Tài liệu Tổng hợp thông tin Tác giả và Tác phẩm trong chương trình Ngữ văn Trung học Cơ sở. Bao gồm các thông tin: Về Tác giả: họ và tên, quê quán, cuộc đời, sự nghiệp văn học, các tác phẩm tiêu biểu (có hình minh hoạ); Về Tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, năm sáng tác, xuất xứ, các bình luận có liên quan.Tài liệu đạt giải Ba cuộc thi KHKT cấp Tỉnh năm 2017.
Trang 1C H Â N T H ÀNH C Ả M ƠN C Á C B Ạ N Đ Ã L Ự A C H ỌN VÀ S Ử D Ụ NG
SỔ TAY TÁC GIẢ TÁC PHẨM ĐIỆN TỬ
NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ
M ộ t S ả n P h ẩ m C ủ a T r ư ờ n g T r u n g h ọ c C ơ s ở Y ê n L ạ c
TIẾP THEO
Nhấn “TIẾP THEO” để bắt đầu nhé!
Trang 2SỔ TAY ĐIỆN TỬ
TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ
BẮT ĐẦU
Trang 3Tác Giả
Trang 4HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
➢ Nhấn vào nút “BẮT ĐẦU” để bắt đầu sử dụng sổ tay.
➢ Sau khi nhấn nút “BẮT ĐẦU” danh mục thông tin sẽ hiện ra,
nhấn vào nội dung cần tìm hiểu.
➢ Nhấn vào ô “MỤC LỤC” để mở danh sách các khối lớp.
➢ Nhấn vào ô có tên khối lớp để mở danh sách tác giả.
➢ Nhấn vào tên tác giả để tìm hiểu thông tin, nhấn nút
“TIẾP THEO” để xem trang thứ 2 về tác giả đó.
➢ Để tiếp tục tìm hiểu thông tin về tác giả khác, nhấn vào hình
mũi tên ở góc trên bên trái (như trong bẳng bên) để quay về
danh sách tác giả.
➢ Nhấn phím F5 để bắt đầu sử dụng và phím ESC để thoát ra.
➢ Lưu ý: Chỉ nhấn vào các nút điều khiển , nút lệnh hoặc chữ
màu xanh có gạch dưới Không được nhấn vào vị trí bất kỳ
NÚT ĐIỀU KHIỂN CÔNG DỤNG
Quay lại trang danh sách tác giả Quay lại trang DANH MỤC
Xem hướng dẫn sử dụng
Mở âm thanh Bảng hướng dẫn sử dụng một số nút điều khiển chính:
Trang 5GIỚI THIỆU
1 Người thực hiện:
- Hoàng Doãn Hà Trang.
- Nguyễn Thị Thúy Quỳnh
Trường Trung học Cơ sở Yên Lạc.
Trang 6Xin chân thành cảm ơn.
Bản quyền thuộc 8A4-THCS Yên Lạc Nghiêm cấm mọi hành vi sao chép, chỉnh sửa, sử dụng… mà không có bản quyền
©2016 THCS YÊN LẠC
Nhấn vào đây để xem thông tin Giới thiệu.
Trang 7Chương Trình Ngữ Văn THCS
Lớp 6 Lớp 8
Lớp 7 Lớp 9
Trang 8Các tác giả trong chương trình Ngữ Văn 6
I Tác giả nước ngoài
1 Aleksandr Sergeyevich Pushkin
2 Alphonse Daudet (An-phông-sơ Đô-đê)
3 lya Grigoryevich Ehrenburg (I-li-a Ê-ren-bua)
II Tác giả trong nước
Trang 9Aleksandr Sergeyevich Pushkin
(ALÊCHXAN XECGHÊÊVITS PUSKIN)
❖ Năm sinh-mất: 1799-1837
❖ Quê quán: Moskva- Nga
❖ Tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp văn học: Puskin là nhà thơ Nga vĩ
đại, là niềm tự hào của dân tộc Nga và của chung nhân loại Sự nghiệp sáng tác của ông gắn liền với toàn bộ nền văn học Nga, góp phần đưa văn học Nga lên đến đỉnh cao của sự phát triển Chính ông đã tiếp thu những tinh hoa của văn học truyền thống, phát triển và hoàn thiện nó; một mặt ông đã nâng nó lên một trình độ cao hơn, mở đầu cho một nền văn học tiên tiến và hoàn mĩ.
Cuộc đời của Puskin luôn gắn liền với sự nghiệp sáng tác và có thể chia thành bảy thời kì khác nhau Mỗi thời kì phản ánh những
sự kiện quan trọng trong cuộc đời thi sĩ, đồng thời thể hiện những bước trưởng thành trên con đường sáng tác của ông:
1 Thời thơ ấu (1799-1811)
2 Thời kỳ học tại trường Lyceum (Lixê) Hoàng gia (1810-1817)
3 Thời kỳ Peterburg (Pê-téc-bua) (1817-1820)
4 Thời kỳ lưu đày ở phương Nam (1820-1824)
5 Thời kỳ lưu đày ở phương Bắc (1824-1826)
6 Thời kỳ sau khởi nghĩa tháng Chạp (1825-1831)
7 Thời kỳ cuối cùng (Sau 1830)
Xem chi tiết hơn bằng trình duyệt tại đây
Trang 10Vợ Vũ Trinh là chị của thi hào Nguyễn Du (giống như dòng dõi họ Vũ của Vũ Trinh, dòng họ Nguyễn
ở Tiên Điền cũng là một vọng tộc khoa bảng lớn có nhiều người làm quan chức, 2 gia đình là môn đăng
hộ đối) Vũ Trinh là người đầu tiên được Nguyễn Du nhờ đọc duyệt và bình Truyện Kiều khi còn ở dạng bản thảo, các lời bình của Vũ Trinh dùng chữ Hán bằng mực đen.
Xem chi tiết hơn về cuộc đời của Vũ Trinh tại đây
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Là một đại quan, không có chủ ý viết văn Tuy nhiên ông vẫn có nhiều trước tác, tác phẩm nổi bật của Vũ Trinh có:
Lan Trì kiến văn lục, gồm 45 truyện ngắn viết bằng chữ Hán.
Sứ Yên thi tập (tập thơ chữ Hán viết về đi sứ Yên Kinh).
Cung oán thi (Thơ về nỗi lòng của người cung nữ).
Trang 11Cuộc đời của Vũ Trinh
• Xuất thân trong một gia đình quan lại trí thức, ông nội Vũ Trinh là Vũ Miên đậu Tiến sĩ Nho học đời Lê, làm quan đến chức Tham tụng (Tể tướng), khi mất được truy tặng chức Binh bộ Thượng thư; và cha của Vũ Trinh là Vũ Chiêu đậu Hương giải, làm quan đến chức Tham nghị.
• Vũ Trinh thông minh từ nhỏ, sách đọc qua là thuộc, nổi tiếng thần đồng Năm 17 tuổi, Vũ Trinh thi đỗ Giải nguyên, được bổ làm Tri phủ Quốc Oai (nay thuộc Hà Nội).
• Năm 1787, sau khi Lê Chiêu Thống lên ngôi vua, ông được triệu về triều Cũng trong năm này, tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm kéo quân
ra Bắc Hà đánh dẹp Nguyễn Hữu Chỉnh, khi ấy, Vũ Trinh và cha đã bán hết gia sản để chu cấp việc quân và giúp vua Lê chạy nạn.
• Đến cuối năm sau (1788), nhờ quân Thanh (Trung Quốc) vua Lê Chiêu Thống về lại Thăng Long, Vũ Trinh được gọi vào triều giữ chức Tham tri Chính sự.
