Bẫy thu nhập trung bình và thực trạng tại VN Bẫy thu nhập trung bình và thực trạng tại VN Bẫy thu nhập trung bình và thực trạng tại VN Bẫy thu nhập trung bình và thực trạng tại VN Bẫy thu nhập trung bình và thực trạng tại VN Bẫy thu nhập trung bình và thực trạng tại VN
Trang 1I CÁC LÝ THUYẾT VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH
1 Định nghĩa quốc gia có thu nhập trung bình
Bẫy thu nhập trung bình (BTNTB) là tình trạng phát triển kinh tế của một quốc gia
đã đạt đến một mức thu nhập bình quân nhất định (do những lợi thế sẵn có) sẽ dậmchân tại mức thu nhập đấy
Theo Ngân hàng thế giới (WB), BTNTB xảy ra khi một nước bị mắc kẹt trong 42năm không vượt qua được ngưỡng thu nhập bình quân đầu người cơ bản từ 4000 -
6000 USD/năm mà nước này đạt được nhờ có nguồn tài nguyên và những lợi thếban đầu nhất định (chỉ có may mắn mà không có nỗ lực) Các nước bị rơi vàoBTNTB thường có tỉ lệ đầu tư thấp, ngành chế tạo phát triển chậm, các ngành côngnghiệp ít đa dạng và thị trường lao động kém sôi động
2 Lí thuyết của GS.Kenechi
GS Kenichi Ohno cho rằng bẫy thu nhập trung bình là một tình huống mà một quốc gia bị mắc kẹt tại mức thu nhập được quyết định bởi nguồn lực nhất định và lợi thế ban đầu và không thể vượt quá mức thu nhập đó Như một lẽ tất nhiên, bất
kỳ quốc gia nào, với xuất phát điểm là một nền kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác các nguồn lực sẵn có, xuất khẩu nông sản độc canh , nông nghiệp tự cấp tự túc , và mong chờ vào viện trợ, thì để tăng trưởng, quốc gia đó cần tiến hành công nghiệp hóa, quá trình công nghiệp hóa bắt kịp được gồm 4 giai đoạn sau:
Trang 2* Giai đoạn 1: Bắt đầu bằng sự xuất hiện ồ ạt của các công ty chế tạo có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI), thực hiện các hoạt động lắp ráp giản đơn hoặc chế biếncác sản phẩm công nghiệp nhẹ phục vụ xuất khẩu như dệt may, giày dép, thựcphẩm… Trong giai đoạn này, tất cả các hoạt động như thiết kế, công nghệ, sảnxuất và marketing đều do người nước ngoài hướng dẫn, nguyên vật liệu chính vàphụ tùng được nhập khẩu, còn quốc gia tiếp nhận đầu tư chỉ đóng góp nguồn laođộng giản đơn và đất công nghiệp Điều đó dẫn tới một mức giá trị nội tại rất nhỏ,
bị lấn át bởi giá trị do người nước ngoài tạo ra mặc dù công ăn việc làm và thunhập cho người nghèo được cải thiện
* Giai đoạn 2: Khi số vốn FDI đã được tích luỹ và quy mô sản xuất mở rộng,nguồn cung nội địa về phụ tùng và linh kiện bắt đầu tăng lên Điều này diễn ra mộtphần là do các nhà cung cấp FDI đầu tư vào và một phần là do sự ra đời của cácnhà cung cấp trong nước Các công ty lắp ráp trở nên cạnh tranh hơn và mối liênkết giữa công ty lắp ráp và nhà cung cấp bắt đầu xuất hiện Ngành công nghiệp nàytăng trưởng mạnh về lượng do khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào trong nướcgia tăng Sản xuất về cơ bản vẫn chịu sự quản lý và chỉ đạo của người nước ngoài
Trang 3nên giá trị nội tại tăng không nhiều Hiển nhiên, tiền lương và thu nhập trong nướccũng như vậy.
