phiến diện, chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính qui luật của chúng Quan điểm toàn diện đòi hỏi khi ngiên cứu phải xem xét
sự vật, phải xem xét tất cả các mối quan hệ vốn có của nó nhưng không được đặt các mối quan
hệ có vị trí vai trò như nhau Cần phải phân biệt được đâu là những mối quan hệ bản chất tất yếu của sự vật, đâu là những mối quan hệ khác để từ đó có kết luận đúng về sự vật Trong thực tế theo quan điểm toàn diện khi tác động vào sự vật chúng ta không những phải chú ý đến những mối liên hệ nội tại của chúng mà còn phải lưu ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với sự vật khác và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng trong từng điều kiện Đồng thời chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận quan điểm toàn diện góp phần định hướng chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng
ta Thực hiện đúng quan điểm đó chính là chúng ta đã nắm được và vận dụng tốt phương pháp biện chứng trong nhận thức về hoạt động thực tiễn.
1.2 Tính tất yếu phải hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế vừa là một tất yếu khách quan vừa là yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới Mỗi quốc gia trên thế giới không thể tự mình xây dựng được một nền kịnh tế phát triển bất kể nước ấy giầu hay nghèo đặc biệt là đối với các nước chậm phát triển và đang phát triển Nền kinh tế của các nước này còn thấp kém, chậm phát triển, khoa học học kỹ thuật còn thua xa các nước tư bản thì việc mở rộng giao lưu, buôn bán với các nước trên thế giới là một vấn đề cần thiết và mang tính tất yếu trong giai đoạn hiện nay
Vịêt Nam cũng nằm trong các nước đang phát triển, xuất phát điểm của nước ta là một nước nông nghiệp nghèo, do vậy chúng ta cần phải mở rộng quan hệ với các nước khác nhằm tạo thuận lợi để xây dựng và phát triển kinh tế Trong Đại hội Đảng 9 của ta vừa qua, Đảng đã nêu ra "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân
tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và bảo vệ môi trường".
Trang 6Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đang trở thành một xu thế khách quan và tất yếu của tất cả các nước trên thế giới, không kể các nước đang phát triển hay phát triển, các nước giàu hay nghèo Để có thể tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài đặc biệt là nguồn vốn, tiến bộ khoa học công nghệ…đòi hỏi các nước phải có sự mở cửa, giao lưu, buôn bán hợp tác với các nước trên thế giới mà đặc biệt là các nước tư bản phát triển Tuy vậy đi song song với việc hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội…thì chúng ta phải cần phải có sự thống nhất nhận thức về việc giữ độc lập
tự chủ trong quá trình hội nhập Đây là một mối lo ngại lớn với các nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển Mối lo này phần nào cũng có lý do chính đáng bởi hầu hết các nước đang phát triển đều có xuất phát điểm từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, khoa học công nghệ còn thấp kém, năng suất lao động còn chưa cao, sức cạnh tranh về các loại hàng hóa trên thị trường thế giới thấp trong khi đó các nước đi trước có lợi thế hơn hẳn về mọi mặt, việc mở rộng quan hệ với các nước đó sẽ dẫn đến tình trạng các nước kém phát triển khó tránh khỏi bị lệ thuộc về kinh tế và từ chỗ bị lệ thuộc về kinh tế
có thể bị sự lệ thuộc về chính trị dẫn tới không giữ vững được chủ quyền.
