Tiểu luận Chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn hiện nayThế giới trong một thế kỷ vừa qua đã chứng kiến nhiều đợt bùng phát lạm phát ở nhiều nước. Trong...
Trang 1Tiểu luận
Chính sách kiểm soát lạm phát của Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
I Lý luận chung về lạm phát 5
I.1 Khái niệm về lạm phát và cách tính lạm phát 5
I.1.1 Khái niệm lạm phát 5
1.1.2 Cách tính lạm phát 5
I.2 Phân loại lạm phát 6
I.2.1 Xét về mặt định lượng 6
I.2.2 Xét về mặt định tính 7
I.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát 8
I.3.1 Lạm phát do cầu kéo 8
I.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy 9
I.3.3 Lạm phát ỳ 10
I.3.4 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ 11
I.4 Tác động của lạm phát 12
I.5 Biện pháp khắc phục lạm phát 13
II Vài nét về lạm phát trên thế giới và thực trạng lạm phát ở Việt Nam 14
II.1 Vài nét về lạm phát trên thế giới 14
II.2 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 1986 đến 2011 19
II.2.1 Sơ lược lạm phát từ năm 1986 đến 2011 19
II.2.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007-2011 23
II.2.3 Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế Việt Nam 28
II.3 Lạm phát 2 tháng đầu năm và nhận diện lạm phát trong năm 2012 32
III Chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và đề xuất chính sách thời gian tới 35
III.1 Chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong năm 2011 35
III.1.1 Chính sách tiền tệ 35
III.1.1.1 Lãi suất 36
III.1.1.2 Nghiệp vụ thị trường mở 38
Trang 3III.1.1.3 Quản lý tín dụng ngân hàng 39
III.1.1.4 Điều hành thị trường ngoại hối và tỷ giá 40
III.1.1.5 Kiểm soát và điều hành thị trường vàng 42
III.1.2 Chính sách tài khóa 44
III.1.3 Các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất 47
III.1.3.1 Thúc đẩy sản xuất kinh doanh 47
III.1.3.2 Quản lý giá cả các mặt hàng thiết yếu 48
III.1.3.3 Quản lý cán cân thương mại 48
III.1.4 Thực hiện các chính sách về an sinh xã hội 50
III.2 Chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong năm 2012 50
III.2.1 Chính sách tiền tệ - Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng linh hoạt 51
III.2.1.1 Lãi suất 51
III.2.1.2 Quản lý tín dụng ngân hàng 52
III.2.1.3 Điều hành tỷ giá 52
III.2.1.4 Dự trữ ngoại hối, kiểm soát và điều hành thị trường vàng và ngoại hối 52
III.2.2 Chính sách tài khóa – thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ hiệu quả 52 III.2.2.1 Thuế và các khoản thu ngân sách của chính phủ 52
III.2.2.2 Các khoản chi của chính phủ 53
III.2.3 Các biện pháp hỗ trợ, ổn định đời sống và sản xuất 54
III.2.3.1 Thúc đẩy sản xuất kinh doanh 54
III.2.3.2 Quản lý giá cả các mặt hàng thiết yếu 54
III.2.3.3 Quản lý cán cân thương mại 55
III.2.3.4 Nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước 56
III.3 Đề xuất một số chính sách kiểm soát lạm phát cho Việt Nam trong thời gian sắp tới 56
KẾT LUẬN 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thế giới trong một thế kỷ vừa qua đã chứng kiến nhiều đợt bùng phát lạm phát ở nhiều nước Trong các đợt lạm phát này, đồng tiền mất giá, giá cả hàng hóa tăng vọt và kèm theo rất nhiều hệ lụy Đối với Việt Nam, trong một vài thập kỷ vừa qua, kể từ khi đổi mới nền kinh tế, cũng đã trải qua nhiều đợt bùng phát lạm phát và lạm phát hằng năm thường ở mức cao
Theo phân tích của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và một số thành viên Chính phủ, trong các nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao thì các nguyên nhân nội tại là chủ yếu, trong
đó nguyên nhân chính yếu là do chính sách tài chính tiền tệ nới lỏng kéo dài (Cổng thông tin điện tử chính phủ VGP)
Việc tìm ra đúng nguyên nhân là một điều quan trọng, nhưng quan trọng hơn là có chính sách đúng đắn để kiềm chế lạm phát và hơn nữa chính sách cũng phải linh hoạt uyển chuyển tùy thuộc vào tình hình thực tế
Hiện tại vấn đề điều hành của chính phủ nhằm kiềm chế và giảm lạm phát vẫn đang là một vấn đề nhiều khó khăn Để có cái nhìn thấu đáo về nguyên nhân lạm phát và nắm được các chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là gì? hiệu quả của các chính sách như thế nào? Thông qua tiểu luận “Chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” hy vọng sẽ làm rõ được phần nào câu hỏi trên
Nội dung tiểu luận gồm 3 phần:
- Phần I: Lý luận chung về lạm phát
- Phần II: Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
- Phần III: Chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hy vọng bài tiểu luận này mang đến cho các bạn một lượng kiến thức nhỏ Trong quá trình làm tiểu luận có những sai sót mong nhận được sự góp ý quý giá từ thầy cùng tất cả các bạn để tiểu luận được hoàn thiện hơn, rút được kinh nghiệm cho nhóm sau khi nghiên cứu đề tài này
Nhóm 2 xin chân thành cảm ơn
Trang 5I Lý luận chung về lạm phát
I.1 Khái niệm về lạm phát và cách tính lạm phát
I.1.1 Khái niệm lạm phát
Theo các sách giáo khoa về tiền tệ, lạm phát được coi là hiện tượng giấy bạc lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, dẫn đến giá cả của hầu hết các hàng hoá trong lưu thông không ngừng tăng lên
Nghĩa nguyên gốc “lạm phát” là việc lạm dụng phát hành tiền tệ (in nhiều giấy bạc hơn mức cần thiết) làm cho khối lượng tiền tệ trong lưu thông thừa tương đối, dẫn đến giá cả một đơn vị hàng hoá tăng lên tương ứng và do đó, làm suy giảm sức mua của đồng tiền Đây có thể coi là khái niệm nguyên bản về lạm phát (inflation) Tuy nhiên, việc xác định khối lượng “đúng” của tiền tệ cần thiết cho lưu thông là bất khả thi vì tổng lượng hàng hoá, dịch vụ luân chuyển luôn biến động, vòng quay của đồng tiền không ổn định, mục đích sử dụng tiền cũng luôn luôn thay đổi Do đó, người ta chỉ có thể nhận diện được lạm phát khi có dấu hiệu giá cả hàng hoá dịch vụ gia tăng một cách có hệ thống mà song song với nó là sự suy giảm sức mua của đồng tiền
Ví dụ: Lạm phát vào thời điểm tháng 10/2008 của Zimbabwe lên tới 231 triệu % làm cho giá 1 ổ bánh mì lên tới 10.000 đôla
Chỉ số lạm phát năm t = CPIt – CPI0
CPI0
- Cách tính GDPf thì căn cứ vào toàn bộ khối lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một năm và giá cả ở hai thời điểm khác nhau, thông thường theo ngôn ngữ thống kê là giá cố định (constant price) và giá hiện hành (current price)
Trang 6có báo cáo về GDP của năm đó
I.2 Phân loại lạm phát
Có nhiều cách phân loại lạm phát dựa trên các tiêu thức khác nhau:
I.2.1 Xét về mặt định lượng
Dựa trên độ lớn nhỏ của tỷ lệ % lạm phát tính theo năm, người ta chia lạm phát ra thành:
a Thiểu phát
Thiểu phát là sự lên giá của đồng tiền, hay giá cả hàng hoá và dịch vụ giảm Đây
là tình trạng lạm phát ở tỷ lệ rất thấp, khoảng dưới 3-4%/năm Có hai điểm đáng chú ý trong thời gian thiểu phát Điểm thứ nhất, người tiêu dùng có tâm lý chờ đợi giá sẽ giảm xuống nữa nên chưa mua, làm giảm nhu cầu đối với sản xuất Điểm thứ hai là hàng nhập khẩu giá rẻ sẽ gia tăng, và sẽ càng mạnh nếu trên thế giới cũng bị thiểu phát Khi đó, nhập siêu sẽ gia tăng, mà lại là nhập siêu giảm phát, làm cho sản xuất trong nước càng trì trệ
b Lạm phát vừa phải (Lạm phát 1 con số mỗi năm)
Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối Trong thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường, đời sống của người lao động ổn định Sự ổn định đó được biểu hiện: Giá cả tăng chậm, lãi xuất tiền gửi không cao, không xảy ra tình trạng mua bán và tích trữ hàng hóa với số lượng lớn …
Có thể nói đây là mức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được, những tác động
Trang 7của nó là không đáng kể
c Lạm phát phi mã (Lạm phát 2,3 con số mỗi năm)
Khi tỷ lệ tăng, giá đã bắt đầu tăng đến 2 chữ số mỗi năm Ở mức lạm phát 2 chữ số thấp (11,12,13%/năm), nói chung những tác động tiêu cực của nó là không đáng kể, nền kinh tế vẫn có thể chấp nhận được nhưng khi tỷ lệ tăng giá ở mức 2 chữ số cao hoặc ở mức 3 con số, lạm phát sẽ trở thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập vì những tác động tiêu cực của nó là không nhỏ Lúc đó lạm phát 2,3 chữ số sẽ trở thành mối đe dọa đến sự
ổn định của nền kinh tế Ở mức 2,3 chữ số, lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhah chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hóa Lúc này người dân tích trữ hàng hóa, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng
d Siêu lạm phát (Lạm phát 4 con số trở lên)
Siêu lạm phát có tỷ lệ lạm phát rất cao và tốc độ tăng nhanh Với siêu lạm phát, những tác động tiêu cực của nó đến đời sống và đến nền kinh trở nên nghiêm trọng: kinh
tế suy sụp một cách nhanh chóng, đồng tiền mất giá nghiêm trọng, thu nhập thực tế của người lao động giảm mạnh, mọi thứ đều trở nên khan hiếm trừ tiền giấy… dẫn đến đời sống kinh tế của người dân trở nên khó khăn
I.2.2 Xét về mặt định tính:
Xét về mặt định tính, lạm phát bao gồm:
a Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng
- Lạm phát cân bằng: khi nó tăng tương ứng với thu nhập, do vậy loại lạm phát này không ảnh hưởng đến đời sống của người lao động
- Lạm phát không cân bằng: tỷ lệ lạm phát tăng không tương ứng với thu nhập, trên thực tế lạm phát không cân bằng thường hay xảy ra nhất
b Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường:
- Lạm phát dự đoán trước: Đây là loại lạm phát xảy ra trong một thời gian tương đối dài với tỷ lệ lạm phát tăng hàng năm khá đều đặnvà ổn định Do vậy, người ta có thể
dự đoán trước được tỷ lệ lạm phát cho những năm tiếp theo.Về mặt tâm lý, người dân đã
Trang 8quen với tình hình lạm phát đó và người ta đã có những chuẩn bị để thích nghi với tình trạng lạm phát này
- Lạm phát bất thường: Là lạm phát xảy ra có tính đột biến mà trước đó chưa từng xuất hiện Do vậy tâm lý, cuộc sống và thói quen của người dân đều chưa thích ứng được Lạm phát bất thường gây ra những cú sốc cho nền kinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền
I.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
I.3.1 Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo xảy ra do tổng cầu tăng, đặc biệt khi sản lượng đã đạt hoặc vượt quá mức tự nhiên
Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột biến trong nhu cầu về
tiêu dùng và đầu tư Chẳng hạn, khi có những làn sóng mua sắm mới làm tăng mạnh tiêu
dùng, giá cả của những mặt hàng này sẽ tăng, làm cho lạm phát dâng lên và ngược lại Tương tự, lạm phát cũng phụ thuộc vào sự biến động trong nhu cầu đầu tư: sự lạc quan của các nhà đầu tư làm tăng nhu cầu đầu tư và do đó đẩy mức giá tăng lên
Khi chính phủ quyết định tăng chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn vào cơ
sở hạ tầng, thì mức giá sẽ tăng Ngược lại, khi chính phủ quyết định cắt giảm các chương trình chi tiêu công cộng, hoặc các công trình đầu tư lớn đã kết thúc, thì mức giá sẽ giảm
Hình 1 Lạm phát do cầu kéo Lạm phát cũng có nguyên nhân từ nhu cầu xuất khẩu Khi nhu cầu xuất khẩu tăng,
lượng còn lại để cung ứng trong nước giảm và do vậy làm tăng mức giá trong nước
Ngoài ra, nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn chảy vào cũng có thể gây ra lạm phát, đặc biệt
Trang 9trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định, vì điều này có thể là nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng lượng tiền cung ứng 2 Tình hình ngược lại sẽ xảy ra khi nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn nước ngoài chảy vào giảm do nền kinh tế thế giới hay trong khu vực lâm vào suy thoái
Lạm phát do cầu kéo sẽ không phải là vấn đề mà thực ra còn cần thiết và có lợi cho nền kinh tế nếu như nền kinh tế còn nhiều nguồn lực chưa sử dụng như trong trường
hợp đường tổng cầu dịch chuyển từ AD0 đến AD1: lạm phát sẽ khá thấp trong khi sản
lượng và việc làm sẽ tăng đáng kể Ngược lại, lạm phát do cầu kéo sẽ trở thành vấn đề thực sự nếu như toàn bộ nguồn lực đã sử dụng hết và đường tổng cung trở nên rất dốc
như trong trường hợp đường tổng cầu dịch chuyển từ AD1 đến AD2 Khi đó, sự gia tăng
tổng cầu chủ yếu đẩy lạm phát dâng cao trong khi sản lượng và việc làm tăng lên rất ít
I.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Lạm phát cũng có thể xảy ra khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn
bộ nền kinh tế Trong đồ thị tổng cung-tổng cầu, một cú sốc như vậy sẽ làm đường tổng cung dịch chuyển lên trên và sang bên trái Trong bối cảnh đó, mọi biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế đều biến động theo chiều hướng bất lợi: sản lượng giảm, cả thất nghiệp
và lạm phát đều tăng Chính vì vậy, loại lạm phát này được gọi là lạm phát do chi phí đẩy hay lạm phát đi kèm suy thoái
Ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu Khi công đoàn thành công trong việc đẩy tiền lương lên cao, các doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện
Việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất cả các nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát Ở đây, thuế gián thu (kể cả thuế nhập khẩu, các loại lệ phí bắt buộc) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, vì chúng tác động trực tiếp tới giá cả hàng hóa Nếu so sánh với các nước phát triển là những nước có tỷ lệ thuế trực thu cao, thì ở các nước đang phát triển, nơi mà thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu từ thuế, thay đổi thuế gián thu dường như có tác động mạnh hơn tới lạm phát
Trang 10Hình 2 Lạm phát do chi phí đẩy
Đối với các nền kinh tế nhập khẩu nhiều loại nguyên, nhiên, vật liệu thiết yếu mà nền công nghiệp trong nước chưa sản xuất được, thì sự thay đổi giá của chúng (có thể do giá quốc tế thay đổi hoặc tỷ giá hối đoái biến động) sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình lạm phát trong nước Nếu giá của chúng tăng mạnh trên thị trường thế giới hay đồng nội tệ giảm giá mạnh trên thị trường tài chính quốc tế, thì chi phí sản xuất trong nước sẽ tăng mạnh và lạm phát sẽ bùng nổ
Hình 3 Lạm phát ỳ
Hình 3 cho thấy lạm phát ỳ xảy ra như thế nào Cả đường tổng cung và đường tổng cầu cùng dịch chuyển lên trên với tốc độ như nhau Sản lượng luôn được duy trì ở mức tự nhiên, trong khi mức giá tăng với một tỷ lệ ổn định theo thời gian
Trang 11I.3.4 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ
Lý thuyết tiền tệ là cách giải thích thuyết phục nhất về nguồn gốc sâu xa của hiện tượng lạm phát Những nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ cho rằng lạm phát là do lượng cung tiền thừa quá nhiều trong lưu thông gây ra, và được giải thích bằng phương trình số lượng sau:
