LUẬT HÀNH CHÍNH. PHẦN 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH 1.1. Luật Hành chính là gì? Luật Hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam. Luật hành chính điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Có thể nói Luật Hành chính là ngành luật về quản lý hành chính nhà nước. 1.2. Đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính Đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính (tức là đối tượng mà Luật hành chính tác động tới) là các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, bao gồm các nhóm quan hệ sau đây: Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước (Chính phủ, các Bộ, Uỷ ban nhân dân....) thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân), Tòa án, Viện Kiểm sát xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan. Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước khác, các cá nhân và tổ chức được Nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định. 1.3. Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính Phương pháp điều chỉnh của Luật là cách thức tác động của Luật lên các mối quan hệ xã hội. Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh đơn phương. Phương pháp mệnh lệnh đơn phương nghĩa là một bên (cơ quan hành chính nhà nước) được nhân danh quyền lực nhà nước ra các mệnh lệnh mà không cần sự thoả thuận của bên kia, thể hiện qua các quyết định quản lý nhà nước và bên kia tức là đối tượng quản lý (tổ chức, đơn vị, công dân) phải phục tùng, thực hiện quyết định đó. Mệnh lệnh, quyết định hành chính phải thuộc phạm vi thẩm quyền của bên nhân danh nhà nước, vì lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, trên cơ sở pháp luật, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên hữu quan và được đảm bảo thi hành bằng sự cưỡng chế nhà nước. Đây còn được gọi là mối quan hệ quyền lực phục tùng giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Cần chú ý là cơ quan hành chính nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước có quyền đơn phương ra quyết định (không cần phải thỏa thuận với đối tượng bị quản lý) nhưng quyết định này phải được ban hành trong phạm vi thẩm quyền luật định, vì lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội. Quyết định đơn phương của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối tượng quản lý có liên quan và được bảo đảm thi hành bằng cưỡng chế nhà nước. PHẦN 2. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT HÀNH CHÍNH 2.1. Cơ quan hành chính là những cơ quan nào? 2.1.1. Khái niệm cơ quan quản lý hành chính Nhà nước Cơ quan quản lý hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước do. Nhà nước lập ra để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Cũng như các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, cơ quan quản lý hành chính nhà nước cũng có cơ cấu, tổ chức riêng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. 2.1.2. Hệ thống cơ quan quản lý hành chính Nhà nước Cơ quan quản lý hành chính nhà nước được tổ chức thành hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ. 2.1.2.1. Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở trung ương Cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở trung ương gồm: Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Chính phủ: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam. Chính phủ là cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung, tức là thực hiện việc quản lý hành chính đối với mọi vấn đề trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trên phạm vi cả nước. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ, giúp việc Thủ tướng là các Phó Thủ tướng, trong Chính phủ có các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ. Chính phủ hoạt động theo nguyên tắc kết hợp giữa chế độ tập thể lãnh đạo và chế độ Thủ trưởng. Theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Chính phủ, có những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của tập thể Chính phủ, có những vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ. Chính phủ và các thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và chịu sự giám sát của Quốc hội trong hoạt động của mình. Bộ, cơ quan ngang Bộ: Bộ, cơ quan ngang Bộ (gọi chung là Bộ) là cơ quan có thẩm quyền quản lý ngành (kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng...) hoặc lĩnh vực (tài chính, lao động, kế hoạch...) trên phạm vi cả nước. Bộ là cơ quan quản lý hành chính có thẩm quyền riêng (thẩm quyền chuyên ngành) tức là quản lý đối với một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định. Đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ là Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ mang hàm Bộ trưởng. Các Bộ hoạt động theo nguyên tắc “thủ trưởng chế”, tức là Bộ trưởng chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động chung của Bộ. Giúp Bộ trưởng có các Thứ trưởng do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng. Cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước: Là các cơ quan do Chính phủ thành lập. Các cơ quan này được giao thực hiện quản lý đối với một ngành, lĩnh vực nhất định trên phạm vi cả nước, có chức năng gần như Bộ. Những cơ quan thuộc Chính phủ được giao thực hiện quản lý nhà nước đối với một ngành, lĩnh vực là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ không phải là thành viên Chính phủ, có quyền tham dự các phiên họp Chính phủ nhưng không có quyền biểu quyết. Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cũng không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2.1.2.2. Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương Cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương bao gồm Uỷ ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân. Ủy ban nhân dân: Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương. Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, chính trị trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Theo quy định của pháp luật thì Uỷ ban nhân dân được tổ chức ở ba cấp: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Uỷ ban nhân dân làm việc theo chế độ tập thể, các vấn đề quan trọng của địa phương phải được quyết định bởi tập thể Uỷ ban nhân dân, trừ một số vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lãnh đạo, điều hành hoạt động chung của Uỷ ban nhân dân. Uỷ ban nhân dân chịu sự chỉ đạo của cơ quan hành chính có thẩm quyền chung ở cấp trên, chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên ngành của cơ quan quản lý chuyên ngành cấp trên. Cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân (Sở, phòng, ban thuộc Uỷ ban nhân dân): Cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân là các Sở, phòng, ban... được tổ chức theo nguyên tắc “song trùng trực thuộc”, tức là phụ thuộc hai chiều (vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan có thẩm quyền chung là Uỷ ban nhân dân, vừa chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan quản lý chuyên ngành cấp trên. Ví dụ: Sở Tư pháp vừa chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, vừa chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tư pháp).
