PHỤ LỤC 2 TRANG PHỤ BÌA TIỂU LUẬN MỤC LỤC ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN ĐỀ TÀI : THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO
Trang 1PHỤ LỤC 2 TRANG PHỤ BÌA TIỂU LUẬN
MỤC LỤC
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
ĐỀ TÀI : THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TỈNH QUẢNG
BÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Học phần: Pháp luật an sinh xã hội
Giảng viên phụ trách học phần: ThS Đỗ Thị Quỳnh Trang
SINH VIÊN THỰC HIỆN: CAO PHI HÙNG
MÃ SINH VIÊN: 18A5021212 LỚP CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ K42D
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2021
Số
p
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
ĐỀ TÀI : THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TỈNH
QUẢNG BÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Học phần: Pháp luật an sinh xã hội
Giảng viên chấm 1 Giảng viên chấm 2
(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2021
S
ố phác
h
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1.1 Một số vấn đề lý luận về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
1.1.2 Khái niệm trợ giúp xã hội
1.2 Pháp luật điều chỉnh về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.2.1 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.2.2 Khái niệm pháp luật về về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 1.2.3 Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.2.3.1 Nội dung
1.2.3.2 Chế độ trợ giúp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1 Thực trạng Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
2.1.1 Thực trạng pháp luật về đối tượng trợ giúp xã hội
2.1.1.1 Ưu điểm
2.1.1.2 Nhược điểm
2.1.2 Thực trạng pháp luật về chế độ hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi
2.1.2.1 Ưu điểm
2.1.2.2 Nhược điểm
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại tỉnh Quảng Bình
2.2.1 Tình hình thực hiện pháp luật về hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi
2.2.2 Những hạn chế còn tồn tại
Trang 5Chương 3:ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ
XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, ASXH là một trong những trụ cột cơ bản trong hệ thống các chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước quan tâm xây dựng ASXH là nhân tố đảm bảo công bằng xã hội Thực tiễn phát triển đã cho thấy ASXH có vai trò rất lớn trong việc khắc phục những hệ lụy của phân hóa xã hội, tăng cường gắn kết xã hội, sự đồng thuận và đảm bảo ổn định chính trị Như chúng ta đều biết, đất nước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển, chúng ta hướng mục tiêu trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa
để có thể sánh vai với các nước phát triển trên thế giới Trong những năm vừa qua bên cạnh những thành tựu đáng kể đạt được về kinh tế - xã hội thì chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nảy sinh từ mặt trái của quá trình phát triển đó như phân tầng xã hội, quá trình đô thị hóa không đồng bộ, môi trường bị xuống cấp, thất nghiệp, tệ nạn ma túy, người già neo đơn Dân số nước ta ngày càng già đi, quá trình già hóa dân số diễn
ra nhanh chóng kéo theo đó là số lượng người cao tuổi ngày càng tăng lên gây sực ép đối với nền kinh tế - xã hội
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và các Nghị quyết của Quốc hội, công tác trợ giúp xã hội cho người cao tuổi thời gian qua đã đạt được những kết quả chính như đã xây dựng được hệ thống văn bản pháp luật, chính sách tạo cơ sở pháp lý cho thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội Nhìn tổng thể, chính sách bảo trợ xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam đã đạt được thành quả góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người dân Hệ thống trợ giúp xã hội tuy đã hình thành nhưng chưa được hoàn thiện theo cách tiếp cận hệ thống, đồng bộ, toàn diện, bao phủ hết đối tượng, gắn kết chặt chẽ trong mối tương quan với an sinh xã hội, phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về phát triển trợ giúp
