1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN MÁC LÊ NIN VỀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

21 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 215,41 KB
File đính kèm NỘI DUNG.rar (181 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: a. Cơ sở lý luận: Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Một nền kinh tế lạm phát là sự mất giá thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ này so với các loại tiền tệ khác. Lạm phát là một trong những chỉ tiêu vĩ mô đánh giá sức khoẻ của nền kinh tế bên cạnh các chỉ tiêu tăng trưởng hay thất nghiệp. Vì vậy, ổn định lạm phát là một vấn đề quan trong trọng hàng đầu của điều tiết kinh tế vĩ mô của tất cả các quốc gia trên thế giới. b. Cơ sở thực tiễn: Đối với nước ta để triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, cần phải động viên mọi nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Do vậy tăng trưởng bền vững và ổn định lạm phát ở mức thấp là mục tiêu hàng đầu. Trong lịch sử các giai đoạn phát triển của kinh tế đất nước đã có những giai đoạn lạm phát lên mức 3 con số, 2 con số. Vì thế mà nhà nước ta đã hiểu hết được tác động của lạm phát đến nền kinh tế đất nước. Do Việt Nam đã ra nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới, nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở lớn nên việc ảnh hưởng bởi biến động của tình hình kinh tế thế giới là không tránh khỏi. Ngoài ra ở trong nước, thiên tai dịch bệnh diễn biến phức tạp (rét đậm, rét hại, dịch bệnh ở gia súc gia cầm) trong khi nhu cầu và sức mua của nhân dân tăng. Hơn nữa quy mô nền kinh tế nước ta nhỏ, trình độ phát triển, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế thấp, sức cạnh tranh chưa cao. Như vậy nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, đối mặt với tình trạng lạm phát tiền tệ tăng cao và nguy cơ phát triển không bền vững của nền kinh tế. Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây ra cho nền kinh tế mà việc nghiên cứu lạm phát là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế thị trường còn non nớt như nền kinh tế ở nước ta. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: a. Mục tiêu: Tìm hiểu về quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tiền tệ và vấn đề lạm phát ở Việt Nam hiện nay; b. Nhiệm vụ: Phân tích được quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tiền tệ; Trình bày được vấn đề lạm phát ở Việt Nam hiện nay. 3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu: a. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân tích các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về vấn đề tiền tệ. Phân tích được các nguyên nhân dẫn đến lạm phát ở Việt Nam, các số liệu được thống kê từ Tổng cục thống kê, Diễn đàn dân trí Việt Nam, Nhịp sống kinh tế Việt Nam và thế giới, Tạp chí công thương… b. Phạm vi nghiên cứu: Dựa trên giáo trình “ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”. Sử dụng các tài liệu để tìm hiểu, làm rõ về tình hình kìm chế lạm phát ở Việt Nam trong các năm 2017, 2018 Bảng: Tăng trưởng GDP và lạm phát. Năm 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Lạm phát (%) 6,81 6,04 4,09 0,63 4,74 3,53 2,98 GDP (%) 5,03 5,36 6,20 6,68 6,21 6,81 7,08 Nguồn: Tổng cục thống kê Nguồn: Tạp chí công thương Nguồn: Báo điện tử Việt Nam (VnExpress) B.PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN VỀ VẤN ĐỀ TIỀN TỆ 1.1 Lịch sử ra đời: Trong lịch sử thoạt đầu người ta trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng. Khi sản xuất càng phát triển, hàng hóa sản xuất ra càng nhiều, nhu cầu sử dụng của con người cũng đi kèm theo. Việc trao đổi hàng lấy hàng gặp nhiều khó khăn. Ví dụ người sản xuất ra lúa cần cái rừu để cuốc đất nhưng người có rừu không cần lúa mà cần vải, việc này buộc người có lúa phải đổi lấy vải và sau đó dùng vải để đổi lấy rừu. Nhu cầu trao đổi càng nhiều hàng hóa thì quá trình trao đổi lòng vòng đó càng phức tạp hơn. Chính vì vậy, người ta đã nghĩ ra tìm những vật làm trung gian cho các cuộc trao đổi đó, đây là vật ngang giá. Lịch sử đã ghi nhận sự phát triển của hình thái giá trị qua bốn giai đoạn: + Hình thái giá trị đơn giản: xuất hiện khi xã hội Công xã nguyên thủy tan rã, sự trao đổi mang tính ngẫu nhiên. + Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: Khi sản xuất hàng hóa phát triển hơn, số lượng hàng hóa được đem ra trao đổi nhiều hơn, một hàng hóa có thể trao đổi được với nhiều hàng hóa khác. + Hình thái chung của giá trị: giá trị của hàng hóa thể hiện ở một hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá chung. Người ta mang hàng hóa của mình đổi lấy vật ngang giá chung, rồi dùng vật ngang giá chung đổi lấy thứ hàng hóa mình cần. Các địa phương, vùng khác nhau thì hàng hóa làm vật ngang giá chung cũng khác nhau. + Hình thái tiền tệ: Có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương khó khăn, đòi hỏi phải có vật ngang giá chung thống nhất. Ban đầu, vật