Trang 2PHẦN 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
1.1 Luật Hành chính là gì?
- Luật Hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam Luật hànhchính điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính
nhà nước Có thể nói Luật Hành chính là ngành luật về quản lý hành chính nhà nước.
1.2 Đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính
- Đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính (tức là đối tượng mà Luật hành chính
tác động tới) là các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, bao gồm các nhóm quan hệ sau đây:
Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước(Chính phủ, các Bộ, Uỷ ban nhân dân ) thực hiện hoạt động chấp hành và điều hànhtrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan quyền lực Nhànước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân), Tòa án, Viện Kiểm sát xây dựng và củng cố chế độcông tác nội bộ của cơ quan
Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước khác, các
cá nhân và tổ chức được Nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nướctrong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định
1.3 Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính
- Phương pháp điều chỉnh của Luật là cách thức tác động của Luật lên các mốiquan hệ xã hội
- Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh đơn phương Phương pháp mệnh lệnh đơn phương nghĩa là một bên (cơ quan hành chính nhà nước)
được nhân danh quyền lực nhà nước ra các mệnh lệnh mà không cần sự thoả thuận củabên kia, thể hiện qua các quyết định quản lý nhà nước và bên kia tức là đối tượng quản lý(tổ chức, đơn vị, công dân) phải phục tùng, thực hiện quyết định đó Mệnh lệnh, quyếtđịnh hành chính phải thuộc phạm vi thẩm quyền của bên nhân danh nhà nước, vì lợi íchnhà nước, lợi ích xã hội, trên cơ sở pháp luật, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với cácbên hữu quan và được đảm bảo thi hành bằng sự cưỡng chế nhà nước Đây còn được gọi
là mối quan hệ quyền lực - phục tùng giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
- Cần chú ý là cơ quan hành chính nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước cóquyền đơn phương ra quyết định (không cần phải thỏa thuận với đối tượng bị quản lý)nhưng quyết định này phải được ban hành trong phạm vi thẩm quyền luật định, vì lợi íchchung của Nhà nước, của xã hội Quyết định đơn phương của cơ quan quản lý hành chính
Trang 3Nhà nước có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối tượng quản lý có liên quan vàđược bảo đảm thi hành bằng cưỡng chế nhà nước.
