1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Tiểu luận môn sinh lý

12 50 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 92,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI: SINH LÝ CÁC CƠ QUAN PHÂN TÍCH Ở TRẺ LỨA TUỔI MẦM NON VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHÚNG. A. ĐẶT VẤN ĐỀ Con người chúng ta nhận biết thế giới đều bắt đầu từ các giác quan. Nhờ các cơ quan cảm giác kích thích não bộ, trẻ có thể nhận biết hình dáng người mẹ, thưởng thức hương vị của sữa mẹ… những thông tin giác quan này được tích lũy trong bộ não của trẻ sau này trở thành ký ức và hệ thống tri thức, từ đó giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh. Giác quan đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong cuộc sống. Nó là cầu nối gắn kết chúng ta với môi trường. Đó là những kênh duy nhất tiếp nhận những thông tin bên ngoài truyền đến bộ não. B. NỘI DUNG I – Đại cương về cơ quan phân tích 1. Khái niệm Trong quá trình phát triển trên cơ thể hình thành những tập hợp đặc biệt của các tổ chức nhạy cảm được gọi là cơ quan nhận cảm, chúng nối liền với các dây thần kinh hướng tâm dẫn truyền các xung động thần kinh về trung ương, ở đó xẩy ra quá trình phân tích các kích thích nhận được để cuối cùng cơ thể có phản ứng thích nghi với kích thích đó. Tập hợp đó được gọi và cơ quan phân tích. 2. Cấu tạo: Theo Paplop, cơ quan phân tích gồm có: Cơp quan nhận cảm: là tổ chức nhạy cảm đã được chuyên môn hóa, có khả năng nhạy cảm với một loại kích thích nhất định. Bộ phận dẫn truyền: là các dây thần kinh hướng tâm làm nhiệm vụ vận chuyển hưng phấn từ các cơ quan nhận cảm tới trung ương thần kinh Bộ phận trung ương: Là phần vỏ não tương ứng của mỗi cơ quan phân tích. 3. Vai trò của cơ quan phân tích: Nhờ có cơ quan phân tích mà con người nhận thức được thế giới xung quanh. II. Các cơ quan phân tích 1. Cơ quan phân tích thị giác Cơ quan phân tích thị giác là cơ quan rất nhạy và rất quan trọng. Nó có khả năng thu nhận tới 80 90% các thông tin từ bên ngoài vào não. Nhờ cơ quan phân tích thị giác mà ta có thể thu nhận được những biểu hiện về sự phát sáng của mọi vật, về màu sắc, hình dạng, độ lớn, khoảng cách và sự di chuyển của vật đó. 1.1. Cấu tạo của cơ quan phân tích thi giác Bộ phận nhận cảm, cơ quan thị giác (cầu mắt). Bộ phận dẫn truyền: dây thần kinh thị giác. Bộ phận trung uơng: vùng phân tích thị giác trên vỏ não. Mắt nằm trong hóc mắt có dạng hình cầu. Mắt gồm 3 lớp màng: Màng sợi, màng mạch, màng thần kinh Các phần phụ của mắt bao gồm: + Lông mi và mi măt: có tác dụng bảo vệ măt + Lông mày: Ngăn chặn mồ hôi không xuống măt. + Tuyến lệ: Tiết nước mắt, nước mắt có tác dụng làm ướt giác mạc, rửa sạch bụi bẩn. 1.2. Sự phát triển của mắt ở trẻ Ngay từ khi sinh ra (kể cả trẻ đẻ thiêu tháng), mắt đã có thể thực hiện đầy đủ chức năng của cơ quan thị giác. Ở trẻ sơ sinh, đuờng kính của cầu mắt thuờng nhỏ hơn ở nguời lớn từ 25 30%. Thủy tinh thể có khả năng đàn hổi lớn, nhung mức độ hội tụ thì lại kém. Vì vậy, ở khoảng cách từ vật đêh mắt, bình thuờng ảnh của vật rơi sau võng mạc. Do đó, trẻ thuờng nhìn xa (viễn thị tự nhiên). Khối luợng mắt của trẻ nhỏ chỉ nặng từ 2 4g (ở nguời lớn 6 8g). Sau khi sinh, khối luợng của mắt chỉ tăng lên 2 3 lần và tăng nhanh nhất trong năm đầu. Khi trẻ đuợc từ 3 4 tuổi, khối luợng mắt gần bằng khối luợng mắt nguời lớn. Ở trẻ sơ sinh, đuờng kính giác mạc của mắt gần bằng của nguời lớn. Khe mắt của trẻ mặc dù ngắn hơn 2 lần nhung mở rất rộng. Mắt nhô ra phía truớc hơi nhiều (vì hố mắt nơi chứa cầu mắt còn chua sâu). Đối với trẻ mới đẻ (kể cả trẻ đẻ thiêu tháng) các tuyên lệ làm uớt mắt đã hoạt động. Khi trẻ đuợc từ 3 5 tháng, duới tác động của các dây thần kinh phó giao cảm có phản xạ tăng tiêt nuớc mắt. Vì vậy trẻ trong những tháng đầu không có biểu hiện của khóc mà chỉ là kêu la không có nuớc mắt. Ở Trẻ 6 tháng phân biệt đuợc sự khác nhau giữa nguời lạ và nguời quen. Trẻ 12 tháng đã nhận dạng đuợc đổ vật. Trẻ 30 tháng có thể nhận biêt đuợc một số màu cơ bản (đỏ, xanh, vàng, đen, trắng). Trẻ càng lớn đường kính cầu mắt càng tăng lớn. Khi 3 tuổi, đường kính cầu mắt của nó đã đạt được 94% so với người lớn. Mặt khác, độ đàn hổi của thủy tinh thể giảm dần, độ hội tụ tăng lên. Do đó, sự viễn thị tự nhiên cũng giảm dần. Trẻ 5 tuổi đã có khả năng phân biệt được một số màu trung gian. Trẻ càng lớn thì khả năng thu nhận và phân biệt những kích thích (hình dạng, màu sắc...) càng phong phú. Nhưng mức độ phong phú đó lại phụ thuộc vào sự luyện tập của từng trẻ.

