Nói một cách khác tìm hiểu làng xã cổ truyền Việt Nam không chỉ để giải quyết những vấn đề thuộc về quá khứ, mà trên một mức độ không kém phần quan trọng trong công cuộc xây dựng và cải
Trang 1
GIÁO TRÌNH
Một số vấn đề về LÀNG XÃ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
(Chuyên đề dành cho sinh viên ngành Lịch sử)
NGUYỄN CƠNG CHẤT
2002
Trang 2MỤC LỤC
Lời Nói Đầu 3
Chương I 5
I LÀNG XÃ VÀ CÁC LOẠI HÌNH LÀNG XÃ 5
1 Làng, xã, thôn 5
2 Phân loại làng xã 5
II TÊN LÀNG 6
III NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 7
1 Nguồn gốc lịch sử 7
2 Sự tái lập làng xã 11
Chương II 12
I KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT 12
1 Sản xuất tiểu nông 12
2 Chế động sở hữu ruộng đất 13
II.THƯƠNG NGHIỆP LÀNG XÃ 20
1.Chợ địa phương (chợ phiên và phố nhỏ) 20
2 Thị trấn 22
3.Làng Buôn bán 23
4 Thị tứ 24
III THỦ CÔNG NGHIỆP LÀNG QUÊ 24
1 Làng nghề 24
2 Phường hội 25
Chương III 27
I CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC XÃ HỘI 27
1 Tập hợp người theo địa vực ngõ, xóm 27
2 Tổ chức dòng họ 28
3 Tập hợp người theo tổ chức phường hội 30
4 Tập hợp người theo giáp 30
II TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ 32
III HƯƠNG ƯỚC 34
1 Nội dung hương ước 34
2 Vai trò và tác động của hương ước trong quản lý làng xã .37
Chương IV 39
I VÀI NÉT VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO TRONG LÀNG XÃ VIỆT NAM 39
1 Đình làng và tín ngưỡng thành hoàng 39
2 Thờ cúng tổ tiên .40
II NHO, PHẬT, ĐẠO DUNG HỢP ĐỒNG LƯU 41
III LỄ HỘI VỚI “VĂN HOÁ TÂM LINH” TRONG LÀNG VIỆT 43
THƯ MỤC SÁCH THAM KHẢO 46
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta vốn là nước nông nghiệp cổ truyền, và gắn kết với nó là làng xã cổ truyền Do đó trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định vị thế chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Ngày nay chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trong đó công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn giữ vị trí trọng yếu Vì vậy việc nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của làng xã không chỉ có ý nghĩa tìm hiểu lịch sử truyền thống, mà còn là một trong những vấn đề thực tiễn rất bức xúc của cách mạng nước ta Nói một cách khác tìm hiểu làng xã cổ truyền Việt Nam không chỉ để giải quyết những vấn đề thuộc về quá khứ, mà trên một mức độ không kém phần quan trọng trong công cuộc xây dựng và cải tạo nông thôn mới, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa văn minh hiện đại với bản sắc văn hóa truyền thống xóm làng
*
* *
Làng xã Việt Nam – một thực thể xã hội - một đối tượng khoa học, từ hàng trăm năm qua đã được nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Từ cuối thế kỷ trước, có thể bắt đầu từ năm 1882 khi Henry Revie tiến hành cuộc chiến tranh đánh chiếm Bắc kỳ, thì các học giả người Pháp đã chú ý tìm hiểu làng xã Việt Nam Mục đích của học là cung cấp những hiểu biết về xã hội nước ta cho chính quyền thực dân Pháp
Nửa trước của thế kỷ thứ XX, nhiều tác phẩm của người Việt đã đề cập đến làng xã Việt Nam rất phong phú và sâu sắc như Việt Nam phong tục (1945) của Phan Kế Bính, một số bài viết của Nguyễn Văn Huyên và của một số nhà nghiên cứu trong Trường Viễn Đông bác cổ (EFEO) Ngoài ra còn có một số học giả người Pháp như Y Henry, P Gourou… ý kiến chung của học là phê phán làng xã, đặc biệt
là phong tục tập quán Đáng chú ý là tác phẩm “Vấn đề dân cày”(1937) của Qua Ninh và Vân Đình đã nêu lên cái “mục nát phải tẩy uế” của chế độ làng xã
Từ cách mạng tháng Tám về sau, công việc nghiên cứu về làng xã được