* Giai đoạn 3: Đây là giai đoạn nội lực hoá kỹ năng và tri thức thông qua tích luỹvốn con người trong ngành công nghiệp Lao động trong nước phải thay thế cholao động nước ngoài trong tất cả các lĩnh vực sản xuất bao gồm cả quản lý, côngnghệ, thiết kế, vận hành nhà máy, hậu cần, quản lý chất lượng và marketing Vì sựphụ thuộc vào người nước ngoài giảm nên giá trị nội tại tăng lên rõ rệt Quốc giatrở thành một nước xuất khẩu các sản phẩm chế tạo chất lượng cao, thách thứcnhững đối thủ cạnh tranh đi trước và xác lập lại vị trí của mình trên bức tranh côngnghiệp toàn cầu
* Giai đoạn 4: Quốc gia có năng lực tạo ra sản phẩm mới và dẫn đầu xu thế thịtrường toàn cầu
Trong 4 giai đoạn trên đây, GS Kenichi Ohno cho rằng với những lợi thế sẵn có vềtài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý…, mỗi quốc gia đều có thể chạm ngưỡng thunhập trung bình thấp ở ngay từ giai đoạn 1 và tăng trưởng đến mức thu nhập trungbình cao ở giai đoạn 2 Khi bước sang được giai đoạn 3, họ sẽ đạt mức thu nhậpcao Sẽ không có gì phải nói nếu quốc gia nào cũng vượt qua các giai đoạn đó mộtcách suôn sẻ Nhưng thực tế là có rất nhiều nước, sau khi vượt ngưỡng thu nhậpthấp lại tăng trưởng chậm lại và bị mắc kẹt ngay ở đó Họ trở thành nạn nhân của
“bẫy thu nhập trung bình” Nguyên nhân là do các quốc gia không thay đổi cơ cấucông nghiệp từ các ngành có hàm lượng công nghệ thấp sang các ngành có hàmlượng công nghệ cao bằng chính nguồn lao động nội địa (chuyển từ giai đoạn 2sang giai đoạn 3) Đó là điều dễ hiểu bởi sau khi vượt ngưỡng thu nhập thấp, mộtquốc gia sẽ mất dần các lợi thế sẵn có và vốn FDI bắt đầu chuyển sang các nướckém phát triển hơn nhưng có nhiều tài nguyên thiên nhiên hơn hoặc lao động giá rẻhơn Để tiếp tục tăng trưởng, buộc quốc gia đó phải hướng vào phát triển cácngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, là những ngành có tính cạnh
Trang 4tranh lớn Việc sử dụng lao động trong nước sẽ giúp nâng cao giá trị nội tại chonền kinh tế Tuy nhiên, sự thay đổi này sẽ có thể không thực hiện được do nhữngnguyên nhân chính sau:
* Nhân lực trong thời kỳ thu nhập thấp chủ yếu được khai thác ở phần thô (laođộng cơ bắp, thủ công) mà chưa được chú trọng về mặt kỹ năng, trình độ, dẫn đếnmặt bằng chất lượng kém Lao động sẽ không đủ khả năng để sáng tạo và sử dụngcông nghệ mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh
* Nền tảng khoa học công nghệ lạc hậu so với thế giới
* Hiệu quả sử dụng vốn kém gây lãng phí vốn, đồng thời làm giảm đi sức hấp dẫncủa nền kinh tế đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài
* Các nhà quản lý kinh tế vĩ mô có tư tưởng chủ quan, thỏa mãn Họ ngộ nhậnnhững thành quả đã đạt được là kết quả của sức mạnh nội lực nên không kịp thời
có các biện pháp, chính sách phù hợp với điều kiện và yêu cầu mới của nền kinh tế.Bốn nguyên nhân trên đây đã cản trở quá trình công nghiệp hóa, cũng như mở rộngđường dẫn nền kinh tế tự sa vào “bẫy thu nhập trung bình”
Như vậy, bẫy thu nhập trung bình xảy ra khi tăng trưởng tạo ra chỉ bằng may mắn(điều kiện tự nhiên) mà không bằng những nỗ lưc của doanh nghiệp và chính phủ.Tăng trưởng chỉ phụ thuộc vào những lợi thế sẵn có thì sớm hay muộn cũng đi đếnhồi kết thúc, năng lực cạnh tranh sẽ bị bào mòn trước khi đất nước đạt mức thunhập cao
