1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Tiểu luận: Giáo dục thể chất sức khoẻ doc

26 7K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận giáo dục thể chất sức khoẻ
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Lan
Trường học Đại học Thăng Long
Chuyên ngành Giáo dục thể chất
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 872,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp được tiến hành trong cả quá trình học tập của sinh viên trong nhà trường bằng các hì

Trang 1

Đại học Thăng long

Tiểu luận giáo dục thể chất sức khoẻ

Họ và tên :Nguyễn Thị Thuý Lan

Mã sv :A14251 Lớp : QA21b1

Năm học :2009

Hà Nội ngày1 tháng 12 năm 2009

Trang 2

M ục Lục

Phần bắt buộc

Câu 1:Sức khoẻ là gì? Tầm quan trọng của sức khoẻ trong cuộc sống 4

Câu 2:Mục đích và ý nghĩa của giáo dục thể chất trong trường đại học

Phần tự chọn

Câu 2:Em hãy trình bày khái niệm và phân tích tác dụng của phương

Trang 3

Lời mở đầu

Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, và nằm trong hệ

thống giáo dục quốc dân Giáo dục thể chất được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào

tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”.

Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với họcsinh với nguyên tắc sư phạm Giáo dục thể chất chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động

Giáo dục thể chất là một lĩnh vực thể dục thể thao (TDTT) xã hội với nhiệm vụ là: “Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng cho cuộc sống” Đồng thời chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục đó là: “Trang

bị kiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực cho học sinh sinh viên”

Nội dung chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp được tiến hành trong cả quá trình học tập của sinh viên trong nhà trường bằng các hình thức:

Phần bắt buộc

Câu 1:Sức khoẻ là gì? Tầm quan trọng của sức khoẻ trong cuộc sống

Sức khỏe là gì?

Trang 4

Có người nói sức khỏe là vốn liếng quý giá nhấn của con người , là tài sản vô hình nhưng có sức mạnhhữu hình , là cái đánh giá thể chất của bạn so với những người khác

Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO- World Health Organization):

“Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”

Hoàn toàn thoải mái về mặt thể chất là như thế nào?

Hoạt động thể lực, hình dáng, ăn, ngủ, tình dục,… tất cả các hoạt động sống trên đều ở trạng thái tốt nhất phù hợp với từng lứa tuổi

Hoàn toàn thoải mái về mặt tâm thần là như thế nào?

Bình an trong tâm hồn Biết cách chấp nhận và đương đầu với các căng thẳng trong cuộc sống

Hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội là như thế nào?

Nghề nghiệp với thu nhập đủ sống An sinh xã hội được đảm bảo

Không có bệnh tật hay tàn phế là như thế nào?

Là không có bệnh về thể chất, bệnh tâm thần, bệnh liên quan đến xã hội và sự an toàn về mặt xã hội

Như vậy, chúng ta có thể hiểu sức khoẻ gồm 3 mặt: Sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần và sức khoẻ xã hội Để lĩnh hội được các vấn đề cụ thể hơn, trước hết chúng ta cần biết những khái niệm sức khoẻ trên là gì

1 Sức khoẻ thể chất

Sức khoẻ thể chất được thể hiện một cách tổng quát sự sảng khoái và thoải mái về thể chất Càng sảng khoái, thoải mái, càng chứng tỏ bạn là người khoẻ mạnh

Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái thể chất là:

- Sức lực: Khả năng hoạt động của cơ bắp mạnh, có sức đẩy, sức kéo, sức nâng cao…do đó làm công việc chân tay một cách thoải mái như mang vác, điều khiển máy móc, sử dụng công cụ…

- Sự nhanh nhẹn: Khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, đi lại, chạy nhảy, làm các thao tác kỹ thuật một cách nhẹ nhàng, thoải mái

- Sự dẻo dai: Làm việc hoặc hoạt động chân tay tương đối lâu và liên tục mà không cảm thấy mệt mỏi

- Khả năng chống đỡ được các yếu tố gây bệnh: ít ốm đau hoặc nếu có bệnh cũng nhanh khỏi và chónghồi phục

- Khả năng chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường: Chịu nóng, lạnh, hay sự thayđổi đột ngột của thời tiết

Cơ sở của các điểm vừa nêu chính là trạng thái thăng bằng của mỗi hệ thống và sự thăng bằng của 4 hệthống: Tiếp xúc, vận động, nội tạng và điều khiển của cơ thể

2 Sức khoẻ tinh thần

Trang 5

Sức khoẻ tinh thần là hiện thân của sự thoả mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản; ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời; ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh.