tiếp tục mở rộng Những công trình nghiên cứu / khảo cứu như: “L’economic commuralteste du Viet Nam” (Nền kinh tế làng xã) của Vũ Quốc Thúc (1950) hay như “Tín ngưỡng Việt Nam”(1967), “Hội hè đình đám”(1969) của Toan Ánh, “Xã thôn Việt Nam”(1959) của Nguyễn Hồng Phong… và nhất là hai tập kỷ yếu “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử” (1977 và 1978), kết quả của hai cuộc hội thảo lớn về
làng xã đã dem lại một lối nhìn, một cách nghĩ suy đánh giá đúng đắn về vai trò của làng xã, của nông dân trong tiến trình của lịch sử Việt Nam, cũng như cách tiếp cận về tất cả các mặt: hạ tầng và thượng tầng, kinh tế và chính trị, văn hoá vật chất và văn hóa tinh thần, hệ tư tưởng
Đáng lưu ý trong những thập niên gần đây, nhiều công trình khoa học lớn của những bậc thầy – chuyên gia về làng xã cổ truyền Việt Nam được công bố như :
Trang 4“Chế độ ruộng đất Việt Nam” – Tập 1, 2 của Trương Hữu Quýnh; “Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền” của Trần Từ; “Làng xã Việt Nam – một số vấn đề kinh tế – văn hóa – xã hội” của GS Phan Đại Doãn; “Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII – XIX” của PGS – TS Nguyễn Quang Ngọc; “Lệ làng phép nước” của
TS Bùi Xuân Đính… đã phản ánh khá đầy đủ về kết cấu kinh tế, tổ chức vận hành xã thôn và đời sống văn hóa tinh thần (phi vật thể) của làng xã
Làng xã là một đối tượng nghiên cứu của khoa học lịch sử, vừa phong phú, vừa phức tạp
Nông thôn là địa bàn trọng yếu trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay; nông dân là đối tượng, đồng thời cũng là lực lượng chủ yếu trên mặt trận công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Vì vậy, việc hiểu biết nông thôn, nông nghiệp, hiểu biết nông dân một cách cụ thể là điều hết sức quan trọng không chỉ của bộ môn khoa học lịch sử mà của một số bộ môn khoa học Xã hội – Nhân văn khác
Muốn hiểu biết hiện tại, cần nắm vững quá khứ, hiểu biết quá khứ càng sâu
sắc thì nhận thức hiện tại càng chính xác, là mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại Ở nước ta, do điều kiện phát triển của thời đại ngày nay cho phép, xây dựng chủ nghĩa xã hội, không phải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nên không ít những di sản qúa khứ vẫn chồng chéo đan xen với hiện tại Trên ý nghĩa này mà nói, quá khứ
cũng là hiện tại, làng xã là vấn đề của thực tiễn hôm nay
Quá khứ và hiện tại: “Chúng ta từ bỏ di sản nào trên con đường “xây dựng nông thôn mới”
Trang 5CHƯƠNG I NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
CỦA LÀNG XÃ VIỆT NAM
I LÀNG XÃ VÀ CÁC LOẠI HÌNH LÀNG XÃ
1 Làng, xã, thôn
Cho đến nay, khi tìm hiểu xã hội nông thôn Việt Nam, người ta thường hay gặp những khái niệm như làng, xã Các nhà Sử học và Dân tộc học vẫn cố gắng đi tìm những thông số cơ bản, đặc trưng của “khái niệm” này, nhưng giữa các nhà nghiên cứu vẫn chưa hoàn toàn có ý kiến thống nhất
- Chúng tôi cho rằng làng Việt là một sản phẩm được hình thành từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt Làng từ một cộng đồng tụ cư trở thành một đơn
vị kinh tế – xã hội hoàn chỉnh; cư dân trong cộng đồng làng liên kết với nhau trên
cơ sở quan hệ địa vực (gắn với một không gian xã hội cụ thể) kết hợp với quan hệ huyết thống (gia đình và dòng họ) và các quan hệ khác như quan hệ nghề nghiệp, lớp tuổi, vị thứ xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo Nhận xét này, không trái với ý kiến của
GS Từ Chi: “làng xã là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng” hay như ý kiến của GS Phan Đại Doãn: “làng là một điểm dân cư, một hình thức công xã nông thôn, có cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu tổ chức xã hội riêng, lệ tục riêng… rất chặt chẽ và hoàn chỉnh”
