Bảng tóm tắt đầy đủ, chính xác thông tin Tác giả và Tác phẩm (tên, sự nghiệp văn chương, cuộc đời, giải thưởng, bình luận, tác phẩm và xuất bản tiêu biểu) trong chương trình ngữ văn Trung học Cơ sở, phục vụ ôn thi vào 10.
Trang 1Thông tin
Tiêu đề
Phong cách Hồ Chí
Minh – Lê Anh Trà
-Quê quán: Quảng Ngãi -NSNM: 1927-1999 -Là một tác giả không nổi tiếng nhưng có nhiều công trình khoa học đã công bố trên các tạp chí chuyên ngành
-Trích từ “Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị”
-In trong tập “Hồ Chí Minh
và văn hóa Việt Nam” do Viện Văn hóa xuất bản năm 1990
Vẻ đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại
Đấu tranh cho một
thế giới hòa bình –
G.G Mác-két
-Nhà văn Colombia (1928-2014) -Trích từ tham luận của ông tại cuộc họp lần thứ
hai tại Mê-hi-cô của nguyên thủ sáu nước về việc tuyên bố kêu gọi chấm dứt chạy đua vũ trang để bảo vệ hòa bình
Tuyên bố thế giới
về sự sống còn,
quyền được bảo vệ
và phát triển của
trẻ em
Trích “Tuyên bố của hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em”
Chuyện người con
gái Nam Xương –
Nguyễn Dữ
-Quê quán: Hải Dương -Là một danh sĩ thời Lê sơ, thời Nhà Mạc; là học trò giỏi của Tuyết giang phu
tử Nguyễn Bỉnh Khiêm
-Truyện của ông thấm đâm giá trị nhân văn Ông là một trong những nhà văn khơi mở cho trào lưu nhân văn trong văn học trung đại Việt Nam
-Truyện có nguồn gốc từ truyện cổ dan gian “Vợ chàng Trương”
-Là một trong số 11 truyện
về phụ nữ của “Truyền kỳ mạn lục”
-“Truyền kỳ mạn lục” là tác phẩm duy nhất còn lại của Nguyễn Dữ Đây được coi
là áng “thiên cổ ký bút”
gồm 20 truyện viết theo thể truyền kỳ
Qua câu chuyện về cuộc đời
và cái chết thương tâm của
Vũ Nương, CNCGNX thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ
-Xây dựng tình huống chuyện bất ngờ, kịch tính thông qua chi tiết cái bóng -Xây dựng yếu tố hoang đường kỳ ảo làm cho câu chuyện thêm li kỳ, hấp dẫn, hoàn thiện vẻ đẹp của
Vũ Nương
-Xây dựng nhân vật thông qua lời nói, hành động, đối thoại, độc thoại
-NT dựng truyện, dẫn chuyện sinh động hấp dẫn; kết hợp TS+BC
Trang 2Chuyện cũ trong
phủ chúa Trịnh –
Phạm Đình Hổ
-(1768-1839) Quê quán:
Hải Dương
-Có nhiều công trình biên soạn, khảo cứu có giá trị
đủ các lĩnh vực đều bằng chữ Hán
-Trích trong “Vũ trung tùy bút” – được viết khoảng đầu đời Nguyễn ( thế kỷ XIX; gồm 88 mẩu chuyện nhỏ viết theo thể tùy bút
Phản ánh đời sống xa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời
Lê – Trịnh
Một lối văn ghi chép sự việc cụ thể, chân thực, sinh động
Hoàng Lê nhất
thống chí – Hồi thứ
mười bốn – Ngô
gia văn phái
-Là một nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây
Trích trong “Hoàng Lê nhất thống chí” – tác phẩm chữ Hán ghi chép lại sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê; gồm 17 hồi
Tái hiện hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh và số phanạ bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống
Truyện Kiều của
Nguyễn Du
-3/1/1766 – 16/9/1820
-Tên: Tố Như; hiệu: Thanh Hiên; quê: Nghệ An
-Sống vào thời đại cuối Lê – đầu Nguyễn – thời kì phong kiến VN suy tàn
-Từng làm quan cho nhà
Lê rồi sống lưu lạc ở miền Bắc, về quê ở ẩn, nếm trải cay đắng
-Là đại thi hào của văn học Việt Nam; danh nhân văn hóa thế giới
-Để lại di sản văn hóa lớn cho dân tộc gồm cả thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm đạt đến trình độ điêu luyện
-Riêng “Truyện Kiều” là đóng góp to lớn nhất cho nền Văn học Việt Nam
-Trích trong “Truyện Kiều”
(1805-1809)
-Mượn cốt truyện của
“Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc)
-Sự sáng tạo của Nguyễn
Du đã quyết định thành công và giá trị của “Truyện Kiều” khiến nó vượt xa bản gốc, đạt tới mức “kì tài diệu bút”
-Là kiệt tác văn học, kết tinh giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân tộc
