1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử ai cập cổ đại gắn liền với sông nil

21 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 830,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó nói lên rằng sông Nil có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của người Ai Cập thời cổ đại.. Lịch sử văn minh Ai Cập cổ đại gắn liền với sôn

Trang 1

Lịch sử Ai Cập cổ đại gắn liền với sông Nil Sử gia Hy Lạp cổ đại là Herodote đã từng viết: “Ai Cập là tặng phẩm của sông Nil” Điều

đó nói lên rằng sông Nil có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của người Ai Cập thời cổ đại Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 10, nước sông Nil dâng cao gây nên những trận lụt lớn Sang tháng 11, nước sông rút đi, để lại một lớp phù sa màu mỡ dày đặc, rất thích hợp cho việc gieo trồngcác loại ngũ cốc Vì vậy, dân cư sống từ thời viễn cổ ở hai bên bờ sông Nil đã biết nghề nông rất sớm Dọc hai bờ sông Nil và ven các hồ, đầm mọc rất nhiều một loại cây sậy – cây papyrut Người

Ai Cập thời xưa dùng vỏ cây papyrut để làm giấy viết

Ở những dãy núi phía đông và phía tây dọc thung lũng sông Nil,

có rất nhiều loại đá khác nhau: đá vôi, đá huyền vũ, đá hoacương, đá vân mẫu Đây là những vật liệu kiến trúc quan trọngnhất của người Ai Cập thời cổ đại

Tài nguyên thiên nhiên có quan hệ đến việc ghi chép văn tự củangười Ai Cập cổ đại Văn tự Ai Cập cổ đại được ghi lại trên cáccuốn giấy papyrut Thân cây papyrut được người Ai Cập cổ đạidùng để làm giấy Nhiều tờ giấy papyrut dán lại với nhau thànhmột tờ dài, cuộn lại thành cuộn giấy Chính các cuộn giấy papyrutnày được lưu giữ ở các bảo tàng châu Âu(1) đã cho hậu thế biếtđược những trang sử, những thành tựu y học(2) và các thành tựuvăn hóa khác của Ai Cập cổ đại

Văn tự Ai Cập cổ đại còn được khắc giữ trên các tường thành, cácbia bằng đá Văn tự cổ Ai Cập về sau đã trở thành “văn tự chết”,

vì đã lâu người ta không dùng thứ văn tự này nữa và cũng quêncách đọc Nhưng việc đọc lại được văn tự cổ đó sẽ rất có ý nghĩađối với việc nghiên cứu lịch sử Ai Cập cổ đại Chính là nhờ pháthiện được một tượng đá bằng phún thạch, trên mặt đá có ghi đầy

đủ các loại chữ Ai Cập cổ, chữ Arập, chữ Hy Lạp cổ mà JeanFranςois Champollion đã có căn cứ để tìm cách đọc lại được văn

tự Ai Cập cổ đại vào năm 1822(3)

Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của Ai Cập cổ đại rất nổi tiếngtrong lịch sử thế giới cổ kim Những đền đài, cung điện, kim tựtháp còn bảo tồn đến ngày nay đều chứng minh điều đó Nhữngcông trình văn hóa ấy đều gắn liền với đá – một tài nguyên dồidào ở Ai Cập Để xây những kim tự tháp, người ta phải dùng mộtkhối lượng đá rất lớn gồm hàng chục triệu khối đá Những khối đá

ấy được mài nhẵn và ghép vào nhau rất sát Những tác phẩm

Trang 2

điêu khắc cũng thể hiện tài năng lỗi lạc của cư dân Ai Cập Người

ta đã khắc tượng các Pharaoh bằng đá Bức tượng “người thư lại”ngồi xếp bàn được tạc bằng đá của thời Cổ vương quốc cũng khánổi tiếng Vẻ sinh động của các bức tượng cũng phải khiến ngườiđời nay thán phục Cũng nhờ được chế tác từ đá mà rất nhiều giátrị văn hóa cổ Ai Cập còn lưu lại được cho đến ngày nay Nhờ vậy

mà người Ai Cập có thể nói: Bất cứ cái gì đều sợ thời gian, nhưngbản thân thời gian thì phải sợ kim tự tháp