- Xã là một đơn vị hành chính cấp cơ sở của nhà nước phong kiến ở vùng nông thôn Nói một cách giản lược; xã là cộng đồng dân cư theo tổ chức hành chính Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trước năm 1945, nhà nước phong kiến ngày càng can thiệp sâu vào làng, biến từng đơn vị dân cư – xã hội ấy thành đơn vị hành chính cấp cơ sở theo kiểu “nhất xã nhất thôn” (mỗi xã gồm một làng), hay “nhất xã nhị thôn hoặc tam thôn” (xã gồm 2 - 3 làng…) Như vậy chính quá trình can thiệp của Nhà nước vào làng, dần dần biến làng trở thành đơn vị hành chính cấp cơ sở
2 Phân loại làng xã
Làng Việt trải qua một quá trình tồn tại phát triển lâu dài theo sự mở mang bờ cõi của đất nước và những biến động của tự nhiên và xã hội Người ta có thể phân loại làng xã theo các loại hình sau đây:
1- Theo thời gian hình thành
2- Theo vùng địa lý 3- Theo nghề nghiệp 4- Theo phương thức thành lập 5- Theo tôn giáo
Nhưng theo GS Phan Đại Doãn, cho đến nay hầu như chưa có một công trình nghiên cứu hình loại học (Typologie) về làng xã Việt Nam Chưa
Trang 6có nhà nghiên cứu nào đề cập đến quá trình phát triển “điểm dân cư” làng qua các thời kỳ lịch sử:
+ Thời dựng nước + Thời Bắc thuộc + Thời Đại Việt + Và từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX (với bao biến động thăng trầm của lịch sử dân tộc)
+ Cải cách ruộng đất (1955 – 1956) và hợp tác hóa nông nghiệp + Thời kỳ đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Về lịch sử thay đổi của làng xã, có người cho rằng ít ra nó cũng có
ba lần biến cách: Thế kỷ XV khi chế độ quân điền được thực hiện; Cuối thế kỷ XIX khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trên nước ta; Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cải cách ruộng đất đã làm thay đổi hẳn cơ chế làng xã, tác động mạnh vào tổ chức cổ truyền này
Có ý kiến lại nêu rõ chúng ta cần phân biệt làng Bắc Bộ, làng Trung Bộ, và làng Nam Bộ Sự phân biệt như vậy dựa vào lịch sử và hoàn cảnh địa lý (theo ý kiến của chúng tôi là cần thiết và phù hợp với thực tế xã hội) Rõ ràng vùng đồng bằng Bắc Bộ là nơi đã hình thành những điểm dân
cư đầu tiên của người Việt Từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào thì làng Việt hình thành muộn hơn, và muộn hơn nữa là làng xã ở Nam Bộ (do tiến trình khai khẩn và khai chiếm, mở rộng bờ cõi về phương Nam) Thời gian hình thành sớm muộn khác nhau đã để lại những dấu ấn không nhỏ trong làng xã người Việt của các vùng, tạo ra những yếu tố – theo GS Trần Quốc Vượng
– là “ khu biệt văn hóa” trong tổng thể “ không gian văn hóa và thời gian văn hóa Việt Nam… một Việt Nam thống nhất trong đa dạng”
II TÊN LÀNG
Có nhiều ý kiến cho rằng vào thời kỳ dựng nước, chắc chắn ở Việt Nam đã hình thành nhiều đơn vị tụ cư với những tên gọi riêng biệt nằm trong 15 bộ của nước Văn Lang Tới thời kỳ Bắc thuộc, chính quyền phong kiến phương Bắc đã với tay sâu vào trong làng xã người Việt Chính điều đó đã khiến họ phải làm một việc là dịch âm tên đất, tên làng từ tiếng Việt cổ sang tiếng Hán Do sự khác biệt về ngôn ngữ, ta có thể khôi phục tên cũ của làng xã, và qua đó đoán định được thời gian hình thành làng xã Ví dụ như
trong các âm cổ của tiếng Việt có những phụ âm như tl, bl, kl …, do vậy
làng Dầu ở Hà Bắc ngày nay có tên cổ là BLâu, được phiên âm tiếng Hán là Phù Lưu Làng Trèm có tên cổ là TLem, được phiên âm tiếng Hán là Từ Liêm