PHẦN 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT HÀNH CHÍNH
2.1 Cơ quan hành chính là những cơ quan nào?
2.1.1 Khái niệm cơ quan quản lý hành chính Nhà nước
- Cơ quan quản lý hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước do.Nhà nước lập ra để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước Cũng như các cơ
Trang 4quan khác trong bộ máy nhà nước, cơ quan quản lý hành chính nhà nước cũng có cơ cấu,
tổ chức riêng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
2.1.2 Hệ thống cơ quan quản lý hành chính Nhà nước
- Cơ quan quản lý hành chính nhà nước được tổ chức thành hệ thống thống nhất từtrung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ
2.1.2.1 Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở trung ương
- Cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở trung ương gồm: Chính phủ, các Bộ, cơquan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
- Bộ, cơ quan ngang Bộ:
Bộ, cơ quan ngang Bộ (gọi chung là Bộ) là cơ quan có thẩm quyền quản lý ngành(kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ) hoặc lĩnh vực (tài chính, lao động, kếhoạch ) trên phạm vi cả nước Bộ là cơ quan quản lý hành chính có thẩm quyền riêng(thẩm quyền chuyên ngành) tức là quản lý đối với một ngành hoặc một lĩnh vực nhấtđịnh Đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ là Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộmang hàm Bộ trưởng Các Bộ hoạt động theo nguyên tắc “thủ trưởng chế”, tức là Bộtrưởng chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động chung của Bộ Giúp Bộ trưởng có các Thứtrưởng do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng
- Cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước:
Là các cơ quan do Chính phủ thành lập Các cơ quan này được giao thực hiệnquản lý đối với một ngành, lĩnh vực nhất định trên phạm vi cả nước, có chức năng gầnnhư Bộ Những cơ quan thuộc Chính phủ được giao thực hiện quản lý nhà nước đối vớimột ngành, lĩnh vực là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước Tuy nhiên, thủ trưởng
Trang 5cơ quan ngang Bộ không phải là thành viên Chính phủ, có quyền tham dự các phiên họpChính phủ nhưng không có quyền biểu quyết Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cũng không
có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
2.1.2.2 Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương
- Cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương bao gồm Uỷ ban nhân dâncác cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
- Ủy ban nhân dân:
- Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở địaphương Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh, chính trị trên một phạm vi lãnh thổ nhất định Theo quy địnhcủa pháp luật thì Uỷ ban nhân dân được tổ chức ở ba cấp: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Hội đồngnhân dân cùng cấp Uỷ ban nhân dân làm việc theo chế độ tập thể, các vấn đề quan trọngcủa địa phương phải được quyết định bởi tập thể Uỷ ban nhân dân, trừ một số vấn đềthuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Chủ tịch Uỷ ban nhân dânlãnh đạo, điều hành hoạt động chung của Uỷ ban nhân dân
- Uỷ ban nhân dân chịu sự chỉ đạo của cơ quan hành chính có thẩm quyềnchung ở cấp trên, chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên ngành của cơ quan quản lýchuyên ngành cấp trên
- Cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân (Sở, phòng, ban thuộc Uỷ ban nhân dân):
- Cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân là các Sở, phòng, ban được tổchức theo nguyên tắc “song trùng trực thuộc”, tức là phụ thuộc hai chiều (vừa chịu tráchnhiệm trước cơ quan có thẩm quyền chung là Uỷ ban nhân dân, vừa chịu sự chỉ đạo vềchuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan quản lý chuyên ngành cấp trên Ví dụ: Sở Tư phápvừa chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, vừa chịu sự chỉ đạo về chuyênmôn, nghiệp vụ của Bộ Tư pháp)
2.2 Vi phạm nào là vi phạm hành chính?
- Ở một số nước trên thế giới, vi phạm hành chính thường được hiểu chung là cáchành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các chế tài hànhchính
Trang 6Vd: Luật về xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung hoa định nghĩa viphạm hành chính là “hành vi vi phạm trật tự hành chính của công dân và pháp nhân hoặccác tổ chức khác, bị áp dụng các hình thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luậttheo quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hànhchính áp dụng theo thủ tục do Luật này quy định” Trong khi đó, theo quy định của Bộluật xử phạt vi phạm hành chính của Cộng hòa liên bang Nga thì vi phạm hành chínhđược định nghĩa là “hành động (không hành động) của thể nhân hoặc pháp nhân, tráipháp luật, có lỗi và bị Bộ luật này hoặc các luật của Cộng hòa liên bang Nga quy địnhphải chịu trách nhiệm hành chính”.
- Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên đượcđịnh nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính, Pháp lệnh nàyquy định“vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ýhoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự vàtheo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”
- Sau đó Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì khái niệm vi phạmhành chính không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được đưa vào trong khái niệm “xử
lý vi phạm hành chính”, nếu trích dẫn từ định nghĩa về “xử lý vi phạm hành chính” thì viphạm hành chính được hiểu là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức, vi phạm cácquy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy địnhcủa pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
- Tuy nhiên về bản chất hành vi vi phạm hành chính thì các định nghĩa trong cácvăn bản pháp luật này, về cơ bản, không có gì khác nhau Định nghĩa “vi phạm hànhchính” có 04 dấu hiệu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy địnhcủa pháp luật về quản lý nhà nước; tác hại (tính nguy hiểm) do hành vi gây ra ở mức độthấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó được quy định trong cácvăn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Đây chính là dấu hiệu “pháp định” của
vi phạm
Thứ hai, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện (hànhđộng hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ tồn tại trong ýthức hoặc mới chỉ là dự định, đây có thể coi là dấu hiệu “vật chất” của vi phạm
Thứ ba, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện, đây làdấu hiệu xác định“chủ thể” của vi phạm
Trang 7Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận thức được
vi phạm của mình, hình thức lỗi có thể là cố ý, nếu người vi phạm nhận thức được tínhchất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả của vi phạm và mongmuốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả và để mặc cho hậu quả xảy ra; hìnhthức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi phạm thấy trước được hậu quả của hành vinhưng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn được hậu quả hoặc không thấy trướchậu quả sẽ xảy ra dù phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả của vi phạm Đây
có thể coi là dấu hiệu “tinh thần” của vi phạm
2.3 Xử lý vi phạm hành chính
- Xử phạt vi phạm hành chính bao gồm các chế tài hành chính thông thường, ápdụng đối với chủ thể là cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính, bao gồm hìnhthức xử phạt chính (cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất), hình thức phạt bổ sung (tước quyền sửdụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính,trục xuất là hình phạt chính và các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính gây
ra nhằm lập lại trật tự quản lý bị xâm hại
- Các biện pháp xử lý hành chính khác là những biện pháp hành chính có tính đặcthù và tính cưỡng chế cao hơn các hình thức xử phạt hành chính thông thường, chỉ ápdụng đối với chủ thể vi phạm là cá nhân, căn cứ vào nhân thân và quá trình vi phạm phápluật của đối tượng Các biện pháp xử lý hành chính khác bao gồm giáo dục tại xã,phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữabệnh, quản chế hành chính
- Điều luật quy định có tính nguyên tắc là “một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị
xử phạt hành chính một lần” Điều này có nghĩa là:
Một hành vi vi phạm đã được người có thẩm quyền lập biên bản để xử phạthoặc ra quyết định xử phạt thì không được lập biên bản hoặc ra quyết định xử phạt lầnthứ hai đối với chính hành vi vi phạm đó nữa Cần phân biệt trường hợp xử phạt lần thứhai đối với một hành vi vi phạm với trường hợp tái phạm Thí dụ: một người vượt đèn
đỏ, bị cảnh sát giao thông xử phạt tại chỗ 50.000 đồng, đến một ngã tư khác lại vượt đèn
Trang 8đỏ thì đây là tái phạm và phải bị xử phạt tiếp về hành vi vượt đèn đỏ (hành vi vi phạmmới), chứ không phải là xử phạt hai lần đối với một hành vi vi phạm.