Chị em Thúy Kiều
– Nguyễn Du
Nằm ở phần đầu: Gặp gỡ và đính ước Khắc họa rõ nét chân dung chị em Thúy Kiều Ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của cong người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh
-Bút pháp ước lệ (lấy vẻ đẹp thiên nhiên để gợi tả
vẻ đẹp con người)
-Sử dụng điển cố, điển tích -BPTT: so sánh, ẩn dụ
Cảnh ngày xuân –
Nguyễn Du
Nằm ở phần đầu: Gặp gỡ và đính ước Đoạn thơ miêu tả bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, nhộn nhịp
-Bút pháp chấm phá, tả cảnh ngụ tình
-Đặc sắc trong sử dụng từ ngữ và BPTT
Kiều ở lầu Ngưng
Bích – Nguyễn Du
Nằm ở phần hai: Gia biến và lưu lạc Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi
và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều
-Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại -Bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc
Trang 3Lục Vân Tiên cứu
Kiều Nguyệt Nga –
Nguyễn Đình
Chiểu
-1822-1888
-Là nhà thơ đau khổ và bất hạnh bậc nhất trong nền Văn học Việt Nam Là 1 thầy thuốc, 1 thầy giáo, và
1 nhà thơ giàu lòng yêu nước
-Được đánh giá là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam
-Để lại cho đời nhiều tác phẩm văn chương có giá trị nhằm truyền bá đạo lý
và cổ vũ lòng yêu nước, ý chí cứu nước
-Trích “Truyện Lục Vân Tiên” – được sáng tác đầu những năm 50 của thế kỷ XĨ; là truyện thơ Nôm với
2082 câu lục bát
Thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc họa những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết
na, ân tình
-Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua cử chỉ, lời nói, hành động…
-Ngôn ngữ mộc mạc, giản
dị, mang màu sắc địa phương Nam Bộ
Đồng chí – Chính
Hữu
-Trần Đình Đắc (1926);
quê ở Hà Tĩnh
-Là nhà thơ, chiến sĩ trong suót hai cuỗ kháng chiến chống Pháp và Mĩ
-Thường viết về người lính
và chiến tranh
-Phong cách thơ: cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc
-Đầu 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc
-Là tác phẩm tiêu biểu cho
đề tài và phong cách thơ của Chính Hữu và viết về người lính cách mạng trong văn học kháng chiến chống Pháp
Tình đồng chí của những người lính dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lý tưởng chiến đấu thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và
vẻ đẹp tinh thần người lính cách mạng
-Chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm
Bài thơ về tiểu đội
xe không kính –
Phạm Tiến Duật
-(1941-2007); quê ở Phú Thọ; là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước
-Thơ ông giàu chất liệu hiện thực, chiến trường;
giọng điệu ngang tàng, tinh nghịch, sôi nổi, trẻ trung; Tập chung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc KCCM qua hình
-Năm 1969, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra vô cùng ác liệt
Qua hình ảnh độc đáo những chiếc xe không kính, bài thơ khắc họa nổi bật hình ảnh người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kì chống Mĩ, với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khắn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam
Tác giả đã đưa vào bài thơ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống ở chiến trường; ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn
Trang 4tượng người lính và thanh niên xung phong
Đoàn thuyền đánh
cá – Huy Cận
-1919-2005 -Trước cách mạng, ông là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới
-Sau cách mạng, ông là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam
-Cảm hứng sáng tác: thiên nhiên, cuộc sống lao động
-Phong cách thơ: bút pháp khoa trương, tràn đầy niềm vui
-Giữa năm 1958, ông có chuyến đi thực tế dài ngày tại vùng mỏ Quảng Ninh
-In trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958)
-Là bài thơ tiêu biểu cho phong cách sáng tác thơ của Huy Cận sau cách mạng