Chương II: Thực Trạng bẫy thu nhập trung bình ở Thái Lan và Hàn Quốc 2.1 Thái Lan
Hình: Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế của Thái Lan, giai đoạn 1994- 2011 (đơn vị
0.1
Trang 5Nguồn: Somchai Jitsuchon (2012, tr 14)
Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, nền kinh tế Thái Lan phát triển mạnh mẽ Giaiđoạn 1963- 1993, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan luôn ở mức xấp xỉ 7%.Thái Lan đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong giai đoạn này như xóa nghèo(hơn 40% dân số Thái Lan đã thoát nghèo trong giai đoạn này), tăng phúc lợi xãhội, người dân được tiếp cận với các hàng hóa và dịch vụ công tốt hơn Trong đó,đáng kể đến là giai đoạn những năm 1980, nền kinh tế Thái Lan có sự phát triển ấntượng với tốc độ tăng trưởng gần 10% mỗi năm Tuy nhiên, kể từ sau cuộc khủnghoảng tài chính năm 1997 đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Langiảmmột cách đáng kinh ngạc xuống mức trung bình khoảng 4% mỗi năm Mặc dù ngày1/7/2011, Ngân hàng Thế giới đã thông báo Thái Lan với mức thu nhập 4.210USD/ người/ năm đã chuyển lên nhóm nước có thu nhập trung bình cao nằm trongnhóm các nước có mức thu nhập trung bình (điều kiện để được vào nhóm các nướcnày là có mức thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người/ năm từ 3.976 USDđến 12.275 USD ) nhưng để có thể đạt được mức thu nhập 10.000 USD/ người/năm, Thái Lan sẽ mất rất nhiều thời gian nữa
Sự tăng trưởng không bền vững và mức tăng trưởng thấp trong thời gian qua củanền kinh tế Thái Lan cho thấy khả năng nền kinh tế này đã rơi vào bẫy thu nhậptrung bình Một quốc gia có khả năng rơi vào bẫy thu nhập trung bình khi mà nókhông điều chỉnh mô hình và các chính sách phát triển để thích ứng với sự thay đổi
-10.5
Trang 6của môi trường bên trong và bên ngoài Khi áp điều này vào nền kinh tế Thái Lan,thực tế đã chỉ rõ rằng, đất nước này vẫn duy trì mô hình phát triển trong giai đoạnthoát nghèo, đó là sử dụng chính sách phát triển dựa vào lao động giá rẻ và nănglực đổi mới thấp Mô hình này đã không còn hiệu quả với Thái Lan do nhữngnguyên nhân sau:
Nguyên nhân của vấn đề này một phần do sự thay đổi về nhân khẩu học, tình trạngthị trường đào tạo kỹ năng không hoàn hảo mà cụ thể ở đây là cung không đáp ứngnổi cầu;
đã được khuyến khích phát triển trong thời gian qua nhưng tình trạng phát triểndựa vào sử dụng nguồn tài nguyên sẽ vẫn có những ảnh hưởng không tốt sau này;
cho đầu tư và phát triển của Thái Lan chỉ xấp xỉ 0,2% của GDP trong thời gian qua(Somchai, 2012).Các doanh nghiệp tư nhân phần nhiều không có khả năng cạnhtranh ở thị trường nước ngoài;
- Thứ tư là thể chế kinh tế còn nhiều vấn đề hạn chế mà thể hiện là độc quyền vẫntồn tại trong các doanh nghiệp Nhà nước, vẫn còn những luật lệ hạn chế sự cạnhtranh hoàn hảo trong một vài ngành quan trọng mà đáng kể nhất là ngành tài chính
và viễn thông; sự giậm chân tại chỗ của khu vực tư nhân, khu vực vốn đã có sựtăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn trước;chính sách tài khóa của Thái Lan cũng