Một hành vi vi phạm hành chính đã được người có thẩm quyền ra quyết định xửphạt thì không đồng thời áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác đối với người thựchiện hành vi này Thí dụ: một người có hành vi bán số đề bị xử phạt hành chính về đánhbạc thì không đồng thời lập hồ sơ để đưa người này vào cơ sở giáo dục (biện pháp xử lýhành chính khác)
Một hành vi vi phạm hành chính đã được người có thẩm quyền ra quyết định xửphạt, nếu sau này phát hiện hành vi đó có dấu hiệu tội phạm phải bị truy cứu trách nhiệmhình sự, thì phải huỷ quyết định xử phạt hành chính trị trước đây rồi mới chuyển hồ sơ viphạm đến cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền để truy cứu trách nhiệm hìnhsự
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người viphạm đều bị xử phạt Khi tiến hành xử phạt cần căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm,nhân thân của từng người vi phạm, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà quyếtđịnh một hình thức và mức phạt thích đáng đối với từng người vi phạm Thí dụ: nămngười cùng thực hiện hành vi đua xe trái phép Khi quyết định xử phạt đối với trườnghợp này, trước hết phải xác định mức phạt đối với hành vi này (giả sử là 3.000.000 đồng)
và quyết định đối với từng người vi phạm Trong số những người vi phạm có người cótình tiết giảm nhẹ (chẳng hạn như đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi) thì được xemxét hạ bớt mức phạt tiền (có thể phạt 2.000.000.đồng), hoặc có người có tình tiết tăngnặng (chẳng hạn như vi phạm nhiều lần - trước đây đã tham gia một số cuộc đua xe tráiphép) thì mức tiền phạt được tăng lên (có thể là 5.000.000 đồng) Việc áp dụng hình thứcphạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả cũng được xem xét, áp dụng đối với từngngười vi phạm
Một người thực hiện nhiều hành vi phạm thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.Người có thẩm quyền xử phạt xác định hình thức và mức phạt đối với từng hành vi, sau
đó cộng lại thành mức phạt chung Hình thức phạt cảnh cáo được thu hút vào hình thứcphạt tiền Ví dụ, một người điều khiển xe mô tô vừa điều khiển xe vừa nghe điện thoại diđộng, không đội mũ bảo hiểm trên đường có quy định phải đội mũ bảo hiểm và điềukhiển xe chạy dàn hàng ngang từ ba xe trở lên Người này cùng một lúc thực hiện bahành vi vi phạm Giả sử đối với hành vi thứ nhất bị phạt cảnh cáo, hành vi thứ hai bị phạttiền 150.000 đồng và hành vi thứ ba bị phạt tiền 90.000 đồng, thì mức phạt chung sẽ là240.000 đồng
Trang 9- Việc xử lý vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân
thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biệnpháp xử lý thích hợp
- Đây là một nguyên tắc rất quan trọng, trực tiếp liên quan đến việc xem xét, quyếtđịnh áp dụng hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả của người có thẩmquyền xử phạt đối với vụ việc vi phạm hành chính cụ thể hoặc quyết định áp dụng biệnpháp xử lý hành chính khác đối với đối tượng vi phạm
- Tính chất, mức độ vi phạm không làm thay đổi bản chất của hành vi vi phạmnhưng có ảnh hưởng lớn đến tính xâm hại của hành vi đối với trật tự quản lý nhà nước
Ví dụ, cùng là hành vi vi phạm hành chính “phá rừng trái phép” nhưng hành vi phá rừngphòng hộ có tính chất, mức độ xâm hại lớn hơn là phá rừng sản xuất, mặc dù diện tíchphá rừng là tương đương nhau hoặc hành vi phá rừng phòng hộ bị xử phạt hành chính thìdiện tích bị phá càng lớn, hành vi càng có tính chất nghiêm trọng Bên cạnh đó, nhânthân của người vi phạm cũng là yếu tố cần xem xét để quyết định hình thức, mức xử phạtcho hợp lý, bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa, giáo dục chung Ví dụ, việc xử phạt đối vớingười đã từng nhiều lần đổ rác, vứt chất thải bừa bãi ra nơi công cộng phải nghiêm khắchơn so với người mới vi phạm lần đầu
- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng là những căn cứ có ý nghĩa đáng kể trongviệc xem xét, quyết định hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cánhân vi phạm Khi xem xét, quyết định việc xử phạt, người có thẩm quyền phải xem xéttoàn diện vụ việc một cách khách quan, cân nhắc xem vụ việc vi phạm có tình tiết giảmnhẹ nào áp dụng đối với người vi phạm hoặc liệu có tình tiết tăng nặng nào cần tính đến
để áp dụng hình thức, mức xử phạt thích hợp Ví dụ, một người điều khiển xe máy từtrong ngõ ra đường với tốc độ cao đã đâm phải một người đang điều khiển xe đạp khiếnnạn nhân bị ngã làm trầy xước đầu gối và xe đạp bị hư hỏng Người đó đã lập tức xuống
xe đưa nạn nhân vào hè đường cứu chữa, tự nguyện trả tiền phí tổn thuốc men, sửa chữa