-Bài thơ khắc họa nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm
tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống
-Sự sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo
-Âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng, lạc quan
Bếp lửa – Bằng
Việt
-Sinh năm 1941, thuộc thế
hệ các nhà thơ trẻ, trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc -Đề tài: về tuổi thơ, tuổi trẻ của cong người -> rất gần gũi với bạn đọc
-Phong cách thơ: ý thơ trong trẻo mượt mà, nhẹ nhàng, sâu lắng và thường
sử dụng hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng
-Ra đời khi tác giả đang là sinh viên du học tại Liên
Xô (1963)
-In trong tập “Hương cây – Bếp lửa”
Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ gợi lại những
kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà
và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước
-Kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả,
tự sự và bình luanạ
-Sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu
Khúc hát ru những
em bé lớn trên
lưng mẹ - Nguyễn
Khoa Điềm
-Sinh năm 1943, là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ của dân tộc -Đề tài: thơ ông chủ yếu về con người, cuộc sống chiến đấu ở quê hương
-Phong cách thơ: giàu chất suy tư, dạt dào cảm xúc
Ra đời năm 1971, trong cuộc kháng chiến chống Mĩ khi nhà thơ đang công tác
ở chiến khu miền tây Thừa Thiên
-Trong gian nan, vất vả của cuộc sống ở chiến khu, người mẹ càng dành cho con tình yêu thương thắm thiết, càng ước mong con mau lớn khôn, khỏe mạnh, trở thành công dân của một đất nước tự do
-Bài thơ thể hiện tình yêu thương con gắn liền với lòng yêu nước, với tinh thần
-Giọng điệu ngọt ngào, trìu mến
-BPTT nổi bật: điệp cấu trúc câu thơ, khổ thơ
Trang 5chiến đấu của người mẹ miền tây Thừa Thiên
Ánh trăng –
Nguyễn Duy
-Sinh năm 1948, là gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước và tiếp tục bền
bỉ sáng tác
-Phong cách thơ: nhẹ nhàng, sâu lắng, bắt đầu từ những cái bình dị, gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm
Ra đời năm 1978, sau khi đất nước đã được hòa bình, thống nhất
Bài thơ như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ
-Giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm
Làng – Kim Lân
-1920-2007, quê Bắc Ninh
-Là nhà văn có sở trường viết truyện ngắn
-Là người gắn bó, am hiểu
về cuộc sống ở nông thôn
→ thường viết về cuộc sống nơi làng quê và cảnh ngộ của nhân dân
-Bút pháp miêu tả chân thực, sinh động, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật
Ra đời năm 1948, những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp
Tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư đã được thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai
-Xây dựng tình huống truyện bất ngờ, kịch tính
để nhân vật bộc lộ đời sống nội tâm bên trong -Nghệ thuật miêu tả tâm lý
và ngôn ngữ nhân vật sâu sắc
-Giọng kể tự nhiên, thủ thỉ, thâm tình
-Ngôn ngữ đậm tính khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nông dân
Lặng lẽ Sa Pa –
Nguyễn Thành
Long
-1925-1991, Quảng Nam
-Là cây bút chuyên viết truyện ngắn và ký
-Phong cách truyện ngắn thường trong sáng, thơ mộng và pha đầy chất ký
-Là kết quả của chuyến đi lên Lào Cai vào mùa hè
1970 của nhà văn
-In trong tập “Giữa trong xanh” (1972)
Truyện khắc họa thành công hình ảnh những người lao động bình thường mà tiêu biểu là anh thanh niên làm công tác khí tượng ở một mình trên đỉnh núi cao Qua
đó khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng
-Xây dựng tình huóng hợp
lí, cách kể chuyện tự nhiên,
có sự kết hợp giữa tự sự, trữ tình với bình luận
Trang 6Chiếc lược ngà –
Nguyễn Quang
Sáng
-1932, là nhà văn Nam Bộ
-Đề tài: về cuộc sống, con người Nam Bộ trong chiến tranh và sau hòa bình