là một rào cản lớn cho đất nước này trong quá trình phát triển bởi Chính phủ TháiLan thu thuế rất thấp, điều này hạn chế khả năng đầu tư của Chính phủ vào sự pháttriển cơ sở hạ tầng, hạn chế phát triển dài hạn;
- Thứ năm là không duy trì được sự ổn định về kinh tế vĩ mô Trước đây, sự ổnđịnh về kinh tế vĩ mô ở Thái Lan gắn với sự ổn định về tỷ giá hối đoái và chínhsách tài khóa khôn ngoan Hiện tại, chính sách sử dụng “hệ thống tỷ giá hối đoái
Trang 7được quản lý linh hoạt ”, thông qua nhiều cơ chế tác động, đã gây ra sự không ổnđịnh về kinh tế vĩ mô
Giải pháp của Thái Lan:
Thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình là một vấn đề đặt ra đối với Thái Lan Để có thể thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, Thái Lan xác định cần phải xây dựng được những tổ chức vững mạnh trong cả khu vực công và khu vực tư nhân Đối với khu vực công, các tổ chức cần có tầm nhìn, minh bạch và hiệu quả trong quá trình hoạt động trong khi các tổ chức ở khu vực tư nhân cần năng động, sáng tạo và thích ứngvới những sự thay đổi của môi trường Thái Lan tập trung vào chính sách tiên phong trong đổi mới, tích lũy nguồn nhân lực, tích lũy vốn, xây dựng hệ thống khuyến khích phù hợp, và thích ứng với môi trường mới (Somchai, 2012)
2.2 Thực trạng vượt bẫy thu nhập trung bình của Hàn Quốc
Hàn Quốc như một trường hợp thành công trong quá trình phát triển kinh tế và là một quốc gia bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình trong cuộc khủng hoảng năm 1997, rồi sau đó nhanh chóng thoát ra nhờ chính phủ nước này đã tiến hành chính sách cải cách mạnh mẽ trong hàng loạt các lĩnh vực , như luật pháp , tài chính , doanh nghiệp ,…
Chúng ta cùng nhìn qua các giai đoạn phát triển của Hàn Quốc dựa trên các lí thuyết của Kendichi Ohun
Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn nền kinh tế bắt đầu hồi phục sau chiến tranh Ngành công nghiệp xi măng ra đời nhằm mục đích xây dựng từ tàn tích của chiến tranh Ở giai đoạn này , nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào xuất khẩu các mặt hàngnông sản để nhập khẩu các mặt hàng thứ yếu khác , do điều kiện tự nhiên ít ưu đãi Với phong trào đổi mới cộng đồng nông nghiệp được đánh giá là rất mạnh tay và
hà khắc , với tư tưởng Chăm chỉ - Tự lực- Hợp tác , đã làm thay đổi diện mạo nền
Trang 8nông nghiệp Bên cạnh đó Hàn Quốc bắt đầu công nghiệp hóa với các ngành công nghiệp nhẹ với mức lương công nhân rẻ mạt và sản xuất hàng xuất khẩu giá
rẻ nhưng có giá trị để đưa ra thị trường thế giới Công nghiệp cũng trú trọng để hỗtrợ nông nghiệp như những ngành công nghiệp sản xuất phân bón hay thuốc trừ sâu Giai đoạn này , Hàn Quốc vận dụng khá tốt lợi thế về nguồn lao động giá rẻ , cũng như thực hiện tốt hai kế hoạch năm năm , đem lại mức tích lũy tái đầu tư là 13,2% GNP vào nền kinh tế
Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn đầu tư tập trung vào quá trình công nghiệp hóa Kinh tế Hàn Quốc tiếp tục đầu tư vào công nghiệp nhẹ nhưng có một nét nổi bật Nền kinh tế lấy công nghiệp điện tử làm chủ đạo Đây là một ngành cần ít nguyênliệu , ít năng lượng , sử dụng lao động kỹ thuật Nếu như giai đoạn trước , Hàn Quốc chỉ lắp ghép một ít hàng điện tử , các hãng Mỹ , Nhật lập một số xí nghiệp Điện Tử ở Hàn Quóc để sự dụng lao động rẻ Thì ở giai đoạn này , 800 xí nghiệp