• Đầu năm 1789, vua nhà Tây Sơn là Quang Trung đem đại binh ra Bắc đánh tan quân đội nhà Thanh Vua Lê Chiêu Thống lại phải chạy sang nhà Thanh cầu viện Không thể theo được, Vũ Trinh trở về ẩn thân tại Hồ Sơn (thuộc Nam Định ngày nay) Tại đây, ông vừa dạy học vừa thu thập tài liệu để viết nên tập truyện Lan Trì kiến văn lục.
• Năm 1802, sau khi nhà Tây Sơn bị đánh đổ, Vũ Trinh được nhà Nguyễn mời ra nhận chức Thị trung học sĩ (chánh Tam phẩm) tại triều (Phú Xuân, tức Huế ngày nay) Cùng nhận chức Thị trung học sĩ với ông có Phạm Quý Thích.
• Năm 1804, nhân việc đưa hài cốt vua Lê Chiêu Thống về nước, ông xin từ quan nhưng không được chấp thuận Năm 1807, Vũ Trinh được cử làm Giám thí (Phó chủ khảo) trường thi Sơn Tây Năm 1809, ông được cử làm Chánh sứ đi Yên Kinh (Yenching, tức Bắc Kinh) Trên đường
đi, ông viết Sứ Yên thi tập.
• Trở về nước, ông nhận lệnh hiệp cùng Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành và Trần Hựu soạn bộ Hoàng Việt luật lệ (Hoàng Việt luật
lệ vàQuốc triều thực lục là hai công trình văn hóa quan trọng của triều Nguyễn) Tổng trấn Thành rất kính trọng tài năng của Vũ Trinh, cho con là Nguyễn Văn Thuyên (phò mã của vua nhà Nguyễn) theo học.
• Năm 1813, ông được cử đi làm Giám thí trường thi Quảng Đức Cũng trong năm này, ông được thăng Hữu tham tri bộ Hình (tòng Nhị phẩm).
• Năm 1816, Nguyễn Văn Thuyên bị vu oan bởi một bài thơ Vũ Trinh là một đại quan ở bộ Hình lại là thầy của Thuyên nên có ý bênh vực, song Thuyên vẫn không khỏi tội Chẳng những vậy, ông còn bị lột hết phẩm hàm và bị đưa đến phố Hội An (Quảng Nam), tại đây ông giảng dạy có nhiều học trò thi đậu và được lập đền thờ.
• Sau 12 năm, Vũ Trinh được ân xá, trở về quê nhà được vài hôm thì mất (1828).
Trang 12Hồ Nguyên Trừng
❖ Năm sinh-mất: 1374 - 1446
❖ Quê quán: huyện Vĩnh Phúc, lộ Thanh Hoa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa)
❖ Xem chi tiết tiểu sử cuộc đời của ông tại đây.
❖ Tác phẩm : hiện còn một tập sách lấy tên là Nam Ông mộng lục, gồm 31 thiên (theo mục lục
sách), nay chỉ còn lại 28 thiên (theo bản in trong bộ Hàm phân lâu bí kíp) Ở đầu sách có bài tựa của Hồ Huỳnh, một quan Thượng thư đồng triều với Hồ Nguyên Trừng, viết năm Chính Thống thứ năm (1440) Tiếp đến là bài tựa của chính Hồ Nguyên Trừng, viết năm Chính Thống thức ba (1438) Cuối sách có bài hậu tự của Tống Chương, người Việt Nam, làm quan triều Minh, viết năm Chính Thống thứ bảy (1442).
Theo lời tựa của tác giả, thì Nam Ông mộng lục được biên soạn, một là để "biểu dương các mẫu việc thiện của người xưa"; hai là để "cung cấp điều mới lạ cho bậc quân tử" (Nam Ông mộng lục tự) Nhưng xét kỹ nội dung tác phẩm, ta thấy tập sách trước hết nhằm nói tốt cho họ hàng nhà Hồ, sau nữa là lấy lòng vua quan nhà Minh, tuy rằng về khách quan, Nam Ông mộng lục cũng ghi chép được một vài sự thực có thể bổ sung cho văn học và sử học đời Lý - Trần.
Trang 13Tiểu sử cuộc đời Hồ Nguyên Trừng
• Hồ Nguyên Trừng (còn có tên là Lê Trừng) là nhà kỹ thuật quân sự, là một công trình sư lỗi lạc Ngoài ra ông
còn là nhà văn Việt Nam ở thế kỷ 15 Hồ Nguyên Trừng, trước để họ Lê, tự là Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông là người
Ông là con trai cả của vua Hồ Quý Ly, và là anh của vua Hồ Hán Thương.
• Dưới triều nhà Trần, Hồ Nguyên Trừng từng giữ chức Thượng Lân tự, Tư đồ Đầu năm 1400, cha ông truất ngôi Trần Thiếu Đế, tự lên ngôi vua, lập nên nhà Hồ Sau đó, Hồ Nguyên Trừng được cử làm Tả tướng quốc.
• Năm 1406, lấy cớ "Phù Trần diệt Hồ", vua nhà Minh sai Trương Phụ và Mộc Thạnh mang 80 vạn quân sang đánh nước Việt Nhiều lần, Hồ Nguyên Trừng được giao nhiệm vụ cầm quân chống lại.Việc ông lập một phòng tuyến chống giặc bắt đầu bằng cứ điểm then chốt Đa Bang (Ba Vì) kéo dài theo bờ Nam Sông Đà, sông Hồng cho đến sông Ninh (Nam Hà) rồi lại tiếp tục theo bờ sông Luộc, sông Thái Bình đến Bình Than dài trên 400 km, đã tỏ rõ ông là nhà quân
sự kiệt xuất Hồ Nguyên Trừng cũng sáng tạo ra cách đánh độc đáo: ông cho đúc nhiều dây xích lớn chăng qua những khúc sông hiểm trở, kết hợp với quân mai phục trang bị bằng hỏa lực mạnh, từng khiến cho thủy binh giặc nhiều phen khiếp đảm Thời ấy, do yêu cầu chống giặc ngoại xâm, muốn có nhiều súng trang bị cho các thành trì và các hạm đội,
Hồ Nguyên Trừng đã phải gấp tổ chức những xưởng đúc súng lớn Nhờ thông minh tuyệt vời và khả năng suy nghĩ phi thường, Hồ Nguyên Trừng đã đúc kết những kinh nghiệm cổ truyền, trên cơ sở đó, phát minh, chế tạo ra nhiều loại súng có sức công phá sấm sét Từ việc cải tiến súng, chế thuốc súng, hiểu rõ sức nổ của thuốc đạn Nguyên Trừng phát minh ra phương pháp đúc súng mới gọi là súng "thần cơ".
• Ngày 12 tháng 5 năm Đinh Hợi (tức 17 tháng 6 năm 1407), cả ba cha con ông và người cháu là Hồ Nhuế (con Hồ Hán Thương) đều bị quân nhà Minh bắt tại Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), rồi bị áp giải về Kim Lăng (Nam Kinh, Trung Quốc) Kể từ đó, nhà Hồ mất, cả nước Việt rơi vào ách thống trị của nhà Minh Biết được Hồ Nguyên Trừng (và Hồ Nhuế) có tài năng, vua Minh Anh Tông cho ân xá, nhưng buộc phải đổi họ khác (vì không thừa nhận gia đình ông là
dòng dõi Ngu Thuấn Vì vậy ở sách Nam Ông mộng lục, tác giả đề tên là Lê Trừng đổi lại họ Lê như cũ) Sau, ông chế
tạo được súng thần công, nên lại được làm quan ở bộ Công, thăng đến chức Tả thị lang như lời ông đề ở cuối bài Tựa trong quyển Nam Ông mộng lục Trong Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn nhắc đến một tình tiết: "quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế Trừng".
