1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI TẬP LỚN LSMTVN CSVHVN

14 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 110,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu lịch sử mỹ thuật, nghiên cứu văn hoá, truyền thống của Việt Nam,, phù hợp cho các bạn sinh viên chuyên ngành thiết kế thời trang, đồ hoạ, nội thất, xã hội nhân văn,…, những người có hứng thú nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật

Trang 1

ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA TẠO DÁNG CÔNG NGHIỆP

BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC

CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM – LỊCH SỬ MỸ

THUẬT VIỆT NAM

GVHD: TRẦN QUỐC BÌNH

SINH VIÊN: LẠI THỊ VƯỢNG

Trang 2

LỚP: K25 THỜI TRAN

Câu 1: Em hãy nêu cảm nhận về một hoạ sỹ tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam hiện đại và phân tích một tác phẩm của hoạ sỹ đó?

Tô Ngọc Vân là một trong những hoạ sỹ tiêu biểu của giai đoạn khởi đầu nền nghệ thuật tạo hình hiện thực xã hội Ông được biết đến như một hoạ sỹ tài năng, uyên bác, mẫu mực trong sự chuyển mình, rực rỡ trong nghệ thuật, hết lòng trong đào tạo lớp trẻ mỹ thuật, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc của đất nước Tài năng của ông được đánh giá cao ngay từ thời Pháp thuộc tiêu biểu đó là huy chương vàng ở Triển lãm thuộc địa Paris năm 1931 Hoạ sĩ, liệt sĩ Tô Ngọc Vân đã được Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

Tô Ngọc Vân sinh ngày 15 tháng 12 năm 1908 tại làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên nhưng ông lại lớn lên tại Hà Nội Ông là một cậu bé con nhà nghèo, quá tuổi mới được đến trường học chữ Đang học trung học năm thứ ba ông bỏ học để đi theo con đường nghệ thuật Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thuộc thế hệ đầu tiên của trường, tốt nghiệp khoá 2 năm

1931 Sau khi ra trường, Tô Ngọc Vân đã có tác phẩm xuất sắc, được giải thưởng cao tại Pháp Ông đã đi vẽ ở nhiều nơi như Phnôm Pênh, Băng Cốc, Huế,…Không chỉ có

vẽ để thể hiện và khẳng định tinh thần dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật ông còn là một người viết về mỹ thuật, phê bình nghệ thuật trên báo chí Ông hợp tác với các báo Phong Hoá và Ngày Nay của Nhất Linh, báo Thanh Nghị Ông là một trong số hiếm hoi nhà phê bình mỹ thuật thời đó và đồng thời là một hoạ sĩ tài danh nên các bài viết của ông gây được sự chú ý lớn đối với giới trí thức và những người có thiện cảm với hội hoạ hiện đại Việt Nam thời kỳ đầu

Từ năm 1935 đến năm 1939 ông dạy học ở trường trung học Phnôm Pênh, sau

đó ông về dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945 Thời gian đó ông vừa giảng dạy vừa sáng tác Sau cách mạng tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp Năm 1950, ông phụ trách trường Mỹ thuật Việt Bắc Thời gian này ông vẽ rất nhiều ký hoạ

Trang 3

Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam Ông còn được xem là một trong những hoạ sỹ lớn của hội hoạ Việt Nam, nằm trong “bộ tứ” nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn ( Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn) Ngay từ những năm học trong trường Mỹ thuật, ông đã sớm nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu Ông đã viết những dòng tự sự “… ngay từ lúc đi học đã mơ xây dựng một nền hội hoạ Việt Nam có tính chất dân tộc, phản ứng lại sự lan tràn của hội hoạ Pháp sang ta và để giành một địa vị mỹ thuật trọng yếu cho dân tộc trên thế giới…” Thông qua mỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp duyên dáng của người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ

Tô Ngọc Vân cũng là một trong số rất ít hoạ sĩ Việt Nam đã sớm vẽ tem ngay từ thời Pháp thuộc ( Postes Indochine) Mẫu tem Apsara được ông thiết kế từ nguồn tư liệu của những chuyến đi vẽ, sáng tác ở khu đền Angkor Wat, Angkor Thom của Campuchia Hình tượng chính của con tem là tiên nữ Apsara, một trong hàng ngàn tượng vũ nữ điêu khắc nổi trên những vách đền đài của nền văn hoá cổ Khmer Tem Apsara của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam Tuy bận bịu đến vậy nhưng ông vẫn không quên tìm hiểu sâu sắc hơn nữa đặc tính của sơn mài Việt Nam để từng bước khẳng định sự phù hợp của chất liệu này với hội hoạ hiện đại, tạo nên vẻ đẹp độc đáo riêng biệt của hội hoạ Việt Nam