Trang 7xã hội, nhất là trong điều kiện Việt Nam là nước đang phát triển có thu nhập trung bình.1
Năm 2020, trong bối cảnh thiên tai và dịch bệnh, Hội người cao tuổi Tỉnh Quảng Bình được củng cố với hơn 3.400 hội viên mới được kết nạp, đưa tổng số hội viên lên gần 111.000 người
Công tác chăm sóc người cao tuổi được xem là nhiệm vụ trọng tâm của hội thông qua thực hiện các chế độ về trợ cấp xã hội, chăm sóc về thể chất và tinh thần cho người cao tuổi Toàn tỉnh có 17.441 người cao tuổi từ 80 trở lên được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; có 13.050 người cao tuổi từ 60-79 tuổi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được hưởng trợ cấp xã hội.2 Xuất phát từ
thực tiễn đó, em đã chọn đề tài: “ Thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại Tỉnh Quảng Bình và một số giải pháp” Do thời gian nghiên cứu hạn hẹp cũng như vốn hiểu biết còn hạn
chế nên bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để bài viết của em được tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 1.1 Một số vấn đề lý luận về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể
Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên
Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau Những nước có
hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn
Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau
Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: Người cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”
Theo luật lao động: Người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên (với nam), từ 55 tuổi trở lên (với nữ) Tuy nhiên quan niệm này có thể thay đổi theo thời gian khi điều kiện về kinh tế và tuổi thọ trung bình thay đổi Đa
số NCT Việt Nam hiện nay là thế hệ sinh ra trong thời kỳ trước 1950, nhiều người tham gia các cuộc đấu tranh giữ nước, xây dựng đất nước Do sinh ra
và trưởng thành trong các điều kiện hết sức khó khăn họ không có điều kiện bảo vệ sức khoẻ và tích luỹ vật chất cho tuổi già Chính vì vậy, khi đất nước
Trang 9chuyển sang cơ chế thị trường, họ là những người đang phải đối mặt với những khó khăn trong việc thích nghi với thay đổi
1.1.2 Khái niệm trợ giúp xã hội
Trợ giúp xã hội được hiểu là những sự giúp đỡ, trợ giúp của cộng đồng, của Nhà nước đến với các đối tượng yếu thế trong xã hội thông qua hình thức
hỗ trợ về điều kiện sinh sống, về vật chất để các đối tượng trong diện được trợ giúp có thể phát huy khả năng tự bản thân lo liệu được cuộc sống, vượt qua được những khó khăn, và có thể dần tái hòa nhập vào cộng đồng
1.1.3 Sự cần thiết của trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
- Thứ nhất, Tỷ lệ người cao tuổi ngày càng gia tăng tạo nên gánh nặng cho quỹ hưu trí Khi dân số cao tuổi chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số cũng đồng nghĩa với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm đi và số người sau 60 tuổi sẽ tăng lên và sống lâu hơn Như vậy, số người làm ra của cải vật chất cho xã hội sẽ có xu hướng giảm đi và số người thụ hưởng sẽ có
xu hướng gia tăng Điều này ở một khía cạnh nào cũng sẽ tạo ra “gánh nặng” cho quỹ hưu trí quốc gia khi phải chi trả lương hưu nhiều hơn và dài thời gian hơn, trong khi đó số người đóng góp có xu hướng giảm đi tương đối so với số người thụ hưởng (do hệ quả của mức sinh thấp
- Thứ hai, Chi phí y tế dành cho người cao tuổi cao