• Theo Minh sử, thì Hồ Nguyên Trừng được thăng chức Công bộ Thượng thư (1445) được một năm thì mất, thọ 73 tuổi Sau đó, triều Minh cho con ông là Lê Thúc Lâm (trước đó đang làm Chuyển vận sứ ở Diêm vận ty tỉnh Sơn
Đông) làm Trung thư xá nhân, tiếp tục lo việc chế tạo quân khí Hiện mộ phần Lê Trừng (tức Hồ Nguyên Trừng), Lê Thúc Lâm và Lê Thế Vinh (con Thúc Lâm, cũng làm quan cho triều Minh, có sách ghi là Thế Ninh) đều ở tại thôn Nam An Hà, thuộc thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc) ngày nay. Quay lại
Trang 14Tô Hoài
(Nguyễn Sen)
❖ Năm sinh-mất: 1920-2014
❖ Quê quán : Huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ.
❖ Tiểu sử cuộc đời: Ông là một nhà văn hiện đại Việt Nam , lớn lên
ở quê ngoại là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh
Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam) Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức Các bút danh khác như: Tô Hoài, Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Duy Phương, Hồng Hoa.
Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều công việc để kiếm sống như dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn, nhưng có những lúc thất nghiệp Khi đến với văn chương, ông nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký (1943), Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc Trong chiến tranh Đông Dương, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng như ’Truyện Tây Bắc’ Từ
năm 1954 trở đi, ông có điều kiện tập trung vào sáng tác Tính đến nay, sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn
100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài
kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác.
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 15tự nguyện hiến toàn bộ nhà cửa, ruộng đất cho chính quyền Việt Minh
Ông còn có các bút danh khác như: Nguyễn Hoài, Nhất Thanh, Nguyễn Phú Lễ, Huyền Tư… Thuở nhỏ ông rất yêu văn chương và hội họa Ông bắt đầu viết văn từ năm 1943 với truyện ngắn “ Nhớ cố hương”, được nhà văn Hồ Biểu Chánh khen và cho in vào tờ Nam Kỳ tuần báo Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đoàn Giỏi đã sớm đi theo con đường cách mạng, ông làm nhiều công việc như: Công an, cán bộ dân vận, làm báo…
Năm 1954 ông tập kết ra Bắc; rồi về công tác ở Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam Sau năm 1975, ông về công tác ở TP
Hồ Chí Minh Ông là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, Ủy viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I,II,III.
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 16Tạ Duy Anh (Tạ Viết Đãng)
Nam Ông còn viết với các bút danh Lão Tạ, Chu Quý, Quý Anh, Bình Tâm Ông từng làm cán bộ giám sát chất lượng bê tông ở Nhà máy thủy điện Hòa Bình, trung sĩ bộ binh ở Lào Cai Sau đó Tạ Duy Anh tham gia học ở Trường viết văn Nguyễn
Du Trải qua 4 năm học, ông đỗ đầu và được giữ lại làm giảng viên Hiện ông là biên tập viên tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn Tạ Duy Anh trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1993.
Xem chi tiết bằng trình duyệt tại đây
Trang 17Võ Quảng
❖ Năm sinh-mất: 1920-2007
❖ Quê quán: Huyện Đại Lộc, Tỉnh Quảng Nam.
❖ Tiểu sử cuộc đời: Võ Quảng là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam
Sự nghiệp văn chương của ông chủ yếu tập trung về đề tài thiếu nhi
Ông cũng là người đầu tiên dịch tác phẩm ”Đôn Kihôtê” sang tiếng Việt
dưới bút danh Hoàng Huy từ năm 1959. Ông tham gia cách mạng từ năm 1935, chính thức gia nhập tổ chức Thanh niên Dân chủ ở Huế năm 1939 làm tổ trưởng tổ Thanh niên Phản đế ở Huế Tháng 9 năm
1941 bị Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ Sau đó bị đưa đi quản thúc vô thời hạn ở xã Đại Hòa Năm 1945 làm ủy viên Tư pháp thành phố Đà Nẵng Sau đó làm Phó Chủ tịch UB Kháng chiến hành chính Đà Nẵng Năm 1947 làm Hội thẩm chính trị (tức là Phó Chánh án) tòa án quân sự miền Nam Việt Nam Từ 1948 đến 1955 làm ủy viên Ban Thiếu niên Nhi đồng Trung ương, đồng thời lần lượt phụ trách Nhà xuất bản Kim Đồng và xưởng phim hoạt hình Năm 1971
về Hội Nhà văn Việt Nam, phụ trách Văn học thiếu nhi.
Võ Quảng dành phần lớn tâm huyết, tài năng và trái tim cho thơ văn thiếu nhi và chỉ thỉnh thoảng ông mới viết cho người lớn Đó cũng là sự
lạ độc đáo khác đời lắm nơi ông.Mặc dù sự khan hiếm về giấy đã hạn chế gay gắt số lượng bản in, tác phẩm của Võ Quảng được tái bản nhiều lần và nhanh chóng được tiêu thụ.
Xem chi tiết bằng trình duyệt tại đây
Trang 18Alphonse Daudet (An-phông-sơ Đô-đê)
❖ Năm sinh-mất:1840-1897
❖ Quê quán:
❖ Tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp văn học: Ông là một nhà văn Pháp và là tác giả của nhiều tập truyện ngắn nổi tiếng Gia đình rời quê lên Lyons khi xí nghiêp tơ vải của cha ông bị suy sụp và phải đóng cửa Ông theo tiếp tục bậc trung học tại đây nhờ một bổng, nhưng cuối cùng phải bỏ học hẳn khi cuộc hôn nhân của bố mẹ đổ vỡ Daudet theo chân cha đến Paris
và được nhận vào làm ký giả cho tờ Figaro vào năm 12 tuổi
Ông bắt đầu viết từ năm 14 tuổi, đến năm 18 tuổi Dadet ra thi tập
"Những Người Ðàn Bà Ðang Yêu" (Les Amoureuses, 1857) và được đón nhận ngay Ðộc giả Pháp đặc biệt yêu mến ông qua các tiểu thuyết "Thằng Nhóc Con" (Le Petit Chose), gần như là thiên hồi ký của thời niên thiếu đau khổ của chính mình mà đôi khi cũng được ví với nhân vật trong tác phẩm
"David Copperfield" của đại văn hào Charles Dickens của Anh Sau đó là tập thi tuyển "Những Lá Thư từ Cối Xay của Tôi" (Lettres de Mon Moulin), bao gồm các bài thơ đề tặng cho Marie Rieu xuất bản năm 1866 Ông đạt đến danh vọng trong làng văn chương Pháp qua giải thưởng Văn chương Pháp với quyển "Fromont Cháu Trẻ và Cụ Riler" (1874) Ðối với các phê bình gia thì trường thiên tiểu thuyết "Tartarin vùng Tarascon" (1872) gồm ba quyển là tác phẩm quan trọng và đặc sắc nhất của Alphonse Daudet
Những năm sau ông viết nhiều tiểu thuyết cũng thành công không kém, qua các đề tài xã hội của một nước Pháp dân chủ thay thế cho chế độ quân chủ Ðó là các tác phẩm "Những Vị Vua Lưu Vong", và "Le Nabab", mô tả những nhà triệu phú mới của thế hệ
Truyện Buổi học cuối cùng lấy bối cảnh từ một biến cố lịch sử: Sau
cuộc chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870-1871, nước Pháp thua trận, hai vùngAn-dat và Lo-ren giáp biên giới với Phổ bị nhập vào nước Phổ Phổ là têncủa một nước chuyên chế trong lãnh thổ Đức trước đây Cho nên các trườnghọc ở hai vùng này bị buộc học bằng tiếng Đức Truyện viết về buổi học cuốicùng bằng tiếng Pháp ở một làng thuộc vùng An-dát
Xem chi tiết hơn bằng trình duyệt tại đây.