cả ngoại quốc lẫn nội địa hợp danh Chính phủ khuyến khích công nghiệp điện tử ,kèm theo kế hoạch 8 năm phát triển ( 1969- 1976) Các chính sách khuyến khích bao gồm : cho vay nhẹ lãi , dánh thuế nhẹ , các nhà đầu tư ngoại quốc được hưởng
ân huệ Ngành lớn nhất của công nghiệp điện tử là sản xuất chi tiết , chiếm tới 49% sản lượng , ngành tiếp theo là hàng tiêu dùng chiếm 42% , còn thiết bị công nghệ mới chiếm 9% Chính nhờ tỷ lệ tích lũy ở giai đoạn lớn , biết chọn đúng ngành để đầu tư phát triển , sau đó Hàn Quốc có đủ nguồn lực để đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng và sản xuất ô tô Sau này đã trở thành những ngành xương sống của nền kinh tế
Các giải pháp đã giúp Hàn Quốc thoát bẫy thu nhập trung bình
Có rất nhiều nhân tố tạo ra sự tăng trưởng bền vững kéo dài này , như việc thực thi chiến lược tăng trưởng hướng vào xuất khẩu , cải cách thể chế và chính sách công ,đầu tư vào nguồn nhân lực và lực lượng doanh nhân chất lượng cao , sự dụng hiệu quả nguồn lực công cho phát triển kết cấu hạ tầng và giáo dục , khả năng điều
Trang 9chỉnh linh hoạt với những thay đổi của giới doanh nhân và các nhà hoạch định chính sách , khả năng duy trì được phân phối thu nhập khác đồng đều Qua tìm hiểu , có thể tóm gọn bởi các nguyên nhân sau :
Đầu tiên , với triết lý cơ bản của chính quyền của tổng thống Park Chung Hee lúc
đó là “xuất khẩu là hàng đầu “ và “ xây dựng đất nước bằng thúc đẩy xuất khẩu “ , chính phủ Hàn Quốc đã có những can thiệp mạnh mẽ bằng việc cung cấp các nguồn đầu tư và các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô tất cả những ngành xuất khẩu đều được chính phủ tài trợ , hỗ trợ trong giai đoạn ban đầu
Thứ hai , về chính sách , chính phủ Hàn Quốc cam kết tạo ra một nền kinh tế mạnhdựa vào sở hữu trong nước , có xu hướng công nghiệp hóa kiểu “ cú hích lớn “ Hàn Quốc phải chịu sức ép từ việc nâng cấp và tái cấu trúc ngành công nghiệp từ thâm dụng vốn và lao động sang thâm dụng lao động Các chính sách của chính phủ thông qua các doanh nghiệp hớn ( Chaebol) đã phát huy tác dụng Những ngành công nghiệp cao của các chaebol được bảo hộ trước cạnh trah toàn cầu và được tiếp cận với nguồn vốn hỗ trợ Phải nói kinh tế Hàn Quốc phát triển là nhờ
sự quản trị kinh tế tài tình của các nhà lãnh đạo Các chính sách kiên quyết mà hiệuquả đã giúp cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng Kể cả khi cuộc khủng hoảng
1997 tàn phá nền kinh tế của nước này , chính sách tích vàng để ổn định lại nền kinh tế cũng được sự đồng lòng của đại bộ phận người dân và đem lại hiệu quả , giúp Hàn Quốc mau chóng thoát khỏi khủng hoảng
Thứ ba , do sự phát triển về nguồn lực một cách nhanh chóng Sự phát triển mạnh
mẽ của các ngành công nghiệp xuất khẩu sử dụng lao đọng kỹ thuật đã thúc đẩy giáo dục của Xã Hội Chính phủ Hàn Quốc bằng việc phát triển công nghiệp , đã đưa ra nhiều chương trình quản lý nguồn nhân lực Vì vậy , khi các dòng công nghệ mới từ nước ngoài vào Hàn Quốc , chính nguồn nhân lực đã thực hiện rất tốt
do có sự đầu tư từ thời kì đầu của quá trình công nghiệp hóa