-Phong cách: cốt truyện hấp dẫn xoay quanh những tình tiết bất ngờ;
thành công trong việc miêu tả tâm lí nhân vật, đặc biệt là tâm lý trẻ em
Sáng tác năm 1966, trong kháng chiến chống Mĩ, khi tác giả đang ở chiến trường Nam Bộ
Đoạn trích thuộc phần giữa của truyện
In trong tập truyện cùng tên
Thể hiện cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh
-Tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí
-Miêu tả tâm lý và xây dựng tính cách nhân vật, đặc biệt là bé Thu
Cố hương – Lỗ Tấn
Là nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc Ông theo con đường văn học vì cho rằng văn chương là thứ vũ khí lợp hại để “biến đổiti nh thần” dân chúng đang ở tình trạng “ngu muội” và
“hèn nhát”
Là truyện ngắn tiêu biểu của tập “Gào thét” (1923) Thuật lại chuyến về quê lần cuối cùng của nhân vật “tôi”,
những rung cảm của “tôi”
trước sự thay đổi của làng quê, đặc biệt là nhân vật Nhuận Thổ, Lỗ Tấn đã phê phán xã hội phong kiến, lễ giáo phong kiến, đặt ra vấn
đề con đường đi của nông dân và của toàn xã hội để mọi người suy ngẫm
Những đứa trẻ - M
Go-rơ-ki
Là nhà văn lớn của nước Nga Tuổi thơ ông từng phải trải qua nhiều cay đắng, tủi cực Nổi tiếng vì
bộ ba tiểu thuyết tự thuật
Đoạn trích thuộc chương
IX của tiểu thuyết “Thời thơ ấu” (13 chương)
Thuật lại hết sức sinh động tình bạn thân thiết nảy sinh giữa ông hồi còn nhỏ với mấy đứa trẻ sống thiếu tình thương bên hàng xóm, bất chấp những cản trở trong quan hệ xã hội lúc bấy giờ
-Tài kể chuyện giàu hình ảnh đan xen chuyện đời thường với truyện cổ tích
Trang 7Bàn về đọc sách –
Chu Quang Tiềm
-1897-1986 -Là nhà mĩ học và lí luận văn học nổi tiếng của Trung Quốc
Đoạn trích nằm trong tác phảm “Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui, nỗi buồn của việc đọc sách”
Đọc sách là một con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn Ngày nay sách nhiều, phải biết chọn sách
mà đọc, đọc ít mà chắc còn hơn độc nhiều mà rỗng Cần kết hợp giữa đọc rộng với đọc sâu, giữa đọc sách thường thức với sách chuyên môn Việc đọc phải
có kế hoạch, có mục đích kiên định chứ không thể tùy hứng, phải vừa đọc vừa nghiềm ngẫm
-Luận điểm có lí lẽ chặt chẽ
-Dẫn chứng sinh động
Tiếng nói của văn
nghệ - Nguyễn
Đình Thi
-1924-2003 -Là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, sáng tác nhạc, soạn kịch, viết lí luận, phê bình
-Viết vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp
-In trong cuốn “Mấy vấn
đề văn học” (1956)
ND: Văn nghệ là sợi dây đồng cảm kì diệu giữa nghệ sĩ với bạn đọc thông qua những rung động mãnh liệt, sâu xa của trái tim Văn nghệ giúp con người được sống phong phú hơn và tự hoàn thiện nhân cách, tâm hồn mình
NT: Cách viết chặt chẽ, giàu hình ảnh và cảm xúc
Chuẩn bị hành
trang vào thế kỷ
mới – Vũ Khoan
Là nhà hoạt động chính trị, từng là thứ trưởng bộ ngoại giao, bộ trưởng bộ thương mại, phó thủ tướng chính phủ
Ra đời năm 2001, khi nước ta và toàn thế giới bước vào năm đầu tiên của thế kỷ mới – thế kỷ XXI
Chuẩn bị vào thế kỉ mới, thế hệ trẻ Việt Nam cần thấy rõ điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam, rèn cho mình những đức tính và thói quen tốt Điểm mạnh của con người Việt Nam là thông minh, nhạy bén với cái mới, cần cù sáng tạo, rất đoàn kết đùm bọc nhau trong thời kỳ chống ngoại xâm Bên cạnh đó cũng có nhiều điểm yếu cần khắc phục: thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành, thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, thiếu tính cộng đồng trong làm
ăn Để đưa đất nước đi lên, chúng ta cần phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu, hình thành những thói quen tốt ngay từ những việc nhỏ
Chó sói và cừu
trong thơ ngụ
ngôn của La
Phông-ten –
Hi-pô-lít Ten
-1828-1893 -Là triết gia, sử gia, nhà nghiên cứu văn học Pháp ở thế kỷ XIX