Làng là cộng đồng tụ cư dân sự, xã là chính quyền cơ sở Làng xã thường có hai tên gọi Tên Hán – Việt hay tên chữ được dùng làm tên chính thức trong hệ thống quản lý nhà nước; tên Nôm, còn gọi là tên tục là phổ
Trang 7biến trong ngôn ngữ dân gian Hai loại tên này tồn tại và duy trì cho đến ngày nay
Ví dụ: Đơ Thao – Triều Khúc (Thanh Trì – Hà Nội)
Làng Khuốc – Cổ Khúc (Thái Bình) Tên Nôm có nhiều nghĩa, có nghĩa phản ánh cảnh quan địa hình, địa vật như Kẻ Lẫm (Thái Bình) là nơi có kho thóc, Kẻ Chắm (Hải Dương) là nơi có địa hình trũng thấp thường bị ngập úng Kẻ Đụn (Nam Định) cũng là nơi có kho tàng dự trữ thóc lúa
Có tên Nôm phản ánh nghề nghiệp như Nủa Cháng hay Cháng thôn (Hà Tây) có nghề mộc Ngoài ra nó còn phản ánh điều kiện tự nhiên, đặc sản của địa phương như Đàm (nước) có Côi Đàm (quê hương của Ninh Tốn – Tam Điệp – Ninh Bình), Trì (ao) có Mễ Trì (Hà Nội), Diêm (muối) có Diêm Điền ở Thái Bình
Theo nhận xét của GS Phan Đại Doãn thì những làng có tên Nôm thường là những làng xuất hiện sớm vào thời Lý – Trần Làng xã thuộc huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình được thành lập vào đầu thế kỷ thứ XIX không có tên Nôm Nói chung tên Nôm thường xuất hiện trước, nó gắn liền với thời điểm tụ cư hình thành cộng đồng dân sự Còn tên Hán – Việt trong ghi chép các văn bản quản lý hành chính, thường xuất hiện sau
Nhiều tên làng Việt từ Quảng Bình trở ra Bắc còn có âm Xá Chẳng hạn riêng ở tỉnh Thái Bình hiện nay đã có tới 82 làng mang tên làng có âm Xá mà phần nhiều mang tên dòng họ như Đoàn Xá, Nguyễn Xá, Lưu Xá … mà chủ yếu ở Đông Hưng, Hưng Xá và Quỳnh Phụ Có ý kiến cho rằng, có thể từ thời kỳ Bắc thuộc đến thế kỷ XI – XIV, trên các vùng đất cao của tỉnh này, các dòng họ như họ Nguyễn, họ Đoàn, họ Lưu … tổ chức khẩn hoang hình thành các cộng đồng lấy tên dòng họ mình Các cộng đồng này xây dựng và duy trì trên cơ sở quan hệ huyết thống là chủ yếu
Bên cạnh những tên làng – nét văn hóa như đã trình bày, còn có nhiều tên làng còn lưu lại đến ngày nay vẫn chưa được các nhà nghiên cứu làm rõ nghĩa, ví như làng Diếm, làng Mèn (Bắc Ninh), làng Khuốc (Thái Bình), làng Rỗ (Đông Anh), Vụi, Sủi, Đuống, Đìa, Sơn (Gia Lâm – Hà Nội)… Nhưng trên góc độ văn hóa dân tộc thì “tên làng – nét văn hóa truyền thống của người Việt”
III NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Trang 8dân cư từ bỏ thị tộc của mình đi nơi khác “kiếm ăn” Bộ phận cư dân phân ly của các thị tộc khác nhau đã tập hợp lại trên một địa điểm mới, tạo nên một công xã nông thôn mới Dĩ nhiên công xã nông thôn mới này không còn giữ nguyên nguyên tắc huyết thống – nguyên tắc duy nhất để kết nối các cá nhân và gia đình, mà nó được bổ sung bằng một quan hệ mới : quan hệ láng giềng
Công xã nông thôn – cơ sở ban đầu của làng xã, là một tập hợp dân
cư dựa trên hai thành tố: cộng cư theo huyết thống và cộng cư theo địa vực
cư trú
Có ý kiến khác lại cho rằng làng xã Việt Nam không phải là sự phân hóa của thị tộc, bộ lạc mà thành, cũng không phải là sự tập hợp dân cư của những thủ lĩnh quân sự Làng Việt được hình thành trong quá trình liên hiệp tự nguyện giữa những người nông dân lao động trên con đường chinh phục những vùng đất mới để trồng trọt Ở nơi ấy, họ phải chiến thắng đầm lầy, rừng rậm, chiến thắng lũ lụt và đẩy lùi biển cả Ở đó, họ phải cố kết với nhau chiến đấu liên tục và bền bỉ để chống thiên tai, ngoại xâm nhằm bảo đảm cuộc sống và an ninh chung trong hoàn cảnh tự nhiên và xã hội đầy biến động
Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu thì ít ra vào cuối thời kỳ Hùng Vương, trên đất Việt Nam đã tồn tại phổ biến một loại hình làng định cư công xã nông thôn Thành viên công xã dựa trên những tục lệ bình đẳng, dân chủ trên cơ sở kinh tế “ruộng Lạc” – ruộng công xã được chia đều cho