Giữa các kim tự tháp, trên cánh đồng Gize, gần Memfis, có tượngSphinx dài 57 mét, cao 20 mét Khi viễn chinh sang Ai Cập,Napoléon đã cho pháo binh bắn đại bác vào tượng đó, hòng mởmột lối vào bên trong của tượng Sau đó mới rõ bức tượng là mộtkhối đá khổng lồ nguyên vẹn do các nhà điêu khắc thời bấy giờtạc thành đầu người, mình sư tử để tượng trưng cho quyền lựcPharaoh “oai hùng và bất diệt”

Ở Ai Cập cổ đại, sự phát triển khoa học cũng gắn liền với điềukiện tự nhiên, với dòng sông Nil Đúng như K Marx đã nói: “Ở AiCập, trước hết là do sự cần thiết mới biết được mực nước sông Nillên xuống nên đã đẻ ra thiên văn học Ai Cập…” Vì muốn biết thờitiết và mực nước của sông Nil để sắp xếp công việc đồng ángnên người Ai Cập cổ đã sớm chú ý quan sát thiên văn Các nhàthiên văn Ai Cập đã phát hiện các chòm sao và đã soạn ra bản đồthiên thể được vẽ trên các cửa đền đài cổ Còn truyền lại chochúng ta ngày nay là bản đồ 12 cung hoàng đạo Người ta đã vẽchòm sao Bắc cực thành đầu một con bò Họ cũng biết sao Kim,sao Mộc, sao Thủy, sao Hỏa, sao Thổ và các hành tinh khác.Người Ai Cập cũng đã phát minh ra chiếc đồng hồ đo bóng mặttrời để tính thời gian trong một ngày Họ chia một ngày ra làm 24giờ rồi chiếu theo vị trí của bóng mặt trời ở trên đồng hồ đó màđọc giờ, phút

Việc gieo trồng có quan hệ mật thiết với việc hiểu biết thời gianlên xuống của mực nước sông Nil Muốn biết chắc chắn lúc nàonước sông Nil lên cao, người Ai Cập cổ phải quan sát bầu trời vàlàm lịch Người Ai Cập nhận thấy đến một ngày nào đó, lúc sángsớm mà có sao Lang (Sirius) mọc đúng ở đường chân trời thì đúng

là lúc nước sông Nil bắt đầu dâng lên Ở Ai Cập cổ đại, việc cầnbiết thời gian nào nước sông Nil lên cao, việc quan sát bầu trời để

từ đó có tri thức về thiên văn học, việc làm lịch, ba việc đó cóquan hệ mật thiết với nhau Đơn vị “năm” trong lịch cổ Ai Cập là

Trang 3

thời gian giữa hai lần lúc sáng sớm có sao Lang xuất hiện ở đườngchân trời.

Điều kiện tự nhiên cũng có liên quan với sự phát triển hình học AiCập cổ đại Người Ai Cập cổ đại xây dựng môn hình học khá khoahọc Các tài liệu papyrut đã chứng minh điều đó Herodote từnggiải thích sự xuất hiện của môn hình học Ai Cập là do nhu cầuphải đo đạc lại ruộng đất hàng năm bị nước lụt của sông Nil đemphù sa vào xóa lấp bờ ruộng

Lịch sử văn minh Ai Cập cổ đại gắn liền với sông Nil nên trong tínngưỡng người Ai Cập cổ đã sùng bái thủy thần Osiris tức là thầnsông Nil Những lời ca tụng sông Nil đã xuất hiện rất sớm trongđời sống của văn hóa Ai Cập:

Chào người, ta chào sông Nil

Từ quả đất này Người xuất hiện

Người đến để nuôi sống Ai Cập

Người tạo ra lúa mì, lúa mạch

Khi Người trào dâng, thì mặt đất hoan hỷ

Mọi người vui mừng

Mọi cái lưng rung lên, vì những tiếng cười

Mọi cái răng cắn lấy thức ăn…(4)

Lưỡng Hà hay Mésoptamie (có nghĩa là miền đất giữa hai consông) là khu vực do hạ lưu hai con sông Tigris và Euphrates tạothành Giống như miền thung lũng sông Nil, lưu vực Lưỡng Hàcũng là một khu vực phì nhiêu, rất thích hợp cho nghề nông ỞLưỡng Hà rất hiếm đá và các loại khoáng sản nhưng chất đất ởLưỡng Hà chủ yếu là đất sét dùng để làm gạch và đồ gốm rất tốt.Điều đó đã tạo nên một sắc thái riêng biệt của nền văn hóa ởLưỡng Hà

Cách ghi văn tự và chữ số ở Lưỡng Hà cổ đại có liên quan với tàinguyên chính ở đây là đất sét Văn tự của người Lưỡng Hà cổ đạicũng như chữ số của họ có dáng hình góc nhọn còn gọi là văn tự

Trang 4

tiết hình Văn tự và chữ số tiết hình ấy phù hợp với loại nguyênliệu dùng để ghi chép: đó là đất sét.