Trang 10Thứ tư , giáo dục ở Hàn Quốc vô cùng khốc liệt nhưng lại mang lại hiệu quả đáng kể Từ giai đoạn đầu , người Hàn Quốc đã lấy y nguyên giáo trình của người Nhật Bản Người Hàn Quốc muốn giống người Nhật , nền kinh tế dựa vào lòng tự hào dân tộc , tính kỷ luật và đạo đức của toàn dân tộc Áp lực thi cử cũng là một nét văn hóa giúp cho Hàn Quốc luôn có những nguồn nhân lực đủ giỏi để có thể theo kịp công nghệ Sự quan tâm đến giáo dục nhằm mục đích đầu tư vào R&D , cải biến công nghệ , đừng đầu trong lĩnh vực sáng tạo Sự phát triển kinh tế luôn cần
có những nguồn nhân lực có trí tuệ và kĩ năng Đầu tư vào R&D ở Hàn Quốc cũngthuộc dạng lớn nhất thế giới , chiếm 4,45% GDP Các tập đoàn lớn ở Hàn Quốc cũng đều là các công ty săn đầu người , với chính sách tìm kiếm và cấp học bổng cho các học sinh tài năng trên khắp châu Á , sau đó yêu cầu những học sinh này làm việc trong vòng vài năm
III Thực trạng ở Việt Nam và giải pháp
3.1 Thực trạng :
Kinh tế Việt Nam mới đạt ngưỡng thu nhập trung bình được khoảng gần 10 năm nay , do đó , trên lý thuyết chúng ta vẫn chưa mắc phải bẫy thu nhập trung bình Thế nhưng , liệu trong tương lai chúng ta có thể mắc bẫy hay hiện tại chúng ta đã
có dấu hiệu mắc bẫy hay chưa , chúng ta sẽ tìm hiểu thông qua các nguyên nhân chính dẫn đến mắc bẫy thu nhập trung bình theo lý thuyết của GS Kenechi
3.1.1 Thu nhập bình quân đầu người
Từ năm 2001 tới 2013, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam liên tục tăng Năm
2008, Việt nam đã đạt mốc thu nhập bình quân đầu người 1.000 USD và chuyển từ một nước có thu nhập thấp sang nước có thu nhập trung bình thấp 1
.
1 Năm 2008, cách xếp loại các quốc gia dựa trên dữ liệu GNI bình quân đầu người của World Bank như sau: quốc gia có thu nhập thấp (975USD hoặc thấp hơn), quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp (976- 3.855 USD), các quốc gia có mức thu nhập trung bình cao (3.856 – 1.195 USD), các quốc gia có thu nhập cao (11.960 USD hoặc hơn) Cách xếp loại này thay đổi theo năm.
Trang 12Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2013
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 0
Nguồn: Ngân hàng thế giới, đo lường theo phương pháp WB Atlas Tuy nhiên, cũng từ năm 2008 đến 2013, kinh tế Việt Nam liên tục rơi vào tình trạng bất
ổn, trì trệ, nghẽn mạch tăng trưởng dài nhất từ khi đổi mới Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại Mĩ đã bùng phát và nhanh chóng ảnh hưởng tới toàn cầu, trong đó có Việt Nam: lạm phát rất cao, bong bóng chứng khoán và bất động sản, nợ xấu ngân
hàng… Tăng trưởng GNI bình quân đầu người cũng tụt dốc nhanh chóng xuống mức 2,9% (năm 2009) Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển quốc tế (OECD), tới năm 2059, nghĩa là 45 năm nữa, Việt Nam mới thực sự thoát khỏi mức thu nhập trung bình và đạt mức thu nhập cao.
3.1.2 Tăng trưởng kinh tế
Từ năm 2001 tới 2014, tăng trưởng GDP thực của Việt Nam có nhiều biến động Năm 2007, con số ấy đạt mức kỷ lục là 8,5% Nhưng năm 2008, tăng trưởng kinh tế Việt Nam lao dốc đột ngột xuống 6,2% và tiếp tục giảm xuống 3,3% trong năm tới Nguyên nhân cũng do ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính tiền tệ tại
Mĩ Bằng những chính sách lãi suất, tiền tệ của chính phủ nền kinh tế dần hồi phục