“dân Lạc”
Đứng đầu công xã là Bồ Chính (già làng), và bên cạnh ông ta là Hội đồng công xã gồm những người do các thành viên công xã bầu chọn để đảm nhận chức năng tổ chức và giải quyết những vấn đề có liên quan đến sinh hoạt cộng đồng Và hoặc vì mục đích quân sự, hoặc vì tín ngưỡng, cũng có thể vì mục đích thủy lợi mà liên minh giữa các công xã xuất hiện Trên cơ sở đó nhà nước sơ khai của người Việt đã xuất hiện
Trong thời kỳ Bắc thuộc, tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam có nhiều biến chuyển Làng Việt Nam, mà đặc biệt là vùng đồng bằng Bắc Bộ về khách quan cũng có biến chuyển theo, nhất là đến thế kỷ VII, Khâu Hòa Giao Châu Đại tổng quản của nhà Đường) đã thi hành chính sách khuôn làng Việt vào mô hình thống trị của Trung Hoa; đặt ra các đơn vị hành chính
như hương, xã, huyện, châu dưới sự cai quản trực tiếp của An Nam đô hộ
phu.û
Theo An Nam chí Nguyên thì lúc đó hương có tiểu hương (từ 70 đến
150 hộ) và đại hương (từ 160 đến 540 hộ); xã cũng có tiểu xã (từ 10 đến 30 hộ) và đại xã (từ 40 đến 60 hộ) Với quy mô như thế, thực tế Khâu Hòa đã
lấy làng Việt truyền thống làm đơn vị xã
Vào cuối thời Bắc thuộc, nhân cơ hội nhà Đường đang đứng trước nguy cơ sụp đổ, họ Khúc được sự ủng hộ của dân chúng đã nổi dậy lật đổ chính quyền đô hộ, xây dựng chính quyền tự chủ Về mặt hành chính, họ Khúc đã tổ chức một hệ thống từ trên xuống dưới, từ trung ương đến lộ –
Trang 9phủ – châu – giáp và cuối cùng là xã Xã được khẳng định là đơn vị hành chính cấp cơ sở với chức chánh lệnh trưởng và tá lệnh trưởng
Một thời gian dài sau khi nước ta giành được độc lập, công xã nông thôn vẫn tồn tại phổ biến và vẫn giữ vai trò hạ tầng cơ sở bền vững của xã hội Tổ chức chính quyền Ngô, Đinh, Tiền Lê, đã chấp nhận việc lấy làng truyền thống làm đơn vị hành chính cấp cơ sở
Sang thời Lý, đây là giai đoạn được coi là bước mở đầu cho quá trình chuyển biến lâu dài từ công xã nông thôn sang làng phong kiến Theo các
sách Việt sử lược và Đại việt sử ký toàn thư, thì dưới thời Lý, lần đầu tiên ở
Việt Nam xuất hiện các tên thôn với tư cách như những đơn vị tụ cư dưới hương, ấp, mà theo nhiều nhà nghiên cứu đó chính là làng hay tương đương với làng
Vào đầu thời Trần, năm 1242 Trần Thái Tông đã tiến hành điều
chỉnh đơn vị làng – xã thành các xã nhỏ và đặt chức Đại tư xã và Tiểu tư xã
với mục đích đưa việc quản lý làng xã, quản lý ruộng đất và quản lý dân đinh đi vào quy củ hơn Nhưng không hiểu vì lý do gì mà năm Quang Thái
10 (1397) vua Trần Thuận Tông lại “ra lệnh bãi chức đại, tiểu tư xã, tiểu toát”
Vào thế kỷ XV, sau khi chiếm được nước ta, nhà Minh muốn áp đặt trọn vẹn mô hình nông thôn Trung Quốc vào nông thôn Việt Nam Chúng
tiến hành chia cắt địa bàn nông thôn Việt Nam ra từng lý Mỗi lý gồm 110
hộ, và đứng đầu mỗi lý là lý trưởng Không bao lâu, ngay sau chiến thắng giặc Minh tháng 11 năm 1428, Lê Lợi đã tiến hành tổ chức lại làng xã và phân ra thành 03 loại theo số đinh:
- Loại nhỏ: từ 10 đến 49 đinh
- Loại trung bình: từ 50 đến 99 đinh
- Loại lớn: từ 100 đinh trở lên Trên cơ sở phân loại như vậy, Lê Lợi đã đặt ra các chức xã quan với chức vụ và trách nhiệm theo từng loại nhỏ, lớn
Điều đáng chú ý là do tình hình hậu quả của chiến tranh còn rất nặng nề, dân phiêu tán, ruộng hoang nhiều Để giải quyết tình trạng trên, Nhà nước đã khuyến khích khẩn hoang lập làng mới Lê Thái tổ đã chấp nhận và cho phép những đơn vị tụ cư dù chỉ có 10 đinh cũng cho lập một xã Trong những trường hợp như vậy, ở một số nơi, xã thực tế chỉ là một thôn và thậm chí là thôn rất nhỏ