Vào giữa thế kỷ XIX các nhà khảo cổ học người Anh đã khai quậtđược tại Niniv kinh đô của đế quốc Assyrie một thư viện đồ sộ -thư viện của Hoàng đế Assurbanipal Các nhà khảo cổ học đã tìmthấy 22000 bảng gạch bằng đất sét có khắc chữ Những bảnggạch bằng đất sét có khắc chữ ấy đã giữ lại cho hậu thế những sựtích thần thoại, những tri thức khoa học và văn học nghệ thuật.Những bảng gạch bằng đất sét ấy bị chôn vùi dưới đất 2500 năm,

đã được lửa làm cho rắn và…bền thêm nên đã không bị hủy hoại.Các nhà khảo cổ học cho rằng có thể đây là bức thư đầu tiên củanhân loại Bức thư này hiện đang được lưu giữ tại một viện bảotàng ở Luân Đôn Đó là một miếng đất sét nung, đào được ở vùngCaldée, có cả phong bì nặn theo hình cái túi cũng bằng đất sétnung Theo các nhà khảo cổ thì người viết thư đó sống cáchchúng ta khoảng 7000 năm ở vào thời vua Lacdu – vị vua thứnhất của Vương quốc Babylone Chữ viết trên bức thư là nhữngnét gạch bằng que nhọn, khó khăn lắm người ta mới đọc được.Bức thư nói về việc bán hay cho thuê một mảnh đất do một ngườitên là A-ni-ni chuyển nhượng lại cho một người tên là Sim-đi-ha(5)

Ở Lưỡng Hà vì hiếm đá nên đất sét cũng là vật liệu xây dựngchính Ở đất nước Iraq ngày nay (thuộc vùng Lưỡng Hà xưa kia)

có một địa danh hết sức nổi tiếng trong lịch sử: thành Babylone.Thành Babylone có tên trên bản đồ thế giới cổ đại vào nửa saucủa thiên niên kỷ III trước công nguyên Người Akkad đã đặtnhững nền móng đầu tiên cho nó vào những năm 2350 – 2150TCN Vào thời kỳ hưng thịnh của Babylone, Hoàng đếNabochodonosor đã xây dựng lại trung tâm Babylone thành một

đô thành nguy nga đồ sộ Thành Babylone có mặt bằng hình chữnhật Toàn bộ tường thành có 9 cửa lớn Ở phía bắc là cửa Ixta nổitiếng ghép bằng gạch lưu ly màu, đó cũng chính là một sản phẩmđộc đáo chỉ có ở vùng Lưỡng Hà Theo nhà sử học Herodote thìBabylone “được chia làm hai phần bị cắt thẳng ở giữa bởi một consông lớn, sâu và chảy xiết tên là sông Euphrates”

Những điều kiện đất đai, thủy văn, vật liệu xây dựng riêng biệt đãchi phối hoạt động kiến trúc của cư dân Lưỡng Hà cổ đại Vùngđất này gần sông, nên đất không lấy gì làm chắc chắn, xungquanh là sa mạc, chỉ thỉnh thoảng mới có một vài khóm cọ…là

Trang 5

những yếu tố đòi hỏi người thiết kế phải suy nghĩ từ kỹ thuật chođến nghệ thuật.