Trang 19Minh Huệ (Nguyễn Đức Thái)
❖ Năm sinh-mất: 1927-2003
❖ Quê quán: Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
❖ Tiểu sử cuộc đời: Là một nhà thơ hiện đại của Việt Nam, trưởng thành trongkháng chiến chống Pháp Minh Huệ tham gia Việt Minh (5/1945) và cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Nghệ An (8/1945) Hoạt động tuyên truyền, văn nghệ tuyên huấn, báo chí ở Nghệ An, khu ủy khu Bốn và một số nơi Hội trưởng Hội sáng tác Văn nghệ liên khu IV Trưởng Ban thơ, lý luận, phê bình; Văn học dịch Nhà xuất bản văn học Ủy viên Ủy ban hành chính kiêm Trưởng
ty Văn hóa Nghệ An Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ Tĩnh Ủy viên Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (1984-1991) Sau khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát hoàn toàn miền Bắc, ông tiếp tục đi học và tốt nghiệp đại học Văn, được kết nạp làm Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957), Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ Tĩnh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (1984-1991)
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Đêm nay Bác không ngủ (1985), Tiếng hát quê hương (1959), Đất chiến hào (1970),…
Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ là bài thơ nổi tiếng nhất của ông Bài thơ
dựa trên sự kiện có thật: trong chiến dịch biên giới cuối năm 1950, Bác Hồ trựctiếp ra mặt trận theo dõi và chỉ huy cuộc chiến đấu của bộ đội và nhân dân ta Bàithơ đã khắc họa hình ảnh của Bác như một vị cha già dân tộc, lo lắng cho các con mình Bài thơ còn cho thấy tình cảm của Bác đối với nhân dân là vô cùng to lớn
❖ Giải thưởng: Ông được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật; Giải nhất Chi hội văn nghệ kháng chiến khu Bốn và Sở Thông tin tuyêntruyền khu Bốn 1954 (thơ Dòng máu Việt Hoa); Giải thưởng Nguyễn Du củaNghệ Tĩnh 1986 (tập thơ Đêm nay Bác không ngủ)
❖ Bình luận: “Thơ Minh Huệ còn lại với chúng ta nhờ ở tâm hồn đằm thắm,
chân tình đôn hậu của anh Chúng ta đòi hỏi nhiều ở tác giả nhưng tấm lòngsay sưa, chất đậm đà của một vùng văn hoá in sâu trong mỗi câu chữ không
có thể quên được” (Phó giáo sư Mã Giang Lân)
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 20Tố Hữu (Nguyễn Kim Thành)
Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác như Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng ban Thống nhất Trung ương, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương
Ông còn là Đại biểu Quốc hội khoá II và VII.Trong thời gian phụ trách mảng văn nghệ, ông là người đã phê phán quyết
liệt phong trào Nhân văn-Giai phẩm (1958) Nhiều ý kiến coi ông là tác giả chính của vụ án văn nghệ-chính trị này
Sau khi Lê Duẩn mất, có sự thay đổi mạnh mẽ tiến tới đổi mới nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế toàn diện Ông bị mất uy tín
vì vai trò "nhà thơ đi làm kinh tế" qua những vụ khủng hoảng tiền
tệ những năm 1980 nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ, chỉ còn làm một chức nghiên cứu hình thức.
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 21Trần Đăng Khoa
❖ Năm sinh: 24-4-1958
❖ Quê quán: huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
❖ Tiểu sử cuộc đời: Từ nhỏ ông đã được nhiều người cho là thần đồng thơ văn Lên 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của ông Từ góc sân nhà em (tập thơ tiếp theo là Góc sân và khoảng trời) được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản Có lẽ tác phẩm nhiều người biết đến nhất của ông là bài thơ "Hạt gạo làng ta", sáng tác năm 1968, được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc (1971)
Ông cũng được biết đến nhiều với câu chuyện khi mới hơn 10 tuổi đã đề
nghị đổi câu thơ "Đường ta đi rộng thênh thang tám thước" thành "Đường ta
rộng thênh thang ta bước" trong bài thơ Ta đi tới của nhà thơ nổi tiếng thời
bấy giờ là Tố Hữu
Trần Đăng Khoa nhập ngũ ngày 26/2/1975 khi đang học lớp 10/10 tại trường phổ thông cấp 3 Nam Sách, quân số tại Tiểu đoàn 691 Trung đoàn 2 Quân tăng cường Hải Hưng,sau khi giải phóng miền Nam việc bổ sung quân cho chiến trường khong còn cần thiết nữa, ông được bổ sung về quân chủng hải quân Sau đó ông theo học Trường Viết văn Nguyễn Du và được cử sang học tại Viện Văn học Thế giới mang tên M Gorki thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Nga Khi trở về nước ông làm biên tập viên Văn nghệ quân đội
Từ tháng 6 năm 2004, khi đã mang quân hàm thượng tá Quân đội nhân dân Việt Nam, ông chuyển sang công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, giữ chức Phó Trưởng ban Văn học Nghệ thuật, sau đó là Trưởng ban Văn học Nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam Năm 2008, khi Đài tiếng nói Việt Nam thành lập Hệ phát thanh có hình VOVTV, ông được phân công làm Giám đốc đầu tiên của hệ này Đến khoảng giữa năm 2011, chức vụ này được chuyển giao cho ông Vũ Hải - Phó Tổng Giám đốc của Đài kiêm nhiệm Hiện nay, ông là Phó Bí thư Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam VOV
Xem trên trình duyệt tại đây
Trang 22Nguyễn Tuân ❖ Năm sinh-mất: ❖ Quê quán: Từ Liêm- Hà Nội 1910-1987