Có thể nói, sức khoẻ tinh thần là nguồn lực để sống khoẻ mạnh, là nền tảng cho chất lượng cuộc sống, giúp cá nhân có thể ứng phó một cách tự tin và hiệu quả với mọi thử thách, nguy cơ trong cuộc sống Sức khoẻ tinh thần cho ta khí thế để sống năng động, để đạt được các mục tiêu đặt ra trong cuộc sống

và tương tác với người khác với sự tôn trọng và công bằng

Sức khoẻ tinh thần chính là sự biểu hiện nếp sống lành mạnh, văn minh và có đạo đức Cơ sở của sức khoẻ tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm

3 Sức khoẻ xã hội

Sự hoà nhập của cá nhân với cộng đồng được gọi là sức khoẻ xã hội như câu nói của Mác: "Con người

là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Sức khoẻ xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệchằng chịt, phức tạp giữa thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan

Nó thể hiện ở sự được chấp nhận và tán thành của xã hội Càng hoà nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khoẻ xã hội tốt và ngược lại

Cơ sở của sức khoẻ xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; là sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội

Ba yếu tố sức khoẻ liên quan chặt chẽ với nhau Nó là sự thăng bằng, hài hoà của tất cả những khả năng sinh học, tâm lý và xã hội của con người Nó là cơ sở quan trọng tạo nền tảng cho hạnh phúc conngười

Theo định nghĩa trên, mỗi người chúng ta cần chủ động để có một sức khoẻ tốt Cần chủ động trang bị cho mình kiến thức về phòng bệnh và rèn luyện sức khoẻ Thực hành dinh dưỡng hợp lý, luyện tập thểdục thể thao phù hợp, an toàn lao động và khám bệnh định kỳ để chủ động trong việc phòng và chữa bệnh

Để có sức khoẻ tốt với sự nỗ lực của mỗi cá nhân là chưa đủ mà cần có sự đóng góp của cả cộng đồng,của toàn xã hội trong các vấn đề an sinh, việc làm và giáo dục hay cụ thể hơn như các vấn đề về môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm…

Thế nhưng chúng ta không mấy khi để ý đến sức khoẻ của mình cho tới khi phát sinh các vấn đề liên quan tới sức khoẻ Khi mắc bệnh, khi đau ốm con người ta mới bắt đầu chăm lo cho sức khoẻ của mình, họ bắt đầu đọc tài liệu, đi BS Đa phần những hành động này là hữu ích, nhưng cũng có trường hợp khi phát hiện ra mình có bệnh thì mọi nỗ lực đã là quá trễ …

Tầm quan trọng của sức khỏe được thể hiện qua hai khía cạnh:

(1) Sức khỏe được xem như một hàng hóa tiêu dùng (consuming good), Người khỏe mạnh sẽ có cảmgiác sảng khoái như khi ăn kem vào mùa hè nóng nực

Trang 6

(2) Sức khỏe còn được xem như một tư bản (health capital) dùng để đầu tư, một thứ hàng hóa tư bản (capital good) Một người khỏe mạnh sẽ kiếm nhiều tiền hơn một người bị bệnh tật triền miên Với thời gian, sức khỏe, như một tài sản (assets), sẽ bị hao mòn dần, tiến đến việc cần có các dịch

vụ y tế để phục hồi sức khỏe hoặc làm chậm lại tốc độ khấu hao (depreciation).1

* Có sức khỏe là có ham muốn hành động, một tinh thần đơn giản, một ý thức cao đẹp (Henri

bộ, chắp vá Như vậy sức khoẻ ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống gia đình và các hoạt động kinh tế, chính trị, quân sự