Các tác phẩm của danh hoạ Tô Ngọc Vân luôn luôn mang đến cho người xem rất nhiều cảm xúc dâng trào Ở Tô Ngọc Vân, những tri thức hội hoạ phương Tây đã kết hợp thực sự nhuần nhuyễn với cốt cách Á Đông và Việt Nam Thời kỳ đầu, tranh của ông hay mô tả vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ thị thành, những bức tranh nổi tiếng thời đó là: Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Hai thiếu nữ và em bé (1944), Thiếu nữ với hoa sen (1944),… Sau cách mạng tháng Tám 1945, Tô Ngọc Vân bắt đầu một giai đoạn mới trong sự nghiệp sáng tác của mình với các tác phẩm như: Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ (1946), Nghỉ đêm bên đồi (1948), Con trâu quả thực (ký hoạ màu nước – 1954), Hai chiến sĩ (1949) và hàng trăm ký hoạ kháng chiến khác…

Trang 4

“Thiếu nữ bên hoa Huệ” là một tác phẩm sơn dầu do hoạ sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943 khi ông đang giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Kiệt tác “Thiếu nữ bên hoa huệ” được xem là tác phẩm nổi tiếng nhất và gây được nhiều tiếng vang nhất của ông cả trong nước lẫn quốc tế “Thiếu nữ bên hoa huệ” mô

tả cảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách đây duyên dáng, khơi gợi về phía lọ hoa huệ trắng Hình dáng cô gái kết hợp với những chi tiết màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn dịu nhẹ Hoa huệ cắm trong lọ bên cạnh cô gái không phải là loại hoa huệ bông nhỏ thường dùng trong các ngày rằm mà là hoa huệ tây hay tên phổ biến là hoa loa kèn Điều này lí giải cho câu hỏi: Vì sao bức tranh rõ ràng tên là “Thiếu nữ bên hoa huệ” nhưng những bông hoa trong bình lại là hoa loa kèn Tác phẩm này được coi là bức tranh tiêu biểu trong

sự nghiệp sáng tác của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân cũng như là một trong những đại diện tiêu biểu nhất cho mỹ thuật Việt Nam đầu thế kỷ XX… Bên cạnh những giá trị nghệ thuật,

“Thiếu nữ bên hoa huệ” còn thể hiện cho một thú chơi tao nhã của người Hà Nội, thú chơi hoa loa kèn trắng, loài hoa nở rộ vào cuối tháng ba, đầu tháng tư hằng năm ở Hà Nội

Phụ nữ luôn là đề tài cảm hứng bất tận của các hoạ sĩ Với người nghệ sĩ, đó không cỉ là vẻ đẹp của hình thể, màu sắc mà còn là cái đẹp trong quan niệm Vẫn đề tài

đó nhưng với một tinh thần tươi tắn và có tính hiện thức hơn, Tô Ngọc Vân vẽ bức

“Thiếu nữ bên hoa huệ” biểu hiện của mối quan hệ của hai đói tượng: thiếu nữ - hoa huệ - thiếu nữ tân thời duyên dáng, hình thể, động thái biểu hiện sức sống tươi trẻ của tuổi đôi mươi – hoa huệ trắng, loại hoa được coi là biểu tượng của sự thuần khiết, trinh nguyên… Bức tranh không gợi lên một chân dung nhân vật cụ thể, nó như một biểu tượng về sự trong sáng, trữ tình, gợi điều gì đó thanh cao, bình lặng của người thiếu nữ

Hà Thành.Người mẫu của bức tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ” là cô Sáu, một người mẫu tranh sáng giá thời bấy giờ ở Hà Nội Cô còn là người ẫu cho nhiều tác phẩm khác của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân trong đó có bức “Thiếu nữ với hoa sen” Bên cạnh Tô Ngọc Vân,

cô Sáu còn là người mẫu tranh cho nhiều hoạ sĩ nổi tiếng đương thời như: Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Lương Xuân Nhị Sau này khi di cư vào miền Nam cô tiếp tục làm người mẫu cho hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí

Trang 5

Với bút pháp tả thực lãng mạn phương Tây cùng cảm quan Phương Đông, nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam với tà áo dài cách tân trong tranh của Tô Ngọc Vân đã như một liều thuốc hữu hiệu gỡ bỏ một số định kiến xã hội lúc đương thời.Bố cục tinh

tế, tỷ lệ hợp lý, với sự chuyển động hình thể, hình tượng thiếu nữ nằm gọn trong đường xoắn ốc của tỉ lệ vàng, dáng người tạo thành hình vòng cung như ôm lấy những bông hoa trắng trông tĩnh mà động

Bố cục theo đường xoắn ốc vàng tạo nên hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm, tỉ lệ vàng quy định độ mở của đường xoắn ốc đã cho người xem cảm giác hài hoà thuận mắt Với bố cục chặt chẽ, hoàn hảo, cách sử dụng màu điêu luyện, “Thiếu nữ bên hoa huệ” đã thể hiện được cái mềm mại gợi cảm ở đường cong trên đùi thiếu nữ và nhất là cách dùng dao gạt bớt lớp sơn phí trên để lộ ra lớp sơn hồng bên dưới tạo nên sắc ửng hồng trên má thiếu nữ… Tác phẩm đã tạo cho người xem sự chuyển động theo một vòng khép kín, khiến gương mặt thiếu nữ ghé vào bông hoa trở thành điểm nổi bật – trung tâm của bức tranh Kết hợp với cách sử dụng màu điêu luyện, Tô Ngọc vân đã dựng lên một hình ảnh thiếu nữ mơ mộng và đài các nhưng đầy ưu tư trong cuộc sống Trọng tâm đặt vào khuôn mặt gần vớ điểm nhấn mạnh thị giác phía trên, bên phải và chuyển xuống bàn tay đang nâng niu cánh hoa trong khu vực trung tâm, nối kết với điểm nhấn thị giác phía dưới, bên trái Trong hoà sắc xanh nhuốm lạnh, cô gái hơi nghiêng, đầu ngả trên cánh tay ngắm hoa, bàn tay trái vén nghiêng mái tóc, để lộ dưới vành tai e ấp là vùng cổ trắng hồng Cánh tay phải co tự nhiên, bàn tay dài, nâng niu cánh hoa một cách dịu dàng Mỗi cánh tay nhịp nhàng vẽ lên một vòng bán nguyệt

đa nghĩa: hai bàn tay như đối ứng âm dương, tay dưới vừa đủ chạm đoá hoa huệ trắng với đài hoa căng tròn, nằm ở trung tâm bức tranh, ngang tầm bộ ngực Những bông huêh to nổi bật bởi màu trắng tinh khiết như mang theo hương sắc, cùng cái thanh tao, huyền diệu của loài hoa này

Ánh sáng đến từ bên trái, toả khắp mặt tranh, từ chiếc áo dài, đến khuôn mặt, đôi tay và các bông hoa, cho thấy một sức sống tươi trẻ và trong sáng của người thiếu nữ Đường vòng cung sáng rực bên trái, trải dài trên y phục và khuôn mặt cô gái, ôm lấy những bông hoa trắng phía bên phải tạo sự đối trọng cần thiết và sự thăng bằng cho thị giác người xem Màu xanh là chủ đạo với nhiều sắc độ cùng với màu trắng, màu hồng ngả xanh, gây cho người xem cảm giác trầm và tĩnh lặng Sự sắp xếp cân đối các mảng

Trang 6

màu trắng, xanh, vàng, hồng,… theo những đường lượn phong phú trên nhân vật và những đoá hoa đã tạo nhịp điệu cho bố cục bức tranh Sự cân đối giữ các mảng màu xanh, xanh lục trên không gian, lá, bình hoa, lan toả ở tà áo dài,… cho thấy sự chuyển động tinh tế và sự hài hoà của màu sắc bức tranh

Toàn bộ bức tranh là góc nhìn cận cảnh, xuất phát từ một chủ thể đang ở kề sát thị giác người xem Có lẽ bức tranh không giống bất cứ một hoạ phẩm nào khác, không chú ý nhiều đến phối cảnh hay chiều sâu không gian Hình thể của con người và

sự vật trong tranh gần như trải kín trên mặt tranh, cộng thêm với chủ ý – cắt hình – cận cảnh, tạo nên hiệu ứng làm tập trung nhãn giới vào đối tượng Người xem bỗng chốc

có cảm giác cô thiếu nữ như được khuếch đại, chiếm hết cả không gian và bước ra ngoài mặt tranh Với sự hoàn thiện kĩ thuật vẽ tranh sơn dauuf của Tô Ngọc Vân, bức tranh diễn đạt được vẻ đẹp nền nã, duyên dáng, thanh lịch của người phụ nữ Hà thành thời tiền chiến Tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa huệ” được xem là tác phẩm nổi tiếng nhất và gây được nhiều tiếng vang nhất của ông cả trong nước lẫn quốc tế