Trang 1

ĐỀ TÀI: SINH LÝ CÁC CƠ QUAN PHÂN TÍCH Ở TRẺ LỨA TUỔI

MẦM NON VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHÚNG.

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Con người chúng ta nhận biết thế giới đều bắt đầu từ các giác quan Nhờ các cơ quan cảm giác kích thích não bộ, trẻ có thể nhận biết hình dáng người

mẹ, thưởng thức hương vị của sữa mẹ… những thông tin giác quan này được tích lũy trong bộ não của trẻ sau này trở thành ký ức và hệ thống tri thức, từ đó giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh

Giác quan đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong cuộc sống Nó là cầu nối gắn kết chúng ta với môi trường Đó là những kênh duy nhất tiếp nhận những thông tin bên ngoài truyền đến bộ não

B NỘI DUNG

I – Đại cương về cơ quan phân tích

1 Khái niệm

Trong quá trình phát triển trên cơ thể hình thành những tập hợp đặc biệt của các tổ chức nhạy cảm được gọi là cơ quan nhận cảm, chúng nối liền với các dây thần kinh hướng tâm dẫn truyền các xung động thần kinh về trung ương, ở

đó xẩy ra quá trình phân tích các kích thích nhận được để cuối cùng cơ thể có phản ứng thích nghi với kích thích đó Tập hợp đó được gọi và cơ quan phân tích

2 Cấu tạo:

Theo Paplop, cơ quan phân tích gồm có:

- Cơp quan nhận cảm: là tổ chức nhạy cảm đã được chuyên môn hóa, có khả năng nhạy cảm với một loại kích thích nhất định

- Bộ phận dẫn truyền: là các dây thần kinh hướng tâm làm nhiệm vụ vận chuyển hưng phấn từ các cơ quan nhận cảm tới trung ương thần kinh

- Bộ phận trung ương: Là phần vỏ não tương ứng của mỗi cơ quan phân tích

Trang 2

3 Vai trò của cơ quan phân tích:

Nhờ có cơ quan phân tích mà con người nhận thức được thế giới xung quanh

II Các cơ quan phân tích

1 Cơ quan phân tích thị giác

Cơ quan phân tích thị giác là cơ quan rất nhạy và rất quan trọng Nó có khả năng thu nhận tới 80 - 90% các thông tin từ bên ngoài vào não Nhờ cơ quan phân tích thị giác mà ta có thể thu nhận được những biểu hiện về sự phát sáng của mọi vật, về màu sắc, hình dạng, độ lớn, khoảng cách và sự di chuyển của vật đó

