Song, chỉ dừng lại ở tầm mức chung nhất về bảo vệ Nhà đầu tư; hoặc bảo vệ đầu tư trong một định chế tài nhất định; hoặc chỉ bảo vệNhà đầu tư nhỏ; hoặc bảo vệ Nhà đầu tư theo Luật Doanh N
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 5 2 Tình hình nghiên cứu 12 3 Phạm vi nghiên cứu 14 4 Phương pháp nghiên cứu 14 5 Kết quả nghiên cứu 14 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN TTCK
1 TTCK và Nhà đầu tư trên TTCK 16 1.1 TTCK và cơ chế vận hành 16 1.2 Nhà đầu tư trên TTCK 19 1.2.1 Khái niệm về đầu tư Chứng khoán 19 1.2.2 Nhà đầu tư 20 1.3 Bảo vệ nhà đầu tư 23 2 Các qui định pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư 27 2.1 Qui định chung 28 2.2 Các qui định chuyên ngành 28 3 Cách thức bảo vệ Nhà đầu tư 36 3.1 Tự thực hiện bởi chính Nhà đầu tư 36 3.2 Phương thức Hành chính
3.2.1 Hoạt động giám sát
3.2.2 Hoạt động Thanh tra
3.2.3 Hoạt động xử phạt
3.3 Phương thức Tòa án dân sự Phương thức bào vệ nhà đầu tư thông qua tòa án dân sự .
3.4 Bảo vệ nhà đầu tư thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Phương thứcTrọng Tài Thương Mại
3.5 Phương thức Hình sự
3.6 Thi hành án
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN TTCK
2 Tổng quan
2.1 Phương thức Hành chính
2.2 Phương thức Hình sự
2.3 Phương thức Tòa án
2.4 Phương thức Trọng tài
2.5 Thi hành án
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Tổng quát
3.2 Các kiến nghị chi tiết Kỹ thuật
Trang 2LỜI CẢM ƠN VĂN BẢN LUẬT VÀ TÀI LIỆU THAM
KHẢO CÁC VĂN BẢN LUẬT ĐƯỢC TRÍCH
DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 374
Trang 4DANH MỤC BẢN BIỂU
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6TTTT : Trung tâm trọng tài TTDS : Tố tụng dân sự TTHS : Tố tụng hình sự
TT : Thông tư TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao UBCK : Ủy ban chứng khoán UBND : Ủy ban nhân dân VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VBQPPL : Văn bản qui phạm pháp luật XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 7VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
1 Cho đến tháng 7 năm nay, đánh dấu 12 ngày ra đời và vận hành của Thị trường Chứng
khoán của Việt Nam (TTCK), tháng 7/2000 - 7/2012; một mốc son cho tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, với tính cách của nền kinh tế thị trường theo địnhhướng XHCN Là thị trường mà rất được kỳ vọng sẽ là kênh dẫn vốn trung và dài hạnhữu hiệu cho nền kinh tế; là công cụ mà thông qua đó sẽ huy động mọi nguồn lực trong
xã hội cho đầu tư phát triển, để tiến đến một xã hội “cổ đông”; và là “hàng thứ biểu”của nền kinh tế đất nước
2 Thật vậy, với ưu điểm vượt trội so với các thị trường khác về tính thanh khoản, rằng
nhà đầu tư dễ dàng trong việc bỏ vốn vào cũng như rút ra khỏi thị trường, mà khôngphải chờ đến kỳ hạn (gửi tiết kiệm) hay kèm theo kiện nào; với một khả năng sinh lờicao dựa trên phần tăng thêm của thị giá; về khả năng định lượng và luân chuyển tốtnhất dòng tiền trong nền kinh tế, dựa vào khả năng sinh lời của định chế sử dụng vốn;
và năng lực tích tụ tư bản, nơi tạo dựng các nhân tố mới có tính sáng tạo ( Micosofrt,Google, Apple, Facebook,…), đồng thời cũng “đào thải” không thương tiếc nhữngnhân tố không còn thích hợp
3 Với một thị trường tiềm năng và đầy thử thách như vậy, không ngạc nhiên chỉ mới du
nhập vào Việt Nam vào khoảng thập niên 1990 của thế kỷ trước, cùng với các định chếtài chính khác như: Công ty Cổ Phần, TNHH, Sàn giao dịch…, TTCK đã tạo ra một
“hiện tượng” có thể nói “bất thường” của đời sống KT- XH của Việt Nam thời kỳ sauthống nhất Đất nước (1975) Hàng trăm khóa học, hàng vạn người tham gia với đủ các
Trang 9thành phần Hàng trăm cuốn sách, hàng ngàn tài liệu nghiên cứu dưới nhiều cấp độkhác nhau ra đời Và rồi sau nhiều lần trì hoãn, TTCK Việt Nam cũng đã mở của trong
sự dè đặt, chỉ với 2 mã cổ phiếu được niêm yết (SACOM và REE) trên sàn GDCK TPHCM, và khoản 3.000 tài khoản giao dịch Thế nhưng, sau 12 năm Theo ông Vũ Bằng– Chủ tịch UBCK Nhà nước, (Tạp Chí Chứng Khoán số 7 – tháng 7/2012), TTCK ViệtNam có đến 705 công ty niêm yết trong tổng số 913 công ty đại chúng, trên các SởGDCK và gần 1.200.000 triệu tài khoản giao dịch
4 Cụ thể, theo số liệu trên website của UBCK Nhà nước, Sở GDCK Hà Nội và Sở
GDCK Tp.HCM, tính đến thời điểm tháng 8/2012, đã có đến hơn 105 công ty ChứngKhoán tham gia thị trường, với số vốn đăng ký là 35.000 tỷ đồng: Sở GDCK Hà Nội,
số chứng khoán niêm yết là 1.037 mã, tổng giá trị là 27.253.031.079 000 đồng, trong
đó, cổ phiếu 395 mã, giá trị là 84.731.910.020.000 đồng; trái phiếu 510 mã, giá trị169.173.662.000.000; và Sàn Upcom 132 mã, giá trị 18.626.738.770.000đ Sở GDCKTP.HCM, có đến 351 mã chứng khoán, giá trị 1.631.600.419 triệu đồng, trong đó 303
Cổ phiếu, giá trị: 1.541.370.239; chứng chỉ quỹ đầu tư: 6, mã giá trị: 300.107.240 triệuđồng; và trái phiếu: 42 mã, giá trị: 60.292.810 triệu đồng
5 Cũng theo ông Vũ Bằng – Chủ tịch UBCK NN ( Tạp chí Chứng khoán tháng 7/2012),
trong cùng thời gian này, TTCK đã huy động được khoảng 700 nghìn tỷ đồng, trong đó
có khoản 8 tỷ USD từ các Nhà đầu tư nước ngoài cho nền kinh tế Đất nước TTCKcũng đã tạo ra hàng ngàn việc làm mới; đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước; vàđặc biệt đã thúc đẩy mạnh mẽ hơn sự hội nhập của Doanh nghiệp Việt Nam, nền kinh
tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới về mặt Quản trị doanh nghiệp, Kế toán, Kiểmtoán, Thanh toán…; và từng bước tiệm cận với chuẩn mực chung của thế giới về moiphương diện Đỉnh điểm của sự “phấn khích” có thể kể đến vào năm 2007, khi chỉ số
Trang 10VNINDEX liên tục tăng và cao nhất được ghi nhận vào ngày 12/3/2007, đạt 1.179, 32điểm
6 Thế nhưng, sau khi xác lập kỷỹ luậtục này, TTCK bắt đầu đảo chiều và cũng mạnh mẽ
như lúc nó đi lên Lúc này, theo giới tài chính ví von là “con Gấu đang húc đỗ con Bò”.Biểu hiện là chỉ số VNINDEX xụt giảm theo phương thẳng đứng và thấp nhất là còn285,56 điểm vào ngày 9/12/2008 và chỉ số VNINDEX chỉ giao động ở ngưỡng 500điểm kéo dài cho đến ngày nay Kèm theo sự tác động cuộc khủng hoảng kinh tế toàncầu, những khiếm khuyết được che lấp trong bao lâu nay bắt đầu bị lộ ra Biểu đồ dướiđây sẽ mô tả diễn biến của TTCK từ tháng 7/2000 đến nay
Trang 127 Với hàng loạt hành vi thao túng, làm giả, mua bán nội gián trên TTCK của các “hội”,
“đội lái “ “người quản lý lên tổ chức phát hành” Có lúc, TTCK cũng như một cái
“chợ trời” Chính người có thẩm quyền như đại biểu Quốc Hội Trần Du Lịch tại diễnđàn (kỳ hộp thứ 2 Quốc Hội khóa 13) Quốc Hội phải thốt lên rằng , “TTCK Việt Namkhông theo một tiêu chí hay chuẩn mực nào cả” Hàng loạt các hành vi vi phạm thaotúng, mua bán nội gián, làm giá chứng khoán bị xử lý như trường hợp như Công ty Cổphần Dược Viễn Đông (VDV), Công ty Cổ phần Nhựa An Phát (AAA); hoặc giả nhưnhững hành vi vi phạm quyền lợi của Nhà đầu tư của ngành CK của các Công tyChứng khoán Trường Sơn, Công ty Chứng khoán SME Đặc biệt, xuất hiện hiện tượnglừa đảo, kinh doanh trái phép trên TTCK với số tiền lên đến hàng ngàn tỷ đồng, màđiển hình là vụ việc bà Huỳnh Thị Huyền Như đã bị khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạttài sản (vào tháng 9/2011), với số tiền lên đến 4.600 tỷ đồng (Báo Pháp luật Tp.HCMngày số, ngày….…) Và gần đây nhất là trường hợp của ông Nguyễn Đức Kiên, đã bịkhởi tố vì vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kinh doanh trái phép (Báo pháp luậtTp.HCM số … ngày …), đã làm cho TTCK mất đi khoảng 100.000 ngàn tỷ đồng(tương đương 5 tỷ USD) chỉ sau vài phiên giao dịch
8 Các hành vi vi phạm này được minh chứng rõ hơn qua số liệu thống kê xử lý của cơ
quan giám sát, Thanh tra UBCK NN như sau: Tính trong 5 năm UBCK NN xử lý hơn
700 trường hợp vi phạm pháp luật về CK và TTCK Về hoạt động giám sát, trong năm
2010 có đến 387 trường hợp vi phạm CBTT Năm 2011 có đến 575 trường hợp viphạm CBTT, xử phạt 164 trường hợp, 3 công ty bị hủy niêm yết, 3 công ty tạm ngưnggiao dịch, 28 công ty bị đưa vào diện cảnh báo và 14 công ty đưa vào diện kiểm soát
Về công ty chứng khoán, có đến 7 công bị đưa vào diện kiểm sát đặc biệt Riêng SởGDCK Tp HCM năm 2011 phát hiện 1.982 trường hợp giao dịch bất thường, phát hiện
và phân tích 221 cổ phiếu có dấu hiệu bất thường Riệng 6 tháng năm 2012, đã có đến
Trang 1373 trường hợp bị xử lý vi phạm (Ttạp chí chứng khoán1+2/2010 trang 7, 8, 45, 49) <=xem lại nguồn tin có đúng không? 2012? 2010?