Ngay trong lần triển lảm đầu tiên ở Hà Nội, bức hoạ đã được nhiều người chú ý Năm 1945 “Thiếu nữ bên hoa huệ” được trưng bài tại Nhà Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội) cùng với tranh của Nguyễn Đỗ Cung, Lê Văn Đệ, Bác Hồ đã đến xem triển lãm này Tại triển lãm, đã có hai người khách Nhật Bản ngỏ ý muốn mua nhưng tác giả từ chối không bán Kiệt tác “Thiếu nữ bên hoa huệ” quả là có số phận “hồng nhan đa truân” Theo GS-TS Tô Ngọc Thanh kể lại: “Khi gia đình đi kháng chiến, bức tranh được để lại ở nhà chúng tôi tại ngõ Trại Khách, phố Khâm Thiên, nay là ngõ Thổ Quan Đến khi hoa bình trở về Hà Nội thì nó đã trở thành sở hữu của nhà sưu tập nổi tiếng Đức Minh Ông Đức Minh nói là ông mua lại bức tranh từ một người khác” Bốn măn sau ngày tác giả bức tranh hi sinh, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã mượn “Thiếu nữ bên hoa huệ” từ bộ sưu tập của nhà sưu tập Đức Minh để đưa đi tham gia “Triển lãm mỹ thuật 12 nước XHCN” tổ chức tại Liên Xô, Hungary, Ba Lan, Rumani,… Đây là lần đầu tiên bức tranh được “xuất ngoại”, ngay lập tức, Tô Ngọc Vân được báo chí của những nước này ca ngợi như một hiện tượng của hội hoạ Việt Nam Sau khi triển lãm kết thúc, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có nhờ hoạ sĩ Nguyễn Văn Thiện chép lại bức tranh và treo ở dây nhưng không ghi chú là tranh chép Sau năm 1990, phiên bản này mới được gỡ bỏ bởi sự nỗ lực chỉ treo tranh bản chính của bảo tàng Theo một tài liệu

Trang 7

thì năm 1965, nhà sưu tập Đức Minh có nhã ý nhượng toàn bộ số tranh, trong đó có

“Thiếu nữ bên hoa huệ” cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chỉ với điều kiện: Lập một gian trưng bày riêng, ghi rõ xuất xứ tranh của nhà sưu tập Đức Minh tặng bảo tàng nhưng vì quan niệm “không dính líu với tư sản” nên bảo tàng đã từ chối lời đề nghị này Sau khi ông Đức Minh qua đời, bộ tranh được chia cho các con ông hưởng quyền thừa kế Có người giữ được, có người đem bán “Thiếu nữ bên hoa huệ” đã được các con của nhà sưu tập này bán cho ông Hà Thúc Cần với giá 15000 USD Và sauu đó, ông Hà Thúc Cần đã bán bức tranh này lại cho một người khách nước ngoài với mức giá cao ngất ngưởng là 200000 USD Cho đến nay, bức tranh lưu lạc ở phương trời nào và đang nằm trong bộ sưu tập của ai vẫn chưa được làm rõ Hoạ sĩ Tô Ngọc Thành con trai thứ của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân cho biết: Khi nhận được tin về việc bức tranh nổi tiếng của bố mình sẽ được bán đấu giá, lo sợ bức tranh bị đưa ra nước ngoài, ông đã báo cho các cấp quản lí có liến quan biết nhưng không thấy ai hồi âm Vậy là kiệt tác này lọt ra nước ngoài… Cũng theo ông Thành, trong cuốn “100 năm mỹ thuật đương đại Việt Nam” do gallery Đông Sơn của ông Hà Thúc Cần ấn hành tại Singapore có in ảnh bức “Thiếu nữ bên hoa huệ” Đây là bức sao chụp từ bản gốc Còn thì tuyệt đại đa

số các bức “Thiếu nữ bên hoa huệ” mà người Việt Nam ta được chiêm ngưỡng, thưởng thức từ mấy chục năm nay (cả bức in trên logo triển lãm nhân 100 năm sinh Tô Ngọc Vân) cũng chỉ là tranh chép, trong đó có những phiên bản không đồng nhất