Hiện nay nước Việt Nam ta cũng đang tham gia vào các tổ chức, hiệp hội trên thế giới Nước ta cũng là một nước nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển hơn rất nhiều so với các nước tư bản trên thế giới vì vậy chúng ta phải chủ động tham gia hội nhập quốc tế gắn liền với việc xây dựng một nhà nước với nền kinh tế độc lập, tự chủ Đảng và nhà nước ta đã xác định độc lập, tự chủ kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản bảo đảm sự bền vững của đất nước ta về chính trị cũng như các vấn đề văn hóa, xã hội…
Trang 7I ĐẶT VẤN ĐỀ
Con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiệnđại Với tư cách là sinh vật cao cấp nhất, là tinh hoa của muôn loài, con người luônsống có ý thức và tự tạo nên “cái tôi” riêng biệt Sự hình thành và phát triển củanhân cách là sự thống nhất của các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội để xác lập “cáitôi” của cá nhân Sự biến đổi to lớn, sâu sắc của đời sống kinh tế - xã hội đã tácđộng mạnh mẽ đến con người cũng như sự hình thành nên nhân cách con người họ
Lý tưởng đạo đức con người là vấn đề vô cùng quan trọng, không thể thiếutrong nhân cách con người Trong cuộc sống hiện đại ngày nay khi mà giá trị vậtchất được con người đề lên quá cao, khi đại đa số mọi người đều chạy theo lốisống thực dụng thì lý tưởng đạo đức chỉ còn là một niệm hết sức xa vời Vấn đề đặt
ra bây giờ là làm thế nào để mọi người nhận thức được lý tưởng đạo đức cho mình,làm thế nào để mọi người luôn chăm lo giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng
Với cuộc sống ngày càng được nâng cao, nền kinh tế - xã hội ngày càng pháttriển nhưng vấn đề đạo đức con người lại là vấn đề đáng lo ngại nhất Tình trạngtha hóa, biến chất về đạo đức của một số bộ phận con người trong xã hội đã đượcnhiều nhà nghiên cứu triết học, xã hội học, nhà văn, nhà báo, đạo diễn phim… đềcập đến vấn đề đạo đức và lối sống của con người Việt Nam từ thời xa xưa cho đếnnay Nhưng những tác phẩm văn học, những bài báo, bộ phim hay công trìnhnghiên cứu của các nhà khoa học cũng chưa lột tả hết được bộ mặt của lối sống vàđạo đức của con người thời nay Bởi vì, cuộc sống không ngừng vận động, mà conngười lại bị cuốn vào vòng luân chuyển đó nên nếu tại ngày hôm nay những tácphẩm nói về đạo đức, lối sống của con người của ngày hôm nay nhưng ngay ngàymai có thể những tác phẩm đó không còn đúng với thực tế của cuộc sống nữa
Trên thực tế cho ta thấy vấn đề đạo đức và lối sống của con người ngày nay
có rất nhiều vấn đề nổi cộm Cuộc sống càng được nâng cao thì những phẩm chấtđạo đức tốt đẹp ngày càng ít đi, thay vào đó tình trạng tha hóa, biến chất về đaọ
Trang 8đức và lối sống con người Việt Nam ngày càng nhiều và trầm trọng hơn.Trước thực
tế đó Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những chủ trương, chính sách và nhữngchế tài cụ thể để quản lý và kiểm soát tình trạng tha hóa, biến chất về đạo đức vàlối sống con người Việt Nam trong nền kinh tế thị trường như hiện nay
Qua tìm hiểu về các vấn đề nghiên cứu bài tiểu luận môn Triết học trongphạm vi khóa học 16 cao học hệ tập trung, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về conngười, bản chất con người và một số các vấn đề về sự phát triển kinh tế, … nhưngchưa có đề tài nào nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề đạo đức và lối sống của conngười Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Vấn đề đạo đức con người và lối sống của con người Việt nam hiện nay vẫnchưa dừng lại ở những gì ta đã biết Nhận thức được những điều trên, với mục đích
sử dụng các phương pháp luận của thế giới quan duy vật hiện chứng kết hợpphương pháp luận của phép biện chứng duy vật, tôi muốn được tìm hiểu sâu hơn
về những vấn đề đạo đức con người Đó là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu là:
“Vấn đề đạo đức, lối sống con người Việt Nam trong nền kinh tế thị trường” làm
đề tài tiểu luận môn Triết Học.
II LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ LỐI SỐNG CỦA CON NGƯỜI
1 Khái quát về bản chất đạo đức
Trong triết học, đạo đức là một vấn đề đã được đề cập tương đối sớm, vì đạođức gắn liền với việc hình thành nên đạo đức, nhân cách con người Đạo đức đượchiểu theo nhiều phương diện khác nhau: trong tôn giáo thì có đạo đức tôn giáo,trong thời đại ngày nay thì có đạo đức cách mạng,… Dưới đây chúng ta sẽ kháiquát qua một số quan điểm về đạo đức trong triết học và trong thời đại ngày nay
* Đạo đức tôn giáo:
Hiện nay, trên tinh thần đổi mới nhận thức về tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta
đã nhận đinh tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, trong tôn giáo có
Trang 9những giá trị tốt đẹp về đạo đức, văn hóa Vấn đề đạo đức tôn giáo đã được nhiềunhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các giáo lý tôn giáo đều chứa đựng một số giátrị đạo đức nhân bản rất hữu ích cho việc xây dựng nền đạo đức mới và nhân cáchcon người Việt Nam hiện nay Giá trị lớn nhất của đạo đức tôn giáo là góp phầnduy trì đạo đức xã hội, hoàn thiện nhân cách cá nhân, hướng con người đến Chân -Thiện - Mỹ Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo cũng còn nhiều yếu tố tiêu cực, nó hướngcon người đến hạnh phúc hư ảo và làm mất tính chủ động, sáng tạo của con người.Vấn đề đặt ra là, cần nhận điện đúng vai trò của đạo đức tôn giáo nhằm phát huynhững giá trị tốt đẹp của tôn giáo và hạn chê những tác động tiêu cực của nó đốivới việc hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam hiện nay
Trước khi phân tích vai trò của đạo đức tôn giáo đối với đời sống xã hội, tôi muốn
đề cập đến một cách khái quát cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đạo đức tôn giáo
Trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội, giữa hình thái ý thức tôn giáo vàhình thái ý thức đạo đức luôn có quan hệ tương tác, đan xen và thâm nhập lẫnnhau Sự tác động biện chứng đó lại diễn ra trong tính quy định của điều kiện sinhhọat vật chất xã hội, vì vậy, bản thân tôn giáo đã chứa đựng những nội dung đạo đức
Với tư cách những thành tố tạo nên kiến trúc thượng tầng của xã hội, tôngiáo và đạo đức phản ánh tồn tại xã hội theo các cách khác nhau Tôn giáo phảnánh một cách hư ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người, trong đó, cáihiện thực đã bị biến dạng cái tự nhiên đã trở thành cái siêu nhiên Còn đạo đứcphản ánh các mối quan hệ của con người với nhau và với xã hội, đó là những mốiquan hệ hiện thực
Khi xem xét tôn giáo như một hình thái ý thúc xã hội độc lập với các hìnhthái ý thức khác, chúng ta thấy nó chứa đựng nội dung đạo đức (bao gồm giá trị,chuẩn mực, lý tưởng đạo đức ) thể hiện trong giáo lý tôn giáo
Trang 10Bất cứ tôn giáo nào cũng có một hệ thống chuẩn mực và giá trị đạo đứcnhằm điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức của các tín đồ Đa số các tôn giáo đềutuyên bố về giá trị tối cao của 'các lực lượng siêu nhiên (Thượng đế, Chúa trời,Thần thánh) và mọi giá trị khác phải lấy đó làm chuẩn Thực tế cho thấy, quanniệm đạo đức của hầu hết mọi tôn giáo, ngoài những giá trị đặc thù bảo vệ niềm tintôn giáo thiêng liêng, còn đề cập đến những chuẩn mực đạo đức mang tính nhânloại, như sống hiếu thảo với cha mẹ, trung thực, nhân ái, hướng tới cái thiện, tránh
xa điều ác