Nhưng thử hỏi mỗi chúng ta đã dành bao nhiêu thời gian cho việc tìm hiểu kiên thức về sức khoẻvà cần phải làm gì cho sức khoẻ của chính mình một cách chủ động Hầu hết chỉ khi có bệnh mới chữa, khi chữa cũng không triệt để Chỉ một số ít người chăm lo sức khoẻ, phòng chống bệnh tật, luyện tập thể dục thể thao một cách khoa học, bài bản, tích cực, lâu dài Chính hiểu rõ được tầm quan trọng của sức khoẻ mà Bác Hồ đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục và chính Bác cũng nêu tấm gương của bản thân” Tự tôi ngày nào cũng tập thể dục ”để khuyến khích mọi người cùng tập

Ngày nay cùng với sự phát triển về kinh tế, chính trị, văn hoá, phong trào luyện tập thể dục thể thao, nâng cao sức khoẻ ngày càng được chú trọng cả bề rộng lẫn chiều sâu trong các chương trình của nhà nước cũng như trong ý thức tự giác của quần chúng nhân dân, nó thực sự là nhu cầu thiết thực và đónggóp tích cực vào việc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ Quốc

Sau những giờ làm việc mệt nhọc căng thẳng, việc luyện tập thể dục thể thao thư giãn và giải trí là mộtnhu cầu thiết thực Các trò chơi vận động, các hình thức biểu diễn thể dục thể thao luôn được coi là món ăn tinh thần, giúp cho cuộc sống lành mạnh và tươi vui

Câu 2:Mục đích và ý nghĩa của giáo dục thể chất trong trường đại học và yêu cầu đối với sinh viên

Yêu cầu mục đích của GDTC:

- Trang bị những kiến thức hiểu biết về chăm sóc và nâng cao sức khoẻ toàn diện

- Giới thiệu các phương pháp tập luyện giữ gìn và nâng cao thể chất sức khoẻ

- Giúp sinh viên lựa chọn được phương pháp, môn tập phù hợp với điều kiện thể trạng, sức khoẻ, thời gian, sở thích, hoàn cảnh kinh tế, của mình

- Nắm được những kỹ năng cơ bản của các môn tập đã lựa chọn để tập luyện lâu dài thành kỹ

Trang 7

- Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên và trách nhiêmk bảo vệ môi trường trong sạch, lành mạnh thông qua các bài tập, kết hợp với du lịch, dã ngoại theo chuyên đề sức khoẻ và môi trường

Thể chất là một trong 5 mục tiêu giáo dục con người toàn diện của xã hội ta hiện nay (đức, trí, thể,

mỹ, lao), là cơ sở để tiếp nhận những mặt giáo dục còn lại.

Giáo dục thể chất trong trường học góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe, giúp phát triển toàn diện

cả về thể chất lẫn tâm hồn, đồng thời giáo dục thể chất trong trường học làm cho các học sinh, sinh viên năng động, hưng phấn hơn trong học tập, là giây phút giảm tải những áp lực trong học văn hoá, chuyên môn Không nằm ngoài những mục đích trên, những sinh viên khuyết tật cũng học tập môn giáo dục thể chất này theo cách của riêng mình

Mục đích cốt lõi của giáo dục thể chất là rèn luyện sức khỏe Vậy nên giáo dục thể chất tốt thì sức khỏe được tăng cường, còn không tốt thì ngược lại Đã có rất nhiều trường hợp bệnh tật, chấn thương nhờ thể dục thể thao mà sức khỏe được cải thiện Trường hợp của em Nguyễn Thị Yến là một điển hình Yến mắc bệnh tim bẩm sinh và hen Năm 2006, khi Yến trúng tuyển vào trường Đại học Ngoại giao, gia đình đã rất lo lắng cho sức khoẻ của em khi phải sống xa nhà Vào trường, điều khiến Yến băn khoăn nhất là sức khoẻ không đủ để hoàn thành những nội dung của môn giáo dục thể chất, điều kiện để thi tốt nghiệp ra trường Yến đã gửi đơn đề nghị lãnh đạo nhà trường miễn môn học học này

và đã được chấp nhận Tuy nhiên chính cô giáo dạy môn bơi lội lại khuyên em nên tham gia tập luyệnthể chất cùng các bạn, để phục hồi sức khoẻ của mình Yến nói: “Ngày trước, em vẫn nghĩ với những người thể trạng yếu đuối bẩm sinh như em, cần nhiều thời gian nghỉ ngơi, không nên vận động nhiều Suy nghĩ đó không hoàn toàn đúng Chúng em vẫn tham gia, nhưng cần luyện tập thể dục phù hợp, kết hợp với việc nghỉ ngơi hợp lý, bệnh tật sẽ được cải thiện” Với sự hướng dẫn nhiệt tình và khoa

Trang 8

học của cô giáo, đến nay sức khoẻ của Yến đã được cải thiện đáng kể so với trước.