Ở Lưỡng Hà cổ đại, vượt lên trên tất cả thành quách, đền đàicung điện…được xây dựng công phu và đẹp đẽ là một công trìnhhết sức độc đáo: “vườn hoa không trung” hay còn gọi là “vườntreo” – là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại Đây là mónquà của vua Nabochodonosor tặng cho vợ của ông ta

“Vườn hoa không trung” này được xây dựng trên một quả đồinhỏ Đứng ở đây có thể nhìn bao quát được cả thành Babylone.Điều đáng chú ý là vật liệu xây dựng thành Babylone cũng nhưxây dựng ngọn đồi nhân tạo để có một “vườn hoa không trung”chủ yếu là bằng gạch dựa trên cơ sở nguồn đất sét phong phú ởLưỡng Hà Vườn treo Babylone ngày nay chỉ để lại dấu vết là ítphần móng của công trình làm bằng đá, một loại vật liệu ít thấy

và chỉ có ở cách Babylone hàng trăm km Chính vì vậy mà cácthành tựu kiến trúc của Lưỡng Hà cổ đại khó giữ lại gần nguyênvẹn như là ở Ai Cập cổ đại Đứng trước Babylone, du khách không

có cái “rợn ngợp” triết lý về mặt thời gian mà nhiều hơn là mốicảm hoài “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo” Cái tráng lệ và huyhoàng của Babylone xưa kia nay chỉ còn in dấu trên những bứctường, có bức được xây bằng gạch gốm tráng men ghép lại thànhhình những con thú: sư tử, bò tót và con vật thần thoại – đầurồng, mình cá, chân phượng hoàng hoặc là những hoa văn Nhàhát Babylone, con đường “hành lễ” cũng chỉ còn lại những mảnhtường

Tại viện bảo tàng lịch sử Iraq hiện nay đang còn lưu giữ rất nhiềunhững hiện vật được chế tạo bằng đất sét từ thời kỳ cổ đại

Văn hóa là do con người sáng tạo ra trong những điều kiện kinh

tế, chính trị, xã hội cụ thể Nhưng văn hóa cũng chịu ảnh hưởngcủa những điều kiện tự nhiên, khí hậu, tài nguyên, cảnh quan,sông núi…Những điều kiện tự nhiên ấy đã góp phần vào sự hìnhthành màu sắc và cả bản sắc văn hóa của một khu vực, một dântộc…Con người sáng tạo văn hóa, dù muốn hay không cũng cómối quan hệ với hoàn cảnh tự nhiên, tìm thấy trong điều kiện tựnhiên những mặt thuận lợi và cả những mặt khó khăn, tìm thấytrong tự nhiên những gì có thể mang lại cho văn hóa những ảnhhưởng độc đáo, những nguồn cảm hứng sáng tạo

Trang 6

SÔNG HOÀNG HÀ - CÁI NÔI CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG HOA

Trung Quốc có hàng ngàn con sông lớn nhỏ, nhưng có hai consông quan trọng nhất là sông Hoàng Hàvà sông Trường Giang(hay sông Dương Tử) Hai con sông này đều chảy theo hướng Tây

- Đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng

ở phía đông Trung Quốc Và đặc biệt là consông Hoàng Hà, nơi

"sản sinh" ra nền văn minh Trung Hoa được cả nhân loại biết đến.Dòng Sông Bắt Nguồn Từ Đâu?

Hoàng Hà có nghĩa là "dòng sông màu vàng", chảy qua chín tỉnh của CHND Trung Hoa, bắt nguồn từ núi Ba Nhan Khách Lạp

(Bayan Har) thuộc dãy núi Côn Lôn trên cao nguyên Thanh Tạng, phía tây tỉnh Thanh Hải Sông Hoàng Hà đổ ra Bột Hải ở vị trí gần thành phố Đông Dinh thuộc tỉnh Sơn Đông, là con sông dài thứ hai châu Á xếp sau sông Trường Giang (Dương Tử)

Với chiều dài 5.464 km, sông Hoàng Hà xếp thứ sáu thế giới về chiều dài Con sông này cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho một khu vực rộng 944.970km2, nhưng do tính chất khô cằn chủ đạo của vùng này (không giống như phần phía đông thuộc Hà Nam vàSơn Đông) nên lưu lượng nước tương đối nhỏ Lưu lượng nước trung bình của Hoàng Hà, chỉ bằng 1/15 của sông Trường Giang

và 1/5 của sông Châu Giang, mặc dù khu vực tưới tiêu của con sông Châu Giang chưa bằng một nửa của Hoàng Hà (theo nguồn Wikipedia)