M.V = P.Y
Trong đó:
- M: lượng cung tiền danh nghĩa - V: tốc độ lưu thông tiền tệ
Do đó nhóm nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ cổ điển cho rằng giá cả phụ thuộc vào lượng tiền phát hành Khi lượng cung tiền tăng lên thì mức giá cũng tăng theo cùng tỷ lệ, lạm phát xảy ra Thuyết này chỉ đúng khi cả V và Y không đổi
Nhóm nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ trọng tiền hiện đại, tiêu biểu là Milton Friedman cho rằng: Khi dự đoán được tốc độ tăng trưởng của Y hàng năm và tốc độ lưu thông tiền tệ ổn định, thì chúng ta có thể xác định tỷ lệ tăng lượng cung tiền tương ứng
mà không gây ra lạm phát Do đó ông đưa ra quy tắc tiền tệ: Khi Y tăng theo tỷ lệ ổn định thì chính sách tốt nhất là tăng lượng cung tiền theo một tỷ lệ không đổi đã định thì P
sẽ ổn định
Tuy nhiên trong thực tế tốc độ tăng trưởng của Y là không ổn định, tốc độ lưu thông của V cũng thay đổi, nên chỉ khi tốc độ tăng của tổng khối tiền tệ hằng năm (M, V) nhanh hơn tốc độ tăng của Y thì P sẽ tăng lên và lạm phát sẽ xảy ra
Trang 12Hình 4 sử dụng số liệu tăng tiền và tỷ lệ lạm phát hàng năm ở Việt Nam từ năm
1987 đến năm 2007 Số liệu này xác minh mối tương quan dương giữa tỷ lệ tăng tiền và
tỷ lệ lạm phát Những năm Việt Nam có tỷ lệ tăng cung tiền cao có xu hướng đi kèm với lạm phát cao, còn những năm có tỷ lệ tỷ lệ tăng cung tiền thấp có xu hướng đi kèm với lạm phát thấp
I.4 Tác động của lạm phát
Chi phí mòn giày:
Do khi lạm phát cao xảy ra, để tránh thiệt hại lượng tiền mọi người cần giữ sẽ giảm thiểu và do đó số lần đi đến ngân hàng sẽ tăng lên, hao tốn công sức và lãng phí thời gian
Chi phí thực đơn – tác động đến lĩnh vực sản xuất
Tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá đầu vào và giá đầu ra biến động không ngừng gây ra sự mất ổn định đối với nhà sản xuất, chi phí sản xuất tăng cao Sự mất giá của đồng tiền làm cho nghiệp vụ kế toán không còn chính xác nữa Những doanh nghiệp có
tỷ xuất lợi nhuận thấp sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn
Tác động đến lĩnh vực lưu thông
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ, tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hóa, làm mất cân đối quan hệ cung cầu trên thị trường Đồng thời do đồng tiền đang bị mất giá nên không ai muốn giữ tiền Tiền nhanh chóng bị đẩy ra kênh lưu thông Do có nhiều người tham gia vào lưu thông nên lĩnh vực này trỏ nên hỗn loạn, tốc độ lưu thông tiền tăng vọt
và điều này càng thúc đẩy lạm phát gia tăng
Tác động đến lĩnh vực tiền tệ, tín dụng
Lạm phát làm cho quan hệ thương mại, tín dụng, ngân hàng bị thu hẹp Lượng tiền gửi vào ngân hàng giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng với việc giảm sút quá nhanh của đồng tiền, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi không làm an tâm những các nhân, doanh nghiệp đang có lượng tiền nhàn rỗi trong tay Ngân hàng gặp khó khăn trong viêc huy động vốn, hệ thông ngân hàng phải luôn cố gắng duy trì mức lãi suất ổn định Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát Khi tỷ lệ lạm phát cao, muốn lãi suất thực tế ổn định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỷ
Trang 13lệ lạm phát Trong khi đó, người đi vay là những người có lợi từ sự mất giá của đồng tiền Do vậy hoạt động của hệ thống ngân hang không còn bình thường nữa, chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế
Tác động đến cán cân ngân sách – chính sách tài chính của nhà nước
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hóa Khi lạm phát xảy ra thì những thộng tin trong xã hội bị phả hủy do biến động của giá cả và làm cho thị trường bị rối loạn Khi đó khó cố thể phân biệt được doanh nghiệp làm ăn tốt hay kém Đồng thời làm cho nhà nước thiếu vốn, giảm các nguồn thu Do đó, các khoản chuyển nhượng, trợ cấp, phúc lợi xã hội hay các khoản đầu tư của nhà nước trong các ngành nghề, lĩnh vực đều bị cắt giảm Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiên và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện
Tác động làm phân phối lại của cải trong xã hội
Lạm phát có xu hướng phân phối lại của cải từ những người có tài sản với lãi suất danh nghĩa cố định sang tay những người có những khoản nợ với lãi suất danh nghĩa cố định
I.5 Biện pháp khắc phục lạm phát
Lạm phát do cầu:
Khi xảy ra lạm phát cao, sản lượng lương thực vượt quá sản lượng tiềm năng, nền kinh tế phát triển quá nóng, phải tìm biện pháp giảm lạm phát, ổn định nền kinh tế là giảm tổng cầu, bằng cách:
- Áp dụng chính sách tài khóa thu hẹp: giảm chi tiêu ngân sách, tăng thuế
- Áp dụng chính sách tiền tệ thu hẹp: giảm mức cung tiền, tăng lãi suất
Kết quả tổng cầu sụt giảm, đường AD dịch chuyển sang trái, mức giá giảm, sản lượng giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng
Lạm phát do cung:
Phải làm tăng tổng cung, giảm chi phí sản xuất bằng cách:
- Tìm nguyên liệu mới rẻ tiền thay cho nguyên liệu cũ đắt tiền
- Giảm thuế, giảm lãi suất
Trang 14- Cải tiến kỹ thuật sản xuất, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để tăng năng suất lao động, giảm chi phí
- Nâng cao trình độ quản lý : tổ chức lao động khoa học và hợp lý hóa sản xuất Kết quả là chi phí sản xuất của nền kinh tế sẽ giảm xuống, đường AS dịch chuyển sang phải, mức giá giảm, sản lượng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm
II Vài nét về lạm phát trên thế giới và thực trạng lạm phát ở Việt Nam
II.1 Vài nét về lạm phát trên thế giới
Lịch sử thế giới đã từng trải qua 15 lần siêu lạm phát tại Đông Âu và Trung Á trong đó trong thế kỷ 20 đã trải qua siêu lạm phát 5 lần tại Mỹ - Latinh, 4 lần tại Tây Âu,
1 lần tại Đông Nam Á và 1 lần tại châu Phi Siêu lạm phát đầu tiên trên thế giới xảy ra vào thời kỳ Cách mạng Pháp thế kỷ 18 (1789 – 1799) khi đó lạm phát theo tháng lên mức 143% Thế nhưng phải đến thế kỷ 20 loại lạm phát vượt tầm kiểm soát này mới trở lại Trong những biến cố về hệ thống tiền tệ của lịch sử nhân loại, có 2 thảm kịch siêu lạm phát tiêu biểu như sau, mà khi đó, tiền chỉ có giá trị bằng một tờ giấy bình thường
Zimbabwe – tháng 11/2008
Trong lần siêu lạm phát gần đây nhất trên thế giới, khủng hoảng tiền tệ tại Zimbabwe lên mức tồi tệ nhất vào tháng 11/2008 và tăng 79 tỷ %/tháng Cứ 24,7 tiếng, giá tăng gấp đôi
Chỉ vài ngày sau khi phát hành tờ tiền mệnh giá 100 triệu, Ngân hàng Trung ương phát hành tiền mệnh giá 200 triệu và hạn chế số tiền rút ra khỏi ngân hàng ở mức 500.000 tương đương 0,25 USD
Khi tờ 100 triệu được đưa vào lưu hành, giá cả tăng nhảy vọt; báo cáo cho thấy 1 ổ bánh mi tăng từ 2 triệu lên 35 triệu chỉ sau 1 đêm Chính phủ còn tuyên bố lạm phát là bất
hộ pháp và bắt giữ giám đốc điều hành công ty nào dám tăng giá bán hàng
Tình hình tồi tệ đến mức nhiều cửa hàng tại đất nước này từ chối đồng nội tệ và chỉ nhận đồng USD hay đồng rand của Nam Phi Ngân hàng Trung ương Zimbabwe cuối cùng phải định giá lại đồng tiền và neo nó vào đôla Mỹ Chính phủ cũng buộc phải đóng cửa sàn chứng khoán