9 Tất cả hiện tượng này, làm cho TTCK như là một bức tranh “ bátc nháo”, “tù mù”
không rõ ràng, không minh bạch không trật tự, không theo các qui tắc hay chuẩn mựcnào Như là một “gáo nước lạnh” tạc vào mặt của những nhà đầu tư, làm chựng lại cảmhứng và sự kỳ vọng của công chúng đối với TTCK Đây chính là nguyên do làm xóamòn niềm tin của các Nhà đầu tư, vốn dĩ là nền tảng cốt lõi của thị trường
10 Không chỉ dừng lại ở mặt tâm lý, thực tế khi xảy ra các tình huống như của trường hợp
công ty Cổ phần Dược Viễn Đông hay Công ty Chứng khoán SME, thì Nhà đầu tư phảiđối mặt vô vàng khó khăn và phải gánh lấy mọi tổn thất, mà không biết có thể hoặccách nào hiệu quả trong việc cầu viện công lý cho mình Kết quả khảo sát điều tra xãhội học của nhà nghiên cứu thực trạng bảo vệ nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam củanhóm tác giả Đại học Luật TP.HCM vào năm 2010 cho thấy, có đến 50,9% trả lời “tạmhài lòng” cho câu hỏi mức độ hài lòng của nhà đầu tư về thực tiễn bảo vệ quyền lợi của
cá nhân nhà đầu tư trên TTCK hiện nay
11 Hiện tượng này không chỉ có tính chất đơn lẽ, mà nó đã trở thành dư luận xã hội Liên
tiếp Báo chí chuyên hoặc không chuyên về TTCK, đều liên tục phản ánh “lổ hổng”trong việc bảo vệ nhà đầu tư trên TTCK Họ gần như bị bỏ rơi, và không được tích cựcbảo vệ Trong khi, họ là lực lượng chính yếu, quyết định sự thành bại của thị trường.Các bài được đề cập đến đó là, PGS.TS Lê Hoàng Nga- UBCKNN với chủ đề “Bảo
vệ nhà đầu tư nhỏ trên TTCK Việt Nam” , trên tạp chí ngân hàng số 20/2010 ngày05/12/2010; bài viết “hoàn chỉnh cơ chế pháp lý bảo vệ Nhà đầu tư chứng khoán tronggiai đoạn giao dịch chứng khoán” ngày 02/03/2011 của Th.S Phan Phương Nam trênBáo pháp luật chứng khoán; bài viết “bảo vệ tiền Nhà đầu tư, cách nào?” của tác giảGiang Thanh, ngày 16/01/2012 đăng trên Đầu tư chứng khoán điện tử; Báo thanh niên
Trang 14với bài bài “ nhà đầu tư nhiều rủi ro, ít bảo vệ” ngày 02/09/2012; Báo sài gòn giảiphóng ngày 02/08/2012, đã viết “Nhà đầu tư thiếu công cụ chống lưng”; Báo Đầu tưchứng khoán viết bài “nhiều Nhà đầu tư ủng hộ tạm dừng giao dịch TTCK” ngày23/08/2012; Báo Lao động ngày 31/08/2012 có bài viết “khi niềm tin trở lại với Nhàđầu tư”; TS Phạm Thị Giang Thu – Đại học luật Hà Nội có bài viết “các loại nhà đầu
tư trên TTCK và yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư” đăng trên tạp chí Luật học số 8/2006;vàbài viết “hoàn thiện các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán” của LS PhanNghiêm, ngày 20/11/2012 đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp
12 Ngoài ra, các công trình nghiên cứu khoa học, các báo cáo của cơ quan có thẩm quyền,
giới học thuật trong và ngoài nước trong các báo cáo, nghiên cứu của mình, cũng đềuchỉ ra rằng thực trạng yếu kém trong việc bảo vệ Nhà đầu tư hiện nay Tiêu biểu như:
TS Nguyễn Văn Vân- Đại Học Luật Tp.HCM, với đề tài nghiên cứu cấp Bộ “bảo vệNhà đầu tư là cá nhân trên TTCK Việt Nam; hoặc đề tài nghiên cứu cấp nhà nước của
TS Bùi Xuân Hải- Đại Học Luật Tp.HCM; Báo cáo năng lực bảo vệ Nhà đầu tư 2009,
2010 của Ngân Hàng Thế Giới đều cho thấy, chỉ số bảo vệ Nhà đầu tư nói chung vàtrên TTCK nói riêng là rất thấp điều thứ hạng 173/183 (2009); Kết quả điều tra xã hộihọc của nhà nghiên cứu Đại Học Luật Tp.HCM Theo TS Bùi Xuân Hải trích dẫn lạinhóm nghiên cứu bộ tứ cho rằng, có mối liên hệ nhân quả rất rõ ràng giữa mức độ bảo
vệ Nhà đầu tư và sự phát triển của thị trường tài chính
13 Như vậy, việc bảo vệ Nhà đầu tư trên TTCK của chúng ta đang “ có vấn đề” Điều
này, không chỉ ở các hiện tượng bất thường như trình bày, hay dư luận xã hội mà cònthể hiện qua các công trình nghiên cứu, với các góc nhìn khác nhau của những học giảpháp lý trong và ngoài nước Vì vậy, đi tìm lời giải cho hiện tượng này là điều hết sứccấp bách trong thời điểm hiện nay Các nguyên do dẫn đến thực trạng này có lẽ cónhiều như về mặt Văn hóa, dân trí, điều kiện KT-XH… Song, trong phạm vi của đề tài
Trang 15này, chúng tôi chỉ nghiên cứu đánh giá ở mặt pháp luật Đó là pháp luật bảo vệ nhàđầu tư trên TTCK
14 Chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu, đánh giá, khảo sát về thực trạng của pháp luật hiện
hành, để có cái nhìn tổng quan, bao quát về những khiếm khuyết, khuyết tật, bất cập,
… đang ẩn chứa bên trong của cơ chế vận hành thị trường Từ đó, tìm kiếm giải pháptối ưu, khả thi nhất để giải quyết các vấn đề này Nhằm cùng chung tay góp phần vàoviệc xây dựng lại và duy trì niềm tin công chúng đối với TTCK; giúp nhà hoạch địnhchính sách tiến đến xây dựng một TTCK vận hành và phát triển một cách lành mạnh vàbền vững; giúp việc hoàn thiện và hoàn chỉnh những khiếm khuyết về mặt pháp lý hiệnnay; phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đó chính lý do để tácgiả chọn đề tài này
15 Đề tài sẽ được đề cập 3 phần Phần một sẽ nêu lên các cơ sở lý luận cho việc bảo vệ
Nhà đầu tư; phần thứ hai đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ Nhà đầu tư; và phầnthứ ba là kết luận và kiến nghị cho việc hoàn thiện
16 Có thể nói rằng, chỉ trong thời gian ngắn với 20 năm đã có một khối lượng lớn các đề
tài nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này: Tuy nhiên, phần lớn trong số này đó nghiêncứu về các thị trường chứng khoán ở góc độ kinh tế, xã hội, chính sách Riêng về lĩnhvực pháp lý thì còn ít học giả quan tâm nghiên cứu, một số báo cáo công trình nghiêncứu tiêu biểu như sau:
1 Báo cáo của ngân Ngân hàng thế giới các năm 2009, 2010 và 2011 đánh giá chung
về việc bảo vệ nhà đầu tư trong nền kinh tế- xã hội Việt Nam;
Trang 162 Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán củatrung tâm nghiên cứu và bồi dưỡng nghiệp vụ chứng khoán (Ủy Ban Chứng KhoánNhà Nước);
3 Luật Doanh nghiệp bảo vệ Cổ đông và thành viên của TS.Bùi Xuân Hải, xuất bảnnăm 2011 (chương 3,4&6);
4 Cơ chế pháp lý bảo vệ nhà đầu tư là cá nhân trong điều kện toàn cầu hóa nên tàichính- tiền tệ của TS Nguyễn Văn Vân, Đại Học Luật TP.HCM (năm??)