❖ Tiểu sử cuộc đời: Là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam Sách giáo khoa hiện hành xếp ông vào một trong 9 tác giả của văn học Việt Nam hiện đại Ông viết văn với một phong cách tài hoa uyên bác và được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng tiếng Việt Sinh ra trong một gia đình nho học, đi nhiều nên trải đời, vốn đời dồi dào, phong phú Không được học ở trường nhiều như Huy Cận, Xuân Diệu… nhưng rất chịu tìm đọc đủ loại sách báo nên vốn chữ nghĩa rất giàu có, sâu sắc Thành công ở truyện ngắn, tùy bút Đã từng tham gia lãnh đạo Hội nhà văn VN (Từ 1948 đến 1958), Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật VN Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm 1987, để lại một sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết độc đáo và đầy tài hoa
❖ Giải thưởng: Năm 1996 ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây
Trang 23Thép Mới (Hà Văn Lộc)
❖ Năm sinh-mất: 1925-1991
❖ Quê quán: Tây Hồ-Hà Nội
❖ Tiểu sử cuộc đời: Ông là một nhà văn nổi tiếng tại Việt Nam, chuyên viết về đề tài Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam Một số bút danh khác của ông được biết đến với các bút danh như Phượng Kim, Hồng Châu Ông tham gia cách mạng từ trước tháng 8-1945 ông đã trải qua nhiều công tác và chức vụ: Phó
Tổng Biên tập báo NHÂN DÂN, Ủy viên Ban Tuyên huấn Trung Ương Cục Miền Nam, tổng biên tập báo GIẢI PHÓNG, Ủy viên Ban Chấp Hành Hội Nhà Báo
Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn Việt Nam các khóa II và III
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Cây tre Việt Nam (1958), Điện Biên Phủ- Một danh từ ViệtNam (1965), Hiên ngang Cu-ba (Bút ký, 1962), Trường Sơn hùng tráng (bút ký, 1967) …
Bài Cây Tre Việt Nam là lời bình cho bộ phim cùng tên của các nhà điện ảnh Ba
Lan Thông qua hình ảnh cây tre, bộ phim thể hiện vẻ đẹp của đất nước vào con người Việt Nam, ca ngợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta
Trang 24lya Grigoryevich Ehrenburg
(I-li-a Ê-ren-bua)
❖ Năm sinh-mất: 1891-1967
❖ Quê quán: Sinh tại Kiev- Đế chế Nga Năm 1895 gia đình chuyển đến Moskva
❖ Tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp văn học: Là nhà văn Nga Xô Viết, nhà hoạt động xã hội Ông sinh trong một gia đình Do Thái giàu có Năm 1895 gia đình chuyển đến Moskva Ehrenburg học ở trường gymnazy cùng với Nikolai Ivanovich Bukharin Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1905 Cuối năm 1908 sang Pháp hoạt động văn học, kết bạn với Picasso, Louis Aragon, Alexis Leger (Saint-John Perse) và in một số tập thơ Các năm 1914 – 1917 làm phóng viên cho một số tờ báo Cuối năm 1919 cùng với Osip Mandelstam đi về vùng Cremia, sống ở nhà Maximilian Alexandrovich Voloshin Bị bắt nhưng nhờ sự can thiệp của Bukharin nên được trả tự do Từ năm 1921 đến năm 1924 sống ở Berlin, Đức Thời kỳ Nội chiến ở Tây Ban Nha (1936 – 1939) Ehrenburg làm phóng viên chiến trường của báo Izvestya, sau khi những người cộng hòa thất bại, ông sang Pháp Năm 1940 ông trở về Liên Xô Thời kỳ chiến tranh Vệ quốc ông làm phóng viên của các tờ báo Sự Thật (Правда), Tin Tức (Известия), Ngôi sao đỏ (Красная звезда) Từ năm 1942 ông tham gia "Ủy ban Do Thái chống phát xít" rất tích cực và đã thu thập được nhiều tài liệu về cuộc tàn sát chủng tộc đối với người Do Thái (Holocaust) Trong mục trích các bài thơ của Ehrenburg có bài thơ "Hãy giết" nổi tiếng của ông Ehrenburg viết bài thơ này trong những ngày tháng khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh Vệ quốc Cũng trong thời kỳ này ông viết bài "Hãy giết người Đức" đăng trên báo Ngôi sao
đỏ ngày 24 tháng 7 năm 1942 Nguyên cớ của bài báo là cuộc tấn công của quân Đức vào vùng sông Đông, hai tuần trước mệnh lệnh số 227 của Tổng tư lệnh Stalin: "Không lùi một bước!" ra đời, theo lời của tác giả, là những bức thư từ Đức mà người ta tìm thấy trong túi áo của những lính Đức tử trận về ý định của người Đức "biến dân Nga thành những kẻ nô lệ" Bài viết này sau đó đã bị dư luận nước ngoài chỉ trích và trở thành đối tượng của nhiều cuộc tranh luận Nhà văn Anh Antony Beevor trong cuốn Berlin sụp đổ (Berlin:The Downfall 1945) cho rằng những khẩu hiệu kiểu như vậy khiêu khích bạo lực của Hồng quân đối với dân thường Đức trong những năm 1944 –1945 Ilya Ehrenburg đã viết những lời giải thích
này Ilya Ehrenburg là đại biểu Xô Viết tối cao Liên Xô các nhiệm kỳ 3 – 7 Từ năm 1950 là Phó chủ tịch Hội đồng hòa bình Thế giới.
Xem chi tiết hơn trên trình duyệt tại đây
Trang 25Duy Khán (Nguyễn Duy Khán)
❖ Năm sinh-mất: 1934-1993
❖ Quê quán: Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh.
❖ Tiểu sử cuộc đời: Thời niên thiếu, ông từng được đi học trong vùng Pháp kiểm soát, nhưng do ảnh hưởng của 2 người anh trai là Nguyễn Đình Thư
và Nguyễn Đình Thả, năm 15 tuổi, ông bỏ dở việc học trốn ra vùng Việt Minh kiểm soát để nhập ngũ Do có nền tảng học vấn tốt so với thời bấy giờ, thay vì tham gia chiến đấu, ông được đơn vị phân công dạy học, rồi làm phóng viên chiến trường cho chương trình Phát thanh Quân đội Ông được xem như là một phóng viên chiến trường năng nổ, có mặt trong hầu hết các chiến dịch lớn, từ Điện Biên đến đường 9 - Nam Lào, Campuchia Năm 1972, ông về công tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, làm biên tập viên, từng có thời gian khá dài công tác ở quần đảo Trường Sa Sau khi nghỉ hưu với cấp bậc Đại tá, ông về Hải Phòng sống cùng gia đình ở phố Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân.
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Trận Mới (Thơ 1972), Một tiếng Xa Ma Khi (Thơ
1981, in chung với Xuân Miễn và Phạm Ngọc Cảnh), Tâm sự người đi (Thơ, 1984), Tuổi thơ im lặng (hồi ký 1986).
Bài Lao Xao trích từ tác phẩm Tuổi Thơ Im Lặng.