Trang 15Đầu thế kỷ 21, Zimbabwe bước vào siêu lạm phát và đến năm 2006, Zimbabwe in thêm 21 nghìn tỷ đồng Zimbabwe để trả nợ IMF Cùng trong năm đó, Zimbabwe tiếp tục
in thêm 60 nghìn tỷ đồng Zimbabwe để trả lương cho quân đội, cảnh sát và nhiều viên chức nhà nước
Năm 2007, nguồn cung thực phẩm, nhiên liệu và thuốc men thiếu trầm trọng, lạm phát tháng vượt mức 115 nghìn % 6 tháng cuối năm 2007, chính phủ Zimbabwe quyết định ngưng trả lương
Tháng 4/2008, 50 triệu đồng Zimbabwe tương đương 1,20USD trong khi đó Ngân hàng Trung ương ước tính kinh tế nước này tăng trưởng âm 6% so với 1 năm trước Theo Los Anelges Times đưa tin, vào tháng 7/2008, chính phủ Zimbabwe đã có lúc hết giấy để
in tiền bởi phía châu Âu ngừng cung cấp giấy in tiền cho Zimbabwe do lo ngại về lý do nhân đạo
Nguyên nhân lạm phát tại Zimbabwe
Khi Zimbabwe giành được độc lập vào năm 1980, chính phủ nước này quyết định
sử dụng đồng tiền mới với giá trị ban đầu so với đồng USD ở mức khoảng 1,25USD Chính phủ Zimbabwe quản lý yếu kém và mất kiểm soát lạm phát
Xu thế hình thành siêu lạm phát bắt đầu vào đầu thập niên 1990 khi Tổng thống Mugabe đưa ra chương trình phân phối lại đất đai, ông lấy đất từ người nông dân gốc Âu dành cho người nông dân bản xứ Nhóm người nông dân giàu kinh nghiệm bỗng dưng mất đất, sản lượng nông nghiệp sụt giảm xuống dưới mức cần thiết, giá tăng không tránh khỏi
Đức – tháng 10/1923
Tháng 10/1923 khi lạm phát tháng tăng ở mức 29.500% và với tỷ lệ ngày 20,9%,
cứ sau 3,7 ngày, giá cả hàng hóa tăng gấp đôi
Đến tháng 8/1923, 1 triệu mác Đức mới đổi được một USD Đến tháng 11/1923, con số này lên mức 238 triệu mác Đức/USD và khi trật tự tâm lý có tên “Zero Stroke” được đưa ra, người ta khi đó đã phải giao dịch hàng trăm tỷ mác Đức cho các chi phí hàng ngày
Trang 16Lạm phát cao buộc chính phủ Đức phải định giá lại đồng tiền, thay thế đồng papiermark bằng đồng rentenmark với tỷ giá 4,2 rentenmark/USD và giảm đi 12 số 0 trên
tờ tiền Dù đồng rentenmark đã bình ổn tình hình và chính phủ cộng hòa Weimar tồn tại cho dến năm 1933, siêu lạm phát và áp lực kinh tế đã dẫn đến việc nổi lên của đảng Nazi
và Adolf Hitler
Nguyên nhân chính của lạm phát tại Đức
Siêu lạm phát của nước cộng hòa Weimar bắt nguồn từ việc chính phủ in quá nhiều tiền để chi trả cho chiến tranh
Năm 1914, Đức ngừng hỗ trợ cho đồng tiền nước này bằng vàng và bắt đầu chi tiền cho chiến tranh thông qua đi vay chứ không phải tăng thuế Năm 1919, giá cả đã tăng gần gấp đôi, Đức thua trận Giai đoạn từ năm 1919 đến 1921, đồng tiền này khá ổn định nếu so với những năm trước đó
Việc giải quyết hậu quả chiến tranh theo yêu cầu của hòa ước Versailles buộc Đức phải trả các chi phí bằng vàng hay ngoại tệ tương ứng chứ không phải đồng papiermark Đức sử dụng đồng papeirmarks đảm bảo bằng nợ chính phủ để mua ngoại tệ và vì thế đẩy nhanh tốc độ phá giá đồng tiền
Hòa ước Versailles năm 1919 là hòa ước chính thức chấm dứt Thế chiến thứ Nhất (1914–1918) giữa Đức và các nước thuộc phe Hiệp Ước Hòa ước quy định Đức phải trả lại cho Pháp miền Alsace-Lorraine, một mảnh đất cho Bỉ, một mảnh tương tự ở Schleswig cho Đan Mạch – tùy kết quả một cuộc trưng cầu ý dân Khi người Đức không thể trả được tiền, quân Pháp và Bỉ chiếm đóng thung lũng Ruhr vào tháng 1/1923 để yêu cầu trả bằng hiện vật dẫn đến hàng loạt vụ đình công và phản kháng của người Đức khiến mọi chuyện tồi tệ hơn Khi chính phủ các nước châu Âu xung đột về việc làm sao giải quyết được tình hình, kinh tế Đức nhanh chóng suy sụp trong chỉ hơn 1 năm, một nửa nước Đức chìm trong siêu lạm phát
Chính sách kiểm soát lạm phát của chính phủ Đức
Chính phủ Đức đã cải cách tài chính và tiền tệ Vào cuối năm 1923, chính phủ đã tinh giảm biên chế 1/3 số lượng công nhân viên chức, các khoản bồi thường chiến tranh tạm đình lại Đồng thời Ngân hàng Trung ương mới ra đời, thay cho ngân hàng trung
Trang 17ương cũ và cam kết không tài trợ cho chi tiêu chính phủ bằng cách in tiền Nhờ đó, đến cuối tháng 12/1923, lượng cung tiền và giá cả đột nhiên ổn định
Nguyên nhân chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức trong
cung tiền, điều này thường bắt nguồn từ sự cần thiết phải tài trợ cho thâm hụt ngân sách quá lớn Hơn nữa, một khi lạm phát cao đã bắt đầu, tình hình thâm hụt ngân sách có thể trở nên không thể kiểm soát được: lạm phát cao dẫn đến giảm mạnh nguồn thu từ thuế tính theo phần trăm so với GDP, làm tăng thâm hụt ngân sách và chính phủ sẽ phải dựa nhiều hơn vào phát hành tiền mà điều này đến lượt sẽ đẩy lạm phát dâng lên cao hơn Dựa trên các bằng chứng lịch sử, thâm hụt ngân sách kéo dài được tài trợ bằng phát hành tiền trong khoảng từ 10-12 % của GDP sẽ gây ra siêu lạm phát Nhìn chung, có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát Thứ nhất, các hiện tượng này chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp định Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến hoặc cách mạng, do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ Vào thập niên 1980, các cú sốc bên ngoài và cuộc khủng hoảng nợ của Thế giới thứ ba đã đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra siêu lạm phát ở một số nước
Mỹ La-tinh Nhìn chung, siêu lạm phát thường đi kèm với chiến tranh, chính sách tài khóa kém hiệu quả, tuy nhiên nguyên nhân trọng tâm vẫn ở cung tiền tăng trưởng quá nhanh mà không được hỗ trợ bởi tăng trưởng kinh tế
Năm 2008 đánh dấu sự quay trở lại của lạm phát phi mã với những tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế thế giới Những nền kinh tế lớn như Mỹ và EU đã phải đối phó với tình trạng lạm phát và thất nghiệp gia tăng, tăng trưởng kinh tế đình đốn Lạm phát trong khu vực các thành viên EU sử dụng đồng euro lập kỷ lục trong tháng 6/2008 với 4%, gấp đôi mục tiêu kiềm chế lạm phát Mỹ cũng đang đối mặt với lạm phát tăng hơn 3% trong năm 2008, mức cao gấp đôi so với nhiều năm trước Hầu hết những nước đang phát triển và những nền kinh tế mới nổi sau một thời kỳ tăng trưởng nhanh đã bất ngờ gặp lạm phát tăng cao và đối mặt với nguy cơ tăng trưởng chậm lại Đối với các nước phát triển như Trung Quốc, lạm phát đã đạt mức 8,5%, cao nhất trong 12 năm trở lại đây Lạm phát ở Ấn Độ là 7,8%, cao nhất trong vòng 4 năm qua Lạm phát Inđônêsia
lên tới 12% trong tháng 6 sau khi Chính phủ tăng giá xăng dầu lên gần 30%
Trang 18 Nguyên nhân của lạm phát năm 2008
Nguyên nhân của lạm phát tăng cao trong năm 2008 là do giá lương thực và nhiên liệu tăng cao Giá dầu tăng nhanh trong thời gian ngắn phá vỡ mọi kỷ lục về giá trước đây đã khiến cho giá cả các hàng hóa khác tăng nhanh
Lạm phát tăng nhanh và bất ngờ trong thời gian ngắn có nguyên nhân xuất phát
từ nguồn cung Từ năm 2002 đến nay, riêng các nền kinh tế mới nổi đã chiếm 90% lượng gia tăng trong nhu cầu tiêu dùng của toàn thế giới đối với dầu và kim loại, 80% đối với lượng gia tăng của nhu cầu tiêu thụ toàn cầu đối với ngũ cốc Nguồn cung khan hiếm đối với nguyên nhiên liệu và lượng thực đã tạo ra những cú sốc đẩy giá tăng vọt