5 Đánh giá khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư chứng khoán tại Việt Nam của
TS Lê Vũ Nam (năm?)
6 Giáo trình luật kinh tế của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa (chương 14&15)
7 Phát triển bền vững TTCK Việt Nam (sách chuyên khảo) của PGS.TS Đinh VănSơn, xuất bản năm 2009, (chương 4&5);
8 Các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành: Hoàn thiện các biện pháp bảo vệ nhàđầu tư trên TTCK, của Th.S Hoàng Thị Quỳnh Chi, Viện Khoa học kiểm sátVKSNDTC trên tạp chí nghiên cứu lập pháp số 87,11/2006; hoàn chỉnh cơ cấu bảo
vệ nhà đầu tư chứng khoàn trong giai đoạn giao dịch chứng khoán của tác giả Th.SPhan Phương Nam, 3/2011 trên tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử; bảo vệ nhà đầu
tư trên TTCK Việt Nam của PGS.TS Lê Hoàng Nga, 12/2010-(XBCKN) Tạp chíngân hàng
17 Tựu trung, các sách, giáo trình hoặc các bài nghiên cứu hiện tại, nhìn chung đều có đềcập đến Pháp luật bảo vệ Nhà đầu tư Song, chỉ dừng lại ở tầm mức chung nhất về bảo
vệ Nhà đầu tư; hoặc bảo vệ đầu tư trong một định chế tài nhất định; hoặc chỉ bảo vệNhà đầu tư nhỏ; hoặc bảo vệ Nhà đầu tư theo Luật Doanh Nghiệp; hoặc các biện phápbảo vệ Nhà đầu tư; hoặc các đề tài đã có trước khi có thay đổi của chính sách Phápluật… Chưa có đề tài nghiên cứu một cách thông suốt đầy đủ, có hệ thống và cập nhậtviệc bảo vệ Nhà đầu tư trên TTCK hiện nay, từ lúc Nhà đầu tư tham gia thị trường
Trang 17(trực tiếp theo Luật Doanh nghiệp hoặc gián tiếp theo Luật Chứng khoán) cho đến khiphán quyết của Toà án được thi hành (trong trường hợp xảy ra sự kiện pháp lý) Vìvậy, đề tài này sẽ đi vào nghiên cứu những góc độ còn để “ ngỏ” đóò Đó là pháp luật
và việc thực thi pháp luật trong việc bảo vệ Nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam Cụ thể,
đề tài sẽ làm rõ các vấn đề chính yếu như sau:
- Nêu ra cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý trong việc bảo vệ Nhà đầu tư trên TTCK
- Đánh giá thực trạng pháp luật trong việc bảo vệ nhà đầu tư, bởi các công cụ hayphương thức Hành chính, Tòa Dân sự, Trọng tài và Điều tra hình sự
- Từ đó lý giải sự bất hợp lý, chưa khả thi của pháp luật và thực thi pháp luật trongđời sống của hiện tại cũng như tương lai
- Cuối cùng đề xuất các giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện pháp luật cũng như việcthực thi pháp luật để khắc phục những khiếm khuyết, bất cập đã nêu
3 Phạm vi nghiên cứu:
18 Đề tài không đi vào nghiên cứu các vấn đề có tính chất kinh tế tài chính, mà chỉ
nghiên cứu có các vấn đề pháp lý, trong giới hạn bảo vệ nhà đầu tư trên TTCK ViệtNam Nghiên cứu các quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến việc bảo vệ Nhà đầu
tư trên TTCK trong hệ thống pháp luật Nghiên cứu thực thi pháp luật trong đời sốngthực tế, từ việc thi thực hiện các quy phạm pháp luật cho đến xử phạt hành chính; từ tựbảo vệ cho đến sự cầu viện công lý bởi Tòa án, Trọng tài và Cơ quan điều tra hình sự
Từ đó đưa ra các khuyến nghị cho việc khắc phục và hoàn thiện
4 P p hương pháp nghiên cứu:
Trang 1819 Tác giả sẽ sử dụng phương pháp pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê và quan
sát thực tế, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin về duy tâm vật biện chứng, duy vật
và lịch sử (trời, sao lại là duy tâm biện chứng???)
5 Kết quả nghiên cứu:
20 Phục vụ nhu cầu tự thân của tác giả; làm cẩm nang cho các nhà đầu tư tra cứu và lựa
chọn cách hữu hiệu trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Làm tài liệucho sinh viên trường Luật; là tài liệu cho các Nhà hoạch định chính sách tham khảotrong việc hoàn thiện chính sách pháp luật về CK&TTCK cho giai đoạn 2011- 2015,ban hành Luật chứng khoán mới cho năm 2015, theo Quyết định 252/QĐ-TTg, ngày1/3/2012 của Thủ Tướng CP, v/v phê duyệt chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giaiđoạn2011-2020
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN TTCK
1 TTCK và nhà đầu tư trên TTCK:
1.1 TTCK và cơ chế vận hành:
21 Trước hết, để thông tỏ và đánh giá về pháp luật bảo vệ Nhà đầu tư, cần thiết phải tìm
hiểu TTCK hiện hành được xây dựng và vận hành như thế nào Theo Giáo TrìnhNhững Vấn Đề Cơ Bản về CK&TTCK của Trung Tâm Nghiên Cứu KH và ĐT Chứngkhoán – UBCK Nhà nước (xuất bản năm 2002), TTCK được định nghĩa như sau: Xét
về hình thức “ TTCK là nơi diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi, chuyển nhượng cácloại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ CK” Còn xét về mặt bản chất , “TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm; tập trung các nguồn tiếtkiệm để phân phối lại cho những ai muốn sử dụng nguồn tiết kiệm đó theo giá màngười sử dụng sẳn sàn trả; và theo phán đoán của thị trường về khả năng sinh lời từ các
dự án của người sử dụng, chuyển từ tư bản sở hữu sang kinh doanh” Xét về phươngdiện luân chuyển vốn TTCK này được chia làm hai loại, đó là thị trường sơ cấp (pháthành lần đầu- IPO) và thị trường thứ cấp ( mua đi bán lại Chứng Khoán) Còn theo quiđịnh tại Luật Chứng khoán, thì TTCK được định nghĩa là: “ TTCK là địa điểm hoặchình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch Chứng Khoán”(khoản 18 điều 6) Như vậy, TTCK được hiểu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này
là thị truờng chứng khoán tập trung, được tổ chức dưới dạng Sở GDCK, đó là SởGDCK Hà Nội và Sở GDCK Tp.HCM
Trang 2022 Hàng hóa giao dịch trên TTCK là CK Đây chỉ là loại chứng từ có giá mà người ta qui
ước, tin dùng nó trong các giao dịch Chứng khoán có rất nhiều loại Song, CK đượchiểu theo nghĩa chính thống luật định hiện hành “là bằng chứng xác nhận quyền và lợiích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành”.(điểm 3 khoản 2 điều 1 Luật CK sửa đổi bổ sung), Như vậy, CK trong phạm vi nghiêncứu của đề tài này là những CK được chấp thuận giao dịch trên TTCK Do đó, nó chỉ
có thể là Cổ phiếu, Trái phiếu hoặc Chứng chỉ quỹ đầu tư ; Quyền mua cổ phần; chứngquyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm CK hoặc chỉ số;hợp đồng góp vốn đầu tư (điều 1 Luật sữa đổi bổ sung Luật CK)
23 Tuy nhiên, không phải cố phiếu, trái phiếu hay chứng chỉ quỹ đầu tư nào cũng được
giao dịch trên TTCK, mà chúng phải được tổ chức phát hành có thẩm quyền phát hành,phải lưu ký qua trung tâm lưu ký CK Một khi thỏa mãn 2 điều kiện này, thì CK mớiđược giao dịch Hiện tại, chúng ta có các loại chứng khoán được giao dịch trên TTCKnhư sau: Cổ phiếu của công ty Đại chúng; Trái phiếu của công ty Đại chúng; Chứngchỉ quỹ đầu tư của Quỹ đầu tư chứng khoán; trái phiếu Chính phủ; và trái phiếu củachính quyền địa phương
24 Với lịch sử lâu đời của mình TTCK đã chứng tỏ là một trong những “chợ” tiêu biểu
nhất hiện nay trong việc luân chuyển, phân bố nguồn lực của xã hội Điều này được lýgiải qua nhận định của TS Alan Greespan, (cựu Chủ Tịch Cục Dự Trữ Liêng Ban Mỹ,trong tác phẩm “ kỷ nguyên hỗn loạn” ) của mình như sau: “rằng thị trường và
giá cả, chứ không phải là sự hoạch định chính sách của các cơ quan trung ương, quyết định sự phân bố nguồn lực xã hội”.