Trang 1

b Cơ sở thực tiễn:

Đối với nước ta để triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lầnthứ IX của Đảng, cần phải động viên mọi nguồn lực tạo nên sức mạnh tổnghợp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Do vậy tăng trưởngbền vững và ổn định lạm phát ở mức thấp là mục tiêu hàng đầu Trong lịch sửcác giai đoạn phát triển của kinh tế đất nước đã có những giai đoạn lạm phátlên mức 3 con số, 2 con số Vì thế mà nhà nước ta đã hiểu hết được tác độngcủa lạm phát đến nền kinh tế đất nước

Do Việt Nam đã ra nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới, nền kinh tếViệt Nam là một nền kinh tế có độ mở lớn nên việc ảnh hưởng bởi biến độngcủa tình hình kinh tế thế giới là không tránh khỏi Ngoài ra ở trong nước, thiêntai dịch bệnh diễn biến phức tạp (rét đậm, rét hại, dịch bệnh ở gia súc gia cầm)trong khi nhu cầu và sức mua của nhân dân tăng Hơn nữa quy mô nền kinh tếnước ta nhỏ, trình độ phát triển, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế thấp, sứccạnh tranh chưa cao

Trang 2

Như vậy nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn tháchthức, đối mặt với tình trạng lạm phát tiền tệ tăng cao và nguy cơ phát triểnkhông bền vững của nền kinh tế Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây

ra cho nền kinh tế mà việc nghiên cứu lạm phát là một vấn đề cần thiết và cấpbách đối với nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế thị trường còn non nớt như nềnkinh tế ở nước ta

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

a Mục tiêu:

Tìm hiểu về quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tiền tệ và vấn

đề lạm phát ở Việt Nam hiện nay;

b Nhiệm vụ:

Phân tích được quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tiền tệ;

Trình bày được vấn đề lạm phát ở Việt Nam hiện nay

3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu:

a Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân tích các quan điểm của chủ nghĩaMác – Lê nin về vấn đề tiền tệ

Phân tích được các nguyên nhân dẫn đến lạm phát ở Việt Nam, các số liệuđược thống kê từ Tổng cục thống kê, Diễn đàn dân trí Việt Nam, Nhịp sống kinh

tế Việt Nam và thế giới, Tạp chí công thương…

b Phạm vi nghiên cứu:

Dựa trên giáo trình “ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”

Sử dụng các tài liệu để tìm hiểu, làm rõ về tình hình kìm chế lạm phát ở Việt

Nam trong các năm 2017, 2018

Trang 3

Nguồn: Tạp chí công thương

Nguồn: Báo điện tử Việt Nam (VnExpress)

Trang 4

B.PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN VỀ

VẤN ĐỀ TIỀN TỆ 1.1 Lịch sử ra đời:

Trong lịch sử thoạt đầu người ta trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng.Khi sản xuất càng phát triển, hàng hóa sản xuất ra càng nhiều, nhu cầu sửdụng của con người cũng đi kèm theo Việc trao đổi hàng lấy hàng gặpnhiều khó khăn Ví dụ người sản xuất ra lúa cần cái rừu để cuốc đất nhưngngười có rừu không cần lúa mà cần vải, việc này buộc người có lúa phảiđổi lấy vải và sau đó dùng vải để đổi lấy rừu Nhu cầu trao đổi càng nhiềuhàng hóa thì quá trình trao đổi lòng vòng đó càng phức tạp hơn Chính vìvậy, người ta đã nghĩ ra tìm những vật làm trung gian cho các cuộc traođổi đó, đây là vật ngang giá

Lịch sử đã ghi nhận sự phát triển của hình thái giá trị qua bốn giai đoạn:

+ Hình thái giá trị đơn giản: xuất hiện khi xã hội Công xã nguyên thủy tan rã, sựtrao đổi mang tính ngẫu nhiên

+ Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: Khi sản xuất hàng hóa phát triển hơn, sốlượng hàng hóa được đem ra trao đổi nhiều hơn, một hàng hóa có thể trao đổiđược với nhiều hàng hóa khác