1.1 Cấu tạo của cơ quan phân tích thi giác

- Bộ phận nhận cảm, cơ quan thị giác (cầu mắt)

- Bộ phận dẫn truyền: dây thần kinh thị giác

- Bộ phận trung uơng: vùng phân tích thị giác trên vỏ não

Mắt nằm trong hóc mắt có dạng hình cầu Mắt gồm 3 lớp màng: Màng sợi, màng mạch, màng thần kinh

Các phần phụ của mắt bao gồm:

+ Lông mi và mi măt: có tác dụng bảo vệ măt

+ Lông mày: Ngăn chặn mồ hôi không xuống măt

+ Tuyến lệ: Tiết nước mắt, nước mắt có tác dụng làm ướt giác mạc, rửa sạch bụi bẩn

1.2 Sự phát triển của mắt ở trẻ

- Ngay từ khi sinh ra (kể cả trẻ đẻ thiêu tháng), mắt đã có thể thực hiện đầy

đủ chức năng của cơ quan thị giác

- Ở trẻ sơ sinh, đuờng kính của cầu mắt thuờng nhỏ hơn ở nguời lớn từ 25 -30% Thủy tinh thể có khả năng đàn hổi lớn, nhung mức độ hội tụ thì lại kém Vì vậy, ở khoảng cách từ vật đêh mắt, bình thuờng ảnh của vật rơi sau võng mạc

Do đó, trẻ thuờng nhìn xa (viễn thị tự nhiên)

- Khối luợng mắt của trẻ nhỏ chỉ nặng từ 2 - 4g (ở nguời lớn 6 - 8g) Sau khi sinh, khối luợng của mắt chỉ tăng lên 2 - 3 lần và tăng nhanh nhất trong năm đầu Khi trẻ đuợc từ 3 - 4 tuổi, khối luợng mắt gần bằng khối luợng mắt nguời lớn

- Ở trẻ sơ sinh, đuờng kính giác mạc của mắt gần bằng của nguời lớn Khe mắt của trẻ mặc dù ngắn hơn 2 lần nhung mở rất rộng Mắt nhô ra phía truớc hơi

Trang 3

nhiều (vì hố mắt nơi chứa cầu mắt còn chua sâu).

- Đối với trẻ mới đẻ (kể cả trẻ đẻ thiêu tháng) các tuyên lệ làm uớt mắt đã hoạt động Khi trẻ đuợc từ 3 - 5 tháng, duới tác động của các dây thần kinh phó giao cảm có phản xạ tăng tiêt nuớc mắt Vì vậy trẻ trong những tháng đầu không

có biểu hiện của khóc mà chỉ là kêu la không có nuớc mắt

Ở Trẻ 6 tháng phân biệt đuợc sự khác nhau giữa nguời lạ và nguời quen Trẻ 12 tháng đã nhận dạng đuợc đổ vật Trẻ 30 tháng có thể nhận biêt đuợc một

số màu cơ bản (đỏ, xanh, vàng, đen, trắng)

-Trẻ càng lớn đường kính cầu mắt càng tăng lớn Khi 3 tuổi, đường kính cầu mắt của nó đã đạt được 94% so với người lớn Mặt khác, độ đàn hổi của thủy tinh thể giảm dần, độ hội tụ tăng lên Do đó, sự viễn thị tự nhiên cũng giảm dần

-Trẻ 5 tuổi đã có khả năng phân biệt được một số màu trung gian Trẻ càng lớn thì khả năng thu nhận và phân biệt những kích thích (hình dạng, màu sắc ) càng phong phú Nhưng mức độ phong phú đó lại phụ thuộc vào sự luyện tập của từng trẻ

1.3 Chức năng của cơ quan phân tích thị giác

a Sự điều tiết của mắt

Người ta không thể cùng một lúc trông thấy các vật rõ như nhau, nếu khoảng cách của chúng khác nhau Sự thay đổi khúc xạ của mắt để nhận rõ ảnh của các vật ở những khoảng cách khác nhau gọi là sự điều tiết của mắt Mắt có thể điều tiết bằng cách thay đổi độ cong của thủy tinh thể