Chính TTCK, cùng với Công ty Cổ phần là những công cụ hiệu quả nhất để các nướcphát triển ngày nay làm cuộc cách mạng công nghiệp của mình ở 150 năm trước Hiệntại, theo Thomas Frieman (Chiếc Lexus và cây ô liu, 2005), thông qua các TTCK như
Trang 21NewYork, LonDon, Hong Kong hay Singapore… ước chừng có đến 1.200 tỷ USDđược giao dịch trong một ngày Riêng TTCK Việt Nam được xem là thị trường nhỏ vàchỉ mới vận hành được 12 năm, nhưng đã huy động hơn 700 tỷ đồng cho nền kinh tếViệt nam.
25 Sở dĩ TTCK có được những ưu điểm này là vì nó được xây dựng và vận hành trên các
nguyên tắc hết sức ưu việt đó là “công khai, đấu giá, trung gian và có sự quản lý củaNhà Nước” Tức là nó dành cơ hội ngang bằng nhau cho mọi thực thể tham gia thịtrường trong việc tiếp cận thông tin; giá cả được xác lập trên quan hệ “cung cầu”; giaodịch phải qua trung gian để đảm bảo sự chuyên nghiệp và thông suốt; và luôn có sựđiều phối, giám sát và quản lý của Nhà nước để đảm bảo trật tự và bảo vệ quyền lợiNhà đầu tư Với các nguyên tắc này, hầu như đã loại bỏ, hạn chế đến mức thấp nhất cáchành vi, hiện tượng tiêu cực, và phát huy cao nhất, tích cực nhất trong việc bảo đảmnguồn lực xã hội đến nơi cần thiết nhất và mang lại hiệu quả cao trong việc sử dụng.Cũng như TTCK trên thế giới, TTCK Việt Nam được vận hành dựa trên 5 nguyên tắccăn bản sau: tôn trọng mọi quyền tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ chứngkhoán;công khai, công bằng và minh bạch; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầutư; tự chịu trách nhiệm; và tuân thủ pháp luật ( điều 4 Luật CK)
26 Ngày nay,với sự hổ trợ của công nghệ thông tin và sự toàn cầu hóa, đã làm cho các
hoạt động giao dịch chỉ tính bằng “ giây”; và được vận hành bất kể ngày đêm Dòngvốn được phân bố từ nơi này sang nơi khác, từ Đông sang Tây chỉ trong tích tắc.Thomas Frieman, đã mô tả rất rõ điều này trong hiện tượng này như sau: “1.200 tỷUSD được giao dịch qua 6 châu lục, trong suốt 24 múi giờ”; và ông ví dòng tư bản nàynhư là “ bầy thú điện tử” Nhận thức được tầm quan trọng của kỹ nguyên kinh tế trithức và hội nhập Trong chính sách phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2020 Chínhphủ, tại Quyết định Số 252/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ đã xác
Trang 22định: “Xây dựng kế hoạch phát triển hạ tầng công nghệ thông tin cho toàn ngành chứngkhoán theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa các định dạng về thông tin, báo cáo, quy chuẩnkết với cũng như định hướng phát triển ứng dụng Công nghệ thông tin tại các SởGDCK và thành viên thị trường, đáp ứng cho việc liên kết các Sở GDCK khu vực”
27 Việc quản lý và vận hành TTCK bằng nhiều phương tiện, công cụ khác nhau, như : tài
chính, chính sách tiền tệ, qui phạm đạo đức…Song hiệu quả và khả thi nhất vẫn làPháp Luật Bởi chí có pháp luật bằng sức mạnh cưỡng chế của mình mới có thể bảođảm thị trường chứng khoán hoạt động công bằng, công khai, minh bạch, an toàn vàhiệu quả (khoản 2 điều 5 Luật Chứng khoán ) Vì sẽ không ai bỏ tiền ra đầu tư, phảiqua trung gian, không có bất kì sự bảo chứng nào của Nhà Nước, trừ phi họ có niềm tinrằng nó được bảo đảm bằng tính nghiêm minh của Pháp luật Và Pháp luật cũng phảiđảm bảo tính pháp lý ở đây phải đảm bảo tính thống nhất, công bằng, hợp lý, khả thi cótính cưỡng chế thực thi và thúc đẩy sự phát triển
28 Pháp luật Việt Nam qui định về CK và TTCK được thể hiện qua các văn bản qui phạm
pháp luật qua các thời kỳ như sau: Bắt đầu là Nghị định số 75/CP, ngày 28/11/1996 củaChính Phủ; tiếp đến là Nghị định số 48/1998/NĐ-CP, ngày 11/08/1998; Nghị định144/2003/NĐ-CP, ngày 28/11/2003, thay thế Nghị định số 48/CP Pháp luật hiện hành
và đang có hiệu lực là Luật chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, thay thế chocác Nghị Định trước đây; Luật chứng khoán được sửa đổi bổ sung vào ngày24/10/2010; và Nghị Định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012, có hiệu lực từ ngày15/09/2012 và các văn bản qui phạm có liên quan khác
1.2 Nhà đầu tư trên TTCK:
1.2.1 Khái niệm về đầu tư CK:
Trang 2329 Đầu tư Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì “đầu tư là bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh để
được hưởng phần lời, lãi” Còn theo TS Nguyễn Văn Vân- Trường Đại Học Luật Tp.HCM, (trong đề tài nghiên cứu “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư là cá nhântrên thị thị trường chứng khoán trong điều kiện toàn cầu hoá tài chính- tiền tệ”) địnhnghĩa đầu tư như sau: “Hoạt động đầu tư theo nghĩa chung nhất là sử dụng quyền lựcthuộc quyền sở hữu hay định đoạt mình trong thời gian nhất định để tìm kiếm lợinhuận” Còn theo định nghĩa chính thống theo qui định của pháp luật hiện hành, thì
“Đầu tư là việc Nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hìnhthành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo qui định của pháp luật này và các quiđịnh khác của pháp luật có liên quan” (khoản 1 điều 3 Luật đầu tư) Đầu tư đươc chiathành 2 loại là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Đầu tư trực tiếp là cùng tham giaquản trị DN; còn đầu tư gián tiếp là chỉ góp vốn, không tham gia điều hành (khoản 2,3điều 3 Luật đầu tư) Như vậy, với việc đầu tư của nhà đầu tư trên TTCK chịu sự điềuchỉnh của Luật CK là đầu tư gián tiếp, không tham gia vào hoạt động quản trị công ty
1.2.2 Nh à đầu tư :
30 Còn nhà đầu tư, được hiểu là người bỏ vốn ra đầu tư Vậy người bỏ vồn ra đầu tư này
là ai? Theo các qui định hiện hành tại khoản 9 điều 6 của Luật chứng khoán thì “ nhàđầu tư là tổ chức cá nhân Việt Nam và tổ chức cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trênTTCK Việt Nam” Còn theo khoản 4,5, điều 3 Luật đầu tư hiện hành, nhà đầu tư đượchiểu như sau: “Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân trong hoặc ngoài nước thực hiện hoạtđộng đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam” Nhà đầu tư cũng có 2 lọai, làchuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp Như vậy, qui định này được hiểu là tất cảcác cá nhân và tổ chức đều là nhà đầu tư trên TTCK hay chỉ Cá nhân, tổ chức hội đủcác qui định của pháp luật mới là Nhà đầu tư trên TTCK?