Vấn đề trung tâm của Phật giáo là “diệt khổ" để hướng đến giải thoát, chứngđược Niết bàn Muốn đạt được điều đó, con người không chỉ cần có niềm tin tôngiáo, mà còn cần cả sự phấn đấu nỗ lực của bản thân bằng cách thực hành một đờisống đạo đức Từ đó, Phật giáo đã đưa ra những chuẩn mực đạo đức rất cụ thể đểcon người tu tập, phấn đấu Trong đó, phổ biến nhất là Ngũ giới (không sát sinh,không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu) và Thập thiện (bađiều thuộc về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, ba điều thuộc
về ý thức: không tham lam, không thù hận, không si mê, bốn điều thuộc về khẩu:không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không ác khẩu) Nhữngchuẩn mực này, nếu lược bỏ màu sắc mang tính chất tôn giáo sẽ là những nguyêntắc ứng xử phù hợp giữa người với người, rất có ích cho việc duy trì đạo đức xãhội
Trong đạo đức Kitô giáo, giới răn yêu thương được xem là nền tảng Conngười trước hết phải yêu Thiên Chúa rồi yêu thương đến bản thân mình Đây là cơ
sở để thực hiện tình yêu tha nhân Kinh thánh khuyên con người phải yêu chồng
vợ, cha mẹ, con cái, anh em, làng xóm, cộng đồng Những điều mà Kinh thánhrăn cấm cũng rất cụ thể: không giết người, không lấy của người, không nói sai sựthật, không ham muốn chồng hoặc vợ của người, không làm chứng giả để hại
Trang 11người Ngoài ý nghĩa đức tin vào cái siêu nhiên (Thượng đế, Chúa), những chuẩnmực, quy phạm đạo đức ấy là những quy phạm đạo đức rất cụ thể hướng con ngườiđến điều thiện, tránh xa điều ác.
Phải nói rằng, tôn giáo đã đề cập trực tiếp đến những vấn đề đạo đức cụ thểcủa cuộc sống thế tục và ít nhiều mang giá trị có tính nhân văn Trên thực tế, nhữnggiá trị, chuẩn mực đạo đức của các tôn giáo có ý nghĩa nhất định trong việc duy trìđạo đức xã hội Do vậy, có thể khẳng định rằng, "trong hệ thống những giá trịchuẩn mực tôn giáo, ngoài những điều khuyên răn cấm đoán tạo nên nội dungriêng của đạo đức tôn giáo, còn có những điều khuyên răn cấm đoán không hề cónội dung tôn giáo, mà là biểu hiện của các mối quan hệ thuần tuý trần thế”
Từ việc nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể khẳngđịnh rằng, khi bàn về tôn giáo, các nhà kinh điển đã đề cập đến vấn đề đạo đức tôngiáo, trong đó, các ông không chỉ phê phán mặt tiêu cực, mà còn chỉ ra một số ýnghĩa tích cực của đạo đức tôn giáo
Khi mới ra đời, hầu hết các tôn giáo đều phản ánh khát vọng tự do, bìnhđẳng của người lao động C.Mác đã khẳng định: "Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa làbiểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nànhiện thực ấy" Con người bất lực, không kiếm tìm được hạnh phúc nơi trần thế vàđành phải tìm hạnh phúc ấy nơi Thiên đường Tôn giáo đã gieo vào họ mềm tin ở
sự cứu vớt, giải thóat của các đấng siêu nhiên Ph.Ăngghen đã nghiên cứu lịch sửtôn giáo, đặc biệt là lịch sử Thiên chúa giáo và chứng minh rằng, sự xuất hiện củatôn giáo này là phản ứng chống lại sự bất công và tàn bạo của chế độ nô lệ Tương
tự như vậy, Phật giáo nguyên thuỷ là khát vọng của quần chúng phản kháng lại sựphân chia đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội ấn Độ cổ đại Thiên chúa giáo kêu gọitình yêu thương giữa con người với con người, Phật giáo chủ trương bình đẳng, từ
Trang 12bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha Ngoài ra, chúng ta còn có thể nêu lên những nét tích cựccủa nhiều tôn giáo khác, khi các tôn giáo này xây dựng mối quan hệ yêu thươnggiữa người với người, hướng con người vào những việc thiện, biết giữ gìn đạo đức
và xa lánh những điều ác