Giữa năm 1490, Lê Thánh Tông ban hành thể lệ tách xã cũ lập xã mới Vua đặt ra thể lệ lập tiểu xã, trung xã và đại xã Trên phạm vi cả nước đã có 6851 xã
Về lịch sử thay đổi của làng xã, có người cho rằng ít ra nó cũng có ba lần biến cách: mà biến cách lần một là vào thế kỷ XV khi chế độ quân điền được thực hiện Theo đánh giá của GS Trương Hữu Quýnh: chính sách quân điền thời Lê Sơ đã biến làng xã tương đối tự trị trước đây trở thành một đơn
vị kinh tế phụ thuộc nhà nước phong kiến Thành viên công xã nông thôn trở thành những tá điền phụ thuộc phong kiến, và chính sách quân điền đã góp
Trang 10phần quan trọng vào việc xác lập những quan hệ sản xuất phong kiến ở nông thôn vào nửa sau thế kỷ XV
Từ thế kỷ XVI – XVIII, là giai đoạn lịch sử phức tạp Những cuộc chiến tranh xâm lược tạm chấm dứt Thay thế vào đó là những cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến và chiến tranh nông dân Nhà nước trung ương tập quyền suy yếu, đất nước bị chia cắt, hỗn chiến phong kiến triền miên và nông thôn Việt Nam thực sự tuột khỏi tay quyền kiểm soát chính quyền phong kiến Lê – Trịnh Dân chúng làng xã phiêu tán nhiều và hiện tượng “phép vua thua lệ làng” là vấn đề nổi cộm Xu hướng tái lập quyền tự trị của làng xã xuất hiện và phát triển
Cho đến thế kỷ XVIII, phong trào nông dân Tây Sơn phần nào đã khắc phục được những hiện trạng trên Vốn là thủ lĩnh phong trào nông dân trở thành hoàng đế Quang Trung, ngay từ ngày đầu tổ chức vương triều, ông đã cương quyết “ổn định lại trật tự xã thôn” như đưa dân phiêu tán trở về quê sản xuất và thanh toán tình trạng ruộng đất bỏ hoang … Nhưng tiếc rằng chủ trương này vừa mới được triển khai thì ông sớm qua đời Người kế nghiệp ông đã không đủ tài năng và bản lĩnh để thực hiện chủ trương đó nên tình hình không những không được cải thiện mà thậm chí ngày một xấu đi
Trong hai thế kỷ XVII, XVIII những người dân Việt ở miền Trung đã đến khai phá những vùng đất mới ở phía Nam Tuy làng Việt ở miền Nam được thành lập sau các làng ở miền Bắc, miền Trung nhưng ngay từ đầu các chúa Nguyễn và sau này nhà Nguyễn đã can thiệp trực tiếp vào việc thành lập và tổ chức làng Sau khi đánh bại Tây Sơn, thiết lập nên vương triều Nguyễn, các vua Nguyễn đều cố gắng chấn chỉnh hương thôn trong toàn quốc Từ sự chỉnh đốn lại phong tục ở hương thôn của Gia Long (1804) đến quyết định tiến hành cải tổ bộ máy hành chính xã thôn của Minh Mệnh trong việc “khép chặt lại tính tự trị của làng xã” để nâng cao sức tập quyền của nhà nước phong kiến
Cuối thế kỷ thứ XIX, khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trên đất nước ta Trong thời gian đầu chúng đã lợi dụng cơ chế và bộ máy sẵn có của làng xã nước ta để thực hiện sự cai trị Nhưng sau nửa thế kỷ thống trị nước
ta, thực dân Pháp nhận thấy làng xã đã trở nên bất lợi cho chính quyền thực dân Tính độc lập, tính tự trị của làng xã đã trở thành một pháo đài chống Pháp và chúng quyết định tiến hành “cải lương hương chính”, bắt đầu được thử nghiệm ở Nam Kỳ vào năm 1904, ở Trung Kỳ vào năm 1942, còn ở Bắc Kỳ vào những năm 1921, 1941 Đây được coi là biến cách lần thứ hai của làng xã cổ truyền Việt Nam
Biến cách lần thứ ba đối với làng xã cổ truyền Việt Nam là cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 – cải cách ruộng đất Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cải cách ruộng đất làm thay đổi hẳn cơ chế làng xã, tác động mạnh vào cơ chế cổ truyền này, để tạo ra những nội lực mới, đổi thay mới trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trang 112 Sự tái lập làng xã