Trang 2431 Để làm sáng tỏ vấn đề này, không thể không tham chiếu qui định về chủ thể trong giao
dịch dân sự nói chung Trước tiên cần thấy rằng, dù là nhà đầu tư trên TTCK, thì phảihội đủ điều kiện của một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Bởi pháp luật dân sự
là pháp luật chung, chỉnh chỉnh các quan hệ về mặt chủ thể Theo qui định tại cácchương III đến XIII BLDS, thì chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự phải là người có
đủ năng lực chủ thể, gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi Chủ thể được chialàm 4 loại, đó là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác Như vậy, quay lại địnhnghĩa của Luật CK về nhà đầu tư thì chủ thể là cá nhân và pháp nhân; và được chiathành nhà đầu tư chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp Còn hộ gia đình và tổ hợptác không phải là chủ thể, không là nhà đầu tư Vấn đề này, chúng tôi sẽ đề cập cụ thể
ở chương 2
32 Nếu là nhà đâu tư là cá nhân, năng lực chủ thể thể thể hiện ở năng lực pháp luật luật
(điều 14 BLDS), khả năng được nhà nước bảo hộ các quyền năng và năng lực hành viđầy đủ (điều 17,19 của BLDS), khả năng tự thân tham gia vào các giao dịch một cáchđộc lập Trường hợp năng lực hành vi bị hạn chế mà chưa đầy đủ, thì việc giao dịchthông qua người đại theo pháp luật hoặc người giám hộ
33 Còn nếu là “tổ chức”, thì tổ chức ở đây phải là pháp nhân và có tư cách pháp nhân Vì
không có chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự “ tổ chức”, mà tổ chức chỉ là một loạihình của Pháp nhân màa thôi Và theo sự phân loại về pháp nhân, thì pháp nhân này
là tổ chức kinh tế (điều 103 BLDS) Như vậy, pháp nhân là nhà đầu tư tổ chức phảithỏa mãn các điều kiện như: được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức, có tài sản và
tự mình tham gia giao dịch (điều 84 BLDS); đồng thời, phải có Điều lệ và phải tự chịutrách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình Ngoài ra, hoạt động đầu tư trên TTCK làhoạt động kinh doanh Do đó, nhà đầu tư là tổ chức và là DN thì phải có chức năng
Trang 25kinh doanh trong lĩnh vực “đầu tư tài chính “ (điều 9 Luật DN), theo mã ngành trong
hệ thống ngành nghề Quốc gia, được qui định tại quyết định số 10/TTg ngày ngày23/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 337/TT/2007, ngày 10/4/2007 của BộKH&ĐT Trướng hợp, nếu không có chức năng này, pháp nhân có đương nhiên đượcquyền mua bán CK trên TTCK hay không? Và hoạt động này có xem là kinh doanh tráiphép hay không? Hoặc các giao dịch có có thể bị vô hiệu hay không? Vấn đề nàychúng tôi sẽ đề cập cụ thể ở chương 3 của đề tài
34 Riêng đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài, thì ngoài các tiêu chí nhà đầu tư trong nước
về mặt chủ thể, còn phải thỏa mãn điều kiện là không được sở hữu quá 49% cổ phầncủa một Công ty niêm yết trên Sở GDCK tại Việt Nam, theo như qui định tại điều 2Quyết định số 55/TTg/2009 ngày 15/4/2009 của Thủ Tướng chính Phủ và Nghị định88/2009/CP của Chính Phủ, ngày 18/06/2009, về qui chế góp vốn mua cổ phần củaNhà đầu tư nước ngoài trong các Doanh nghiệp Việt Nam Vấn đề này có vi phạm thỏathuận WTO hay không, chúng tôi bàn ở chương 3
35 Đây là thị trường bậct cao Vì vậy, cũng đdòi hỏi cao về kỷ năng, năng lực tài chính
của chủ thể tham gia thị trường, nhất là với nhà đầu tư chuyên nghiệp Do đó, theopháp luật hiện hành, để trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp, phải là Pháp nhân, cónghiệp vụ đầu tư tài chính, có vốn pháp định và người quản lý của pháp nhân phải cóchứng chỉ hành nghề (điều 7,9 Luật DN) Pháp nhân ở đây có thể là một trong các loạihình sau: Ngân hàng thương mại, Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chứckinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán, (khoản 11 điều 6 Luật chứngkhoán) Ngành nghề đầu tư tài chính, theo qui định tại mã ngành quốc gia, Quyết định
số 10/TTg ngày ngày 23/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 337/TT/2007,ngày 10/4/2007 của Bộ KH&ĐT Người quản lý hoặc tham gia hoạt động của phápnhân phải có chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán do UBCK NN cấp Và
Trang 26phải có đáp ứng các yêu cầu về vốồn pháp định Tức là phải có và duy trì mức vốn nàyliên tục trong quá trình hoạt động Cụ thể, với nghiệp vụ tự danh CK phải có 100 tỷ ;quản lý quỹ đầu tư là 25 tỷ (điểm c khoản 1, 3 điều 71 NĐ58/CP)
36 Còn Nhà đầu tư không chuyên nghiệp, hiểu ngược lại chỉ là người những người chỉ bỏ
vốn vào hoạt động chứng khoán, nhưng không phải là nghề chính, không đăng ký vàcũng không có quyền năng kinh doanh trong lĩnh vực này Như vậy, theo qui định củapháp luật hiện hành Nhà đầu tư không chuyên nghiệp chỉ có thể là cá nhân Xem lại ýnày, nếu một công ty có vốn nhàn rỗi, đầu tư mua chứng khoán thì họ cũng có thể lànhà đầu tư nghiệp dư được chứ? Nếu không, thì vì sao?
37 Nhà đầu tư dù chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp, một khi tham gia thị trường
thì cùng đều được đối xử công bằng như nhau Điều này được thể hiện ở nguyên tắc cơbản của pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt nam, cụ thể là ở các điều 5 BLDS,Điều 13 Luật Doanh Nghiệp và Điều 4 Luật Chứng Khoán
38 Thỏa mãn các yêu cầu trên, nhà đầu tư làm cần phải có tài khoản chứng khoán hoặc
tiền để được giao dịch, theo như qui định tại TT 74/2011/TT/BTC ngày 1/6/2011 của
Bộ Tài Chính Nghĩa là, nhà đầu tư muốn mua chứng khoán phải có tiền, và muốn bán
CK phải có chứng khoán trong tài khoản Luật hiện hành chưa cho phép bán khốngchứng khoán Tức là bán CK mà mình không sở hữu, sau đó mua trả lại (chúng tôi sẽbàn vấn đề này ở chương 3) Theo thống kê trên webdsite của Sở GDCK Hà Nội & SởGDCK Tp.HCM, thì tài khoản giao dịch của các Nhà đầu tư tính đến tháng 8/2011 là1.142.933 tài khoản, trong đó 1.128.580 tài khoản của Nhà đầu tư trong nước và14.353 tài khoản của Nhà đầu tư nước ngoài
1.3 Bảo vệ nhà đầu tư:
Trang 2739 Trước tiên về “bảo vệ” Theo Đại Từ Điển Tiếng Việt, thì “ bảo vệ là giữ gìn, chống
sự xâm phạm để khỏi bị hư hỏng, mất mát” Còn theo TS Nguyễn Văn Vân- Đại họcLuật Tp HCM Còn bảo vệ nhà đầu tư, ( trong đề tài “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợinhà đầu tư là cá nhân trên thị thị trường chứng khoán trong điều kiện toàn cầu hoá tàichính- tiền tệ ”) đã định nghĩa như sau: “bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư chứng khoán làtổng hợp các phương thức và biện pháp do nhà nước và/hoặc tự bản thân nhà đầu tư và/hoặc các chủ thể khác thực hiện, nhằm đề phòng, ngăn chặn, loại bỏ các hành vi xâmhại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Kể cả các biện pháp nhằm cải tạo,phục hồi quyền và lợi ích đó trong trường hợp bị xâm hại”
40 Với định nghĩa này, thì việc bảo vệ nhà đầu tư là cần thiết cho bất kỳ TTCK nào,
không riêng gì Việt Nam; Và việc bảo vệ là hiện hữu ở tất cả các thị trường, tuy ở mức
độ có khác nhau Các báo cáo, các công trình nghiên cứu khoa học của nhóm nhóm bộ
tứ như đề cập ở mục 11, báo cáo chỉ số bảo vệ nhà đầu tư của WB; hay báo cáo tổngkết của TS Bùi Xuân Hải; TS Nguyễn Văn Vân Đại học Luật Tp HCM, đều chỉ rarằng, bảo vệ Nhả đầu tư nói chung và trên TTCK nói riêng có mối quan hệ biện chứng
về mức độ bảo vệ với mức độ đầu tư Nói một cách dễ hiểu là ở đây mức độ bảo vệ nhàđầu tư càng cao thì ở đó nhận được sự đầu tư càng lớn của giới đầu tư Do đó, việc bảo
vệ nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam không nằm ngoài mối tương quan này
41 Vậy, bảo vệ là bảo vệ cái gì cho nhà đầu tư Như đề cập ở mục 38, để được xem là nhà
đầu tư trên TTCK phải thoải mãn yêu cầu hoặc là có tiền, hoặc là có CK hoặc cả 2trong tài khoản Như vậy, ở đây có 2 loại đối tượng được bảo vệ là tiền hoặc CK hoặc
cả hai Chiếu theo pháp luật hiện hành thì đây chính là tài sản của nhà đầu tư (điều 163BLDS) Điều này sẽ loại bỏ yếu tố tinh thần trong việc bảo vệ nhà đầu tư