Khả năng điều tiết của mắt có giới hạn và mắt chỉ có thể nhìn thấy rõ các vật ở giữa 2 điểm gọi là điểm xa nhất và điểm gần nhất

Nếu mắt luôn luôn phải điều tiết sẽ bị mệt mỏi và tình trạng này kéo dài dễ dẫn đến cận thị hoặc viễn thị

Lực điều tiết của mắt thay đổi tùy thuộc vào trạng thái chức năng của cơ thể Khi cơ thể mệt mỏi lực điều tiết sẽ giảm xuống

b Sự thu nhận hình ảnh

Kích thích tự nhiên với mắt là ánh sáng có bước sóng từ 0,1 đến 0,8pm Giác mạc, thủy tinh thể, thủy dịch, thể pha lê đều có khả năng chiết quang

Do vậy mắt là một hệ thống quang học có khả năng hội tụ và khúc xạ ánh sáng

Nó khúc xạ các tia sáng đi qua nó và lại hội tụ các tia đó vào một điểm

Trang 4

Khi ta nhìn một vật, các tia sáng từ vật đến mắt qua môi trường chiết quang

sẽ khúc xạ và hội tụ trên võng lưới tạo nên trên màng lưới một ảnh của vật nhỏ hơn và ngược chiều với vật Sau đó, nhờ hoạt động phân tích trên vỏ não kết hợp với các giác quan khác (sờ) và sự tích luỹ kinh nghiệm sống mà chúng ta nhận được một hình ảnh vật xuôi chiều, có khoảng cách và chuyển động

c Cơ chế thu nhận ánh sáng và màu sắc

Đây là hiện tượng quang hoá học Ở trên màng lưới có các thụ thể của hệ phân tích thị giác Đó là các tế bào đặc biệt có khả năng cảm thụ với ánh sáng, gọi là các tế bào que và các tế bào nón

Tế bào que và tế bào nón đều là những tế bào nhận cảm ánh sáng của mắt Khi các tế bào này bị hưng phấn thì gây ra cảm giác thị giác, nhưng tế bào nón thì phụ trách việc nhìn ban ngày và nhìn các màu sắc, còn tế bào que phụ trách việc nhìn lúc tối và ban đêm

d Cơ chế nhìn màu

Mắt người có khả năng cảm thụ được 7 màu trong quang phổ mặt trời và rất nhiều màu trung gian giữa chúng

Giải thích về khả năng thu nhận màu sắc của mắt có nhiều thuyết, song phổ biến nhất là thuyết 3 thành phần của Hemhôn Theo thuyết này trên võng mạc có

3 loại tế' bào nón có khả năng thu nhận màu sắc khác nhau Trong tế bào nón có chứa một chất hoá học đặc biệt, chất này sẽ tan ra dưới ảnh hưởng của các màu sắc khác nhau

Khi các chất này tan ra sẽ tác động lên đầu mút của dây thần kinh thị giác

và gây hưng phấn Hưng phấn sẽ được truyền về vỏ não và sẽ gây cảm giác về màu sắc tương ứng

Nếu ta mất một phần hay toàn bộ khả năng thu nhận màu sắc thì đó là bệnh

mù màu (ít gặp)

e Thị lực (độ tinh) của mắt

Độ tinh của mắt là khả năng của mắt có thể phân biệt được những chi tiết nhỏ nhất của vật mà ta quan sát Độ tinh của mắt chủ yếu là do tế bào nón quyết định Ngoài ra độ tinh của mắt còn bị

thay đổi theo: độ chiếu sáng, tác động của sự rèn luyện, trạng thái cơ thể

1.4.Những phương thức cải thiện thị giác ở trẻ

- Thường xuyên khuyên, nhăc nhở trẻ nhìn xa không được nhìn quá gần

- Đọc, viết đúng khoảng cách

- Phòng học đủ ánh sáng cho trẻ

Trang 5

- Thường xuyên bổ sung dưỡng chất tốt cho mắt hoặc ăn những thực phẩm tốt cho mắt