xe đạp bị hỏng Trường hợp này cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người vi phạm đã tựnguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại” để giảm nhẹ mức phạt Trong khi đó,đối với trường hợp một thanh niên đi xe máy lạng lách, đánh võng, mặc dù cảnh sát giaothông ra hiệu dừng lại vẫn cố tình bỏ chạy thì cần áp dụng tình tiết tăng nặng “ tiếp tụcthực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứthành vi đó” Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 8 Pháp lệnh xử lý vi phạmhành chính và các nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trongcác lĩnh vực quản lý nhà nước Các tình tiết tăng nặng được quy định cụ thể tại Điều 9Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
Trang 10- Không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết,phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnhtâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
vi của mình
- Các trường hợp không xử lý vi phạm hành chính gồm những hành vi mà xét vềbản chất thì không phải là vi phạm hành chính như phòng vệ chính đáng, hành độngtrong tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, do đó không xử lý hành chính; và hành vi viphạm hành chính nhưng do người bị bệnh tâm thần thực hiện, nên cũng không xử lý hànhchính
- Tình thế cấp thiết là tình thế của một người vì muốn tránh một nguy cơ đangthực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình haycủa người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hạicần ngăn ngừa Chẳng hạn, người lái xe ô tô buộc phải đánh tay lái để xe lao lên vỉa hè
và đâm vào gốc cây bên đường để tránh không đâm vào người bất ngờ chạy vụt quađường Xe ô tô - tài sản của Nhà nước có bị hỏng nhưng đã cứu được một sinh mạng.Hành vi điều khiển xe lao xe lên vỉa hè đâm vào gốc cây được thực hiện trong tình thếcấp thiết, do đó không phải là vi phạm hành chính
- Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước,của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hay của người khác mà chống trảlại một cách cần thiết, người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Chẳng hạn,hành động chống trả và gây thiệt hại về sức khoẻ cho người đang tấn công mình hay tấncông người khác Phòng vệ chính đáng không phải là vi phạm hành chính
- Hành vi của một người gây thiệt hại cho xã hội nhưng do sự kiện bất ngờ, tức làtrong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả củahành vi đó, thì không phải là vi phạm hành chính Chẳng hạn, người lái xe ô tô trênđường không vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (có bằng lái xe, trongtình trạng tỉnh táo, không say rượu hoặc say do dùng một chất kích thích mạnh khác,chạy đúng tốc độ cho phép, đúng phần đường…), bất ngờ có người bên đường chạy rađâm vào xe, bị xe hất ngã, bị thương - tai nạn bất ngờ, không do người lái xe gây ra.Hành vi làm người khác bị thương do sự kiện bất ngờ không phải là vi phạm hành chính
- Các hình thức xử phạt áp dụng đối với người chưa thành niên
Cảnh cáo: Là hình thức phạt chính, áp dụng độc lập đối với vi phạm hành chính
do người chưa thành niên từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện với lỗi cố ý
Trang 11Phạt tiền: Là hình thức phạt đối với mọi vi phạm hành chính do người từ đủ 16tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện Người chưa thành niên bị áp dụng hình thức phạt tiền thìmức phạt tối đa chỉ bằng ½ mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên.
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính: Là việc sung vào ngân sáchnhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính,được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do người chưa thành niên thựchiện, với lỗi cố ý
- Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên
Biện pháp nhắc nhở: Nhắc nhở là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính
để chỉ ra những vi phạm hành chính do người chưa thành niên thực hiện, được thực hiệnđối với người chưa thành niên vi phạm hành chính mà theo quy định của pháp luật phải
bị xử phạt vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện: vi phạm hành chính theo quy định
bị phạt cảnh cáo, người chưa thành niên vi phạm đã tự nguyện khai báo, thành thật, hốilỗi về hành vi vi phạm của mình
Biện pháp quản lý tại gia đình: Quản lý tại gia đình là biện pháp thay thế xử lý
vi phạm hành chính áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
2 lần trở lên trong 6 tháng có hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự côngcộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện: người chưathành niên đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình, có môitrường thuận lợi cho việc thực hiện biện pháp này, cha mẹ hoặc người giám hộ có đủđiều kiện thực hiện việc quản lý và tự nguyện nhận trách nhiệm quản lý tại gia đình