Trang 2842 Quay trở về lịch sử, cùng với sự phân chia giai cấp xã hội loài người, Nhà nước và
Pháp luật xuất hiện nhằm bảo vệ tài sản hợp pháp của các thành viên trong xã hội tạolập nên Để bảo vệ cho tài sản này người ta khái quát lên thành quyền sở hữu Nghĩa làtrao cho chủ sở hữu các quyền năng, là các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đốivới tài sản đó; và loại trừ quyền năng này của người khác Alan Greespan đã diễn giảilại tư tưởng của John Locke (thế kỷ 17) như sau: “Từ bản chất có một sức mạnh đểđảm bảo quyền sống, quyền tự do và tài sản, chống lại bất cứ một hành vi xâm phạmhay âm mưu xâm phạm nào của người khác” Và đúc kết lại, TS Alan Greespan cónhận xét: “kết cuộc mục đích chính của quyền sở hữu là bảo vệ tài sản để sử dụngchúng nhằm mục đích sinh lợi”
43 Xã hội càng văn minh, thì tài sản không còn thể hiện dưới dạng vật chất truyền thống
nữa,gà, heo, đồ vật …nữa mà nó còn thể hiện dưới dạng vô hình, như hối phiếu, lệnhphiếu, cổ phiếu, trái phiếu Một lần nữa người ta lại khái quát loại tài sản này là
“quyền tài sản” Theo PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, “Quyền tài sản về bản chất là sựphân chia, giới hạn và định đoạt tài nguyên khan hiếm Trong quyền tài sản bao giờcũng hàm ý tập trung kiểm soát cho người này mà giới hạn hoặc loại trừ quyền đó đốivới người khác” Theo pháp luật dân sự hiện hành, Quyền tài sản là một loại tài sản;
và là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cảquyền sở hữu trí tệ (điều 181 BLDS)
44 Tóm lại, bảo vệ Nhà đầu tư trên TTCK là bảo vệ quyền sở hữu của nhà đầu tư với tài
sản của họ gồm tiền hoặc/và quyền tài sản Quyền sở hữu này được Nhà nước bảo hộbằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước (điều 164 BLDS) Các quyền này có thể làquyền được xác định là đồng sở hữu/hoặc trái chủ (chủ nợ) đối với tổ chức phát hành ;quyền được thực thi các quyền của đồng chủ sở hữu như : được tự do bán cổ phiếu vàthừa hưởng phần chênh lệch, bỏ phiếu tại ĐHĐCĐ, được chia cổ tức, được nhận phần
Trang 29còn lại tương ứng với tỷ lệ vốn khi tổ chức phát hành giải thể hoặc phá sản, được tiếpcận thông tin, yêu cầu khởi kiện người quản lý của công ty, yêu cầu bồi thường thiệthại, và ưu tiên mua cổ phiếu mới cháo bán, tương ứng với tỷ lệ sở hữu của Cổ đông đốivới công ty Đại chúng (Điều 79 Luật DN, điều 3 TT212/BTC) Hay như quyền đượcbán, nhận lãi, được ưu tiên chuyển đổi qua cổ phiếu, chứng quyền của trái chủ (Khoản
3 điều 6 Luật CK)
45 Vậy, bảo vệ nhà đầu tư trước nguy cơ nào? Không thể phủ nhận những ưu điểm và lợi
ích mà TTCK mang lại Song, TTCK không phải không có mặt trái và khuyết điểm nó.Bởi tham gia vào thị trường là các chủ thể khác nhau, trong điều kiện hoàn cảnh khácnhau, vai trò, vị trí khác nhau Vì thế, không thể hoàn toàn bình đẳng với nhau về mọimặt được Do đó, những cá nhân, pháp nhân có nguồn lực, quyền lực, vai trò vị trí nổitrội hơn, sẽ có nguy cơ lợi dụng vị trí của mình để lạm quyền trục lợi, và như thế quyềnlợi của phần còn lại sẽ bị tổn hại Từ các mối quan hệ trong giao dịch chúng tôi có thểnhận diện ra đây một số nguy cho các nhà đầu tư như: Mối nguy cơ giữa Nhà đầu tưlớn và Nhà đầu tư nhỏ với nhau; giữa Nhà đầu tư với tổ chức phát hành; giữa Nhà đầu
tư với người quản lý của tổ chức phát hành; giữa Nhà đầu tư với định chế trung gian,(Sở GDCK, Công Ty Chứng Khoán, quỹ đầu tư, đơn vị kiểm toán); và Nhà đầu tư với
Cơ quan, chức danh quản lý Nhà nước
46 Sở dĩ xem đây là mối nguy cơ là vì cá nhân, pháp nhân, chức danh hay Cơ quan nhà
nước này có những “đặc quyền” như: có nguồn lực tài chính mạnh, có cơ hội hoặc nắmgiữ các thông tin quan trọng, có quyền định đoạt tài sản của tổ chức phát hành, cóquyền là quyền lực Nhà nước Từ “đặc quyền” này có thể dẫn đến lạm quyền, haykhông thực thi trách nhiệm, gây tổn hại cho lợi ích nhà đầu tư Ví dụ: các Nhà đầu tưlớn “đội lái”, làm giá, thao túng, cổ phiếu AAA Hoặc người quản lý công ty, với chứcdanh như thành viên HĐQT, TGĐ có được thông tin nội bộ, mua bán nội gián như
Trang 30trường hợp công ty cổ phần Tập đoàn Khoáng sản Hamico, bị xử phạt năm 2010.Hoặc giả, trường hợp Ngân hàng ACB, Bà Huỳnh Thị Huyền Như, người quản lý công
ty đã trục lợi bằng cách thực thi không đúng qui định, làm tổn thất tài sản của Ngânhàng, đã dùng tài sản của ngân hàng thông qua cá nhân để gởi tiền ở ngân hàng kháchưởng lợi nhuận Cuối cùng phần tài sản này bị chiếm đoạt hay như trường hợp củangân hàng Sacombank, mặt dù việc mua bán thâu tóm của các nhà đầu từ trên thị tườngđược cảnh báo, song UBCK đã không ngăn chặc và chỉ xử phạt sau khi đã hoàn tất việcthâu tóm (hoàn tất các hành vi giao dịch)
47 Do đó, pháp luật đặt ra các qui định nhằm cấm đán, khống chế, hạn chế, ràng buộc và
qui trách nhiệm chho các lực lượng có ưu thế trên thị trường, nhằm hạn chế, giảmthiểu, trừng phạt, để ngăn ngừa và răng đe họ trong việc lợi dụng ưu thế của mình đểgây tổn thấta61t cho quyề nhà của nhà đầu tư Đồng thời, pháp luật cũng dành cho nhàđầu tư các quyền năng đối ứng với những ưu thế của những nhưng lực lượng có ưu thếnày
48 Tóm lại, TTCK là nơi mà bằng niêm tin, mua bán các loại chứng khoán của tổ chức
phát hành, bởi những nhà đầu tư có đầy đủ tư cách chủ thể, một cách gián tiếp, nhằmhuy động mọi nguồn lực trong xã hội cho đầu tư và phát triển Với tính cách là nhân tốquyết định của thị trường, nhà đầu tư được Nhà nước, thông qua công cụ pháp luật bảo
vệ quyền sở hữu tài sản dưới dạng tiền hoặc/và quyền tài sản Và các qui định cụ thểcủa pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư sẽ được đề cập ở mục tiếp theo
2 Các qui phạm pháp luật hiện hành trong việc bảo vệ nhà đầu tư:
49 Như vậy, ở mục 1 chương này, chúng tôi đã lý giải các vấn đề lý luận và căn cứ pháp
lý về nhà đầu tư và bảo vệ nhà đâu tư Phần tiếp theo này, chúng tôi sẽ đề cập đến các
Trang 31qui định cụ thể của pháp luật trong việc bảo vệ nhà đầu tư, cũng như cách thức thựchiện các qui định này Để từ đó, phân tích, đánh giá xem tính hợp lý và khả thi của cácqui định và đưa ra các giải pháp khắc phục
2.1 Quy định chung:
50 Thứ nhất, quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư (các nhân hay tổ chức) đều được Hiếnp
pháp, đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất ghi nhận và bảo hộ (điều 22, 57,58) Tiếp đến,quyền dân sự, quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư còn được bảo vệ bởi BLDS (điều 4,169) Theo đó, nhà đầu tư được quyền sở hữu không hạn chế đối với tài sản của mình;được chủ thể khác tôn trọng và được Nhà nước bảo vệ, bằng cách tự bảo hoặc nhờ đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ, như : yêu cầu được công nhận các quyềncủa mình; Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; Buộc xin lỗi, cải chính công khai; Buộcthực hiện nghĩa vụ dân sự; và Buộc bồi thường thiệt hại - trong hoặc ngoài hợp đồng(điều 169)
51 Thứ hai, Luật chuyên ngành một lần nữa tái khẳng định các nguyên tắc từ luật chung
như : mọi quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư được bảo vệ (khoản 3 điều 4 Luậtchứng khoán); Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thunhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư (khoản 2 điều 5 Luật DN);hoặc/và vốn, tài sản nhà đầu tư được bảo đảm không bị quốc hữu hóa, không bị tịchthu bằng biện pháp hành chính (điều 6 Luật Đầu tư) Trường hợp phải trưng thu, trưngdụng tài sản của nhà đầu tư trong trường hợp khẩn cấp, vì lợi ích quốc gia, thì Nhànước phải bồi thường thỏa đáng theo giá thị trường theo một thể thức nhất định (điều 6Luật Đầu tư)
2.2 Các qui định chuyên ngành:
Trang 3252 Ngoài các qui định chung, làm nền tảng cho việc bảo vệ nhà đầu tư, luật chuyên ngành