Tái lập làng xã được coi là hiện tượng đặc thù nhưng rất phổ biến ở Việt Nam
Ở Châu Âu vào thời suy vong của chế độ phong kiến, cũng là lúc hình thành và phát triển quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Đó là lúc có hiện tượng làng bị tan rã, nông dân ra thành phố rồi vào các công xưởng, trang trại, do đó làng tan đi mà không khôi phục lại Ở Việt Nam trong các thế kỷ XVI - XVIII, chiến tranh Lê – Mạc, Trịnh Nguyễn rồi nạn đói kém, phiêu tán làm cho số làng tan rã khá nhiều, năm 1730 có 527 làng, năm
1741 có 3691 làng Theo sử gia Ngô Thì Sĩ, số làng phiêu tán, trừ số chết hoặc lưu lạc quá xa, còn phần nhiều trở về quê cũ, khôi phục làng xã Chiếu khuyến nông của vua Quang Trung cũng kêu gọi nông dân trở về làng cũ Sang thế kỷ XIX Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ tổ chức khai hoang cũng lập lại làng Những làng mà Nguyễn Công Trứ thành lập ở các huyện Tiền Hải, Kim Sơn và các tổng Hoành Thu, Ninh Nhất, đều theo cơ cấu của làng xã cổ truyền Đến cuối thế kỷ XIX, Hoàng giáp Phan Văn Nghị tổ chức khai hoang lập tổng Sĩ Lâm ở huyện Đại An ( nay là Nghĩa Hưng – Nam Định) Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Tiến sĩ Đỗ Tông Phát thành lập hai tổng Quế Hải và Tân Khai ( Hải Hậu – Nam Định) Những làng của Phan Văn Nghị và Đỗ Tông Phát tổ chức cũng vẫn theo mô hình truyền thống của làng xã cũ
Sự tái lập làng xã ở thế kỷ thứ XVIII, XIX và đầu thế kỷ thứ XX là nguyên do làng xã cổ truyền vẫn còn có vai trò trong sự phát triển của sức sản xuất – sức sản xuất nhỏ của tiểu nông cá thể Làng xã trong thời kỳ này vẫn chưa hết vai trò góp phần tổ chức sản xuất Marx đã nhận định: Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả các lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển vẫn chưa phát triển Nhận định đó đã giúp chúng ta hiểu rõ làng xã là tổ chức của sản xuất nhỏ, khi sản xuất nhỏ còn giữa vai trò chủ đạo, chi phối trong xã hội, thì làng xã vẫn còn tồn tại và còn có vai trò lịch sử
Trang 12CHƯƠNG II KẾT CẤU KINH TẾ
I KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT
1 Sản xuất tiểu nông
Việt Nam thời cổ trung đại vốn là một nước lấy kinh tế nông nghiệp làm ngành kinh tế chính, vì vậy sản xuất tiểu nông là cơ sở của chế độ phong kiến Việt Nam Trong lịch sử Việt Nam, sản xuất nhỏ mà chủ yếu là tiểu nông có vai trò cực kỳ quan trọng (cho đến cả ngày nay vẫn đóng vai trò quan trọng) Trải qua bao thăng trầm của đất nước, chiến tranh, thiên tai gần như là hiện tượng thường xuyên, nhưng chính nhờ nền sản xuất nhỏ nên đã khắc phục được những trở ngại, khó khăn, phục hồi và phát triển kinh tế Nói cách khác, nếu không nhờ một nền sản xuất nhỏ tiểu nông và tái sản xuất tiểu nông thì nền kinh tế Việt Nam không thể được phục hồi và phát triển sau những biến động của tự nhiên và thăng trầm của lịch sử dân tộc
Trước hết nói về nền kinh tế nông nghiệp
Việc mở rộng diện tích canh tác là điều kịên rất quan trọng của kinh tế tiểu nông để tái sản xuất mở rộng Nhân dân ta cũng như các triều đại phong kiến trước đây luôn luôn chú trọng công cuộc khai hoang lập làng và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng mà chủ yếu là tạo ra nền nông nghiệp thâm canh
Nông nghiệp thâm canh lúa nước khác nhiều với nông nghiệp lưu canh và luân canh đại mạch ở các nước phương Tây Người tiểu nông ở đồng bằng Bắc Bộ có trình độ trồng lúa rất cao (không thua kém bất cứ cư dân trồng lúa ở các nước khác trên thế giới: nếu cùng một phương tiện sản xuất) Về phương pháp và tri thức nông nghiệp họ đã đạt đến trình độ nhất định Nông dân đã cố gắng thường xuyên để đúc rút kinh nghiệm về tri thức nông nghiệp, về trị thủy và thủy lợi, về chọn giống và làm đất gieo trồng