Nhìn toàn cảnh, Hoàng Hà tựa như một con sư tử đang thu mình lao về phía trước Theo dòng chảy của sông Hoàng Hà, từ cao nguyên Thanh Tạng kéo đến hai tỉnh Thanh Hải và Cam Túc núi non trùng điệp; khu vực Sơn Tây và Thiểm Tây lại nhiều núi cao vàhang động; khu vực Ninh Hạ và Nội Mông sông nước mênh mang, bình nguyên bao la; vượt qua động Long Môn đi về phía đông của núi Tây Nhạc Hoa Sơn, chúng ta có thể đến được bình nguyên HoaBắc, nếu đi tiếp có thể đặt chân tới vùng duyên Hoa Bắc, nếu đi tiếp có thể đặt chân tới vùng duyên hải biển Bột Hải

"Cái Nôi" Của Nền Văn Minh Trung Hoa

Văn minh Hoàng Hà, theo các nhà sử học và khảo cổ học, bắt đầu

từ khoảng 2.500 TCN đến 1.066 TCN và được chia thành các giai đoạn sau: Thời kỳ Tam hoàng Ngũ đế; nhà Hạ và nhà Thương Lãnh thổ Trung Quốc thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ rất nhiều Địa

Trang 7

hình Trung Quốc rất đa dạng và phong phú, phía Tây có nhiều núi

và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp

Trung Quốc là một nơi rất sớm đã có loài người cư trú Năm 1929,

ở Chu Khẩu Điếm (Tây Nam thành Bắc Kinh), giới khảo cổ học đã phát hiện được xương hóa thạch của một loài người vượn sống cách đây 400.000 năm Về mặt dân tộc học, cư dân lưu vực sông Hoàng Hà thuộc chủng Mongoloid, thời Xuân Thu được gọi là Hoa

Hạ hay nói ngắn gọn là Hoa hoặc Hạ

Trải qua khoảng 1500 năm đến khi Tần Doanh Chính (Tần Thủy Hoàng) xưng đế, lãnh thổ của Hoa tộc mới được mở rộng đáng kể

về phía nam, lấn chiếm lưu vực sông Dương Tử, đồng hóa các dântộc nhỏ hơn để mở mang bờ cõi, hình thành nên đế quốc của riêng họ

Tiền thân của dân tộc Hán là dân tộc Hoa, do đó dân Hán đều tôn Hoàng đế (còn gọi là Viêm Hoàng) là thủy tổ và coi mình là hậu duệ của Hoàng đế Khi đó, dân tộc Hoa hầu hết cư trú tại vùng Trung Nguyên Trung Nguyên theo quan niệm của người dân

đương thời là trung tâm của vũ trụ, nên từ cái tên Trung Hoa cũngkhai sinh từ đó

Dưới thời kì quân chủ ở Trung Quốc, tên nước được gọi theo tên triều đại Danh từ "Trung Quốc" được hiểu như một quốc gia rộng lớn bắt đầu từ đây, đến mãi đời nhà Thanh về cơ bản lãnh thổ củaHán tộc mới giống hiện nay, trải dài gần 10 triệu km2 với gần 1,4

tỉ người

Cuối thời kỳ Đá Mới, vùng đồng bằng châu thổ sông Hoàng Hà bắtđầu trở thành một trung tâm văn hóa, nơi những làng xã đầu tiên được thành lập, những di tích khảo cổ đáng chú ý nhất được tìm thấy tại di chỉ Bán Pha, Tây An Các triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, rồi tiếp đến thời Thành Cát Tư Hãn thống lĩnh thiên hạ đã đưa uy danh dân tộc Trung Hoa đến đỉnh cao huy hoàng

Tình trạng lụt lội của Hoàng Hà tồi tệ hơn rất nhiều so với khu vựcdọc Trường Giang về hướng Nam, con sông này đã ít nhất 5 lần đổi dòng và các con đê bao bọc đã vỡ không dưới 1.500 lần

nhưng dòng nước của nó đã bồi đắp cho đất đai thêm màu mỡ, tạo điều kiện cho sự phát triển của nông nghiệp thô sơ, việc trồngtrọt cũng đã phát triển

Những người dân sống gần sông Hoàng Hà phải chống chịu với thiên nhiên khắc nghiệt hơn để chế ngự lũ lụt và tưới tiêu mùa màng và có lẽ điều này là nguồn động lực để cho những nỗ lực tổ

Trang 8

chức kết cấu làng xã chặt chẽ hơn.