Có thể khẳng định rằng, có một đạo đức tôn giáo và đạo đức ấy mang tínhđặc thù, đồng thời, có sự giao thoa giữa những giá trị đạo đức chung toàn nhân loạivới đạo đức tôn giáo Tuỳ theo hoàn cảnh ra đời và những điều kiện lịch sử cụ thể,
tư tưởng đạo đức trong mỗi tôn giáo có những nét đặc thù riêng biệt Ngoài mặthạn chế, đạo đức tôn giáo cũng có một số giá trị nhất định trong đời sống xã hội, làmột trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền đạo đức xã hội
* Đạo đức cách mạng:
Đạo đức cách mạng do Hồ Chí Minh đề xướng và cùng với Đảng Việt Namdày công xây dựng, bồi đắp Đạo đức cách mạng mang bản chất của giai cấp côngnhân, kết hợp với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạođức của nhân loại
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dântộc Việt Nam, đã được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc ta, đồng thời
kế thừa tư tưởng đạo đức Phương Đông, những tinh hoa đạo đức của nhân loại; đặcbiệt quan trọng là những tư tưởng đạo đức cũng như những tấm gương đạo đứctrong sáng của Mác, Ăngghen, Lênin đã để lại Những tấm gương đạo đức đóchính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếpsống giản dị
Trong lĩnh vực đạo đức, Hồ Chính Minh đã sử dụng nhiều khái niệm, phạm trùcủa các tư tưởng đạo đức đã có từ trước, nhất là đạo đức Nho giáo… Qua các thời đại
Trang 13lịch sử, những khái niệm, phạm trù đã trở thành tài sản chung của nhân loại, nhưngnội dung đã có nhiều thay đổi Những khái niệm như trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần,kiệm, liên, chính đã có trong Nho giáo từ mấy trăm năm trước Công nguyên; dân chủ,
tự do, công bằng, bác ái đã xuất hiện từ thời cổ đại Hy Lạp - La Mã
Hồ Chí Minh đã đưa những giá trị đạo đức mới hòa nhập với những giá trịđạo đức truyền thống của dân tộc, làm cho mỗi người Việt Nam đều cảm thấy gầngũi Hơn nữa, những giá trị đạo đức truyền thống đó là yêu dân tộc, yêu thiênnhiên, đất nước, tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữa con người với con người,giữa con người với xã hội, dũng cảm, ham học hỏi, sáng tạo,… được nâng lên mộttầm cao mới đó là đạo đức trong thời kỳ cách mạng đó là anh dũng chiến đấu hysinh vì sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, tinh thần đoàn kết dân tộc, và đạo đức cách mạngtrong thời đại ngày nay đó là tinh thần yêu nước, vươn lên làm giàu chính đánggóp phần làm giàu đất nước, tinh thần đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữacon người với con người, giữa con người với xã hội,….Và việc tiếp thu những tinhhoa đạo đức của nhân loại đã làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh trở nên phong phú
Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và nhân loại cũng là mộtđặc trưng nổi bật của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
2 Khái quát về sự hình thành nên đạo đức và lối sống con người
Trên cơ sở phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nhân tố sinh học và nhân
tố xã hội trong con người, làm căn cứ để giải thích cho sự hình thành đạo đức, lốisống dưới 2 tác động, đó là tác động của môi trường xã hội và tính tích cực củamỗi cá nhân Theo đó, nhân tố xã hội cơ bản có ảnh hướng lớn đến sự hình thànhđạo đức, nhân cách, lối sống là tồn tại xã hội, hoàn cảnh sống mang tính lịch sử -
cụ thể mà cá nhân đó sống Còn tính tích cực xã hội của mỗi cá nhân, một mặt,
Trang 14phụ thuộc nào nhu cầu và lợi ích của họ, mặt khác, phụ thuộc vào môi trường xãhội và khuynh hướng tiên bộ xã hội, như nền dân chủ các quan hệ xã hội…
