Những trường hợp này là huyết áp tâm trương giới hạn kết hợp với tổn thương cơ quan đích, cao huyết áp tâm thu, hay những yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch như tuổi>65, da đen, hút thuốc, tă
Trang 1Cao huyết áp (Phần 2)
Bệnh nhân cảm thấy như thế nào khi bị huyết áp cao ?
Huyết áp cao đơn giản thường không triệu chứng Vì vậy cao huyết áp được mệnh danh là "kẻ giết người thầm lặng " Nói cách khác, bệnh này có thể diễn tiến
Trang 2thầm lặng, không triệu chứng cho đến khi xuất hiện biến chứng chết người Thật vậy, huyết áp cao không phức tạp có thể tồn tại lặng lẽ nhiều năm thậm chí hàng chục năm Ðiều này xảy ra khi không có triệu chứng và chỉ được phát hiện qua tầm soát huyết áp định kỳ
Tuy nhiên, vài người bi cao huyết áp không phức tạp có những triệu chứng kinh nghiệm như: nhức đầu, chóng mặt, thở ngắn và nhìn mờ đi, ruồi bay trước mắt Sự hiện diện các triệu chứng này có thể chỉ điểm để người ta đi khám bác sĩ nhằm điều trị
và dễ dàng trong việc sử dụng thuốc
Tuy nhiên, không phải là không thường xuyên, có người đến bác sĩ đầu tiên vì
đã có tổn thương ở cơ quan Trong nhiều trường hợp, người ta đến khám, được đưa
đến bác sĩ hay phòng cấp cứu với suy tim, đột quỵ, suy thận hay giảm thị lực (do tổn
thương phần sau của võng mạc) Nhận thức cộng đồng cao hay tầm soát huyết áp thường xuyên có thể phát hiện những bệnh nhân huyết áp cao không được chẩn đoán trước khi có biến chứng
Khoảng 1% dân số huyết áp cao được chẩn đoán là cao huyết áp nặng ngay lần đầu đến khám (cao huyết áp ác tính) Những bệnh nhân này, huyết áp tâm trương vượt quá 140mmHg Người bệnh thường bị đau đầu nhiều, ói mửa, triệu chứng về thị giác, chóng mặt, đôi khi suy thận Cao huyết áp ác tính là 1 cấp cứu y khoa và đòi hỏi điều trị khẩn cấp nhằm ngăn chặn đột quỵ (tổn thương não)
Như đã lưu ý, cao huyết áp mãn tính có thể dẫn đến lớn tim, suy thận, tổn thương não hay thần kinh và thay đổi võng mạc Kiểm tra mắt ở bệnh nhân cao huyết
áp nặng có thể phát hiện ra hẹp hay xuất huyết ở động mạch nhỏ tại võng mạc, phù gai
Trang 3thị Từ kiểm tra này, bác sĩ có thể phân độ nặng cao huyết áp dựa trên mức độ tổn thương võng mạc
Như đã ghi nhận từ trước , những người cao huyết áp tăng độ cứng, hay kháng lực mạch ngoại biên khắp các mô cơ thể Kháng lực này tăng làm cho cơ tim làm việc nặng hơn để bơm máu qua mạch máu đó Tình trạng tăng hoạt động này làm cho tim
quá tải dẫn đến rối loạn, thường đầu tiên là lớn tim Tim to có thể đánh giá bằng
X-quang, điện tâm đồ hay chính xác nhất là siêu âm tim Siêu âm tim đặc biệt có lợi trong
việc xác định độ dày tim trái Tim lớn có lẽ là dấu hiệu báo trước của suy tim, bệnh
mạch vành hay rối loạn nhịp Ðiều trị đúng đắn cao huyết áp và biến chứng của nó có
thể khắc phục được những bất thường trên
Xét nghiệm máu và nước tiểu có lẽ hữu dụng trong việc dò tìm bất thường tại thận ở người cao huyết áp (Nên nhớ là tổn thương ở thận có thể là nguyên nhân và cả hậu quả của cao huyết áp) Ðịnh lượng Creatinine huyết thanh có thể khảo sát được chức năng thận Nồng độ Creatinine cao bất thường cho thấy có tổn thương chức năng thận