+ Hình thái chung của giá trị: giá trị của hàng hóa thể hiện ở một hàng hóa đóngvai trò vật ngang giá chung Người ta mang hàng hóa của mình đổi lấy vật nganggiá chung, rồi dùng vật ngang giá chung đổi lấy thứ hàng hóa mình cần Các địaphương, vùng khác nhau thì hàng hóa làm vật ngang giá chung cũng khác nhau

Trang 5

+ Hình thái tiền tệ: Có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địaphương khó khăn, đòi hỏi phải có vật ngang giá chung thống nhất Ban đầu, vậtngang giá chung cố định là vàng và bạc, hình thái của giá trị xuất hiện Nhưngvàng có ưu thế hơn bạc nên cuối cùng hình thái tiền tệ được cố định ở vàng.

Có nhiều loại hàng hóa đã từng được sử dụng để làm vật ngang giáchung như: gia súc, đồng, bạc, vàng… Mỗi loại vật này đều có một sốthuận lợi và bất lợi riêng khi làm phương tiện trao đổi – vật ngang giáchung Cuối cùng, vật ngang giá chung bằng hàng hóa chỉ được hạn chếtrong kim loại quý vì dễ vận chuyển hơn, trong đó chủ yếu là vàng

Khi phần lớn các quốc gia, các vùng đều sử dụng vàng làm vậtngang giá chung trong trao đổi hàng hóa với nhau (khoảng cuối thế kỷ19), vàng loại bạc và trở thành vật ngang giá chung – thế giới độc nhất.Trải qua tiến trình phát triển, tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức để đáp ứngyêu cầu ngày càng đa dạng của đời sống kinh tế

1.2Khái niệm về tiền tệ:

Theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin thì tiền tệ là hàng hoá đặcbiệt, dùng làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là sự thể hiệnchung của giá trị và thể hiện lao động xã hội ; đồng thời tiền tệ biểu hiệnquan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá, do quá trình pháttriển lâu dài của trao đổi hàng hoá tạo ra

Tiền với cách hiểu chung nhất là bất cứ cái gì được chấp nhận trongthanh toán để lấy hàng hoá hoặc trong việc hoàn trả các khoản nợ Hiệnnay có hai loại tiền tệ chính, đó là tiền tệ có giá trị thực và tiền tệ quy ước.Tiền quy ước gồm có: Tín tệ, tiền pháp định và tiền của hệ thống ngânhàng Trong tất cả các loại tiền đó thì tiền mặt pháp định là một trong các

Trang 6

loại tiền mạnh, đó là loại tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành.Loại tiền này có giá trị thực rất thấp, có thể xem như không đáng kể, đây

là loại tiền được hình thành dựa trên yếu tố chủ quan của chính phủ

Chính phủ căn cứ vào các quy luật kinh tế, điều kiện kinh tế xã hộicủa đất nước cũng như của thế giới để từ đó phát hành tiền một cách hợp

lý Do đồng tiền pháp định có giá trị không đáng kể nên nó có thể bị lạmphát hoặc giảm phát Tuy nhiên, tiền mặt pháp định là loại tiền được tínnhiệm nhất bởi vì đây là đồng tiền của chính phủ và nó có hiệu lực traođổi trên toàn lãnh thổ

Hiện nay, tiền có giá trị thực chủ yếu là tiền vàng, vì tiền vàng cógía trị thực nên nó có nhiều ưu điểm hơn so với tiền giấy như mức ổn địnhcủa đồng tiền, giá trị trao đổi, phạm vi trao đổi Bây giờ, tiền vàng ít được

sử dụng hơn Vàng hiện nay được sử dụng chủ yếu nhằm mục đích thựchiện chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Trung Ương hoặc sử dụng nhưnhững hàng hoá trang sức, nó ít sử dụng làm vật trao đổi

1.3Bản chất của tiền tệ

Tiền tệ là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hóa, dịch vụ,

là phương tiện giúp cho quá trình trao đổi được thực hiện dễ dàng hơn

Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:

Giá trị sử dụng của tiền tệ là khả năng thỏa mãn nhu cầu trao đổicủa xã hội, nhu cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi Như vậy,người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền khi có nhu cầu trao đổi Giá trị sử dụngcủa một loại tiền tệ là do xã hội quy định: chừng nào xã hội còn thừa nhận

nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trongtrao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn

Trang 7

tại Đây chính là lời giải thích cho sự xuất hiện cũng như biến mất của cácdạng tiền tệ trong lịch sử.

Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm “sức mua tiền tệ”, đó làkhả năng đổi được nhiều hay ít hàng hóa khác trong trao đổi Tuy nhiênkhái niệm sức mua tiền tệ không được xem xét dưới góc độ sức mua đốivới từng hàng hóa nhất định mà xét trên phương diện toàn thể các hànghóa trên thị trường

1.4 Quy luật lưu thông tiền tệ

Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần cho lưuthông hàng hóa ở mỗi thời kỳ nhất định

Số lượng tiền tệ cần cho lưu thông do ba nhân tố quy định: số lượng hànghóa lưu thông trên thị trường, giá cả trung bình của hàng hóa và tốc độ lưuthông cua những đơn vị tiền tệ cùng loại Sự tác động của ba nhân tố này đốivới khối lượng tiền tệ cần cho lưu thông diễn ra theo quy luật phổ biến là: Tổng

số giá cả của hàng hóa chia cho ô vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loạitrong một thời gian nhất định

1.5 Chức năng của tiền tệ

1.5.1 Thước đo giá trị

Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa.Muốn đo lường giá trị của các hàng hóa, bản thân tiền tệ cũng phải có giátrị Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng Để đolường giá trị hàng hóa không cần thiêt phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánhvới lượng vàng nào đó trong ý tưởng

1.5.2 Phương tiện lưu thông

Trang 8

Tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa Để làm chứcnăng lưu thông hàng hóa đòi hỏi phải có tiền mặt Trao đổi hàng hóa lấytiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa.

Công thức lưu thông hàng hóa là: H - T - H, khi tiền làm môi giớitrong trao đổi hàng hóa đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể táchrời nhau cả về thời gian và không gian

1.5.3 Phương tiện cất trữ

Tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ Sở dĩ tiền làm đượcchức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giátrị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải Để làm chức năngphương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc Chứcnăng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát vớinhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hóanhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông Ngược lại, nếu sản xuấtgiảm, lượng hàng hóa lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đivào cất trữ

1.5.4 Phương tiện thanh toán

Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiềnmua chịu hàng Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ nào

đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu Trong hình thức giao dịch này, trướctiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hóa Nhưng vì làmua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phươngtiện thanh toán Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khảnăng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt Mặtkhác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành

Trang 9

chủ nợ Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán,nếu một khâu nào đó không thanh tóan được sẽ gây khó khăn cho các khâukhác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên

1.5.5 Tiền tệ thế giới

Khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia thì nên làm chức năngtiền tệ thế giới Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình tháiban đầu của nó là vàng Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiệnmua bán hàng hóa, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nóichung của xã hội

Trang 10

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ KÌM HÃM LẠM PHÁT HIỆN NAY Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY2.1 Khái niệm lạm phát

Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa

và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khimức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa vàdịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sứcmua trên một đơn vị tiền tệ

2.2 Thực trạng về vấn đề kìm chế lạm phát ở Việt Nam 2.2.1 Thành quả kìm chế lạm phát

Năm 2017:

Chiều ngày 27/12/2017, Tổng cục Thống kê đã tổ chức họp báocông bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2017 Theo công bố của cơquan này, chỉ số giá tiêu dùng trong tháng cuối cùng của năm 2017 tăngchỉ 0,21% so với tháng trước và tăng 2,6% so với tháng 12 năm trước Chỉ

số giá tiêu dùng bình quân năm 2017 so với năm 2016 tăng 3,53% Trong

11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính tính Chỉ số giá tiêu dùng, có 8 nhómhàng tăng giá: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,55%; giao thông tăng 0,84%;may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,43%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng0,22%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng0,16%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; văn hóa giải trí và du lịch

Trang 11

tăng 0,03% Nhóm giáo dục không đổi Có 2 nhóm giảm: Hàng ăn và dịch

vụ ăn uống giảm 0,23%; bưu chính viễn thông giảm 0,03%.1

Năm 2018:

Giá y tế, giá học phí, tăng lương tối thiểu cùng với các yếu tố thị trườngnhư giá lương thực, giá gas, giá nhiên liệu tăng, đã góp phần làm chỉ số giátiêu dùng bình quân của Việt Nam năm 2018 tăng 3,54% so với năm 2017 vàtăng 2,98% so với tháng 12/2017 Điều đó cho thấy mục tiêu kiểm soát lạm phát,giữ Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2018 dưới 4% của Chính phủ đã đạtđược. 2

2.2.2 Hạn chế

Năm 2017:

Hạn chế làm tăng Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2017 là giá xăng, dầudiesel tăng do còn ảnh hưởng từ đợt tăng giá ngày 20/11/2017 và ngày5/12/2017 đã tác động làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu bình quân tháng 12/2017tăng 1,98% so với tháng trước, đóng góp vào Chỉ số giá tiêu dùng chung tăng0,09%.1