- Tuyên truyền phụ huynh khám mắt cho trẻ thường xuyên

2 Cơ quan phân tích thính giác

2.1 Cấu tạo cơ quan phân tích thính giác

- Bộ phận nhận cảm: cơ quan thụ cảm thính giác (ốc tai)

- Bộ phận dẫn truyền: dây thần kinh thính giác

- Bộ phận trung ương: vùng phân tích thính giác trên vỏ não.Sự phát triển của cơ quan thính giác ở trẻ

2.2 Sự phát triển của cơ quan thính giác

a Sự phát triển của cơ quan thỉnh giác sau khi sinh

Sau khi sinh, tai trong và tai giữa hầu nhu hoàn toàn không lớn thêm ra, còn tai ngoài có nhiều biến đổi Vành tai của trẻ mới đẻ rất lớn: chiều dài của vành tai chỉ kém 2 lần, chiều rộng gần nhu bằng vành tai của nguời lớn Vành tai tiếp tục lớn lên trong 2 - 3 năm đầu, sau đó lớn chậm hẳn lại Tiếp với vành tai là ống tai ngoài Trẻ mới đẻ ống tai ngoài chứa đầy một khối chất nhầy giống nhu

bã đậu Chiều dài vách trên của ống tai ngoài vào khoảng 15mm, còn vách duới

là 8mm Phần giữa của ống tai hẹp, dạng khe hở Da ống tai đuợc phủ lông tơ và chứa tuyến tiết ra ráy tai Ông tai ngoài lớn lên về chiều dài cũng nhu về chiều rộng rất nhanh trong năm đầu, sau chậm lại và đến 6 tuổi thì đạt tới kích thuớc nhu ở nguời lớn

Ở trẻ sơ sinh màng nhĩ đuợc phủ từ phía trong và nhất là từ phía ngoài một lớp biểu mô dày hơn nguời lớn Lớp này có tác dụng làm giảm cuờng độ các dao động âm thanh của màng nhĩ

Trong giai đoạn bào thai, khoang tai giữa chứa đầy một chất dịch Sau khi sinh, chất dịch đuợc thay bằng không khí, đi vào vòi nhĩ (ống nhĩ hầu)

Vòi nhĩ của trẻ mới đẻ gần nhu nằm ngang, không uốn cong vòi nhĩ ngắn hơn (khoảng 19mm) và rộng hơn nhiều (đuờng kính gần 3mm) làm cho không khí tràn vào khoang tai giữa dễ dàng hơn Trong những năm đầu, bên trong của vòi dần dần hẹp lại và đến lúc 6 tuổi thì nhỏ bằng của nguời lớn Sau đó tai tiếp tục lớn lên về chiều dài cho đến 15 - 18 tuổi

b Sự phát triển của phản ứng đối với các kích thích âm thanh

Thai nhi 6 - 7 tháng đã có khả năng phản ứng với kích thích âm thanh bằng cách tích cực vận động toàn thân

Trang 6

Ngay từ khi lọt lòng mẹ ở trẻ đã có những phản ứng đáp lại kích thích âm thanh nhu chớp mắt, nhắm mắt (và mở mắt khi đang nhắm mắt), ngừng khóc, cử động nét mặt, thay đổi nhịp thở

Trong ngày đầu trẻ sơ sinh thuờng không nghe thấy vì ở khoang tai giữa có chứa một chất dịch Những ngày tiếp theo tai trẻ có thể tiếp thu tần số dao động

âm thanh không những ở giới hạn giống nhu ở nguời lớn, mà còn ở phạm vi cao hơn

Trẻ càng lớn khả năng thu nhận và phân biệt âm thanh ngày càng tăng Trẻ 3 - 4 tháng có thể phân biệt đuợc âm thanh có độ cao khác nhau, phân biệt nguời lạ nguời quen qua âm thanh Trẻ 8 - 9 tháng có thể hiểu đuợc những

từ riêng biệt Trẻ từ 12 tháng có thể phân biệt đuợc âm sắc, có khả năng tập trung thính giác Trẻ 18 tháng thích nghe hát và âm nhạc Trẻ 30 tháng thích nghe và hiểu được những câu chuyện đơn giản Trẻ 36 tháng có thể phân biệt được giai điệu của bài hát Trẻ 12 tuổi độ thính của tai được tăng lên rõ rệt và đạt tối đa lúc 14 - 19 tuổi