Hiện nay trong các trường Đại học, giáo dục thể chất có rất nhiều loại hình và đa dạng, nhằm tạo hứng thú cho sinh viên tham gia tập luyện Hầu hết các trường đều lựa chọn những môn thể dục như: bóng bàn, cầu lông, bơi lội, bóng rổ, cầu mây… , có một vài trường do đặc thù của ngành nghề đào tạo nên có cả những môn thể chất mang tính nghệ thuật biểu diễn như aerobic, thể dục nhịp điệu, nhảy…

Thực tế cho thấy, tham gia học thể chất còn là một cách giúp người khuyết tật hòa đồng với tập thể Thông qua những giờ thực hành, những thành viên trong lớp sẽ có nhiều thời gian hơn để giao lưu và chuyện trò với các bạn trong lớp, điều mà khó có được trong những tiết học trên lớp do quá căng thẳng và phải tập trung “Tay em yếu, nên em được miễn thực hành môn cầu lông và bóng bàn Mặc

dù vậy, em vẫn thích chơi môn này Các bạn cùng lớp luôn khuyến khích em hoạt động tay nhiều qua việc cầm vợt chơi bóng, để phục hồi chức năng tay” - Nguyễn Hồng Hạnh, sinh viên khoa Văn, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn nói

Giáo án thể chất tại các trường Đại học dành cho sinh viên như nhau, không có sự khác biệt giữa giáo

án của sinh viên khuyết tật và sinh viên lành lặn Sự khác nhau duy nhất là ở chỗ, nếu sinh viên bình thường thi cuối môn thể chất bằng thực hành thì sinh viên khuyết tật nếu có nguyện vọng sẽ được thi

lý thuyết, để đáp ứng được điều kiện sức khoẻ và đủ đảm bảo hoàn thành chứng chỉ giáo dục thể chất

- điều kiện thi tốt nghiệp Đại học khi ra trường

Giáo dục thể chất có vai trò rất quan trọng trong việc rèn luyện học sinh về thể lực để nâng cao sức khoẻ với mục tiêu "Khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", "Khỏe để chinh phục đỉnh cao tri thức" Từ trước tới nay Giáo dục thể chất vẫn được xem là môn học phụ ở các trường phổ thông bởi

nó không thuộc các môn văn hoá và không là môn thi tốt nghiệp Sự quan tâm và đầu tư đối với Giáo dục thể chất cũng chưa đầy đủ và thiết bị phục vụ giảng dạy và tập luyện vẫn còn nhiều thiếu thốn Hiện nay tất cả các trường học trong cả nước học sinh học môn Thể dục ngoài sân trường hoặc sân vận động Nếu mưa là các em phải nghỉ Mặc dù là môn phụ, đối với những học sinh có thể lực yếu hay không có năng khiếu các môn thể dục thì việc học môn Giáo dục thể chất lại là một "cơn ác mộng" vì các em phải rất vất vả để có thể vượt qua điểm trung bình khi phải thi lấy điểm cuối kỳ

Về lý thuyết thì Giáo dục thể chất ở các trường phổ thông đều nhằm đạt cả hai mục đích trên Nhưng thực tế với cách thức dạy môn Giáo dục thể chất như hiện nay chưa mục đích nào được thực hiện một cách đầy đủ

Phần tự chọn

Câu 2:Em hãy trình bày khái niệm và phân tích tác dụng của phương Pháp hít thở theo kinh nghiệm cổ truyền (khí công dưỡng sinh )