Ngoài ra, sự xuất hiện proteine trong nước tiểu (tiểu đạm) có thể phản ánh tổn thương thận mãn tính do cao huyết áp, ngay khi chức năng thận (qua creatinine máu ) vẫn bình thường Thật vậy, proteine trong nước tiểu báo hiệu nguy cơ suy giảm chức năng thận nếu huyết áp không được điều chỉnh Ngay cả lượng nhỏ proteine (microalbuminuria) cũng là dấu hiệu đe doạ suy thận do huyết áp cao không kiểm soát Những bệnh nhân da đen có huyết áp cao kiểm soát kém có nguy cơ tổn thương cơ quan đích và thận cao hơn người da trắng
Trang 4Huyết áp cao không kiểm soát có thể dẫn đến tổn thương não hay thần kinh bởi
cơn đột quỵ Ðột quỵ thường do xuất huyết hay huyết khối ở mạch máu nuôi não Dấu
hiệu và triệu chứng của bệnh nhân (tìm thấy qua khám lâm sàng ) đánh giá tổn thương thần kinh Một cơn đột quỵ có thể gây ra suy yếu, ù tai, liệt tay hay chân hoặc khó phát
ngôn hay thị giác Nhiều cơn đột quỵ nhỏ có thể gây mất trí nhớ Phòng ngừa tốt nhất
cho biến chứng này hay bất kỳ biến chứng nào là kiểm soát tốt huyết áp
Cách sống như thế nào có lợi cho điều trị cao huyết áp?
Thay đổi cách sống, ý nhắc đến thay đổi chế độ ăn và luyện tập Thay đổi này làm hạ huyết áp cũng như cải thiện được đáp ứng của bệnh nhân đối với thuốc Chế độ
ăn kiêng bao gồm hạn chế muối và rượu và giảm cân nếu người bệnh bị béo phì Hiệp
hội tim mạch Mỹ khuyến cáo rằng tiêu thụ muối <6gram/ngày đối với dân số chung và thấp hơn (<4 gram) đối với những người cao huyết áp Thực hiện chế độ ăn ít muối <4 gram tức là ta không nên thêm muối vào thức ăn hay lúc nấu nướng Cũng vậy, lượng muối trong thức ăn cần được ước lượng theo nhãn mác của các thực phẩm mua sẵn
Béo phì thường gặp ở bệnh nhân cao huyết áp và tính phổ biến của nó tăng dần theo tuổi Thật vậy, béo phì là yếu tố quyết định tăng tỉ lệ mới mắc cao huyết áp theo tuổi Béo phì có thể góp phần làm tăng huyết áp theo nhiều cách Một cách là béo phì làm tăng cung lượng tim vì tim phải bơm lượng máu nhiều hơn để cung cấp cho mô thừa Cung lượng tim tăng này làm tăng huyết áp Cách khác, những người cao huyết
áp béo phì có kháng lực ngoại biên cao hơn ở khắp cơ thể
Cuối cùng, béo phì có thể kết hợp với việc thận giữ muối Giảm cân có thể giúp phục hồi lại những vấn đề liên quan béo phì đồng thời cũng giảm áp Người ta đánh
Trang 5giá là huyết áp có thể giảm 0.32mmHg cho mỗi kilogram (2.2pounds) cân nặng giảm
đi
Vài người béo phì, đặc biệt là những người rất mập, có hội chứng ngưng thở lúc
ngủ Hội chứng này có đặc điểm ngưng tạm thời nhịp thở bình thường trong lúc ngủ
Ngưng thở lúc ngủ có thể góp phần phát triển huyết áp cao trong phân nhóm những người béo phì này Ðiều này xảy ra vì các giai đoạn của ngưng thở lặp lại làm thiếu Oxy Rồi tình trạng thiếu Oxy này kích thích thận phóng thích adrenalin và các thành phần liên quan Cuối cùng, Adrenalin và các thành phần này làm tăng huyết áp
Một chương trình luyện tập thể lực đều đặn có thể làm hạ huyết áp trong tương lai xa Ví dụ hoạt động như chạy bộ, chạy xe đạp hay bơi lội trong 30-45 phút có thể làm giảm huyết áp xuống 5-15mmHg Ngoài ra có một mối liên hệ giữa lập luyện với mức độ huyết áp hạ thấp Do đó, bạn càng tập luyện, bạn càng hạ thấp huyết áp Ðáp ứng có lợi của huyết áp đối với tập luyện chỉ xảy ra với chương trình aerobic (sôi nổi
và duy trì liên tục ) Vì thế bất cứ chương trình tập luyện nào phải được đề nghị và đồng ý bởi bác sĩ điều trị
Mục tiêu điều trị cao huyết áp là gì?