Tô Ngọc Vân – người hoạ sĩ hết lòng vì học trò Trên cương vị là thầy dạy vẽ của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (thời kỳ trước Cách mạng), hiệu trưởng đầu tiên của Trường Mỹ thuật Việt Nam (thời kỳ sau Cách mạng), hoạ sĩ Tô Ngọc Vân

đã có ảnh hưởng lớn đối với nhiều hoạ sĩ có tên tuổi của Việt Nam,… Hoạ sĩ Ngô Mạnh Lân, người từng được hoạ sĩ Tô Ngọc Vân trực tiếp giảng dạy sau này có kể lại:” Nói về cách điệu, anh nêu những ví dụ nhỏ, dễ hiểu để chứng minh: giản đơn không có nghĩa là tước bỏ Khi vẽ một anh bộ đội, ở mặt mũi, quần áo ta đã đơn giản bớt những nét thừa, nhưng cũng rất gần với sự thật, đến khi vẽ chiếc áo trấn thủ ta lại gạch những nét thẳng tắp như ổ quả trám đều đặn, như vậy sẽ không ăn khớp với cái chung, như thể vẽ hàng rào gắn lên người! Ngay những chi tiết nhỏ trong vẽ trang trí cũng được anh giảng giải cẩn thận với nhận xét sâu” Có một chuyện mà nếu các học trò của Tô Ngọc Vân không nói ra, hẳn ít người biết: Khoá đào tạo hội hoạ và âm nhạc của chính phủ kháng chiến trên chiến khu Việt Bắc đến cuối năm 1951 thì hết kinh

Trang 8

phí Trong khi trường nhạc do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu làm hiệu trưởng phải giải tán thì Tô Ngọc Vân trên cương vị hiệu trưởng trường hoạ lại có cách giải quyết khác Ông bàn với vợ, nhà còn mấy cây vàng bán đi để nuôi học trò học tiếp cho trọn khoá… Không dưng mà khoá học ấy sau này được nhiều người nhắc tới với cái tên gọi đầy yêu thương trìu mến “Khoá hội hoạ Tô Ngọc Vân”

Tô Ngọc Vân – người ngã xuống sát ngày đình chiến, ông mất ngày 17 tháng 6 năm 1954 tại Km 41, Ba Khe, bên kia Đèo Lũng Lô, do bom của máy bay Pháp, gần sát chiến trường Điện Biên Phủ Ông được truy tặng danh hiệu Liệt sĩ và phần mộ hiện

an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch Đến nay, nói về cái chết của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, nhiều người chỉ biết đại khái ông hi sinh vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, trong khi đang vẽ tranh về các chiến sĩ Điện Biên Phủ chiến thắng trở về Thực tế thì cái chết của nhà danh hoạ diễn ra thật xót xa, bi tráng GS-TS Tô Ngọc Thanh, người từng trực tiếp cải táng cha mình kể lại: Khi ông đang dạy học ở Bắc Giang thì nhận được tin cha mình bị trúng bom trên đèo Lũng Lô, Yên Bái Bấy giờ tuy ta đã chiến thắng vang dội tại chiến trường Điện Biên Phủ, song Hiệp định Geneve vẫn chưa được kí nên cuộc chiến trong thực tế vẫn chưa thể chấm dứt Trưa ngày 17 tháng 6 năm 1954, hoạ sĩ Tô Ngọc Vân cùng đoàn văn nghệ sĩ đi chiến dịch trở về, đang chuyên tâm kí hoạ chân dung một cụ già người Tày trong một căn nhà sàn ở lưng đồi thì một loạt bom nổ dữ dội gần đó đã khiến một hòn đá đập trúng người ông (sau này kiểm điểm lại thì do một toán dân công khi qua đèo đã sơ ý nấu cơm lộ khói khiến máy bay Pháp phát hiện ra, ập đến giội bom) Sau vụ đánh phá này, hơn một trăm dân công chết tại chỗ Họ được chôn chung một hố Tô Ngọc Vân được cụ già người Tày chôn riêng bên bờ suối Nhận được hung tin, Tô Ngọc Thanh đã hối hả đạp xe vượt trăm ngàn cây số đến nơi Khi ấy, cha ông đã chôn được hơn mười ngày Phần vì lo

mộ cha đặt bên suối sau này có nguy cơ bị lũ cuốn, phần vì bán tín bán nghi không rõ người dưới mộ có phải cha mình không, Tô Ngọc Thanh đã đau đớn đào mộ lên Sau khi nhận diện đó đích thực là cha mình, ông đã chôn cất cha trên đỉnh một quả đồi gần