❖ Giải thưởng:
1 Giải thưởng Nhà nước (2012)
2 Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam (1987, Tuổi thơ im lặng)
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 26"Tôi nhớ "cuộc chiến lạ lùng" – lễ chôn cất phi công Đức, tiếng gào của loa phóng thanh… Chiến tranh là kinh hoàng và đáng ghét nhưng không phải chúng ta đã phát động nó mà là kẻ thù rất mạnh và vô cùng tàn ác Tôi biết rằng nghĩa vụ của tôi là chỉ ra bộ mặt thật của
lính phát xít, những kẻ chép vào sổ tay điều vô lý khát máu và dị đoan về sự ưu việt của chủng tộc mình, những thứ trâng tráo, bẩn thỉu và tàn ác có khả năng làm cho kẻ mọi rợ bất
kỳ nào cũng phải bối rối Tôi phải cảnh báo những người lính chúng ta rằng chớ trông chờ một cách vô ích vào sự đoàn kết giai cấp của tầng lớp công nhân Đức, vào điều rằng những người lính Đức sẽ thức tỉnh lương tâm, đây không phải là lúc đi tìm "những người Đức tốt bụng" ở đội quân thù địch đang tấn công mà đem dâng những thành phố, những làng quê của mình cho cái chết Và tôi đã viết: Hãy giết người Đức!" Quay lại
Trang 27Các tác giả trong chương trình Ngữ Văn 7
Trang 28Lý Lan
❖ Năm sinh: 1957
❖ Quê quán: Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
❖ Tiểu sử cuộc đời: Quê mẹ ở xứ vườn trái cây Lái Thiêu, quê cha ở huyện TriềuDương, tỉnh Quảng Đông, Trung quốc Tám năm đầu đời, Lý Lan sống ở quê
mẹ, sau khi mẹ mất thì gia đình về Chợ Lớn định cư đến nay Lí Lan học khoảng một năm ở trường làng, nửa năm ở trường Trung Chánh, và học hết tiểu học ở trường Chợ Quán, trung học ở trường Gia Long, đại học ở trường Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, và cao học (M.A.) Anh văn ở đại học Wake Forest (Mỹ) Từ năm 1980, Lí Lan bắt đầu dạy ở trường trung học Cần Giuộc (Long An), năm 1984 chuyển về trường trung học Hùng Vương (thành phố Hồ Chí Minh), năm 1991 chuyển qua trừơng trung học Lê Hồng Phong, năm 1995 sang dạy ở đại học Văn Lang đến năm 1997 thì nghỉ dạy hẳn
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Truyện ngắn đầu tay của Lý Lan là “Chàng Nghệ Sĩ” in trên báo Tuổi Trẻ và được giải thưởng (năm 1978) Lan tiếp tục viết và đăng truyện trên báo Tuổi Trẻ, Văn Nghệ Giải Phóng, Khăn Quàng Đỏ Tập truyện ngắn đầu tay “Cỏ hát” (in chung với Trần Thùy Mai) xuất bản năm 1983 (nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, Hà Nôi) Tập truyện thiếu nhi “Ngôi nhà trong cỏ” (NXB Kim Đồng,
Hà Nội, 1984) được giải thưởng văn học thiếu nhi của hội Nhà Văn Việt Nam Tập thơ Là mình (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 2005) được giải thưởng thơ hội Nhà Văn TP HCM Ngoài ra, Lí Lan là dịch giả của bộ truyện Harry Potter (bản tiếng Việt do NXB Trẻ phát hành ở Việt Nam từ năm 2001)
Cổng trường mở ra được đăng trên báo Yêu trẻ số 166, ngày 01 tháng 9 năm
2000 và được in trong sách giáo khoa ngữ văn 7 tập 1
❖ Giải thưởng: Tập truyện thiếu nhi “Ngôi nhà trong cỏ” (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1984) được giải thưởng văn học thiếu nhi của hội Nhà Văn Việt Nam Và gần đây nhất, tập thơ “Là mình” (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 2005) được giải thưởng thơ Hội nhà văn TP HCM
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 29Khánh Hoài (Đỗ Văn Xuyền)
❖ Năm sinh: 1937
❖ Quê quán: xã Đông Kinh, Đông Hưng, Thái Bình
❖ Tiểu sử cuộc đời: Tốt nghiệp Đại học sư phạm (khoa sinh ngữ) Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1981) Khánh Hoài học tiểu học và trung học ở Thái Bình, Hà Nội và Hải Phòng Thời kỳ học Trung học đã tham gia hoạt động bí mật trong phong trào học sinh, sinh viên Năm 1956-1959 học Đại học sư phạm Hà Nội Từ 1959-1987: Dạy học, làm hiệu trưởng nhiều trường phổ thông ở Vĩnh Phú Từ 1988 đến nay: Chi Hội trưởng chi hội Văn nghệ Việt Trì; Trưởng Ban Văn hóa-Xã hội và Phó chủ nhiệm thường trực ủy ban bảo
vệ chăm sóc trẻ em thành phố Việt Trì Gần đây Nhóm nghiên cứu Chữ Việt
cổ và giáo dục thời Hùng Vương, do nhà văn Khánh Hoài - Đỗ Văn Xuyền lãnh đạo đã có những khám phá rất quan trọng Một trong những kết quả nghiên cứu của Nhóm là phát hiện ra một bộ chữ Việt cổ được lưu giữ ở vùng Tây Bắc Việt Nam.
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Trận chung kết (truyện dài, 1975); Những chuyện bất ngờ (truyện vừa 1978); Cuộc chia tay của những con búp bê (truyện 1992); Chuyện ở lớp, chuyện ở nhà (truyện vừa 1993 – 1994).
Cuộc chia tay của những con búp bê được trao giải Nhì trong cuộc thi
thơ-văn viết về quyền trẻ em do Viện Khoa học Giáo dục và tổ chức cứu trợ trẻ em Rát-đa Bác-nen – Thụy Điển tổ chức năm 1992.
❖ Giải thưởng:
- Giải A, giải Văn nghệ Vĩnh Phú 10 năm (1975-1985) (truyện dài Trận chung kết).
- Giải Nhì cuộc thi thơ -văn viết về quyền trẻ em do Viện Khoa học Giáo dục
và Tổ chức cứu trợ trẻ em Rát-đa Bác-nen (Thụy Điển) tổ chức (cho truyện ngắn Cuộc chia tay của những con búp bê)
- Giải chính thức giải thưởng Hùng Vương (Hội Văn nghệ Vĩnh Phú) (cho tập Chuyện ở lớp, chuyện ở nhà).
Trang 30Cũng giống như hầu hết các nữ sĩ Đông Tây Kim Cổ, Xuân Quỳnh làmthơ cốt để diễn tả cuộc sống của chính mình về tất cả mọi phương diện: những khát khao, những tình cảm, những suy nghĩ, và "sự sống" của mộtngười phụ nữ Vì lẽ đó hầu hết thơ của chị đều là thơ trữ tình Đất nước, thiên nhiên, thời đại đều được phản ánh vào thơ chị thông qua cái lăngkính chữ tình đó
Chị đã định hướng dứt khoát cho con đường sự nghiệp của mình: đó lànghiệp thơ Chị quyết định chấm dứt một cuộc hôn nhân mà chị biết làmình đã sai lạc để xây dựng tình yêu và hôn nhân với "chú đại bàng non trẻ" Lưu Quang Vũ (1973) mà chị biết chắc trong đó có tình yêu và hạnhphúc đích thực
Xuân Quỳnh không làm ra thơ, không chế tạo câu chữ mà chị viết như kểlại những gì chị đã sống, đã trải Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhàthơ hiện đại cùng - thời chính là ở khía cạnh nội tâm đó Thơ Xuân Quỳnhgiàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế nhưng lẩn khuất phía sau tình cảm ấylại là tư tưởng có tính khái quát, triết lý
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 31Thạch Lam
(Nguyễn Tường Sáu) ❖ Năm sinh-mất: 1909-1942
❖ Quê quán: Sinh tại Hà Nội nhưng nguyên quán ở làng Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương.
❖ Tiểu sử cuộc đời: Thuở nhỏ, Thạch Lam sống với gia đình ở quê ngoại, sau đó theo anh trai cả chuyển sang Thái Bình tiếp tục bậc tiểu học Lớn lên, ông cùng gia đình chuyển ra Hà Nội, học trường Canh Nông, rồi trường Trung học Albert Saraut Thạch Lam là một nhà văn Việt Nam thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn Ông còn có bút danh khác là Việt Sinh.
Thạch Lam bắt đầu hoạt động văn học từ 1932, thành viên của Tự Lực văn đoàn Ông tham gia biên tập các tờ tuần báo Phong hóa, Ngày nay Thạch Lam nghiện thuốc phiện từ trẻ, sau mất vì bệnh lao năm 1942 tại Hà Nội.
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 32Minh Hương (Lê Võ Đài)
❖ Năm sinh-mất: 1924-2002
❖ Quê quán: Thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam.
❖ Tiểu sử cuộc đời: Minh Hương là nhà văn, nhà giáo, gốc người Minh Hương, sinh năm
1924 tại huyện Điện Bàn, TX Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Thuở nhỏ học ở Hội An, đến năm 20 tuổi ông theo gia đình vào lập nghiệp ở Sài Gòn với nhiều nghề như: y tá, dạy tư, viết báo Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia Cách mạng làm cán bộ Đoàn trường Thanh niên, Học sinh Cứu quốc Sài Gòn - Chợ Lớn, nguyên cán bộ Sở Giáo dục TP HCM Những năm 1950 - 1975 ông là cộng tác viên với các báo: Việt Nam học đường, Tiếng chuông, Tiến Bộ tại Sài Gòn.