Theo quy luật chung, tuổi càng cao, sức khỏe càng giảm Dù muốn hay không, con người vẫn đối mặt với tình trạng bệnh tật, sức khỏe của mình khi tuổi ngày càng cao trong vòng đời Sinh- Lão- Bệnh- Tử Khi đã ngoài 60 tuổi, quá trình đồng hóa giảm đi, quá trình dị hóa tăng lên, quá trình lão hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, đồng thời phát sinh những loại bệnh tật đặc trưng của tuổi già Như vậy, cùng với tuổi tác, cơ cấu chi tiêu của người
Trang 10cao tuổi đã thay đổi nhiều, chi phí cho khám, chữa bệnh có xu hướng tăng lên Người già lại hay bị những loại bệnh đòi hỏi chi phí y tế cao như huyết
áp, đột quỵ, tim mạch…
- Thứ ba, Tỷ lệ hưởng BHXH hưu trí của những người cao tuổi ở khu vực nông thôn còn thấp
Đối với một nước có xuất phát điểm thấp như Việt Nam, cho đến nay, về
cơ bản nước ta vẫn là nước nông nghiệp với trên 70% số dân và cũng khoảng 70% số lao động đang sống ở và lao động ở nông thôn, trong đó khoảng 50% làm các nghề nông nghiệp.3 Trong khi đó số lao động tham gia hệ thống BHXH chỉ chiếm khoảng 10% -20% tổng lực lượng lao động và chủ yếu ở khu vực thành thị Như vậy, đa số người lao động nông thôn khi trở thành người cao tuổi (60 tuổi trở lên) sẽ không được hưởng lương hưu từ hệ thống BHXH Để tiếp tục cuộc sống, những người cao tuổi này buộc phải tự lao động kiếm sống hoặc nhờ sự hỗ trợ của con cháu, hoặc nhờ sự trợ giúp của cộng đồng
- Thứ tư, nước ta trải qua các cuộc chiến tranh kéo dài với rất nhiều thế hệ người lính phải sống và chiến đấu ở những vùng ác liệt, nhiều nơi bị nhiễm chất độc da cam… Đến nay, đa phần họ đã thuộc nhóm người cao tuổi Ngoài những loại bệnh của người già, không ít trong số họ mắc những bệnh đặc trưng của chiến tranh, trong khi đó, đa phần trong số họ sau chiến tranh
về quê nhà sinh sống, họ không có lương hưu Điều này, đòi hỏi cần có những chính sách ASXH đặc thù cho nhóm người này
Qua những phân tích trên cho thấy giữa già hóa dân số, dân số già và ASXH có mối quan hệ “nhân- quả” Điều này cho thấy, một mặt phải điều
3 https://www.sggp.org.vn/phai-thay-doi-tu-duy-lam-nong-nghiep-493547.html
Trang 11chỉnh chính sách dân số sao cho quá trình già hóa dân số diễn ra chậm hơn và quá trình chuyển từ dân số già hóa sang dân số già diễn ra với thời gian lâu hơn; mặt khác, cần phải có chiến lược ASXH ứng phó phù hợp
1.2 Pháp luật điều chỉnh về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.2.1 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Thứ nhất, thể chế chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Thứ hai, tạo hành lang pháp luật cho thực hiện và bảo đảm quyền, phúc lợi của người cao tuổi
Thứ ba, điều chỉnh pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nhằm thực hiện và bảo đảm quyền người cao tuổi
1.2.2 Khái niệm pháp luật về về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với người cao tuổi và các chủ thể khác có liên quan khi người cao tuổi tham gia vào quan hệ pháp luật trợ giúp xã hội, theo đó các bên tham gia mang các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo luật định
1.2.3 Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.2.3.1 Nội dung
Căn cứ khoản 5 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP thì người cao tuổi thuộc một trong các đối tượng sau đây thì được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên:
“a) Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng
nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng;
Trang 12b) Người cao tuổi từ đủ 75 tuổi đến 80 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc diện quy định ở điểm a khoản này đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn; c) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại điểm a khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;
d) Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng”
1.2.3.2 Chế độ trợ giúp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng
Pháp luật hiện hành quy định chế độ của người cao tuổi căn cứ vào độ tuổi, sẽ có một hệ số tương ứng Từ đó nhân với mức chuẩn trợ giúp xã hội
sẽ ra được mức trợ cấp hàng tháng
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH
QUẢNG BÌNH 2.1 Thực trạng Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
2.1.1 Thực trạng pháp luật về đối tượng trợ giúp xã hội
2.1.1.1 Ưu điểm
Cùng với sự trợ giúp của Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng
về vật chất và tinh thần cho những đối tượng xã hội và sự ra đời của nhiều văn bản pháp luật đã không ngừng mở rộng diện bao phủ đến các nhóm xã
Trang 13hội yếu thế cần trợ giúp Đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội ngày càng được mở rộng, mức trợ cấp ngày càng được tăng lên, nguồn kinh phí trợ giúp ngày càng được mở rộng từ nhiều nguồn và cơ sở hạ tầng và điều kiện chăm sóc quản lý đã được cải thiện nhiều hơn so với trước đây
2.1.1.2 Nhược điểm
Tuy nhiên chính sách pháp luật của Nhà nước ta vẫn còn tồn tại những bất cập
Thứ nhất, mặc dù các đối tượng được hưởng được mở rộng nhưng một
số nhóm đối tượng yếu thế vẫn đang tiếp tục bị bỏ quên, trong khi các nhóm đối tượng khác mới nảy sinh do những biến cố kinh tế -xã hội cũng đang cần xem xét để đưa vào danh sách thụ hưởng Đây là vấn đề cần nghiên cứu, bàn luận để sớm có cơ sở cho việc điều chỉnh bổ sung diện bao phủ của chính sách trợ giúp đến các nhóm đối tượng cần trợ giúp
Thứ hai, về mức trợ giúp và nguồn kinh phí: Mặc dù các quy định về mức trợ cấp liên tục thay đổi nhưng mức trợ cấp vẫn còn rất thấp, mang tính cào bằng và sự thay đổi chậm hơn so với biến động giá cả thị trường Quy định về nguồn kinh phí dành cho trợ giúp không ngừng được bổ sung mở rộng, huy động tối đa khả năng tài chính của Nhà nước, địa phương; tuy nhiên cơ chế tự cân đối ngân sách cũng đang tạo lên sự chênh lệch và khác biệt giữa các địa phương về phân bổ ngân sách cho hoạt động trợ cấp
Thứ ba, cơ sở hạ tầng, điều kiện chăm sóc và quản lý: Trong 10 năm qua, nhiều văn bản liên quan đến phát triển cơ sở hạ tầng, điều kiện chăm sóc cho nhóm yếu thế trong xã hội đã được ban hành nhưng do hạn chế điều kiện kinh tế của trung ương và địa phương, hơn nữa, dân số - nhóm đối tượng cần chăm sóc - quá đông do yếu tố chiến tranh để lại nên sự phát triển cơ sở hạ
Trang 14tầng và các điều kiện chăm sóc gần như chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, thiếu thốn nhà cửa, phương tiện và trang thiết bị phục vụ
2.1.2 Thực trạng pháp luật về chế độ hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi
2.1.2.1 Ưu điểm
Hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam đã được mở rộng trong những năm vừa qua Cho đến nay đã có nhiều chính sách, chương trình dành cho người cao tuổi theo các nhóm đối tượng khác nhau, nhưng tập trung lại thì có các nhóm chính sách về bảo hiểm xã hội (cụ thể là hưu trí và
tử tuất), bảo hiểm y tế và trợ cấp xã hội
2.1.2.2 Nhược điểm
Mặc dù chính sách đối với người cao tuổi ở nước ta thời gian gần đây
đã có nhiều cải thiện giúp bảo đảm đời sống vật chất cũng như tinh thần của người cao tuổi nhưng bên cạnh đó hệ thống chính sách đối với người cao tuổi vẫn còn tồn tại nhiều bất cập làm hạn chế vai trò của chính sách, do đó chưa thực sự bảo đảm được đời sống cho người cao tuổi
Một là, hạn chế về chính sách phát huy vai trò của người cao tuổi trong đời sống xã hội
Hai là, hạn chế về bảo đảm đời sống vật chất, thu nhập cho người lao động
Ba là, mức trợ cấp xã hội hàng tháng chưa đáp ứng được nhu cầu bảo đảm đời sống tối thiểu của người cao tuổi
Bốn là, chưa có những chính sách riêng biệt dành cho từng nhóm người cao tuổi
Năm là, hệ thống trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi chưa phát triển