Nhưng trên hết, nguyên nhân sâu xa đó là do chính sách tiền tệ nới lỏng được các nước áp dụng trong nhiều năm qua nhằm đạt được mục tiêu về tăng trưởng kinh tế Kết quả là tình trạng tăng trưởng nóng kéo dài trong nhiều năm ở nhiều nước Chính sách tiền tệ nới lỏng đã khiến cung tiền tăng mạnh, điều này khiến cho nhu cầu trong nước tăng vọt và giá cả luôn duy trì ở mức cao Như vậy, nguyên nhân chính của lạm phát nằm
ở chính sách điều hành kinh tế Ngân hàng trung ương ở các nước mới nổi thường không
có sự độc lập cần thiết khi phải duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng với việc duy trì lãi suất thấp để phục vụ cho mục tiêu chính trị là tăng trưởng nhanh và vấn đề việc làm Điều hành chính sách tiền tệ không nhanh nhạy và linh hoạt sẽ khiến cho lạm phát tăng nhanh khi giá cả một số mặt hàng chính yếu tăng cao Vì mọi người kỳ vọng giá cả sẽ tăng lên nên lạm phát sẽ gây sức ép đòi tăng lương, hệ quả là giá cả hàng hóa tiếp tục tăng để bù đắp phần chi phí tăng thêm đó và vòng xoáy lạm phát sẽ lại tăng cao hơn nữa
Ngoài ra nguyên nhân còn là từ sự bất ổn của khu vực tài chính ở các nước phát triển trong đó có nền kinh tế Mỹ với sự sụp đổ hàng loạt các tổ chức tín dụng và ngân hàng, cùng cuộc khủng hoảng nhà đất với tình trạng đầu cơ và tình trạng “siêu bong bóng” Các công cụ tài chính phái sinh đã khiến cho thị trường tài chính thế giới trở nên bấp bênh, dễ khủng hoảng hơn trước
Việc nâng giá đồng nội tệ có thể sẽ khuyến khích các nhà đầu tư kỳ vọng đồng tiền lên giá cao hơn nữa, hấp dẫn các dòng vốn bên ngoài ồ ạt chuyển vào, điều này khiến lạm phát tăng cao hơn nữa Đây là vấn đề mà Trung Quốc đang phải đối mặt
Trang 19II.2 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 1986 đến 2011
II.2.1 Sơ lược lạm phát từ năm 1986 đến 2011
Số liệu về chỉ số lạm phát đo bằng CPI tháng 12 năm sau so với tháng 12 năm trước và tốc độ tăng trưởng GDP được tổng hợp lại ở bảng sau:
Bảng 1: Lạm phát CPI và tốc độ tăng GDP ở Việt Nam từ 1987 đến 2010
Đơn vị tính: %
(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ các báo cáo thường niên của Tổng cục Thống kê)
Quan sát vào dãy số liệu ta thấy trong vòng 24 năm này, có 2 năm Việt Nam rơi vào tình trạng siêu lạm phát với chỉ số lạm phát lên đến trên 200%/năm, thậm chí năm
Thời kỳ 1992-1995, lạm phát còn cao, nhưng đã thấp hơn nhiều so với các thời kỳ trước Nguyên nhân chủ yếu do cung đã tăng (tăng trưởng kinh tế 1991-1995 đạt
Trang 208,2%/năm, đặc biệt lương thực vượt nhu cầu trong nước, đã có xuất khẩu với khối lượng lớn; Chính phủ đưa ra phương châm: đối với ngân sách thì thu lấy mà chi; đối với ngân hàng thì vay lấy mà cho vay-có nghĩa là Nhà nước không phát hành tiền cho bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt
Thời kỳ 1996-2003 được coi là thiểu phát, khi CPI tăng rất thấp (mặc dù năm
1998 tăng cao 9,2% do tác động của khủng hoảng khu vực, với tỷ giá năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6% và giá lương thực tăng 23,1%, giá thực phẩm tăng 8,6% Nhưng nhìn chung cả thời kỳ này đã có 3 năm, trong đó có 1 năm giảm, 2 năm tăng thấp; giá lương thực, thực phẩm giảm hoặc tăng thấp Kết quả kỳ diệu của cơ chế tỷ giá năm
1997 Đồng nội tệ đã bị đánh giá cao cùng với tỷ giá bị cố định cứng trong khoảng thời gian dài từ 1992 đến 1996 đã thúc đẩy nhập khẩu ồ ạt Do vậy, thâm hụt thương mại liên tục tăng để lên đến đỉnh cao hơn 45% vào năm 1995 Năm 1997, lần đầu tiên cơ chế xơ cứng của tỷ giá được điều chỉnh và kết quả thật kỳ diệu
Thời kỳ từ 2004 đến nay là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp đi lặp lại, cứ 2 năm tăng cao mới có 1 năm tăng thấp hơn Năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng 8,4%, thì năm 2006 tăng 6,6% Năm 2007 tăng 12,63%, năm 2008 tăng 19,89%, thì năm 2009 tăng 6,52% Năm 2010 tăng 11,75%, năm 2011 sau 8 tháng đã tăng 15,68% (nếu tính theo năm thì tháng 8/2011 so với cùng kỳ năm trước đã tăng tới 23,02%) Dự báo cả năm phải phấn đấu tích cực mới ở mức 18% (nếu theo “quy luật” trong mấy năm qua thì khả năng năm 2012 sẽ tăng thấp hơn và từ đó có thể nhận thấy việc Chính phủ đưa ra chỉ tiêu dưới 10% của năm 2012 là có tính khả thi)
Nhìn chung, lạm phát ở nước ta từ năm 2004 đến nay luôn ở mức khá cao Từ năm
2007 đến nay, lạm phát luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 khoảng 7,1%, trong khi đó lạm phát bình quân hàng năm khoảng gần 11%
Năm 2007 lạm phát của Việt Nam tăng cao ở mức hai con số 12,63% Nếu so sánh với mức lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu vực đồng Euro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt Nam có phần cao hơn Bước sang Quý I/08 lạm phát của Việt
Trang 21Nam đạt 9,19%, vẫn cao hơn so với mức 3,02% của Quý I/07 và bằng khoảng trên 70%
so với mức tăng của cả năm 2007 Đây là mức tăng cao trong vòng 12 năm trở lại đây
Đến năm 2009, theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12-2009 tăng 1,38% so với tháng trước Như vậy, CPI của cả năm 2009 dừng ở mức 6,88%, đúng mục tiêu của Chính phủ đề ra là kiểm soát lạm phát dưới hai con số Tăng giá mạnh nhất là nhóm giao thông: 2,47%, tiếp theo là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống: 2,06% Trong nhóm này, riêng mặt hàng thực phẩm tăng đột biến: 6,88% Đứng thứ 3 là nhóm nhà ở - vật liệu xây dựng, tăng 1,40% Các nhóm hàng hóa còn lại đều tăng 1% hoặc thấp hơn Tăng giá ít nhất là nhóm thiết bị đồ dùng gia đình: 0,25% Chỉ số giá USD và vàng biến động mạnh Giá vàng chỉ tăng thêm 0,49% trong tháng 12 nhưng cả năm 2009 đã tăng đến 9,16% Chỉ số giá USD tháng 12 tăng 3,19% khiến mức tăng cả năm lên đến 9,17%
Trong Báo cáo do Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra ngày 7/12/2010 tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG-2010), WB nhận định lạm phát cả năm 2010 ở mức 10,5% - cao hơn nhiều so với mục tiêu 8% mà Quốc hội đề ra trước đó Báo cáo do Ngân hàng Thế giới nhận định tỷ lệ lạm phát của Việt Nam đột ngột dâng cao hơn dự kiến trong tháng 10 và 11 Cụ thể, đến cuối tháng 11, tỷ lệ lạm phát 11 tháng đứng ở mức gần 9,6% Lạm phát giá lương thực hàng năm lên đến 14,8%, cao nhất kể từ tháng 4/2009 Tỉ trọng thương mại so với GDP lên đến gần 150% và VNĐ đang mất giá cùng với sự tăng giá hàng hóa trên thế giới chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới mặt bằng giá trong nước Ngoài ra, các cú sốc nguồn cung như lụt lội nghiêm trọng tại các tỉnh miền Trung cũng góp phần gây ra lạm phát
Trang 22Trong năm 2011, lạm phát tăng 18,13% so với tháng 12/2010 Mức lạm phát tăng cao trong 4 tháng đầu năm lên tới mức 3,32% trong tháng 4 do sức ép từ tỷ giá, giá cả hàng hóa năng lượng và cung tiền.Từ tháng 5 trở đi, nhờ những nỗ lực ổn định hóa quyết liệt của Chính phủ, CPI đã liên tục giảm tốc và xuống dưới 1% kể từ tháng 8/2011
Đặc biệt, mặc dù là tháng cận tết nhưng chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 chỉ tăng 0,53% so với tháng trước (thấp hơn nhiều so với mức tăng 1,38% và 1,98% của cùng kỳ năm 2009 và năm 2010), trong đó các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao hơn mức tăng chung là: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,86%; nhóm hàng ăn
Trang 23và dịch vụ ăn uống tăng 0,69% (Lương thực tăng 1,40%; thực phẩm tăng 0,49%); Thiết