Nên nhớ là cao huyết áp thường tồn tại nhiều năm trước khi xuất hiện biến chứng Vì vậy có ý kiến là điều trị cao huyết áp sớm trước khi nó gây tổn thương các
cơ quan chính của cơ thể Do đó, chương trình tầm soát và nâng cao ý thức cộng đồng
để phát hiện sớm cao huyết áp đơn giản là chìa khoá của điều trị thành công Ðiểm
chính là ngoài điều trị cao huyết áp thành công, bạn có thể giảm được nguy cơ đột quỵ,
suy tim, và suy thận
Trang 6Mục tiêu của người bệnh cao huyết áp tâm thu và tâm trương kết hợp là giữ huyết áp 140/85 mmHg Giữ huyết áp thấp hơn, như đã lưu ý là mong muốn của bệnh
nhân da đen và bệnh nhân tiểu đường hay suy thận mãn
Ðiều trị cao huyết áp bắt đầu như thế nào?
Huyết áp hằng định cao hơn 140/85mmHg được điều trị bằng thay đổi cách sống và thuốc Tuy nhiên, nếu huyết áp tâm trương giữ ở ngưỡng (thường <90mmHg nhưng >85mmHg) thì trong vài trường hợp, điều trị nên bắt đầu Những trường hợp này là huyết áp tâm trương giới hạn kết hợp với tổn thương cơ quan đích, cao huyết áp
tâm thu, hay những yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch như tuổi>65, da đen, hút thuốc,
tăng lipid máu hay tiểu đường
Bất kỳ nhóm thuốc nào cũng có thể sử dụng khởi đầu, ngoại trừ ức chế alpha Thuốc ức chế alpha chỉ được dùng kết hợp với thuốc hạ áp khác trong một chỉ định y khoa cụ thể (Xem phần tiếp theo để biết rõ các thuốc hạ áp )
Trong vài tình huống đặc biệt, vài loại thuốc hạ áp thích hợp hơn những loại thuốc đầu tay Ví du, thuốc ức chế men chuyển (ACE ) và ức chế thụ thể (ARB) là thuốc được lựa chọn cho bệnh nhân có suy tim, suy thận mãn (có tiểu đường hay
không tiểu đường) hay nhồi máu cơ tim, những bệnh làm giảm chức năng co bóp của
cơ tim Cũng vậy, ức chế bêta đôi khi thích hợp điều trị ở bệnh nhân cao huyết áp có kèm nhịp nhanh lúc nghỉ hay nhồi máu cơ tim cấp
Bệnh nhân cao huyết áp đôi khi tồn tại song song một bệnh thứ 2 Trong trường hợp này, loại thuốc hạ áp đặc biệt hay các loại thuốc kết hợp có thể được chọn lựa trong điều trị ban đầu Mục đích điều trị trong những trường hợp này là điều trị cao
Trang 7huyết áp đồng thời cũng có lợi cho bệnh thứ 2 Ví dụ, ức chế bêta có thể chữa trị lo lắng mãn tính hay đau đầu Migrain cũng như cao huyết áp Cũng vậy, ức chế ACE hay thuốc ARB có thể được dùng để điều trị một vài bệnh lý tại cơ tim hay bệnh lý tại thận cũng tốt như trị cao huyết áp
Trong vài tình huống khác, vài loại thuốc hạ áp khác không nên dùng Ví dụ, thuốc non-dihydropyridine, một dạng của nhóm ức chế kênh Calcium không nên dùng
ở bệnh nhân có suy tim hay rối loạn nhịp Với ý định khác nữa, những loại thuốc này
có thể hữu dụng trong điều trị vài rối loạn nhịp khác Cũng vậy, vài loại thuốc như clonidine và minoxidil rất mạnh, thường được hạ 2-3 bậc khi điều trị Nghĩa là chúng chỉ được dùng sau khi tất cả những thuốc đầu tay khác thất bại Cuối cùng, xem thêm phần dưới dành cho thai kỳ về thuốc hạ áp thích hợp và không thích hợp cho phụ nữ
có thai
Khi nào dùng điều trị kết hợp?