Bên cạnh đó, từ ngày 1/12/2017, giá gas trong nước điều chỉnh tăng 0,22% sovới tháng 11/2017; giá điện sinh hoạt tăng 0,62%; do tăng giá dịch vụ y tế chođối tượng không có thẻ bảo hiểm y tế theo quyết định của Ủy Ban Nhân Dân 15tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được quy định theo Thông tư số 02/2017của Bộ Y Tế làm cho giá dịch vụ y tế tăng 3,3%.1

1 Năm 2017, lạm phát chỉ tăng 3,53%.

21 Phúc Nguyên- Năm 2017, lạm phát chỉ tăng 3,53%, Thời báo tài chính Việt Nam

Duyên Duyên - Hai nguyên nhân khiến chỉ số giá 2018 tăng hơn năm ngoái, VnEconomy

1

1

Trang 12

Cũng theo Tổng cục Thống kê, lạm phát cơ bản (Chỉ số giá tiêu dùng sau khiloại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nướcquản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 12/2017 tăng 0,11% sovới tháng trước, tăng 1,29% so với cùng kỳ; năm 2017 so với năm 2016 tăng1,41%.31

Năm 2018:

Cụ thể, giá dịch vụ y tế tăng trong năm 2018 đã khiến giá các mặt hàng dịch vụ

y tế tăng 13,86%, tác động làm cho Chỉ số giá tiêu dùngnăm 2018 tăng 0,54%

so với cùng kỳ năm trước.2

Song song với đó, thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015ngày 2/10/2015 của Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đãtăng học phí các cấp học làm cho chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục năm 2018tăng 7,12% so với cùng kỳ, tác động làm cho Chỉ số giá tiêu dùng năm 2018tăng 0,37% so với cùng kỳ.2

Ngoài ra còn do mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở cácdoanh nghiệp tăng từ ngày 1/1/2018, khiến cho mức lương tối thiểu vùng năm

2018 cao hơn mức lương tối thiểu vùng năm 2017 khoảng 180.000 - 230.000đồng/tháng và mức lương cơ sở tăng 90.000 đồng/tháng kể từ ngày 1/7/2018,

đã kéo theo giá một số loại dịch vụ tăng từ 3-5% so với cùng kỳ năm trước.2

Giá các mặt hàng lương thực tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước đã góp phầnlàm cho Chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,17% Cụ thể, do giá gạo tăng cao trong dịpTết Nguyên đán và tăng theo giá gạo xuất khẩu bởi nhu cầu gạo tăng từ thịtrường Trung Quốc và thị trường các nước Đông Nam Á.2

Trang 13

Giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá và các loại quần áo may sẵn cũng tăng caotrong dịp Tết và các tháng giao mùa do nhu cầu tăng Trong năm 2018 chỉ sốgiá các nhóm này lần lượt tăng khoảng 1,42% so với cùng kỳ năm 2017.2

Trong các yếu tố thị trường cũng không thể bỏ qua giá dịch vụ giaothông công cộng Trong năm 2018, giá dịch vụ này tăng 2,54% do một sốđơn vị vận tải hành khách kê khai tăng giá chiều đông khách, cùng vớiTổng công ty Đường sắt Việt Nam tăng giá vé tàu hỏa vào dịp Tết Nguyênđán và dịp hè.2

Ngoài ra, còn do giá gas sinh hoạt điều chỉnh theo giá gas thế giới,với mức tăng 6,93% trong năm 2018.2

Giá nhà ở thuê cũng tăng 1,01% do ảnh hưởng của giá bất động sảntăng mạnh ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Quảng Ninh, Đồng Nai, BìnhDương 2

Giá nhiên liệu trên thị trường thế giới năm 2018 tăng khá mạnh đếnđầu tháng 10/2018, sau đó giá xăng dầu thế giới liên tục giảm mạnh chođến thời điểm cuối tháng 12/2018 Tuy nhiên, bình quân giá dầu Thô từthời điểm 1/1/2018 đến thời điểm 20/12/2018 ở mức 71,6USD/thùng, caohơn nhiều so với mức 54,53 USD/thùng bình quân năm 2017 tăng 31,3%.2

"Trong nước, giá xăng A95 được điều chỉnh 8 đợt tăng, 8 đợt giảm,tổng cộng giảm 1.190 đồng/lít; giá dầu diezel được điều chỉnh tăng 11 đợt

2

22 Duyên Duyên - Hai nguyên nhân khiến chỉ số giá 2018 tăng hơn năm ngoái, VnEconomy

3 Nhật Bình - Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát ở Việt Nam? NDH.vn

2

2

2

Ngày đăng: 06/09/2021, 12:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w