bị và đồ dùng gia đình tăng 0,68% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,51%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,49%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,35%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,24%; giao thông tăng 0,16%; giáo dục tăng 0,05%; riêng bưu chính viễn thông giảm 0,09% Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 so với tháng 12/2010 tăng 18,13% Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2011 tăng 18,58% so với bình quân năm 2010
Chỉ số giá vàng tháng 12/2011 giảm 0,97% so với tháng trước; tăng 24,09% so với cùng kỳ năm 2010 Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2011 tăng 0,02% so với tháng trước; tăng 2,24% so với cùng kỳ năm 2010
Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản năm
2011 tăng 31,8% so với năm trước; chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp tăng 18,43%; chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 21,27%; chỉ
số giá cước vận tải tăng 18,52% Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa năm 2011 tăng 19,62% so với năm 2010; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 20,18%
II.2.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007-2011
khẩu/GDP khá cao ở mức trên 80%, có thể thấy Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở cửa lớn Bên cạnh đó, Việt Nam nền kinh tế có mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu lớn nhất khu vực, cơ cấu chi phí sản xuất phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu Do vậy, giá cả của hàng hóa trong nước chịu sự ảnh hưởng nhất định của giá cả thế giới Giai đoạn 2006
- 2011, chỉ số hàng hóa thế giới chung tăng 132%, giá năng lượng tăng 90,9%, giá lương thực tăng 151,2% Giá trên thị trường quốc tế tăng tác động đến giá cả trong nước qua hàng hóa nhập khẩu, đồng thời cũng ảnh hưởng đến giá cả những loại hàng hóa vừa xuất khẩu vừa tiêu thụ trong nước, đặc biệt là hàng hóa nông sản, đã góp phần làm tăng mặt bằng giá chung trong nước
Cơ cấu kinh tế chưa hợp lý:
Chi phí sản xuất của nền kinh tế cao: chi phí năng lượng cho một đơn vị GDP vẫn còn cao so với các nước trong khu vực Chi phí vận chuyển cao do kết cấu hạ tầng,
Trang 24giao thông chưa phát triển Tiền lương tối thiểu được điều chỉnh tăng góp phần trực tiếp
làm tăng chi phí sản xuất, qua đó ảnh hưởng CPI
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và năng suất lao động thấp: ICOR cũng tăng nhanh qua các giai đoạn Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hoạt động kém hiệu quả nhất về mặt sử dụng vốn Trong cả giai đoạn 2000 - 2011, để tạo ra 1 đồng giá trị tăng thêm, khu vực này phải bỏ ra 10,13 đồng vốn Xét trong giai đoạn 2006 - 2011, giá trị này phải là 17,42 đồng mới có được 1 đồng giá trị tăng thêm Khu vực Nhà nước, trong cả giai đoạn 2000 - 2011, bỏ ra 7,54 đồng để có được 1 đồng giá trị tăng thêm; giai đoạn 2006 - 2011, hiệu quả đầu tư tiếp tục giảm khi cần 7,98 đồng mới tạo ra được 1 đồng giá trị tăng thêm Hiệu quả sử dụng vốn ở khu vực ngoài nhà nước lại tốt nhất Trong giai đoạn 2006 - 2011, mức đầu tư để tạo ra 1 đồng giá trị tăng thêm của khu vực
này chỉ là 4,32 đồng
Việc đầu tư tràn lan, dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, dẫn đến hiệu quả đầu tư không cao và tạo gánh nặng về vốn cho nền kinh tế Bên cạnh đó, việc triển khai cùng một lúc nhiều chương trình tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và tín dụng chính sách với lãi suất ưu đãi, trong khi hiệu quả đầu tư thấp cũng làm tăng thêm chi phí vốn cho nền kinh tế
Trang 25Năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm 2010 đạt 40,3 triệu đồng/người, chỉ
tương đương với 2.067 USD, thấp xa so với các con số tương ứng của một số nước
Hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả: làm cho chi phí sản xuất, giá thành và giá vốn tăng cao Công tác quản lý của khu vực này có nhiều hạn chế: chưa minh bạch hóa hoạt động và công khai thông tin; chủ sở hữu nhà nước chưa thực sự trở thành một nhà đấu tư; chưa chuyên nghiệp theo kinh tế thị trường; công tác giám sát còn thiếu tách bạch giữa quản lý và điều hành, giữa chủ thể giám sát và đối
tượng giám sát
Phá giá tiền đồng và xuất nhập khẩu: Đồng Việt Nam liên tục mất giá so với USD
trong nhiều năm qua cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả hàng hóa trong nước, tác động đáng kể đến lạm phát Trong giai đoạn 2006 - 2010, tỷ giá tăng 21,2% Xuất khẩu phụ thuộc vào hàng nhập khẩu từ nước ngoài và tỷ trọng nhập khẩu/GDP cao thì việc đồng Việt Nam mất giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức giá cả trong nước
Giá vàng thế giới liên tục tăng: Giá vàng thế giới liên tục tăng từ 2009 cùng với
yếu tố tâm lý, đầu cơ đã đẩy giá vàng trong nước tăng mạnh, nhu cầu nhập khẩu vàng tăng cao và tác động lên tỷ giá Khi giá vàng và tỷ giá tăng cao lại tác động đến tâm lý và lòng tin vào đồng nội tệ dẫn đến lạm phát có xu hướng tăng Với mức tăng 64.32% năm
2009, 30% năm 2010 và 24.09% năm 2011, giá vàng trong nước đã tác động không nhỏ
đến chỉ số giá tiêu dung trong những năm qua
Nới lỏng cung tiền và tín dụng trong một thời gian dài: Tốc độ tăng cung tiền M2
khá cao so với các nước trong khu vực Trong giai đoạn 2000 - 2010, tốc độ tăng cung tiền của Việt Nam đạt mức 31,4%, trong khi đó của Trung Quốc là 17,8%, Inđônêxia
13%, Malaysia 8,7%, Thái Lan 6,2%
Trang 26Nguồn: NHNN
Tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam cũng luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực Trong giai đoạn 2007 - 2010, tín dụng bình quân tăng 30,6%/năm Hệ số
dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam đã tăng từ 40% năm 2000, lên mức 116,14% năm
2010 (gần 3 lần) Chính việc tăng trưởng tín dụng nhanh là nguyên nhân dẫn đến M2 tăng cao Mặc dù có tốc độ tăng trưởng tín dụng và đầu tư toàn xã hội ở mức khá cao so với nhiều quốc giá khác tuy nhiên tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn này chỉ trung bình ở mức 6 – 7% Năm 2010 so với năm 2000, tín dụng cao gấp trên 13,7 lần, trong khi GDP chỉ gấp trên 2 lần; hệ số giữa tốc độ tăng của tín dụng và của GDP lên đến trên 6,2 lần-một hệ số rất cao Dư nợ tín dụng/GDP đã ở mức khoảng 125%, cao gấp đôi
con số tương ứng của nhiều nước
Bội chi ngân sách và chi thường xuyên luôn ở mức cao: Bội chi ngân sách nhà
nước từ 2006 đến nay luôn xấp xỉ mức 5% GDP gây áp lực lên lạm phát Chi tiêu của Chính phủ đã gia tăng liên tục trong các năm tiếp theo nhưng vẫn thuộc mức cao trong bối cảnh tổng thu ngân sách vẫn ở mức thấp Cơ cấu chi ngân sách cũng đáng quan tâm: Chi thường xuyên luôn ở mức khoảng 20% GDP trong những năm gần đây thì chi cho đầu tư xây dựng cơ bản chỉ ở mức khiếm tốn chưa đến 10% GDP, chỉ gần bằng 1/2 tổng chi thường xuyên hàng năm Đồng thời để bù đắp thâm hụt ngân sách, chính phủ phải
Trang 27huy động nguồn vốn trong xã hội nhiều hơn thông qua phát hành trái phiếu, tín phiếu và trở thành một nhân tố làm tăng M2 do thực tế số trái phiếu này hầu hết bán cho tổ chức tín dụng và các tổ chức tín dụng sử dụng để chiết khấu hoặc bán cho Ngân hàng Nhà nước qua nghiệp vụ thị trường mở.