Trang 9

Vào thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch, trong cổ thư Đạo Đức Kinh, tác giả Lão Tử, một nhà hiền triết TrungHoa, đã đề cập đếnn vai trò hơi thở trong kỹ thuật luyện khí, để giúp con người kéo dài tuổi thọ Sử liệu Trung Hoa cũng cho thấy rằng các phương pháp luyện khí đã có nhiều tiến bộ, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc (770 – 221 B.C trước Tây lịch) Sau đó, trong thời nhà Tần đến nhà Hán (221 B.C trước Tây lịch đến 220 A.C sau Tây lịch), một số sách dạy luyện khí công đã được biên soạn bởi nhiều vì y sư, thiền sư và đạo sĩ Các phương pháp truyền dạy tuy có khác nhau, nhưng vẫn có chung những nguyên lý vận hành khí lực trong cơ thể.

Khí công là gì?

“Khí” người Trung Hoa phát âm là “Chi” hay “Qi”, “Ki” ở người Nhật Bản, “Ghee” ở người Đại Hàn

và “Prana” ở người Ấn Độ “Khí” nghĩa thông thường có liên quan đến “Không khí” hoặc “Chất Hơi”, một chất không hình, dễ di động, dễ phân tán, dễ tích tụ, tính co dãn có thể tạo nên sức ép lớn mạnh, tùy theo số lượng của nó

“Công” do chữ “công phu”, người Trung Hoa phát âm là “Kungfu”, có nghĩa là việc làm được thực hiện trong một số lượng thời gian

Do đó, “khí công” có thể hiểu là một tiến trình hít thở không khí, để gia tăng nguồn sinh lực của thể chất lẫn tinh thần trong con người Trong đó, “dưỡng khí” (oxygen)được hấp thụ qua không khí, và

“thán khí” (carbon dioxide) được loại trừ ra ngoài cơ thể Đây là hai yếu tố chính yếu trong việc gia tăng nguồn sinh lực cơ thể

Trong võ thuật cổ truyền đông phương, khí công còn được gọi là “nội công”, một công phu tập luyện

“tán tụ nội khí”, triển khai tối đa sức mạnh thể chất lẫn tinh thần, để áp dụng vào kỹ thuật chiến đấu, cũng như gia tăng sức khỏe thân tâm

Lược Sử Khí Công:

Trong ý nghĩa quân bình hơi thở, khí công được bắt nguồn từ thuở xa xưa, từ khi có sự hiện diên loài người trên quả đất này Căn cứ vào văn hóa cổ truyền đông phương, khí công đã được áp dụng qua các phương pháp thực hành, và triết lý dẫn đạo, hầu hết, trong ba môn học: Y học, Đao học, và Võ học

Theo y như Hoàng Đế Nội Kinh (2697 – 2597 B.C trước Tây Lịch), và sách Dịch Kinh (2400 B.C trước Tây lịch), nền tảng Đông Y học được dựa trên lý thuyết nguồn khí lực, Âm Dương và Ngũ

Trang 10

Hành để lý giải, điều trị bệnh tật và tăng cường sức khỏe con người.

Vào thời nhà Thương (1783 – 1122 B.C trước Tây lịch), người Trung Hoa đã biết dùng những dụng

cụ bén nhọn bằng đá, để châm chích vào các huyệt đạo trên cơ thể, nhằm gây ảnh hưởng đến sự dẫn truyền nguồn khí lực, trong việc trị bệnh cho con người

Vào thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch, trong cổ thư Đạo Đức Kinh, tác giả Lão Tử, một nhà hiền triết TrungHoa, đã đề cập đếnn vai trò hơi thở trong kỹ thuật luyện khí, để giúp con người kéo dài tuổi thọ Sử liệu Trung Hoa cũng cho thấy rằng các phương pháp luyện khí đã có nhiều tiến bộ, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc (770 – 221 B.C trước Tây lịch) Sau đó, trong thời nhà Tần đến nhà Hán (221 B.C trước Tây lịch đến 220 A.C sau Tây lịch), một số sách dạy luyện khí công đã được biên soạn bởi nhiều vì y sư, thiền sư và đạo sĩ Các phương pháp truyền dạy tuy có khác nhau, nhưng vẫn có chung những nguyên lý vận hành khí lực trong cơ thể