Nhìn chung khả năng nghe và phân biệt âm thanh của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào sự luyện tập của chúng, và sự tác động của nhiều yêu tố của môi trường xung quanh, vào trạng thái cơ thể

2.3 Chức năng của cơ quan phân tích thính giác

- Thu nhận những kích thích âm thanh truyền về vùng thính giác trên vỏ não, rồi phân tích những kích thích đó

- Tiếp thu những kiên thức, những kinh nghiệm của thế hệ trước qua ngôn ngữ

- Thưởng thức dạng nghệ thuật được xây dựng bằng âm thanh

a Cơ chế thu nhận âm thanh

Cơ quan thính giác thu nhận âm thanh dưới dạng sóng âm

Cảm giác thính giác được phát sinh là do kết quả tác động của làn sóng không khí lên màng nhĩ Chấn động của màng nhĩ được các xương tai chuyển tới màng cửa sổ bầu dục, làm cho màng này bị chấn động theo Màng cửa sổ bầu dục chấn động lại làm cho nội, ngoại dịch chấn động theo (đặc biệt là nội dịch) Chấn động của nội dịch lại gây nên chấn động của các tiêm mao nằm trong cơ quan Coócti và từ đó gây hưng phấn ở đầu tận cùng của dây thần kinh thính giác Hưng phấn được truyền tới vùng thính giác trên vỏ não, làm cho ta có cảm

Trang 7

giác về âm thanh.

b Giới hạn thỉnh giác

Tai người chỉ thu nhận được âm thanh trong một giới hạn nhất định từ 16.000 đến 20.000 chấn động/giây Giới hạn này thay đổi theo tuổi Người càng nhiều tuổi khả năng thu nhận của tai càng nặng nề với những âm thanh có tần số thấp Chẳng hạn, người 35 tuổi có khả năng thu nhận âm thanh với tần số tối đa

là 15.000, còn người 50 tuổi thì chỉ thu nhận được âm thanh đến 13.000 dao động/giây

2.3 Cách bảo vệ thính giác ở trẻ

- Không nên cho trẻ nghe âm thanh có tần số lớn

- Thường xuyên vệ sinh tai cho trẻ

- Thường xuyên kiểm tra tai cho trẻ

- Tránh để nước vào tai khi trẻ tắm hoặc bơi

- Không dùng vật sắc nhọn để lấy ráy tai cho trẻ

3 Cơ quan phân tích khứu giác

Đối với con người, cơ quan khứu giác có tầm quan trọng, chủ yêu là phân biệt tính chất của thức ăn và không khí xung quanh

3.1 Cấu tạo của cơ quan phân tích khứu giác

- Bộ phận nhận cảm: Cơ quan thụ cảm khứu giác Đó là những tế bào khứu giác nằm trong màng nhầy của khoang mũi, chúng có khả năng thu nhận những kích thích bằng hơi

- Bộ phận dẫn truyền: Dây thần kinh khứu giác

- Bộ phận trung ương: Vùng phân tích khứu giác trên vỏ não

3.2 Tính cảm thụ của hệ phân tích khứu giác

Tính cảm thụ của hệ phân tích khứu giác càng cao, nêu không khí càng trong sạch Ngoài ra, tính cảm thụ này còn phụ thuộc vào trạng thái của niêm mạc mũi, của lứa tuổi và sự luyện tập của trẻ Chẳng hạn, khi trẻ bị sổ mũi thì cảm giác khứu giác sẽ bị giảm đi hoặc đôi khi bị mất hẳn

Sự thích nghi của hệ phân tích khứu giác sẽ xảy ra nêu tác động kéo dài của kích thích mũi Sự thay đổi tính cảm thụ và các hiện tượng thích nghi không những xảy ra ở phần ngoại vi mà chủ yêu ở phần vỏ não của hệ phân tích khứu giác Do đó, khi tác động thường xuyên các kích thích về mùi nào đó thì trên vỏ não xuất hiện hiện tượng tăng hưng phấn, làm cho cảm giác về mùi đó tăng lên Ngoài ra, cảm giác về mùi có thể bị ám ảnh và xuất hiện ngay cả khi không bị