còn qui định chi tiết về các hành vi bị cấm, các ràng buộc để hạn chế hoặc ngăn chặclực lượng ưu thế có thể gây tổn đến nhà đầu tư và các chế tài (hành chính, hình sự hoặcdân sự ) nếu có hành vi vi phạm Các qui phạm bảo vệ Nhà đầu tư này trong các Luậtchứng khoán, Luật DN, Luật Đầu tư; BLDS và BLHS và qui phạm pháp luật liênquan Theo thứ tự được qui định tại Luật CK, chúng tôi cũng chia các qui định nàythành các nhóm qui định như sau: Những qui định đối với công ty đại chúng , nhữngqui định đối với hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng; những qui định vềniêm yết; những qui định về giao dịch chứng khoán và những qui định đối với các địnhchế trung gian
53 Công ty đĐ ại chúng Được xem như là hạt nhân trên TTCK Bởi vì đây là đơn vị cung
cấp hàng hóa, chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) chính cho TTCK (ngoài ra còn
có trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương) Các qui định bảo vệ Cổđông và Nhà đầu tư liên quan đến Công ty đĐại chúng là hết sức chặt chẽ, không chỉkhi nó trở thành “đại chúng” mà ngay khi nó chỉ là doanh nghiệp thông thường, chưa
có tính đại chúng Cụ thể, bản thân công ty đĐại chúng phải là công ty cổ phần, là loạihình DN có qui mô lớn nhất trong các loại hình DN theo Luật DN
54 Nhằm tránh việc người quản lý công ty, cổ đông sáng lập, cổ đông lớn lừa đảo hoặc
gian dối, chèn ép bốc lột cổ đông thiểu số, Luật DN nghiêm cấm các hành vi như: cảntrở việc thực hiện các quyền của cổ đông, khai mang trong việc góp vốn mua cổ phần
và những hạn chế việc bán cổ phần của cổ đông sáng lập trong 3 năm (điều 11, 84)
Để có sự giám sát của cổ đông, có qui định về việc công khai lợi ích của người quản lýcông ty (điều 118); người quản lý công ty phải nghĩa vụ trung thành, mẫn cán với lợiích của cổ đông (điều 119); trách việc lạm quyền và gia dịch giả tạo nhằm trục lợi, có
Trang 33qui định các hợp đồng hay giao dịch với người liên quan của người quản lý công typhải do ĐHĐCĐ hoặc HĐQT thông qua mới có hiệu lực ( điều 120) Hay qui định phảicông khai thông tin để cổ đông dẽ dàng tiếp cận (điều 129) Hoặc qui định quyền nhờluật sư, kiểm toán hoặc kế toán xem xét báo cáo tài chính của công ty Ngoài ra, cổđông còn có quyền khởi kiện thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (điều
25 Nghị định 102/CP/2010, ngày 1/10/2010 của Chính Phủ) Trường hợp, nếu có hành
vi vi phạm một trong các qui định này, thì chủ thể vi phạm gánh lấy hậu quả pháp lýbất lợi, là bị xử lý về hành chính, như phạt cảnh cáo, phạt tiền, các hình phạt bổ sung
và các biện pháp khắc phụ hậu quả, theo qui định tại Nghị định số 53/CP ngày4/4/2007 của CP, về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh
55 Và một khi đã trở thành “đĐại chúng”, có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng và có ít nhất 100
cổ đông (điều 25 Luật CK), Công ty đại chúng còn chụi sự ràng buộc các qui định tạiLuật CK như: phải đăng ký công ty đại chúng với UBCKNN trong vòng 90 ngày(khoản 2 điều 25 Luật CK), để chịu sự quản lý và giám sát bởi UBCKNN Cơ cấu tổchức và quản trị công ty phải tuân thủ các yêu cầu: Phải có Ban Kiểm sát, phải có thư
ký công ty, HĐQT ít nhất là 5 thành viên và 1/3 thành viên độc lập (không nắm giữ cổphiếu, không tham gia điều hành và không phải là người liên quan của người quản lýcông ty) (điều 28 Luật sửa đổi bổ sung Luật CK) Hoặc sự ràng buộc về ngăn ngừaxung đột lợi ích (điều 23,24 TT 212/2012/TT-BTC ngày 26/07/2012 của Bộ TàiChính) Hoặc nhiệm vụ của Cổ đông lớn (5% vốn điều lệ trở lên) phải công báo thôngtin trong giao dịch đồi với cổ phiếu của mình Hoặc công ty đại chúng phải công bốthông tin theo qui định tại điều (điều 10 Luật CK; 27, 28 TT 212/BTC và TT số52/2012/BTC ngày 05/04/2012 của Bộ Tài Chính) Hoặc tham dự ĐHĐCĐ của Kiểmtoán viên độc lập (điều 35 TT 212/BTC) Trường hợp nếu có hành vi vi phạm mộttrong các qui định này sẽ bị xử lý về mặt hành chính hoặc hình sự (điều 37 Luật CKNĐ85/CP)
Trang 3456 Đối với hoạt động phát hành (riêng llẻẽ hoặc ra công chúng), cùng với mục đích bảo
vệ nhà đầu tư Trước tiên tổ chức phát hành phải tự chịu trách nhiệm về tính trungthực và xác thực của mình thông tin do minh cung cấp Luật cũng qui trách nhiệm chobất kỳ ai, người ký hồ sơ phát hành trên hoặc được tiếp cân đến hồ sơ phát hành Đểngăn ngừa hành vi vi phạm, tiền huy động trong đợt phát hành phải nộp vào tài sảnphong tỏa tại ngân hàng Phải báo cáo cho UBCKNN biết sau khi hoàn tất việc pháthành Và trường hợp vi phạm, sẽ bị xử lý với hình thức như: Đình chỉ hoặc hủy bỏhoặc buộc thu hồi, hoàn lại tiền đã phát hành; và còn phải chịu phạt tiền theo qui địnhtại điều 23, 24 Luật Chứng Khoán; hoặc tại điều7,8 NĐ85/CP, ngày 02/8/2010 củaCP
57 Đối với hoạt động niêm yết Hiện tại có 2 nơi niêm yết CKở Việt Nam, đó là Sở
GGCK Hà Nội hoặc Sở GDCK Tp.HCM Đây là thời điểm có thể xem là “nhạy cảm”nhất và dễ bị lợi duụng nhất trong hoạt động giao dịch CK của Nhà đầu tư Vì thôngthường giá cổ phiếu (thị giá) được định cao hơn so với mệnh giá; và nhà đầu tư quyếtđịnh việc giao dịch thông qua các thông tin do tổ chức phát hành cung cấp, và niềm tin
ở nhà tổ chức thị trường là Sở GDCK Cho nên, để ngăn ngừa và trừng phạt hành vitrục lợi, pháp luật qui định rất chặt chẽ nhằm bảo vệ nhà đâu tư Trước tiên, tổ chứcphát hành phải là DN có qui mô, có tài sản, tình hình tài chinh lành mạnh và có triểnvọng phát triển tốt Tránh các DN yếu kém, tài sản ảo, không có mô mô và triển vọng
58 Để được niêm yết trên Sở GDCK Tp HCM vốn điều lệ phải có ít nhất 120 tỷ ; là công
ty cổ phần 2 năm liên tiếp; tình hình hoạt động kinh doanh 2 năm liền trước có lãi vàkhông có lỗ lũy kế ; tối thiểu 20% cổ phần có quyền do cho ít nhất 300 cổ đông không
có cổ đông lớn nắm giữ Tiếp đến, qui định còn ràng buộc người quản lý công ty, phải
Trang 35cam kết giữ, không bán 100% số cổ phần mình đang sở hữu trong 6 tháng và 50%trong số đó rong 6 tháng tiếp theo (Điều57 Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày20/07/2012 của Chính phủ) Tại Sở GDCK Hà Nội, điều kiện niêm yết có phần ít khắtckhe hơn như: vốn điều lệ chỉ với 30 tỷ; chỉ cần 1 năm hoạt động dưới hình thức công ty
CP và hoạt động có lãi của 1 năm liền trước năm niêm yết và 15 % có biểu quyền do100% cổ đông nắm giữ (nguồn thông tin, trích văn bản)
59 Tiếp đến, hồ sơ niêm yết phải cung cấp đầy đủ thông tin từ tư cách pháp lý của tổ chức
niêm yết, số lượng cổ đông, vốn đều lệ, tài sản DN, tình tài chính, lý lịch và danh sáchngười liên quan của người quản lý công ty Ngoài việc tự chịu trách nhiệm, những địnhchế trung gian như đơn vị kiểm toán, đơn vị tư vấn, cũng phải liên tục chịu trách nhiệm
về tính trung thực và xác thực của hồ sơ Niêm yết Trường hợp vi phạm như giả mạohoặc gây hiểu nhầm nghiêm trọng, thì có thể bị xử lý bằng hình thức phạt cảnh cáo,phạt tiền, huỷ bỏ niêm yết hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự (điều 123 Luật CK).Tương tự, nếu tổ chức phát hành vi phạm về thời gian, nội dung và phương tiện công
bố thông tin về việc niêm yết thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền và buộc chấp hành đúngcác quy định của pháp luật về việc niêm yết (điều 123 Luật CK) Chi tiết việc xử phạt ,
xử lý vi phạm này được tại điều 11 NĐ85/CP
60 Riêng đối với đơn vị kiểm toán còn có thể bị xử lý hành chính , về hành vi không báo
cho tổ chức phát hành biết về những nội dung không tuân thủ Pháp luật trong báo cáotài chính; không giải trình, cung cấp thông tin theo yêu cầu UBCK NN; không ghi ýkiến vào báo cáo kiểm toán về những sai phạm của tổ chức được kiểm toán; khôngthông báo kiệp thời cho đơn vị được kiểm toán và người thứ 3 biết những vi phạm;không báo cáo hoặc báo cáo không kịp thời cho UBCK NN khi có nghi ngờ hoặc pháthiện tổ chức được kiểm toán cho sai phạm do không tuân thủ pháp luật Có thể bị phạt
Trang 36tiền đến 150 triệu đồng và đình chỉ có thời hạn hoặc hủy bỏ tư cách Kiểm toán viên(điều 35 của NĐ85/CP).