Trích từ phần II của công trình nghiên cứu nổi tiếng
“La Phông-ten và thơ ngụ ngôn của ông”
Bằng cách so sánh hình tượng con cừu và con chó soi trong thơ ngụ ngôn La Phông-ten với những dòng viết về hai con vật ấy của nhà khoa học Buy-phông, H.Ten đã nêu bật đặc trưng của sáng tác nghệ thuật là in đậm dấu ấn cách nhìn, cách nghĩ riêng của nhà văn
Trang 8Con cò – Chế Lan
Viên
-1920-1989 -Là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ
ca Việt Nam thế kỷ XX
-Phong cách: mang đậm chất triết lý, giàu suy tưởng, thể hiện chất trí tuệ
và tính hiện đại
-Ra đời năm 1962
-In trong tập “Hoa ngày thường – Chim báo bão”
(1967) -Là bài thơ tiêu biểu trong phong cách thơ của Chế Lan Viên
Khai thác hình tượng con cò trong câu hát ru, bài thơ ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc sống của con người
-Thể thơ tự do thể hiện cảm xúc một cách linh hoạt BPTT: ẩn dụ
-Sáng tạo hình ảnh con cò trong ca dao mang ý nghĩa biểu tượng cho tình mẹ, lòng mẹ
-Âm hưởng khi tha thiết, vấn vương, khi rõ ràng, triết lý
Mùa xuân nho nhỏ
- Thanh Hải
-Là một trong những cây bút có công trong việc xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam trong những ngày đầu
-Phong cách thơ: dung dị, nhẹ nhàng, sâu lắng
-Ra đời tháng 11/1980, khi đất nước đang bước vào thời kỳ đổi mới, công cuộc kiến thiết đang diễn
ra sôi nổi; khi ông bị bệnh nặng và phải điều trị ở TPHuế Chỉ 1 tháng sau khi bài thơ ra đời, ông mất
Là tiếng lòng tha thiết yêu mến và gắn bó với đất nước, với cuộc đời; thể hienẹ ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước, góp một “mùa xuân nhỏ nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc
-Thể thơ 5 tiếng
-Nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca -Nhiều hình ảnh đẹp, giản
dị, gợi cảm
-Hình ảnh so sánh và ẩn dụ sáng tạo
Viếng lăng Bác –
Viễn Phương
-1928-2005 -Là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thơi kì chống Mĩ cứu nước
-Phong cách thơ: thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm, giàu chất thơ mộng
-Ra đời tháng 4/1976 Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ giành thắng lợi, đất nước hoàn toàn thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa được khánh thành, nhà thơ cùng đồng bào miền Nam ra thăm lăng Bác
-In trong tập “Như mây mùa xuân” (1978)
Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ cũng như của mọi người đối với Bác khi vào lăng viếng Bác
-Thể thơ tám chữ
-Nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp, gợi cảm
-Ngôn ngữ bình dị, cô đúc -Giọng điệu trang trọng, tha thiết
Sang thu – Hữu
Thỉnh
-1942, quê ở Tam Dương, Vĩnh Phúc
-Ông thường viết nhiều, viết hay về cuộc sống và con người ở nông thôn
-Là thi phẩm xuất sắc của nhà thơ
-Ra đời năm 1977
-In trong tập “Từ chiến hào đến thành phố” 1991
Bài thơ là sự cảm nhận tinh
tế của nhà thơ về vẻ đẹp thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa từ cuối hạ sang đầu thu và những suy ngẫm, triết lí của ông về cuộc đời và con người
-Thể thơ 5 chữ
-Hình ảnh chọn lọc, đặc sắc, giàu sức biểu cảm -Từ ngữ gợi hình
-BPTT: nhân hóa, ẩn dụ
Trang 9Nói với con – Y
Phương
-1948, người dân tộc Tày
-Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ, trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi
-Ra đời năm 1980
-In trong tập “Thơ Việt Nam 1945-1985”
Bài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc mình Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống
-Thể thơ tự do
-Bố cục chặt chẽ, dẫn dắt
tự nhiên
-Từ ngữ, hình ảnh giản dị giàu sức biểu cảm
-Giai điệu nhỏ nhẹ, tâm tình
Mây và sóng –
Ra-bin-đra-nát Ta-go
-1861-1941, là nhà thơ hiện đại lớn nhất ở Ấn Độ
-Là người châu Á đầu tiên đạt giải Noben Văn học với tập “Thơ dâng” (1913)
Được viết bằng tiếng Ben-gan in trong tập Si-su (1909)
Ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt -Hình thức đối thoại lồng trong lời kể của em bé
-Hình ảnh thiên nhiên giàu
ý nghĩa tượng trưng
Bến quê – Nguyễn
Minh Châu
-1930-1989, quê: Nghệ An
-Là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học
VN thời kỳ khánh chiến chống Mỹ với những thành công về tiểu thuyết và truyện ngắn
-Sáng tác của ông thể hiện những tìm tòi đổi mới về
tư tưởng và nghệ thuật, gây được những tiếng vang rộng rãi trong công chúng và giới văn học
In trong tập truyện ngắn cùng tên xuất bản năm
1985
Truyện ngắn chứa đựng những suy ngẫm, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn
về con người và cuộc đời, thức tỉnh sự trân trọng giá trị của cuộc sống gia đình và những vẻ đẹp bình dị của quê hương
-Miêu tả tâm lý tinh tế -Nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng
-Cách xây dựng tình huống, trần thuật theo dòng tâm trạng của nhân vật
Những ngôi sao xa
xôi – Lê Minh Khuê
-1949, quê: Thanh Hóa, là cây bút nữ chuyên viết truyện ngắn
-Bắt đầu viết văn vào đầu những năm 1970, chủ yếu viết về cuộc sống chiến
-Là một trong những tác phẩm đầu tay của LMK
-Viết năm 1971, trong khi cuộc kháng chiến chống
Mỹ đang diễn ra ác liệt
Truyện làm nổi bật tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên
-Sử dụng vai kể là nhân vật chính
-Cách kể chuyện tự nhiên, ngôn ngữ sinh động, trẻ trung
-Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật
Trang 10đấu của tuổi trẻ ở tuyến đường Trường Sơn
-Sau 1975, tác phẩm của LMK bám sát những chuyển biến của đời sống
xã hội và con người trên tinh thần đổi mới
tuyến đường Trường Sơn
Đó là hình ảnh đẹp, tiêu biểu về thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ
Rô-bin-xơn ngoài
đảo hoang –
Đe-ni-ơn Đi-phô
-1660-1731, là nhà văn lớn của Anh ở thế kỉ XVIII
-Đến với tiểu thuyết khá muộn – gần sáu mươi
Trích trong tác phẩm “Rô-bin-xơn Cru-xô” (1919) là tiểu thuyết đầu tay và cũng nổi tiếng nhất của ông
Qua bức chân dung tự họa và giọng kể của Rô-bin-xơn trong đoạn trích, ta hình dung được cuộc sống vô cùng khó khăn gian khổ và cả tinh thần lạc quan của nhân vật khi chỉ có một mình nơi đảo hoang vùng xích đạo suốt mười mấy năm ròng rã
Bố của Xi-mông –
Mô-pa-xăng
-1850-1893, là nhà văn người Pháp có khối lượng tác phẩm lớn gồm một số tiểu thuyết và hơn 300 truyện ngắn
-Tác phẩm của ông phản ánh sâu sắc nhiều phương diện của xã hội Pháp nửa cuối thế kỉ XIX
Trích trong truyện ngắn cùng tên Nhắc nhở chúng ta về lòng thương yêu bè bạn, mở rộng
ra là lòng thương yêu con người, sự thông cảm với những nỗi đau hoặc lỡ lầm của người khác
Thể hiện sắc nét diễn biến tâm trạng của ba nhân vật: Xi-mông, Blăng-sốt, Phi-líp
Con chó Bấc –
Lân-đơn
-1876-1916, là nhà văn Mỹ -Là tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng
Trích trong tiểu thuyết
“Con chó Bấc” Nhà văn có những nhận xét tinh tế khi viết về những con chó, thể hiện trí tưởng tượng tuyệt vời khi đi sâu vào
“tâm hồn” của con chó Bấc, đồng thời bộc lộ tình cảm yêu thương của mình đối với loài vật
ịch Bắc Sơn – Nguyễn Huy Tưởng
-1912-1960, quê: Hà Nội
-Là nhà văn và nhà viết kịch, đã có tác phẩm được chú ý trước 1945
-Sáng tác của ông thường khai thác đề tài lịch sử và cách mạng, đề cập đến những vấn đề trọng đại của vận mệnh dân tộc và xây dựng những hình tượng anh hùng
Là hai lớp của hồi bốn trích trong “Kịch Bắc Sơn”
gồm năm hồi
Xây dựng một tình huống làm bộc lộ xung đột cơ bản của vở kịch giữa lực lượng cách mạng và kẻ thù; đồng thời thể hiện diễn biến nội tâm của nhân vật Thơm – một cô gái có chồng theo giặc, từ chỗ thờ ơ với cách mạng, sợ liên lụy đến chỗ đứng hẳn về phía cách mạng Qua đó khẳng định sức thuyết phục của chính nghĩa cách mạng
-Tạo dựng tình huống để bộc lộ xung đột, tổ chức đối thoại, thể hiện tâm lý
và tính cách nhân vật