Vào thế kỷ thứ ba sau Tây lịch, nguyên lý về khí lực đã được minh chứng hiệu quả bởi y sư Hoa Đà, qua việc áp dụng kỹ thuật châm cứu, để gây nên tình trạng tê mê cho bệnh nhân, trong lúc giải phẫu Cũng như, ông đã sáng chế những động tác tập luyện khí “Ngũ Cầm Hí”, dựa theo tính chất và động tác của 5 loại thú rừng như: Cọp, Nai, Khỉ, Gấu và Chim

Vào năm 520 – 529 sau Tây lịch, tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, người Ấn Độ, tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, tỉnh Hồ Nam, ngài đã soạn ra sách Dịch Cân Kinh, đ dạy các môn đồ phát triển nguồn khí lực, tăng cường sức khỏe trên đường tu đạo, cũng như, thân thể được cường tráng, gia tăng sức mạnh trong việc luyện võ

Về sau, dựa vào nguyên lý khí lực này, các đệ tử Thiếu Lâm đã sáng chế thêm những bài tập khí côngnhư: Bát Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền, Nội Công Ngũ Hình Quyền…

Theo truyền thuyết, vào triều đại nhà Tống (950 – 1279 sau T.L.), tại núi Võ Đang, đạo sĩ Trương Tam Phong sáng chế bài nội công luyện khí Thái Cực Quyền, gồm những động tác giúp người tập luyện cường kiện sức khỏe thân tâm

Về sau, có rất nhiều bài tập khí công được sáng chế bởi nhiều võ phái khác nhau Dần dần, các võ phái nhỏ, ít người biết đến, đều bị mai một, cùng với những phương pháp truyền dạy bị lãng quên trong quá khứ Đến nay, một số ít các bài võ luyện khí công còn được ghi nhận qua một số tài liệu hạnhẹp của Trung Hoa như: Dịch Cân Kinh, Bát Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền, Nội Công Ngũ Hình Quyền, Thái Cực Quyền thuộc ba hệ phái của Trần Gia, Dương Gia và Vũ Gia, Bát Quái Quyền, Hình Ý Quyền, Lục Hợp Bát Pháp Quyền…

Triết Lý Khí Công

A Vũ trụ quan

Theo quan niệm Đông phương, khởi nguyên sự hình thành của vũ trụ, vạn vật được bắt nguồn từ một

Trang 11

khối “Khí” đầu tiên gọi là “Thái Cực”, bành trướng vô cùng tận Sau tiến trình nội tại, khối “Khí” nàyđược phân thành hai nhóm khí đối nghịch nhau: “Khí Âm” và “Khí Dương”, được gọi là “Lưỡng Nghi” Hai nhóm “Khí Âm” và “Khí Dương” này chạm vào nhau, để sanh ra khí thứ ba, mà Lão Tử gọi là “Xung Khí” Từ đó, vũ trụ, vạn vật được hình thành Đạo đức Kinh có ghi: “Đạo sinh nhất, nhấtsinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật, vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa.” Học giả Trương Hoành Cừ có nói:

“- Khí tụ lại thành hình, khí tán đi hình loại, muôn vật trở lại Thái Hư.” Vạn vật biến chuyển, thay đổikhông ngừng theo định luật phổ quát mà Kinh Dịch có ghi: “- Sinh, Trưởng, Thâu, Tàng.” Cũng như, Phật Giáo quan niệm: “-Sinh, Trụ, Dị Diệt.” Do đó, khí là nguồn gốc, là sinh lực của vạn vật và vũ trụ

Hai tính chất căn bản là Âm và Dương của khí được quân bình, nằm trong ba loại khí tổng quát: Thiên Khí, Địa Khí và Nhân Khí

Thiên Khí đến từ vũ trụ thiên nhiên, với lực sống động vĩ đại huyền diệu, giúp cho đại vũ trụ thiên nhiên được vận chuyển trong một trật tự tuần hoàn Thí dụ: Mặt trăng, mặt trời, thái dương hệ, tất cả bầu trời không gian vô tận…đều là những nguồn chứa thiên khí Thiên khí đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến thời tiết, khí hậu và thiên tai Thí dụ như những hiện tượng gió thổi, mưa rơi, bão tố, sấm sét…d xảy ra đều nhằm mục đích tái tạo sự quân bình Âm Dương trong thiên khí