Chính sự đúc rút kinh nghiệm nông nghiệp để đưa đến kinh nghiệm - tri thức thâm canh có tính qui luật”: nước, phân, cần, giống (trình độ nhận thức tương đối hiện đại và khoa học), và tri thức thâm canh nông nghiệp là một kho tàng quý báu mà các nhà nông học đang tập hợp, hệ thống, đến ngày nay vẫn còn có nhiều tác dụng tích cực
Phương pháp thâm canh nông nghiệp hết sức tỉ mỉ, từng động tác kỹ thuật không phức tạp nhưng lại tinh vi, chính xác và phải sắp xếp hợp thời, đúng lúc Đó là một sáng tạo to lớn trong một cố gắng lớn lao, trong một môi trường sinh thái có nhiều bất lợi trong nông nghiệp
GS Phan Đại Doãn đãù nhận định rằng: nông dân Việt nam có ý thức rất cao vai trò sức người, vai trò chủ quan “nhân định thắng thiên”, trong mọi hoàn cảnh, trong tất cả các môi trường Hệ thống đê đập, sông biển gần
Trang 133000 km, hệ thống mương máng kênh rạch và hệ thống ruộng bậc thang cho lúa lên đồi, lên núi là những cố gắng vĩ đại Người nông dân Việt Nam đi đâu, ở đâu cũng tìm cách trồng trọt, tranh thủ đất, tranh thủ thời gian Luôn luôn tổng kết tri thức nông nghiệp, có phương pháp canh tác tinh vi, tỉ mỉ và nâng cao hiệu quả sử dụng sức người, sức của là ba điểm lớn trong nông nghiệp truyền thống Việt Nam “Và có lẽ chính vì vậy cho nên tái sản xuất
ra sức sản xuất thì trước hết là tái sản xuất sức lao động – bởi vì tiểu nông trồng lúa nước cần tái sản xuất ra sức lao động nhiều hơn là tiểu nông trồng mạch … vì thế trong lịch sử Việt Nam xu thế tăng nhân khẩu là không ngừng, tạo nên hiện tượng nhân khẩu thừa tiềm tàng rồi nhân khẩu thừa công khai”
2 Chế động sở hữu ruộng đất
Ruộng đất là tư liệu sở hữu cơ bản – chủ yếu của người nông dân Việt Nam
Nông thôn Việt Nam trước năm 1945 và cải cách ruộng đất chủ yếu có hai hình thức sở hữu ruộng đất đó là bộ phận ruộng đất công làng xã và bộ phận ruộng đất tư nhân Ngoài ra còn có bộ phận ruộng đất của các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo, các tổ chức xã hội khác …
2.1 Ruộng công
Theo các nhà nghiên cứu, ruộng đất công ở Việt Nam ra đời từ rất sớm Nhiều nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài đều nhận định rằng: trong điều kiện kinh tế canh tác nông nghiệp ruộng nước gặp nhiều khó khăn do thiên tai khắc nghiệt, do vậy ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, ngay từ đầu chế độ sở hữu bao trùm, chủ đạo là chế độ sở hữu công xã Điều này hoàn toàn đúng với nhận xét của Marx khi nghiên
cứu về phương Đông “Công xã là người sở hữu chân chính, không có sở hữu nào ngoài sở hữu về tập thể và đất đai”
Vào cuối thời Hùng Vương, công xã thị tộc dựa trên quan hệ huyết thống đã tan rã mạnh mẽ và công xã nông thôn dựa trên quan hệ láng giềng dần dần trở thành đơn vị và cơ sở xã hội phổ biến “dân Lạc”, “ruộng lạc” ghi chép trong thư tịch cổ có thể gợi ra những nhận xét lúc bấy giờ ruộng đất tư hữu chưa xuất hiện Ở những công xã toàn bộ ruộng đất đều là công điền, công thổ Dân Lạc chia đất công xã để cày cấy, nhưng bị Lạc hầu “ăn ruộng” “Ăn ruộng” ở đây là một hình thức bóc lột, có thể là cống nạp hay lao dịch, hoặc kết hợp cả cống nạp và lao dịch mà tài liệu ghi chép về thời Hùng Vương chưa làm sáng tỏ
Cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc đã ảnh hưởng rất nhiều đến chế độ sở hữu ruộng đất ở Việt Nam Ruộng đất tư xuất hiện, nhưng không vì thế mà lấn át quan hệ sở hữu ruộng đất công làng xã, và trên mức