Sau năm 1975 ông cộng tác với các báo Sài Gòn giải phóng, Tuổi trẻ và các báo khác Ông mất ngày 28 tháng 10 năm 2002 tại TP HCM.
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Ba cái dại (1957), Người đẹp miền băng tuyết (1972), Thế giới kì
lạ của loài ong (1972), Hoa đồng cỏ nội (1975), Hội An quê tôi (1995), Nhớ Sài Gòn I,II
Trang 33❖ Tiểu sử cuộc đời: Vũ Bằng lớn lên trong một gia đình Nho học .
Ông là một nhà văn, nhà báo của Việt Nam, có sở trường về viết truyện ngắn, tùy bút, bút ký Ông đã vào Sài
Gòn sau 1954 để làm báo và hoạt động tình báo Ngoài bút hiệu
Vũ Bằng, ông còn ký với các bút hiệu khác: Tiêu Liêu, Vịt Con, Thiên Thư, Vạn Lý Trình, Lê Tâm, Hoàng Thị Trâm.
Ngay khi còn nhỏ ông đã say mê viết văn, làm báo Năm 16 tuổi ông đã có truyện đăng báo, và liền sau đó ông lao vào nghề văn, nghề báo với tất cả niềm say mê Cha mẹ Vũ Bằng sinh sáu người con, ba trai ba gái Cha mất sớm, Vũ Bằng ở với mẹ làm chủ một tiệm bán sách ở phố Hàng Gai, Hà Nội, nên ông được cưng chiều, không bị thiếu thốn, vì vậy việc ông lao vào nghề viết không phải
vì mưu sinh.
Năm 1935, ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Quỳ, người Thuận Thành, Bắc Ninh Năm 1954, ông vào Nam, để lại vợ và con trai ở Hà Nội, năm 1967, bà Quỳ qua đời Ở Sài Gòn, ông lập gia đình với bà Phấn Ông mất ngày 7 tháng 4, năm 1984 tại Thành phố
Hồ Chí Minh, Việt Nam, thọ 70 tuổi
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 34Hồ Chí Minh
❖ Năm sinh-mất: 1890-1969
❖ Quê quán: Làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
❖ Tiểu sử cuộc đời: Hồ Chí Minh không chỉ là một vị anh hùng dân
tộc lỗi lạc mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn Trước lúc từ biệt thế giới này, Người đã để lại cho nhân dân ta, đất nước ta những di sản tinh thần vô giá Trong số đó phải kể đến một sự nghiệp văn chương vừa phong phú về thể loại, vừa đa dạng về phong cách, vừa sâu sắc
về tư tưởng
Thuở thiếu thời, người đã sớm có lòng yêu nước, căm thù giặc Năm
1911, Người bỏ học, rời tổ quốc ra nước ngoài tìm đường cứu nước Người đã đi khắp mọi nơi, làm đủ mọi nghề để kiếm sống Người cũng
đã tham gia nhiều tổ chức của Quốc tế Cộng sản Sau đó Người về Trung Quốc lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3 tháng 2 năm 1930) Người tiếp tục ra nước ngoài hoạt động cách mạng: đi Liên Xô Năm 1941, Người trực tiếp về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Người đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh
ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Năm 1946, Người chính thức trở thành Chủ tịch nước cho tới lúc Người mất.
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 35Đặng Thai Mai
❖ Năm sinh-mất: 1902-1984
❖ Quê quán: Huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
❖ Tiểu sử cuộc đời: Ông là giáo sư, nhà giáo, nhà văn, nhà phê bình văn học Việt Nam và nguyên
là Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Viện trưởng đầu tiên của Viện Văn học Việt Nam Sau khi cha bị thực dân Pháp bắt, ông về sống tại quê nội từ năm 6 tuổi, và được bà nội nuôi dưỡng, giáo dục lòng yêu nước, học chữ Hán và chữ Quốc ngữ theo chương trình Đông Kinh nghĩa thục Ông cũng theo học chính quy ở các trường tiểu học và trung học Vinh từ năm 1917 tới năm 1924 Năm 1925, khi đang theo học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương - Hà Nội, ông tham gia phong trào đòi "ân xá" Phan Bội Châu, truy điệu Phan Chu Trinh, đồng thời gia nhập đảng Tân Việt Năm 1928, ông trở thành giáo sư Trường Quốc học Huế Năm 1929, khi đảng Tân Việt tan vỡ, ông bị xử một năm tù treo, sau đó lại trở về dạy học ở Huế Ông lại bị bắt năm 1930 và bị xử 3 năm
vì tham gia phong trào Cứu tế đỏ Sau khi ra tù, Đặng Thai Mai ra Hà Nội sống và dạy học tại trường tư Gia Long (1932) Đến năm 1935, Đặng Thai Mai cùng với các bạn là lập ra Trường tư thục Thăng Long Năm 1936, ông các bạn thành lập ra Hội truyền bá chữ Quốc ngữ.
Ông bắt đầu hoạt động văn hóa thời kì Mặt trận Dân chủ (1936-1939), viết báo và sáng tác một số truyện ngắn bằng tiếng Pháp nêu gương các chiến sĩ cách mạng buổi đầu Năm 1939, ông ứng cử Viện dân biểu Trung Kỳ Đặng Thai Mai cũng là người có công giới thiệu văn học hiện đại Trung Quốc Sau Cách mạng tháng Tám, ông giảng dạy ở bậc đại học và nghiên cứu phê bình văn học Năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I, Ủy viên Ban dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Bộ trưởng Bộ giáo dục trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến thành lập ngày 2 tháng 3 năm 1946 Cũng trong năm này, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Trong các giai đoạn về sau, ông lần lượt giữ các chức vụ về văn hoá và giáo dục như Chủ tịch
Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thanh Hóa, Hội trưởng Hội văn hóa Việt Nam, Giám đốc Trường dự bị đại học và Sư phạm cao cấp Liên khu IV, Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện trưởng Viện Văn học, Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam Đặng Thai Mai có vốn nho học uyên thâm và am hiểu văn học cổ điển Pháp, văn học hiện đại Trung Quốc, văn học cận đại Việt Nam Đặng Thai Mai là nhà lí luận phê bình sắc sảo.