Trang 8

kích thích mùi nào cả

3.3 Đặc điểm của cơ quan khứu giác ở trẻ

Ở trẻ khoang mũi nhỏ và hẹp, được phủ bởi một lớp niêm mạc mịn, mỏng

và nhiều mạch máu Do đó, cảm giác khứu giác còn kém

Trẻ càng lớn độ nhạy bén với kích thích mũi càng tăng (đến 6 tuổi), sau đó khả năng này bị giảm sút Cụ thể, ở trẻ sơ sinh trong những ngày đầu đã có những phản ứng với những mùi mạnh bằng sự co của các cơ nét mặt Trẻ ở tuổi

bú mẹ, do khoang mũi phát triển chưa đầy đủ nên cảm giác khứu giác còn kém Đến tuổi mẫu giáo và tuổi học sinh, cảm giác khứu giác được tăng lên và khả năng này nhạy hơn so với ở người lớn

3.4 Cách bảo vệ Khứu giác ở trẻ

- Thường xuyên vệ sinh mũi cho trẻ

- Đeo khẩu trang khi ra khỏi nhà

- Thường xuyên khám khi có dấu hiệu bất thường

4 Cơ quan phân tích vị giác

Ở người cũng như ở nhiều tích vị giác báo hiệu về các trong khoang miệng, giúp ta lượng của thức ăn

4.1 Cấu tạo cơ quan phân tích vị giác

- Bộ phận nhận cảm: Cơ giác (đó là các vi thể vị giác lưỡi, hầu, vòm miệng ) Chúng cảm thụ với những chất có trong dung dịch

- Bộ phận dẫn truyền: Dây thần kinh vị giác

- Bộ phận trung ương: Vùng phân tích vị giác trên võ não

4.2 Tính cảm thụ của hệ phân tích vi giác

Có 4 loại cảm giác vị giác: ngọt, đắng, mặn, chua Còn các cảm giác khác

là do sự phối hợp của 4 vị cơ bản đó tạo ra Các chất này khi hoà tan trong chất lỏng sẽ tác động vào các vi thể vị giác và cho ta cảm giác vị giác

Mỗi loại vi thể vị giác có khả năng thu nhận một loại vị nhất định Ngoài ra các phần khác nhau của lưỡi cũng có khả năng thu nhận các vị khác nhau Ví dụ: phần đầu của lưỡi chỉ thu nhận vị ngọt, hai bên của lưỡi thu nhận vị chua và mặn, còn phần cuối của lưỡi thu nhận vị đắng

Tính cảm thụ của hệ phân tích vị giác phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu thông thường về thức ăn của cơ thể Tùy theo mức độ thức ăn được tiêu hoá đi xuống dạ dày và phần trên của ruột non mà tính cảm thụ đối với vị mặn và vị

Trang 9

ngọt tăng lên rõ rệt

Sự thích nghi với vị chua và đặc biệt với vị đắng diễn ra rất chậm, còn sự thích nghi với vị ngọt và mặn, xảy ra nhanh hơn cả Sự thích nghi với vị mặn làm tăng hưng phấn với vị ngọt, sự thích nghi với vị ngọt làm tăng hưng phấn với vị chua và đắng

Hoạt động của cơ quan khứu giác có ảnh hưởng đến cảm giác vị giác Vì vậy khi cảm giác khứu giác tạm thời mất hoặc bị giảm, thì sẽ làm cho cảm giác

vị giác bị rối loạn

4.3 Đặc điểm của cơ quan vi giác ở trẻ

Ở trẻ các vi thể vị giác được phân bố rộng rãi hơn so với ở người lớn (còn ở người già số lượng các vi thể vị giác giảm bớt đi)