Sử dụng phối hợp thuốc hạ áp không phải là không phổ biến Ðôi khi sử dụng một lượng nhỏ của một hay nhiều chất kết hợp có thể là giảm tối thiểu tác dụng phụ trong khi lại làm tăng cường hiệu quả hạ áp Ví dụ, thuốc lợi tiểu có thể dùng đơn độc nhưng thường sử dụng liều thấp kết hợp với các thuốc hạ áp khác Trong trường hợp này, thuốc lợi tiểu có ít tác dụng ngoại ý nhưng lại tăng cường tác dụng hạ áp của thuốc khác Thuốc lợi tiểu cũng được dùng kèm với thuốc hạ áp khác trong trường hợp bệnh nhân cao huyết áp có giữ nước và phù
Thuốc ức chế ACE hay ức chế thụ thể Angiotensin có lợi khi kết hợp với hầu hết các thuốc hạ áp khác Một cách phối hợp khác là ức chế bêta với ức chế alpha ở
Trang 8bệnh nhân cao huyết áp có kèm phì đại tiền liệt tuyến để điều trị cùng lúc cả 2 bệnh
Tuy nhiên, cần thận trọng khi kết hợp cả 2 loại thuốc làm giảm nhịp tim Ví dụ, ức chế bêta với ức chế kênh Calcium non-dihydropyridine (diltiazem và verapamil) phải hết sức cẩn thận Bệnh nhân điều trị 2 nhóm thuốc này cần được theo dõi monitor để tránh nhịp tim giảm quá mức
Khi nào dùng điều trị kết hợp?
Sử dụng phối hợp thuốc hạ áp không phải là không phổ biến Ðôi khi sử dụng một lượng nhỏ của một hay nhiều chất kết hợp có thể là giảm tối thiểu tác dụng phụ trong khi lại làm tăng cường hiệu quả hạ áp Ví dụ, thuốc lợi tiểu có thể dùng đơn độc nhưng thường sử dụng liều thấp kết hợp với các thuốc hạ áp khác Trong trường hợp này, thuốc lợi tiểu có ít tác dụng ngoại ý nhưng lại tăng cường tác dụng hạ áp của thuốc khác Thuốc lợi tiểu cũng được dùng kèm với thuốc hạ áp khác trong trường hợp bệnh nhân cao huyết áp có giữ nước và phù
Thuốc ức chế ACE hay ức chế thụ thể Angiotensin có lợi khi kết hợp với hầu hết các thuốc hạ áp khác Một cách phối hợp khác là ức chế bêta với ức chế alpha ở
bệnh nhân cao huyết áp có kèm phì đại tiền liệt tuyến để điều trị cùng lúc cả 2 bệnh
Tuy nhiên, cần thận trọng khi kết hợp cả 2 loại thuốc làm giảm nhịp tim Ví dụ, ức chế bêta với ức chế kênh Calcium non-dihydropyridine (diltiazem và verapamil) phải hết sức cẩn thận Bệnh nhân điều trị 2 nhóm thuốc này cần được theo dõi monitor để tránh nhịp tim giảm quá mức
Khi nào cần điều trị cấp cứu ?
Trang 9Ở bệnh viện, thuốc tiêm tĩnh mạch có thể dùng điều trị cấp cứu cao huyết áp Loại thường dùng nhất là Sodium Nitroprusside (Nipride) và Labetalol (Normadyne) Như đã đề cập, điều trị thuốc cấp cứu có thể dùng ở bệnh nhân cao huyết áp ác tính
Ngoài ra, điều trị cấp cứu cũng cần thiết ở bệnh nhân cao huyết áp có suy tim
sung huyết cấp tính, phình tách động mạch chủ, đột quỵ và nhiễm độc thai nghén