“Địa Khí đến từ quả đất, cũng như từ sự thấm những nhuần, hoặc ảnh hưởng tác dụng của thiên khí trên quả đất Địa khí còn được sinh ra bởi từ trường của quả đất, cũng như, hơi nóng được phát ra từ trong lòng đất Những vùng đất thường xảy ra núi lửa, hay những đường rạn nứt trong lòng đất, để tạonên những tai họa động đất, chính làn nơi phát ra nguồn địa khí Sự di chuyển của địa khí được thể hiện qua các hiện tượng như: đất cát di chuyển theo dòng nước lũ, để mang bồi đắp tạo nên những nơicồn đảo Trái lại, những vùng mất đất sẽ trở thành sông sâu, lớn rộng Mặt khác, trong lúc có nhiều mưa, mặt đất trở nên đầy nước ngập lụt Trái lại, khi khí trời khô, nóng gắt, hạn hán, mặt đất trở nên khô cằn, nứt nẻ Tất cả những hiện tượng nói trên đều tạo nên sự thay đổi địa khí, do bởi sự mất quân bình âm dương tính trong địa khí

“Nhân Khí” là sinh lực con người.`con người là một tiểu vũ trụ, nằm trong sự chi phối của đại vũ trụ thiên nhiên Do đó, nhân khí phải chịu ảnh hưởng vào thiên khí và địa khí

Trang 12

B Nhân Sinh Quan

Con người khi còn là thai nhi trong bụng mẹ, được nuôi dưỡng bằng nguồn sinh lực (Nhân Khí) của

bà mẹ, qua đường cuống rốn thai nhi Sau khi chào đời, qua tiếng khóc đầu tiên, hài nhi biết hít thở, hấp thụ nguồn Thiên Khí từ bên ngoài Nguồn thiên khí đầu tiên này, khi được vào trong cơ thể hài nhi, biến thành nguồn “Dinh Khí”, và tác dụng làm nguồn sinh lực (Nhân Khí) của bà mẹ sãn có tronghài nhi, trở thành “Vệ Khí” được thể hiện bởi hai dòng: khí nóng (Dương) và khí lạnh (Âm) Dòng khí nóng (Dương) chạy lên phần trên cơ thể đến các bộ phận: tim gan, phổi và não bộ trong khi dòng khí lạnh (Âm) chạy xuống phần dưới cơ thể, đến các bộ phận: bụng dưới, thận, sinh dục và hai chân Tiếp theo, sự sinh tồn của hài nhi cần phải được nuôi dưỡng bởi nguồn Nhân Khí từ bên ngoài, do ảnhhưởng của Thiên Khí và Địa Khí, qua môi trường không khí trong sạch , nước uống và thực phẩm (đọn vật và thực vật) Nguồn Nhân Khí (sinh lực) này được lưu chuyển điều hòa, trong những đường ống ngang dọc của hệ thống Kinh, Mạch, Lạc, Huyệt, để liên hệ đến các tạng phủ (các bộ phân như: Tim, phổi, bao tử, lá mía, ruột già, ruột non, gan, thận, túi mật và bàng quang…)

Vớ tuổi thọ tăng dần, các đường ống dẫn khí lực này, càng ngày trở nên trì trệ, yếu kém, trong việc cung cấp sinh lực (Nhân Khí) nuôi dưỡng cơ thể, do đó, sức khỏe con người dễ trở nên suy yếu, bệnh tật, nếu không được bồi dưỡng đúng mức

Để tái tạo sức khỏe bình thường, việc khai thông hệ thống kinh mạch , cũng như, quân bình Ân Dương tính trong nguồn sinh lực (nhân khí) rất cần thiết cho cơ thể con người Ơû điểm này, Đông Y Học đã áp dụng một trong những trị liệu pháp như: dược phẩm (thuốn hóa học ở các lá, thân và rễ cây), Châm cứu pháp, Án ma pháp (thuật xoa bóp trên các kinh mạch, và ấn ép trên các huyệt đạo), Khí công trị liệu (phương pháp hô hấp) và tể dục dưỡng sinh (áp dụng các động tác vận chuyển để đả thông kinh mạch)…