61 Đối với hoạt động giao dịch Do phải qua trung gian, không có cơ hội và khả năng để
kiểm chứng, rất dễ bị chèn ép hoặc bị trục lợi của nhóm có lơi thế Do đó, để bảo vệnhà đầu tư, bảo vệ sự thông suốt, có trật tự, bình đẳng và minh bạch của thị trườngpháp luật về chứng khoán nghiêm cấm các hành vi như :
a Trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi gian lận, lừa đảo, tạo dựng thông tinsai sự thật hoặc bỏ sót thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnhhưởng đến hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch,kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứngkhoán;
b Công bố thông tin sai lệch nhằm lôi kéo, xúi giục mua, bán chứng khoán hoặccông bố thông tin không kịp thời, đầy đủ về các sự việc xảy ra có ảnh hưởng lớnđến giá chứng khoán trên thị trường
c Sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán cho chính mình hoặc chongười khác; tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho người khác mua, bánchứng khoán trên cơ sở thông tin nội bộ
d Thông đồng để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giảtạo; giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tụcmua, bán để thao túng giá chứng khoán; kết hợp hoặc sử dụng các phương phápgiao dịch khác để thao túng giá chứng khoán
62 Đồng thời, pháp luật (điều 126 Luật CK)cũng cũng có chế tài nghiêm khắc như hành
chính, hình sự đối với hành vi vi phạm, nhằm phòng ngừa, răng đe và buộc khôi phụclại tình trạng ban đầu đối với các hành vi như :
Trang 37a Người biết rõ thông tin nội bộ hoặc người có thông tin nội bộ nếu mua, bán chứngkhoán, tiết lộ thông tin này hoặc đề nghị người khác mua, bán chứng khoán.
b Người mà pháp luật quy định cấm tham gia vào giao dịch cổ phiếu trực tiếp hoặcgián tiếp nắm giữ hoặc mua bán cổ phiếu bằng cách đổi tên hoặc mượn danh nghĩangười khác
c Người có hành vi vi phạm quy định về các hành vi bị cấm để thao túng giá chứngkhoán, tạo ra giá chứng khoán giả tạo, giao dịch giả tạo
d Nhân viên nghiệp vụ của Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứngkhoán, công ty chứng khoán nếu cố ý cung cấp tài liệu giả, làm giả, làm sai lệchhoặc tiêu huỷ tài liệu giao dịch để lừa đảo; dụ dỗ khách hàng mua, bán chứngkhoán
e Người tạo dựng và tuyên truyền thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng nghiêm trọngđến thị trường chứng khoán, gây lũng đoạn thị trường giao dịch chứng khoán
f Người thực hiện hành vi chào mua công khai mà không gửi đăng ký chào mua đến
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước; không chào mua công khai theo quy định hoặcthay đổi, điều chỉnh so với đăng ký chào mua mà không báo cáo theo quy định;không áp dụng các điều kiện chào mua công khai cho tất cả cổ đông của công tyđại chúng; từ chối mua cổ phiếu từ bất kỳ cổ đông nào theo điều kiện đã công bố;không chấp hành đúng thời hạn chào mua công khai
63 Ngoài ra, nếu hành vi có dấu hiệu phạm tội, thì có thể chịu trách nhiệm hình sự về các
tội danh như “tội cố ý còn báo thông tin sai lệch hoặc che dấu sự tổn thất trong hoạtđộng chứng khoán” (điều 181a); “ tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứngkhoán” (điều 181b); và tội “thao túng giá chứng khoán” (điều 181c) Hoặc có thể bịchế tài dân sự theo các qui định tại điều 9 BLDS
Trang 3864 Đối với các định chế trung gian Như đã đề cập, đây là thị trường hoạt động phải qua
trung gian, nên các định chế trung gian này có vai trò rất quan trọng trong việc làm cầunối cho hoạt động giao dịch trên thị trường Các định chế này là Công ty chứng khoán,
Sở GDCK, Đơn vị Kiểm toán, Trung tâm lưu và toán bù trừ Chứng khoán và Ngânhàng giám sát Các định chế này phải thực hiện đúng chức trách của mình, để bảo đảm
sự khách quan, độc lập, trung thực và không bị lợi dụng Do đó, ngoài việc phải côngbáo thông tin theo qui định hoặc bảo mật thông tin cho nhà đầu tư Các định chế nàycòn phải tuân thủ đầy đủ các qui định chuẩnmục của các định chế này Trường hợp có
vi phạm sẽ bị xử lý theo qui định Pháp luật chứng khoán và Pháp luật có liên quan
65 Cụ thể, đối với tổ chức hành nghề kinh doanh chứng khoán, bị nghiêm cấm và bị xử lý
nếu vi phạm về các hành vi như : không tuân thủ các qui định về quản lý tách bạch tàisản, tiền, chứng khoán của khách hàng; không duy trì bảo đảm mức vốn khả dụng theoquy định; đầu tư hoặc tham gia góp vốn vượt quá mức quy định; làm trái lệnh củangười đầu tư; không thực hiện chế độ bảo mật thông tin của khách hàng; lợi dụng chứctrách, nhiệm vụ để cho mượn tiền, chứng khoán trên tài khoản của khách hàng; cầm cốhoặc sử dụng tiền, chứng khoán trên tài khoản của khách hàng khi chưa được kháchhàng uỷ thác thì mức độ xử lý có thể là bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, đình chỉ hoạt độnghoặc thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc thậm chí có thể bị (khoản 1,2,3 &5điều 125 Luật CK) truy cứu trách nhiệm hình sự (điều 125 Luật CK)
66 Riêng đối với Công ty quản lý quỹ và người hành nghề chứng khoán, cũng bị nghiêm
cấm và buộc phải tuân thủ các qui định như : không tách biệt việc quản lý từng quỹ;không tuân theo Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán và bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa nhà đầu tư; không thực hiện kiểm soát nội bộ theo quy định; dùng vốn và tài sảncủa quỹ đầu tư chứng khoán để đầu tư hoặc mua tài sản của quỹ đầu tư khác; vi phạm
Trang 39các quy định về tham gia góp vốn, nắm giữ cổ phần, vay hoặc cho vay đối với công tyquản lý quỹ và ngược lại … Vi phạm qui định này sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền vàbuộc chấp hành đúng các quy định pháp luật về quản lý quỹ đầu tư chứng khoán(khoản 4 điều 125 Luật CK).
60 Cách thức bảo vệ nhà đâu tư là các phương thức tiến hành hoạt động bảo vệ nhà đầu
tư Tức là bảo vệ các quyền của nhà đầu tư dựa trên nền tảng pháp luật Với xã hội dân
sự và Nhà nước pháp quyền, thì hoặc là nhà đầu tư tự bảo vệ hoặc việc bảo vệ đượcthông cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (điều 169BLDS) Phương thức tTự bảo vệ lànhà đầu tư tự thực hiện các quyền năng của mình; còn thông qua cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền là việc, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đảm trách hoạt động để bảo vệnhà đầu tư Theo qui định của hệ thống pháp luật hiện hành, việc bảo vệ nhà đầu tưthông qua cơ quan Nhà nước gồm các hình thức Hành chính, Dân sự, Trong tài vàHình sự Riêng phương thức bảo vệ qua hiệp hội của Nhà đầu tư, về nguyên tắc cũng làcách thức Tuy nhiên, theo các qui định đã được dẫn chứng, thì không thấy đề cập đếnhiệp hội trong việc bảo vệ nhà đầu tư <=Ý này chưa rõ?
3.1 Tự thực hiện bởi nhà đầu tư :
67 Đây là cách mà pháp luật dành cho nhà đầu tư các quyền năng mà tự mình thực hiện,
không phải thông qua Cơ quan Nhà nước, hay tổ chức nào Ví dụ, quyền của cổ đông,hoặc kiểm toán viên hoặc kế toán cùng luật sư kiểm tra sổ sách của tổ chức phát hành(khoản 2,3 điều 79 Luật doanh nghiệp); quyền yêu cầu người quản lý công ty triệu tập
Trang 40đại hội cổ đông, (khoản 4 điều 128 Luật doanh nghiệp) Và một trong những quyềnnăng quan trọng nhất là quyền bỏ phiếu của nhà đầu tư tại Đại Hội Đảng có Cổ đông.
3.2 Phương thức Hành chính:
68 Là các cách thức mà Cơ quan Hành chính Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan
Hành chính Nhà nước, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn theo qui định đểbảo đảm sự tuân thủ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.Phương thức này gồm các chức năng như hoạt động giám sát, hoạt động thanh tra, hoạtđộng xử lý vi phạm hành chính và hoạt động tố tụng hành chính
3.2.1 Hoạt động giám sát:
69 Giám sát là hoạt động thường xuyên, liên tục của UBCK Nhà nước nhằm xem xét sự
tuân thủ pháp luật của mọi hành vi trên TTCK, nhằm ngăn ngừa, ngăn chặn và xử lýkịp thời các hành vi không tuân thủ pháp luật Giám sát được thực hiện dưới 2 phươngthức là giám sát từ xa, thông qua các báo cáo định kỳ, bất thường của các Sở GDCKhoặc theo yêu cầu của vụ giám sát UBCK NN; hoặc kiểm tra tại chổ hành vi có dấuhiệu vi phạm pháp luật ( khoản 1, điều 8 Luật chứng khoán; khoản 1,2 mục III quyếtđịnh 531/QĐ-UBCK ngày 21/08/20090 Cơ quan đảm trách việc giám sát là vụ giámsát thị Trường UBCK NN Cơ cấu tổ chức nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan được quiđịnh tại quyết định 127/2008 của Bộ tài chính
70 Các hoạt động giám sát nhằm vào các nhóm hành vi bị cấm và phải tuân thủ như sau:
a) Nhóm các hành vi giao dịch bị cấm, gồm: Các hành vi gian lận hoặc lừa đảo tronggiao dịch chứng khoán; Các giao dịch nội bộ; và các giao dịch thao túng thịtrường;