Đạo đức, lối sống là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khácnhau, như triết học, xã hội học, kinh tế - chính trị học, luật học, tâm lý học, y học,giáo dục học… Trong đó, quan điểm triết học về đề đạo đức con người, về cơ bản,
có những khác biệt so với quan điểm của các khoa học cụ thể
Triết học Mác - Lênin xem đạo đức, nhân cách là "những cá nhân con ngườivới tính cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, chủ thể của lao động, của sựgiao tiếp, của nhận thức, bị quy định bởi những điều kiện lịch sử - cụ thể của đờisống xã hội" Theo đó, đạo đức, nhân cách trước hết là đặc trưng xã hội của conngười, là "phẩm chất xã hội" của con người
Đạo đức một mặt được hình thành từ bản chất con người, khi sinh ra nó đã
có sẵn, tiềm ẩn trong con người đó nhưng nó được bộc lộ ra thông qua lối sống,nhân cách của con người đó trong xã hội
Mặt khác, đạo đức, lối sống được hình thành do tác động của những yếu tố
xã hội, đó là tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnh hưởng của cácđiều kiện xã hội khác nhau, những sự quy định về mặt xã hội tạo nên cá nhân conngười Trong đại đa số trường hợp, nếu thiếu chúng thì nhiều đặc tính, nhiều cấutrúc, ví dụ như ngôn ngữ, tư duy trừu tượng, quy phạm đạo đức… sẽ không baogiờ hình thành được
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, trước sự phát triển của khoa học, đặc biệt
là sinh vật học và khoa học xã hội nhân văn, chủ nghĩa sinh học xã hội đã ra đờinhư một trào lưu khoa học liên ngành mới ở Tây Âu Nhìn một cách tổng thể, chủnghĩa này cũng không khác gì chủ nghĩa tự nhiên khi cho rằng, "tất cả những gì của
Trang 15con người do bẩm sinh mà có, thì không thể bị thay đổi do các điều kiện xã hội"
Những người theo chủ nghĩa xã hội học đã xây dựng học thuyết của mình vềcon người dựa trên quan điểm lý luận của trường phái E.Durkheim (1858 - 1917,nhà Triết học xã hội, nhà Xã hội học Pháp, người theo chủ nghĩa thực chứng) Theo
họ, các hành vi của con người đều là do tư tưởng, ý thức xã hội tạo nên đồng thời,trường phái này đã phủ nhận mối liên hệ khách quan giữa hành vi con người vớinhững điều kiện vật chất của sản xuất và tái sản xuất con người, với tự nhiên
Đối lập với hai quan điểm cực đoan trên, triết học mácxít cho rằng, trongcon người, mối quan hệ giữa cái sinh học và cái xã hội không phải là đối lập nhau
mà thống nhất với nhau Có thể thấy rằng, con người là một cơ thể hữu sinh cótrình độ tổ chức sinh học cao nhất và do vậy, quan hệ giữa các yếu tố sinh học - xãhội là rất phức tạp, sâu sắc Tổ chức cơ thể của con người, như các giác quan, hệthần kinh trung ương là những tiền đề sinh học, sinh lý học, tâm sinh học đượcxem như cơ sở vật chất và có ảnh hưởng tới sự phát triển con người Thực tế đãchứng minh rằng, những khiếm khuyết về mặt cơ thể, về gen… đã có ảnh hưởngkhông nhỏ tới sự phát triển con người, tới thế giới quan, định hướng giá trị của
họ, hay những năng khiếu bẩm sinh, những tài năng chính là do các yếu tố sinhhọc chi phối
Môi trường xã hội cũng ảnh hưởng tới sự phát triển con người, ảnh hưởngtới cơ cấu và chức năng… của cơ thể Nếu con người ít tiếp xúc, trao đổi với ngườixung quanh hoặc sống trong môi trường xã hội quá đơn điệu thì sẽ nghèo nàn vềtâm lý, kém sự linh động Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa yếu tố sinh học vàyếu tố xã hội trong con người là để thấy được những hạn chế trong các quan niệmcực đoan về cái sinh học, cái xã hội trong con người của một số trường phái triếthọc Thực tế cho thấy rằng, những quy luật sinh học chi phối mặt sinh học, còn quá