Trong phép dương sinh, người ta cần phải biết sống hòa hợp với luật thiên nhiên, để khia thác tối đa lợi thế của Thiên Khí và Địa Khí, trong việc giữ quân bình âm dương tính cho Nhân Khí của con người Từ đó, sức đề kháng trong cơ thể được kiện toàn, sẵn sàng tiêu trừ các mầm móng bệnh chứng,

có thể xảy ra cho con người

Ngoài ra, viện tập luyện khí công rất ích lợi, giúp cho Nhân Khí được điều hòa, làm chậm sự thoái hóa của các tế báo trong cơ thể, cũng như, điều hợp thuận lợi với Thiên Khí và Địa Khí từ bên ngoài

Phương Thế Thực Hành

Trong khí công gồm có ba loại thở căn bản: thở sâu (hay thở thấp, hoặc thở Đan Điền), thở Ngực (haythở trung bình) và thở cao Để thực tập các bài khí công, học viên có thể áp dụng một trong ba tư thế chánh yếu như: thế đứng, thế ngồi và thế nằm Trong mổi tư thế chánh này còn được chia ra kàm nhiều tư thế phụ như sau:

Với tư thế đứng còn có thế đứng tự nhiên, thế đứng chân trước chân sau, và thế đứng trung bình tấn

Trang 13

(hai chân dang rộng ra hai ben trái phải).

Với tư thế ngồi gồm có tư thế ngồi tréo chân như: ngồi Kiết Già, ngồi Bán Già, ngồi Xếp Bằng (ngồi tréo tự nhiên) và ngồi quỳ gối

Với tư thế nằm gồm có nằm thẳng người với lưng tựa phía dưới

Trong các tư thế đứng, ngồi, và nằm, tư thế đứng mang lại nhiều ích lợi hơn Cho nên, các tư thế đứng

đã đã được áp dụng tối đa trong các bài tập khí công của quyền thuật gia Sau đây là những ích lợi của

- Ngoài ra, tư thế đứng tránh được tình trạng ru ngủ như ở hai tư thế ngồi và nằm Cho nên, học viên

có đủ thời gian hoàn tất việc tập luyện

Hiệu Quả Của Khí Công

Việc tập luyện khí công có thể tạo ra những tác động, ảnh hưởng tốt đẹp, giúp ích cho chức năng sinh

lý của các bộ phận trong cơ thể như: bộ phận hô hấp, bộ phận tiêu hóa, hệ thống tuần hoàn máu, và thần kinh hệ,…Cũng như, tái tạo sự hoạt động của nhiều triệu mao quản bị đình trệ, và làm chậm sự thoái hóa của các tế bào trong cơ thể

Trong phép trị bệnh, việc áp dụng khí công đều đặn, cùng với thói quen ẩm thực hợp phép kiêng cử,

cơ thể tái tạo sức khỏe bình thường cho bệnh nhân về các chứng: áp huyết cao hay thấp, bệnh tim, bệnh về đường máu, bệnh suyễn, bệnh táo bón, bệnh tiêu hóa, bệnh nhức đầu, bệnh nhứ mỏi khớp xương và bắp thịt…

Ngoài ra, việc tập luyện khí công còn giúp ích cho học viên gia tăng sức mạnh tinh thần như: tập trung tư tưởng, tính tự chủ, tự kiểm soát nội tâm, tâm hồn thanh tịnh, và bình tĩnh để có một đời sống tình cảm an hòa, khắc phục được những trở ngại bất thường trong đời sống loạn hàng ngày Để đạt được thành quả trong lúc tập luyện khí công, tùy theohoan cảnh, học viên nên tuân hành nghiêm chỉnh theo một thời dụng biểu tập luyện đều đặn hàng ngày, với những bài tập thích nghi, từng bước một, tuần tự tiến hành Nếu vội vã, đốt giai đoạn tập luyện, sức khỏe của học viên dễ bị tổn thương Cũng như, trong giai đoạn đầu tiên tập khí công, học viên nên cẩn thận tránh những khuyết điểm Việc tập luyện sai phép có thể tạo nên những biến chứng, gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe, và làm trở ngại cho cơ thể trong việc tập luyện

Tác dụng của khí công

Ngày đăng: 23/12/2013, 03:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w