Cùng với phát triển nông nghiệp lúa nước, cư dân ngày càng đôngđúc, tăng khả năng tích trữ và tái phân phối lương thực, đủ cung cấp cho những người thợ thủ công cũng như quan lại, biến vùng đồng bằng phía bắc Trung Quốc cũng trở thành vùng đồng bằng lớn nhất với số dân cư tập trung đông đảo nhất

Những Thành Tựu Lưu Danh Hậu Thế

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh lâu đời nhất và phức tạp nhất trên thế giới Bắt đầu từ "cái nôi" Hoàng Hà

mà người Trung Hoa cổ đại đã gây dựng nên văn minh rực rỡ, với những nhà nước đầu tiên là Hạ, Thương, Chu Thời kì quân chủ chuyên chế phát triển đến đỉnh cao, có thể kể đến nhà Đường, nhà Minh (1368 – 1644) và nhà Thanh (1644 – 1911)

Kể từ khi dựng nước về sau, nhân dân Trung Quốc đã tạo ra một nền văn hóa rực rỡ, nổi tiếng toàn thế giới đương thời Những thành tựu rực rỡ về lí luận, học thuyết như Nho giáo, Đạo giáo, ;

về văn học nghệ thuật như: cổ phong, thơ Đường, thơ tứ tuyệt, tứ đại danh tác: Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng, Tây Du Ký, Tam Quốc DiễnNghĩa; các bức tranh chữ của Vương Hy Chi, Nói về các thành tựu trong kiến trúc và các phát minh, chúng ta có thể liệt kê một vài thành tựu như Vạn Lý Trường Thành, Tử Cấm Thành, Di Hòa Viên, thành Trường An, bộ chữ tượng hình, thuốc súng, giấy, la bàn…

Đặc biệt là thành tựu chữ viết, theo truyền thuyết, từ thời Thượng

cổ, sử quan Thương Hiệt đã sáng tạo ra chữ viết Sự thực, đến đời Thương, chữ viết của Trung Quốc mới ra đời Loại chữ đầu tiên này khắc trên mai rùa và xương thú gọi là chữ Giáp cốt Đến đời Tây Chu, Thời Chiến Quốc giai đoạn quá độ để phát triển thành chữ tượng hình, tức là chữ Hán ngày nay

Hoàng Hà và Trường Giang là hai con sông có vai trò quan trọng trong việc "sản sinh" ra nền văn minh Trung Hoa Là một trong bốn nền văn minh phát sinh dọc theo các con sông nổi tiếng trên thế giới cùng với văn minh Ai Cập, văn minh Lưỡng Hà, văn minh

Ấn Độ, văn minh Trung Hoa đã để lại cho hậu thế nhiều phát minhgiá trị sau này

ẤN ĐỘ

Trang 9

Nằm trên lưu vực của 2 con sông Ấn và sông Hằng là cơ cở thuận lợi để phát triển môt nền văn minh lúa nước lâu đời, truyền thống.Cũng chính từ 2 con sống linh thiêng này người ấn độ đã tạo nên các tín ngưỡng tâm linhd đọc đáo, các lễ hội đặc sắc Dòng sông ÁN-Hằng chính là nguồn cội tạo nên một thời kì văn minh sông ẤNkhởi đầu cho các thời kì phát triển cùng với các triều đại lịch sử

ẤN ĐỌ

Do có giáp với các quốc gia, vùng lãnh thổ Đặc biệt tiếp giáp với Âns Độ Dương và đường bờ beienr dài là điều kiện mở rộng giao luuwu và giao thoa với các nền văn hóa Làm cho nền văn hóa, tôn giáo, sắc tộc Vô cùng đa dạng, phong phú Đây cũng là đặc điểm rất quan trọng để hình thành nên nền văn minh đậm đà bảnsắc, giàu truyền thông và mang trong nó nhiều màu sắc riêng biệt

-Là vùng đất giàu tài ngueyen đặc biệt là đất và các khoáng sản

là cơ sở để tạo ra các loại công cụ canh tác và đó là kết tinh quá trình sáng tạp của người Âns Độ trong việc làm ra các sản phẩm kiến trúc, điêu khắc tinh xảo

1 Điều kiện tự nhiên

Nền văn minh Ấn Độ là một trong những nền văn minh ra đời sớm nhất trong lịch sử với 1 thời kì phát triển rực rỡ và để lại nhiều thành tựu cho nhân loại Ấn Độ là một bán đảo ở Nam