Ngay trong thời kì sơ sinh, ở trẻ đã có tất cả 4 thể cảm giác vị giác: ngọt, chua, mặn, đắng Các vi thể vị giác có phản ứng rất tốt với các vị Chẳng hạn: trả lời kích thích của vị ngọt bằng sự bú, mút và nuốt Trả lời với vị chua, đắng, mặn bằng sự co của hệ cơ mặt Mặt khác, ngưỡng kích thích vị giác của trẻ thường cao hơn chút ít so với người lớn Những phản xạ vận động bẩm sinh được gây ra một cách đặc biệt tốt dưới sự tác động của các tác nhân kích thích

mà cho cảm giác ngọt và đắng

Ở trẻ ngay từ tháng thứ nhất, phản xạ bú mút có điều kiện được thành lập

dễ dàng hơn cả với dung dịch chất ngọt

Khi bị rối loạn tiêu hoá và bệnh tật sẽ làm giảm cảm giác vị giác của trẻ

4.4 Cách bảo vệ cơ quan vị giác ở trẻ

- Không ăn đồ ăn quá nóng, quá cay

- Thường xuyên vệ sinh lưỡi

- Kiểm tra khi có dấu hiệu bất thường

5 Cơ quan phân tích xúc giác

Ở người, cơ quan phân tích xúc giác giữ vai trò cơ bản trong việc nhận thức thế giới bên ngoài Ở trẻ, những biểu tượng đầu tiên về hình dáng, về độ lớn và

về tương quan không gian của sự vật được phát triển trên cơ sở cùng hoạt động của một số cơ quan phân tích, trong đó có cơ quan phân tích thị giác, vận động, xúc giác

Ngoài ra, cơ quan phân tích xúc giác còn có ý nghĩa quan trọng là nguồn gốc của những phản ứng, đặc biệt là phản ứng tự vệ để cơ thể tránh được những

Trang 10

tác động có hại.

5.1 Cấu tạo cơ quan phân tích xúc giác

Bộ phận nhận cảm giác xúc giác là đầu mút của các dây thần kinh nằm rải rác trên da và niêm mạc

Có 3 loại cảm giác: Cảm giác xúc giác, nhiệt độ (nóng, lạnh) và đau

a Cảm giác xúc giác

Trên toàn bộ bề mặt da có khoảng 500.000 thụ quan xúc giác Trung bình trên 1cm2có khoảng gần 25 thụ quan Nhưng sự phân bố của các thụ quan này trên bề mặt của các da không đồng đều

Cảm giác xúc giác gồm cảm giác đụng chạm và cảm giác áp lực Nhìn chung, cảm giác xúc giác tăng lên đột ngột ở những vùng thân thể có phủ lông vì lông là những đòn bẩy có khả năng phóng đại kích thích đụng chạm Những cảm giác về đụng chạm và áp lực của da khá chính xác, nhưng vẫn cần có sự kiểm tra của các cơ quan phân tích khác (nếu không thì có thể bị sai lầm) Nếu áp lực tác động lên mặt da lâu thì đến một lúc nào đó sẽ mất cảm giác Hiện tượng đó gọi

là sự thích ứng Quá trình thích ứng là đặc điểm chung của mọi cảm giác (trừ cảm giác đau)

b Cảm giác vê' nhiệt độ

Sự thay đổi nhiệt độ do hai loại thụ quan tiếp nhận: Một loại nhận cảm giác nóng, một loại nhận cảm giác giác lạnh

Ở người có khoảng 28.000 - 30.000 thụ quan nhận cảm giác nóng và 250.000 thụ quan nhận cảm giác lạnh Như vậy, có 23 thụ quan lạnh và 3 thụ quan nóng trên 1cm2 Nhưng sự phân bố của các thụ quan này không đồng đều trên mặt da Do đó khả năng cảm giác nóng và lạnh ở các vùng da khác nhau là không đều nhau

c Cảm giác đau

Sở dĩ ta nhận được cảm giác đau là nhờ sự thụ quan đặc biệt phân bố trên khắp cơ thể với một số lượng khá lớn (có khoảng 100 thụ quan này trên 1cm2) Cảm giác đau rất quan trọng về mặt tự vệ và báo hiệu các biến cố xảy ra ở các cơ quan này hay cơ quan kia gây phản ứng thích hợp để chống cự lại Cảm giác đau không chỉ do kích thích ở ngoài da, mà còn ở một số nội quan nữa

5.2 Tính cảm thụ của cơ quan xúc giác ở trẻ

Đối với trẻ, cảm giác xúc giác có vai trò quan trọng trong cuộc sống: Kích

Ngày đăng: 01/09/2021, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w