Ghìm giữ quá lâu những loại hàng hóa quan trọng như xăng dầu, điện, than… làm
thu hẹp không gian chính sách, đến khi buộc phải thực hiện xóa bỏ bao cấp thì lại dồn dập vào một thời điểm, gây hiệu ứng tâm lý, làm giảm hiệu quả của các giải pháp kiềm chế lạm phát
Tăng lương tối thiểu và lạm phát kỳ vọng: tiền lương được điều chỉnh liên tục để
đảm bảo điều kiện sinh hoạt thời kỳ lạm phát và thường diễn ra sau lạm phát nhưng cũng
có tác động đến CPI và mặt bằng giá ở kỳ tiếp theo
Lạm phát tâm lý: Yếu tố tâm lý tác động đến giá cả, lạm phát ở nước ta mạnh hơn
các nước trong khu vực và trên thế giới Đây là nguyên nhân có tính lịch sử, do nước ta
đã từng rơi vào tình trạng siêu lạm phát Khi kinh tế vĩ mô bất ổn, các mục tiêu kinh tế quan trọng không đạt được, phát sinh các biến cố lớn hoặc thông tin chính sách thiếu rõ ràng, thì sẽ làm gia tăng lạm phát kỳ vọng và trở thành lạm phát tâm lý, tức là tình trạng người dân phản ứng một cách thái quá trước những biến động của thị trường và qua đó đẩy lạm phát
Lạm phát tâm lý trong nền kinh tế ảnh hưởng đến nhiều mặt đời sống xã hội, đặc
biệt là giá các loại hàng hóa trên thị trường Thứ nhất: Các chính sách quản lý nhà nước
nhằm mục tiêu điều hành tốt hơn nền kinh tế nhưng đôi khi chính yếu tố tâm lý của người dân lại làm nảy sinh lạm phát tâm lý Ví dụ như việc tăng lương Về cơ bản, lương tăng không ảnh hưởng tới giá, tuy nhiên do tâm lý tăng giá chung trong kinh doanh cứ thấy có nhiều tiền là tăng giá nên thậm chí lương chưa tăng giá cả đã tăng, qua đó lạm phát tăng
Thứ hai: Tâm lý người dân rất nhạy cảm với lạm phát và thường có phản ứng đôi khi quá
mức càng đẩy lạm phát lên cao Trong khi đó, các phản ứng của Chính phủ chống lại lạm phát thường chậm, chính sách điều hành không nhất quán, khiến người dân càng mất niềm tin vào hiệu quả chính sách Điều này thể hiện qua những cơn sốt của thị trường vàng, đô la, hay bất động sản khi người dân đổ xô đầu tư và găm giữ các loại tài sản khác
Trang 28thay thế tiền đồng Thứ ba: Tâm lý không cất trữ đồng Việt Nam trong nhà Dù lãi suất
ngân hàng có lên tới 20%/năm thì việc cất trữ tiền đồng vẫn làm cho người dân thấy bị thiệt thòi và không an toàn Do đó có tình trạng tìm kiếm các kênh cất trữ khác trong
cộng đồng như vàng, đô la… Thứ tư: Do tâm lý phụ thuộc vào ngoại tệ Hiện nay, rất
nhiều yếu tố tạo ra của cải vật chất cho tiêu dùng trong nước và bản thân các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp phụ thuộc vào nhập khẩu Do đó giá cả phụ thuộc rất nhiều vào tỷ giá ngoại tệ Khi giá nhập khẩu và tỷ giá thay đổi sẽ kéo theo phản ứng dây chuyền khiến cho
giá tiêu dùng trong nước thay đổi và thường là theo chiều hướng tăng cao
II.2.3 Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế Việt Nam
Lĩnh vực tiền tệ, tín dụng:
- Đối với các ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, lạm phát tăng cao, sức mua đồng tiền giảm xuống, đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động huy động vốn, cho vay, dầu
tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng
- Đối với hoạt động huy động vốn: do lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn Để huy động được vốn, hoặc không muốn vốn từ ngân hàng mình chạy sang các ngân hàng khác, thì phải nâng lãi suất huy động sát với diễn biến của thị trường vốn Một cuộc chạy đua lãi suất huy động ngoài mong đợi tại hấu hết các ngân hàng (17%-18%/năm cho kỳ hạn tuần hoặc tháng năm 2010), luôn tạo ra mặt bằng lãi suất huy động mới, rồi lại tiếp tục cạnh tranh đẩy lãi suất huy động lên, có ngân hàng đưa lãi suất huy động lên gần bằng lãi suất tín dụng, kinh doanh ngân hàng lỗ lớn nhưng vẫn thực hiện, thậm chí làm trái quy định về trần lãi suất của NHNN, gây ảnh hưởng bất ổn cho cả hệ thống ngân hàng thương mại
- Lạm phát tăng cao, Ngân hàng nhà nước phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân khi kinh doanh vẫn rất lớn, ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số khách hàng với hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép Mặt khác,
do lãi suất huy động cao thì lãi suất cho vay cũng cao, điều này làm xấu đi môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện
Trang 29- Tính thanh khoản của các ngân hàng bị ảnh hưởng, rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra do sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá vàng và ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên thực sự khó khăn, trong khi nhu cầu cho vay trung và dài hạn đối với các khách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn trong thời gian qua trong các ngân hàng không nhỏ
- Do lạm phát cao, không ít doanh nghiệp, người dân thực hiện giao dịch hàng hóa, thanh toán cho nhau bằng tiền mặt, nhưng nguồn tiền mặt lại khan hiếm Theo điều tra của Ngân hàng thế giới(WB), ở Việt Nam có khoảng 35% lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng, trên 50% giao dịch không qua ngân hàng, trên 90% dân cư không thanh toán qua ngân hàng Khối lượng tiên lưu thông ngoài ngân hàng lớn, Nhà nước gặp khó khăn trong việc kiểm soát chu chuyển của luồng tiền này, các ngân hàng thương mại cũng gặp khó khăn trong việc phát triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM
- Sự không ổn định của giá cả, bao gồm cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng, gây khó khăn cho sự lựa chọn các quyết định của khách hàng cũng như các thể chế tài chính - tín dụng
Lĩnh vực sản xuất:
- Lạm phát tăng cao đã làm giá đầu vào và đầu ra của các nguyên vật liệu, sản phẩm biến động không ngừng tạo nên sự mất ổn định trong thị trường, gây khó khăn không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam Hơn nữa, giá cả tăng cao sẽ làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Theo Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa, khoảng 20% doanh nghiệp khó có thể tiếp tục hoạt động Ngoài nhóm này, 60% thành viên hiệp hội đang chịu tác động của khó khăn kinh tế, nên sản xuất sút kém Lạm phát đã làm các công ty không kiểm soát được chi phí, mất thị trường và không đủ vốn để duy trì sản xuất, thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán tăng, thóat ly ngoài hoạt động
Trang 30- Lạm phát cũng làm tăng lãi suất danh nghĩa và làm giảm cầu tiền khiến cho các doanh nghiệp không mặn mà với đầu tư sản xuất Lạm phát gây ra chi phí thực đơn khi giá cả thay đổi khiến tất cả doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu lại thị trường nên cũng rất tốn kém cho khoản này
- Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn và bất tiện cho các đơn vị hạch toán kinh doanh Lạm phát làm cho sức mua của các đồng tiền có sức mua không giống nhau vào các thời điểm khác nhau vì vậy việc tính toán giữa doanh thu và chi phí của các doanh nghiệp kém hiệu quả hơn khiến các nhà đầu tư khó phân biệt được doanh nghiệp nào làm ăn hiệu quả hay kém hiệu quả làm gây cản trở thị trường tài chính trong việc phân bổ vốn sao cho
có hiệu quả Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thì khi lạm phát các doanh nghiệp mua hàng trong nước với mức giá cao nhưng khi xuất khẩu thì lợi nhuận sẽ đạt thấp thậm chí
là lỗ nếu doah nghiệp có thời gian ký hợp đồng dài hạn
Lĩnh vực lưu thông:
- Lạm phát tăng cao đến 28.3% (tháng 7/2008) làm giảm giá trị đồng tiền trong nước Lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi hơn là các hoạt động sản xuất Khi lạm phát khiến cho người dân và các tổ chức sẽ cho rằng đồng nội tệ mất giá và đổ xô lựa chọn các đồng ngoại tệ mạnh khác hoặc vàng làm công
cụ cất giữ sẽ an toàn hơn khiến cho cơn sốt vàng và ngoại tệ tằng làm cho tình hình kinh