Á, hai mặt Đông Nam và Tây Nam ngó ra Ấn Độ Dương, từ ĐôngBắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dãy Himalaya hùng vĩ, khiến cho Ấn Độ ngày xưa hầu như cách biệt với thế giới bên ngoài, Về mặt địa lí, bán đảo Ấn Độ được chia làm 2 vùng Bắc – Nam với điều kiện tự nhiên rất khác biệt

a Miền Bắc

Địa hình: Có nhiều đồng bằng phù sa màu mỡ do được bồi

tụ bởi các con sông lớn như: Sông Ấn, sông Hằng, sông Jumma,

Sông ngòi: Có nhiều con sông lớn bắt nguồn từ dãy

Himalaya, hằng năm đến mùa tuyết tan (tháng 6) hàm lượng nước dâng cao đã cung cấp 1 lượng lớn phù sa màu mỡ cho đồng ruộng, một trong số đó là sông Hằng con sông được người

Ấn Độ coi là dòng sông linh thiêng nhất

Khí hậu: Nơi đây có mùa hè nóng và mùa đông lạnh Phía Tây Bắc sông Ấn rất khô nóng và hiếm mưa, còn phía Đông Bắc sông Hằng có lượng mưa rất lớn do ảnh hưởng của gió mùa Tài nguyên: Giàu có với khoáng sản, gỗ và đá,…

Trang 10

=> Đánh giá: Điều kiện tự nhiên rất phù hợp với cuộc sống của con người, thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng lúa, trồng bông, mía và các cây ăn quả và cho sự ra đời của một nền văn minh lớn, xuất hiện sớm trong lịch sử nhân loại.

b Miền Nam

Địa hình: Trong khi miền Bắc là vùng đồng bằng phì nhiêu, màu mỡ thì miền Nam lại là vùng đất đai khô cằn, chủ yếu là các cao nguyên Núi Vindya kéo dài thành các cao nguyên Decan bao gồm gần như toàn bộ miền Nam Ấn Độ với rừng rậmchiếm phần lớn diện tích Hai dãy nũi Đông Gat và Tây Gat chạydài dọc theo 2 mặt đông, tây ven bờ biển Khu vực duyên hải hẹp và dài vên biển miền nam có địa hình thuận lợi hơn nên tậptrung đông dân cư

Sông ngòi: Sông lớn nhất là sông Nác - ba - đa, các con sôngthường cao, dốc, mực nước không ổn định, chảy giữa các cao nguyên với giá trị phù sa nghèo nàn

Khí hậu: Nóng bức quanh năm với nền nhiệt độ trung trên

40 độ C, lượng mưa vô cùng ít ỏi

=> Đánh giá: Điều kiện tự nhiên miền Nam Ấn Độ rất khó khăn cho sự phát triển cuộc cống của con người Sự khắc nghiệtcủa tự nhiên in đậm dấu ấn trong lịch sử và văn hóa Ấn Độ.Tổng kết: Điều kiện thiên nhiên của Ấn Độ tương đối phức tạp, vừa có núi non trùng điệp, lại vừa có nhiều đồng bằng rộnglớn và trù phú, có những vùng ẩm thấp mưa nhiều, có vùng lại khô khan cằn cỗi… Chính điều kiện tự nhiên như vậy đã giúp cho Ấn Độ sớm phát triển nền kinh tế tiểu nông Họ không chỉ

có điều kiện thuận lợi trong việc trồng trọt mà chăn nuôi cũng

có nhiều lợi thế để đi lên Họ nuôi được trâu, bò, cừu, dê, lạc đà,ngựa, lợn và nhiều loại gia súc khác nữa Đặc biệt, người Ấn Độ

là một trong những bộ tộc đầu tiên thuần dưỡng được voi, dùngvoi để kéo gỗ, chở hàng và đi đánh trận Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì điều kiện tự nhiên cũng mang lại không ít khó khăn cho cư dân Ấn Độ đặc biệt trong việc giao lưu với bên ngoài bằng đường bộ

2 Điều kiện xã hội

Cư dân Ấn Độ về thành phần chủng tộc gồm hai loại chính

là người Đravida sống chủ yếu ở miền Nam và người Arya sống chủ yếu ở miền Bắc Ngoài ra còn có nhiều chủng tộc khác như

Hy Lạp, Arập,… Do đó cư dân ở đây có sự pha trộn khá nhiều dòng máu, chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và văn hóa đã tạo

Ngày đăng: 24/08/2021, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w