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 36Phạm Văn Đồng
❖ Năm sinh-mất: 1906-2000
❖ Quê quán: Xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
❖ Tiểu sử cuộc đời: Ông là học trò, cộng sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh Ông giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm
1955 đến năm 1976 và Thủ tướng của nước Việt Nam thống nhất từ năm
1976 (từ năm 1981 gọi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) cho đến khi nghỉ hưu năm 1987 Ông có tên gọi thân mật là "Tô", đây từng là bí danh của ông Ông còn có tên gọi là Lâm Bá Kiệt khi làm Phó chủ nhiệm cơ quan Biện sự xứ tại Quế Lâm (Chủ nhiệm là Hồ Học Lãm)
Ông tham gia phong trào bãi khóa chống Pháp của học sinh, sinh viên năm 1925, khi Phan Châu Trinh mất Năm 1926, ông sangQuảng Châu dự lớp huấn luyện cách mạng do Hồ Chí Minh tổ chức và gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Đến năm 1929, ông được cử vào Kỳ bộ Nam
Kỳ, rồi vào Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và tham gia đại hội của tổ chức này họp ở Hồng Kông Tháng 7 năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, đày đi Côn Đảo
Năm 1936, ông ra tù, hoạt động ở Hà Nội Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa
ở biên giới Việt – Trung
Năm 1945, tại Đại hội Quốc dân Tân trào, ông được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám
❖ Tác phẩm: Văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ (Ngữ văn 7 tập II, Nxb giáo dục) trích từ bài Chủ tịch Hồ chí Minh, tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại – diễn văn trong Lễ kỉ niệm 80 năm ngày
Trang 37Hoài Thanh (Nguyễn Đức Nguyên)
❖ Năm sinh-mất: 1909-1982
❖ Quê quán: Xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
❖ Tiểu sử cuộc đời: Là một nhà phê bình văn học uyên bác và tinh tế, có
vị trí lớn trong văn học Việt Nam thế kỉ 20 Cùng với em trai là Hoài Chân, ông là đồng tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam
Hồi nhỏ ông là học sinh của trường Quốc học Vinh Trước 1945, ông tham gia viết văn, làm báo, dạy học và được coi là người đứng đầu trường phái phê bình văn học Nghệ thuật vị nghệ thuật Ông từng gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng, tham gia Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế tháng 8 năm 1945
Sau 1945 ông lần lượt giữ những chức vụ: Chủ tịch Hội văn hóa cứu quốc, Huế (tháng 9 năm 1945); cán bộ giảng dạy tại Đại học Hà Nội (từ
1945 đến 1946); công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam (từ 1947 đến 1948);
ủy viên Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam(1950); Trưởng tiểu ban Văn nghệ Ban Tuyên huấn Trung ương (1950-1956); Vụ trưởng Vụ nghệ thuật và giảng dạy tại Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (1958) Trong khoảng 10 năm 1958-1968 ông trở thành đại biểu Quốc hội khóa 2, làm Tổng thư ký Hội văn học nghệ thuật Việt Nam; tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 1 và 2 Từ 1959-1969 ông giữ chức Phó viện trưởng Viện Văn học kiêm Thư ký tòa soạn Tạp chí Nghiên cứu văn học của Viện Từ 1969 đến 1975 ông giữ chức Chủ nhiệm tuần báo Văn nghệ
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Thi nhân Việt Nam (1942); Phê bình và tiểu luậntập 1 (1960), tập 2 (1965), tập 3 (1971); Phan Bội Châu (1978);
Chuyện thơ (1978), Di bút và di cảo (1993),
❖ Giải thưởng: Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 38Phạm Duy Tốn ❖ Năm sinh-mất: 1881-1924
❖ Quê quán: Huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là Phú Xuyên-Hà Nội)
❖ Tiểu sử cuộc đời: Phạm Duy Tốn thuộc lớp trí thức “Tây học” hồi đầuthế kỉ Ông làm phiên dịch, viết báo Ông còn là nhà báo và một doanhnhân tiến bộ và cũng là người từng viết những đoản văn đầu tiên của thểloại truyện ngắn theo lối Tây phương
Ông là một trong số những người Việt đầu tiên húi tóc ngắn và mặc Âuphục, một trong số những người sáng lập phong trào Đông Kinh NghĩaThục ở Hà Nội năm 1907
Đầu thế kỷ 20, ở miền Bắc có câu phương ngôn lưu truyền: "Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố", nhằm chỉ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn
và Nguyễn Văn Tố là bốn người không những giỏi tiếng Pháp vào bậc nhất
mà còn tinh thông Hán học
Ông đã cùng với các chí sĩ yêu nước, nhà nho học, học giả như Phan BộiChâu, Lương Ngọc Cán, Nguyễn Quyền, Ngô Đức Kế, Dương Bá Trạc, ĐàoNguyên Phổ, Hoàng Tăng Bí chủ xướng với sự hợp tác của một số tây họcnhư Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bá Học dạy ở trường Đông Kinh NghĩaThục
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Câu chuyện thương tâm (1914), Sống chết mặc bay! (1918), Con người Sở Khanh (1919), Nước đời lắm nỗi (1919), Tiếu lâm An Nam (1924)
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 39Lý Thường Kiệt
❖ Năm sinh-mất: 1019- 1105
❖ Quê quán: Phủ Thái Hoà, thành Thăng Long (Hà Nội)
❖ Tiểu sử cuộc đời: Tên thật là Tuấn, họ Ngô nhưng vì vào năm
1061, các tù trưởng ở miền Thanh Hoá, Nghệ An nổi lên quấy rối, chống lại triều đình Vua Lý Thánh Tông cử Ông giữ chức Kinh phòng sứ, sau một thời gian Ông đã đem lại trật tự yên vui cho miền này Vua rất quý Ông và ban cho Quốc tính Từ đó, Ông mang họ Lý
Từ nhỏ, Ông đã có chí hướng, ham đọc sách, say sưa nghiên cứu binh thư, luyện tập võ nghệ Ông có tài văn, võ; Năm 23 tuổi được bổ nhiệm làm quan theo hầu vua Lý Thái Tông Trải qua 3 triều vua: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Ông có nhiều công lao trong việc chống Tống bình Chiêm, đóng góp xây dựng đất nước phồn vinh.
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Nam Quốc Sơn Hà được sang tác vào tháng
4 năm 1076, khi ông rút quân về lập phòng tuyến sông Cầu Tại khúc sông Như Nguyệt thuộc phòng tuyến này, ở vào lúc gay go nhất, Ông đã làm một bài thơ bất hủ, cổ vũ tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân dân ta Bài thơ khẳng định quyền độc lập dân tộc tự chủ thiêng liêng của Tổ quốc Bài thơ đã đi vào lịch sử của dân tộc ta như một bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất.
❖ Giải thưởng: Được truy tặng Kiểm hiệu Thái Uý Việt Quốc Công.
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.
Trang 40Trần Quang Khải
❖ Năm sinh-mất: 1241-1294
❖ Quê quán:
❖ Tiểu sử cuộc đời: Duới triều Trần Thánh Tông
(1258-1278) Trần Quang Khải đuợc phong tuớc: Chiêu minh đại vuơng Năm 1274, ông đựoc giao giữ chức Tuớng Quốc Thái Úy Năm 1282, duới triều Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải đựoc cử làm Thuợng tuớng Thái Sư, nắm giữ quyền nội chính Trong cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ 2 (1285) và thứ 3 (1288), Trần Quan Khải
là vị tuớng chủ chốt thứ 2 sau Trần Quốc Tuấn, có nhiều công lao lớn trên chiến truờng.
Trong văn học sử Việt Nam, Trần Quang Khải còn là 1 nhà thơ có vị trí không nhỏ, thơ ông sáng tác có tập Lạc đạo, nay đã thất truyền, chỉ còn lưu lại 1 số bài Là 1 vị tuớng cầm quân xông pha khắp trận mạc đánh giặc, song thơ ông lại
"thanh thoát, nhàn nhã", "sâu xa, lý thú" (Phan Huy Chú), ấy cũng là cốt cách phong thái của các vua Trần, của nguời Việt Nam ngàn đời nay.
Những vần thơ của Trần Quang Khải để lại là những ánh hào quang, ghi dấu ấn của 1 sự nghiệp lớn trong cuộc đời vị thuợng tuớng nhà Trần-vừa làm thơ, vừa đánh giặc.
❖ Tác phẩm tiêu biểu: Tòng giá hoàn kinh, Phúc hưng
viên, Lưu gia độ, Dã thự, Xuân nhật hữu cảm,…
Xem chi tiết trên trình duyệt tại đây.