tế sẽ bất ổn hơn Chính những hoạt động đầu cơ này lại càng làm cho thị trường trở nên khan hiếm hàng hóa, dẫn đến mất cân bằng cung- cầu, một lần nữa lại đẩy giá cả hàng hóa lên cao, lạm phát trở nên trầm trọng hơn
- Đối với những mặt hàng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tâm lý như chứng khóan
và bất động sản thì giá cả của chúng lại giảm xuống rõ rệt Năm 2008 xu hướng leo thang của lạm phát vẫn tiếp tục và đã trở thành đỉnh điểm tới gần 23% - mức kỷ lục về lạm phát trong nền kinh tế trong nhiều năm qua Diễn biến của thị trường chứng khóan Việt Nam
đã dịu dần sức nóng so với thời kì trước, chỉ số Vn-Index bắt đầu rời khỏi mốc cao kỷ lục
và chuyển sang thời kỳ giảm sâu Lạm phát năm 2009 đã được khống chế và giảm mạnh xuống chỉ còn 6,88%, tuy nhiên đến 2010, chỉ số lạm phát vẫn tăng trở lại và đã vượt lên gần mức hai con số Trong bối cảnh lạm phát cao như vậy, giao dịch trên thị trường
Trang 31chứng khóan không còn sức tăng mạnh như năm trước, trải qua những diễn biến tăng giảm thất thường và nhìn chung sụt giảm
Tác động đến đời sống xã hội:
Lạm phát cao không chỉ khiến cho người dân ở nông thôn gặp khó khăn mà ngay
cả những hộ gia đình ở thành thị với mức lương eo hẹp cũng phải điêu đứng Tác động này phát sinh từ những sự khác nhau trong các loại tài sản và nợ nần của nhân dân Lạm phát làm cho đời sống nhân dân bị giảm sút, trước hết là người sống bằng tiền lương do tiền lương thực tế giảm nghiêm trọng Ngoài ra, lạm phát có thể thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của cá nhân thường trái với ý định của người làm luật, vì khi làm luật thường không tính đến tác động của lạm phát vì vậy khi thu nhập danh nghĩa tăng khiến thuế cũng tăng theo nhưng thu nhập thực tế của họ không thay đổi và do vậy làm giảm thu nhập khả dụng của họ Dẫn đến số người nghèo khổ tăng lên, và tệ nạn xã hội sẽ nảy sinh Còn những người có nhiều tài sản cố định có giá trị cao và những người mắc nợ ngân hàng với lãi suất cố định thì tự nhiên được hưởng lợi Theo thống kê thì trên cả nước ta, tỉ lệ nghèo hóa hay tái nghèo hóa là vào khoảng 50% Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy:
- Người giàu thường có kiến thức và điều kiện tiếp cận các công cụ tài chính để có thể tự bảo vệ họ trước tác động của lạm phát
- Người nghèo thường có tỷ lệ tiền mặt trong tổng tài sản cao (do không có điều kiện chuyển đổi thu nhập thành các khoản đầu tư có thể bù đắp chi phí do trượt giá) nên phải chịu tác động của lạm phát lớn hơn, phụ thuộc nhiều hơn vào vào những nguồn thu nhập định trước như tiền lương, phúc lợi và trợ cấp xã hội…những nguồn thu nhập thường không được tính trượt giá một cách đầy đủ và kịp thời, hay thậm chí không được tính trượt giá Nếu lạm phát bất ngờ xảy ra thì có thể phân phối lại thu nhập của cải trong
xã hội không theo nỗ lực cống hiến và nhu cầu của họ Điều này làm đời sống người nghèo đã khó khăn, nay lại càng khó khăn hơn Những người bị lạm phát làm thiệt hại nhiều nhất là những người hưởng lương hưu, hưởng bảo hiểm xã hội, hưởng trợ cấp xã hội
- Lạm phát không chỉ làm giảm thu nhập và tiền công thực tế của người nghèo mà còn góp phần làm tăng tỷ lệ thất nghiệp Lạm phát cao làm xói mòn lợi nhuận của doanh
Trang 32nghiệp và giảm động cơ đầu tư Một khi đầu tư giảm thì tỷ lệ thất nghiệp tăng lên và điều
đó làm giảm chất lượng cuộc sống của người dân
II.2 Lạm phát hai tháng đầu năm và nhận diện lạm phát trong năm 2012
Lạm phát hai tháng đầu năm 2012
Lạm phát tháng 01/2012 tăng chậm nhất trong 3 năm trở lại đây và chỉ cao
hơn CPI tháng 01/2009 nếu xét trong 9 năm trở lại đây CPI tháng 1 tăng 1%, trong đó các nhóm hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ dịp Tết của người dân có xu hướng tăng cao, các nhóm hàng khác có mức tăng không đáng kể Lạm phát tháng 1 thấp do đảm bảo được cung hàng hóa trong khi cầu nội địa giảm Theo Tổng cục thống kê, điểm nổi bật của thị trường hàng hóa Tết năm 2012 là sản phẩm được sản xuất trong nước chiếm thị phần cao (khoảng 80 - 90% tại các siêu thị và trung tâm thương mại lớn) Trong khi đó, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2012 ước tính đạt 191,1 nghìn tỷ đồng và nếu loại trừ yếu tố giá thì con số này chỉ tăng 4% so với cùng kỳ, trong khi con số này năm ngoái là 8,7% Sức tiêu thụ yếu là một nhân tố giúp chỉ số CPI
tháng 1 tăng không quá cao như các năm trước
Lạm phát tháng 2 tăng 1,37% so với tháng 1 Đây là mức tăng CPI theo tháng
cao nhất trong vòng 9 tháng trở lại đây và tiếp tục xu hướng cộng thêm theo từng tháng
đã tiếp diễn trong các tháng trước Tuy nhiên, nếu so sánh với các năm trước thì mức tăng này chưa thật sự đáng lo ngại Biểu hiện rõ nhất là việc CPI YoY đã hạ nhiệt đáng kể, lùi
về mức 16,44% so với con số 17,27% trong tháng 1 và so với mức đỉnh 23,02% thiết lập
vào tháng 8/2011 thì CPI đã giảm được gần 7% Cầu sụt giảm giúp ghìm cương lạm phát
Cũng giống như trong tháng 1, nguyên nhân chính khiến CPI trong tháng 2 có mức tăng thấp hơn hẳn so với các năm trước là do sự sụt giảm mạnh của cầu hàng hóa Thông thường, vào dịp Tết Nguyên Đán, nhu cầu tiêu dùng của người dân có xu hướng tăng cao đột biến Mặc dù vậy, theo số liệu của Cục Thống kê Hà Nội, tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng 2 đã giảm 5,9% so với tháng 1 trong khi tại thành phố Hồ Chí Minh, con số sụt giảm này là 6,3% Có thể thấy việc Chính phủ kiên trì với chính sách tài khóa và tiền
tệ thắt chặt kể từ đầu năm 2011 đến nay đã có phát huy tác dụng
Trang 33 Nhận diện lạm phát trong năm 2012
Nhận diện về Lạm phát ở Việt Nam trong năm 2012 các chuyên gia kinh tế cho
rằng trong năm 2012, mục tiêu kiềm chế lạm phát xuống dưới 1 con số là một trong
những mục tiêu hàng đầu trong việc ổn định và phát triển nền kinh tế Tuy có nhiều khó khăn nhưng mục tiêu này có cơ sở để thực thi, cụ thể như sau:
Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cho rằng, 5 tháng cuối cùng của năm
2011, chỉ số giá tiêu dùng liên tục sụt giảm dưới mức 1% Cứ đà này, nếu được tận dụng
sẽ là cơ sở tốt để níu giữ và kìm chế tốc độ tăng giá trong những tháng đầu của năm và cả năm nay
Ông Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đánh giá: “5 tháng cuối năm 2011, chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng đều chỉ có mức tăng dưới 1%, đây cũng là mức tăng rất thấp trong 3-4 năm trở lại đây Điều này chứng tỏ các chính sách của chúng ta đã phát huy tác dụng Đây cũng là tiền đề để kìm chế tốc độ tăng giá trong nửa đầu năm 2012 vì các chính sách thắt chặt của chúng ta vẫn chưa có sự thay đổi nào đáng kể Bởi vậy, dù thận trọng nhưng chúng tôi vẫn cho rằng, mục tiêu lạm phát 9% là
có cơ sở để thực thi”
Tuy nhiên, Ủy ban giám sát tài chính cũng thừa nhận, mục tiêu kìm chế lạm phát dưới 1 con số cũng chịu sức ép rất lớn từ áp lực tăng giá các mặt hàng chủ chốt như điện, than hay tỷ giá, kế hoạch tăng lương trong thời gian tới Song cộng dồn tất cả những yếu
tố này, con số 9% cho cả năm 2012 vẫn trong tầm kiểm soát
TS.Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho biết: “Trong năm 2012, nếu tỷ giá thay đổi 4-5%, tăng lương hay tăng giá điện 20%, các chuyên gia và tôi cũng đã tính toán, nó chỉ tác động đến chỉ số giá tiêu dùng khoảng 5-6%”
Khi lạm phát được kiểm soát tốt, đây cũng là cơ sở để giảm lãi suất Ủy ban giám sát tài chính cũng dự báo, nếu thanh khoản ngân hàng sớm được giải quyết, lãi suất ngân hàng sẽ giảm khoảng 4% so với hiện tại Tuy nhiên, để giảm được lãi suất, bài toán lúc này là phải giải quyết cho được khó khăn về thanh khoản, tức là khả năng thanh toán bằng tiền mặt của các ngân hàng thương mại hiện nay