đó Một năm sau, cơ quan cho bốc mộ Tô Ngọc Vân đưa về an táng tại nghĩa trang Hợp Thiện (nằm cạnh đường đi Hà Đông, nay là phố Nguyễn Trãi) An táng chưa được lâu, người ta dọn mặt bằng xây nhà máy, hài cốt nhà danh hoạ lại được chuyển lên nghĩa trang Mai Dịch, khi đó dùng để mai táng những người hi sinh trong đêm

Trang 9

19/12/1946 Một thời gian sau đó, nghĩa trang Mai Dịch được xây mới, nâng cấp thành nghĩa trang quốc gia, mộ hoạ sĩ lại được đặt ở chỗ khác trong khu cho hợp quy hoạch Cuộc đời hoạt động nghệ thuật của Tô Ngọc Vân khẳng định ông là một tài năng lớn, tên tuổi của ông là niềm tự hào của nền mỹ thuật Việt Nam Những cống hiến của ông về nghệ thuật sơn dầu mang giá trị to lớn có sức sống lâu bền trong nền mỹ thuật hiện đại của dân tộc Những tác phẩm hội hoạ của Tô Ngọc Vân nói chung, được xem như những viên gạch đầu tiên tạo dựng nền móng vững chắc cho nền mỹ thuật của dân tộc Việt Nam, định hình một phong cách sơn dầu đậm bản sắc dân tộc và thời đại

Câu 2: Em hãy trình bày những ảnh hưởng và thành công của giao lưu và tiếp biến văn hoá Việt Nam – phương Tây giai đoạn 1858-1945?

Tiếp biến văn hoá với Pháp: Hiện đại hoá lần thứ nhất (1858-1945)

- Văn hoá Việt Nam năm 1958-1945

Trước năm 1858 ở Việt Nam vẫn duy trì văn hoá quân chủ Nho giáo phong kiến lạc hậu Từ năm 1858 khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha đổ bộ tấn công Đà Nẵng sau đó là Sài Gòn thì văn hoá Việt Nam có nhiều thay đổi từ năm 1858-1945 nhìn chung văn hoá Việt Nam giai đoạn này có hai giai đoạn đặc trưng văn hoá lớn, tiếp xúc giao thoa văn hoá Việt – Pháp một cách cưỡng

ép Giao lưu văn hoá tự nhiên Việt Nam với thế giới bên ngoài đặc biệt với phương Tây

Đối với Việt Nam và các nước Khổng học châu Á nói chung, “hiện đại hoá” (modernization) có nghĩa là “Tây phương hoá” (westernization) với nội dung chủ yếu là “công nghiệp hoá” (industrialization), “thị thành hoá” (urbanization)

Ở Việt Nam, thời kỳ “hiện đại hoá” lần thứ nhất là thời kỳ Pháp thuộc Nhưng do chịu tác động phương Tây thời kỳ này chủ yếu là xã hội thị dân một

số thành phố lớn, nên Việt Nam vẫn còn là một nước thuộc địa bán phong kiến

Do đó, người ta vẫn gọi là Việt Nam thời kỳ truyền thống (traditional) chứ chưa gọi là Việt Nam hiện đại (contemporary Vietnam) từ 1945

Trang 10

Thời Pháp thuộc, đối đầu văn hoá là chủ yếu, nhất là giai đoạn đầu: trí thức Nho học phản ứng, không muốn đổi “bút lông” lấy “bút chì”, học Quốc ngữ và tiếng Pháp

Từ những năm 20-30 của thế kỷ XX, song song với đối đầu văn hoá, có hiện tượng đối thoại văn hoá Các nhà nho hiện đại như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, các trí thức mới như Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Nhất Linh,… muốn đưa khoa học và dân chủ phương Tây vào

Khái niệm “cái tôi” của phương Tây và đặc biệt chủ nghĩa lãng mạn Pháp

đã giúp tạo ra Thơ mới và cả một dòng văn học Việt Nam

Vào thế kỷ XVII, các giáo sĩ phương Tây, đặc biệt một giáo sĩ Pháp đặt ra chữ Quốc ngữ để truyền đạo Thiên chúa ở nước ta Khi thực dân Pháp chiếm nước ta, ý đồ của họ là dạy chữ Quốc ngữ để phục vụ mục đích cai trị của họ Những người yêu nước Việt Nam sử dụng chữ Quốc ngữ để truyền bá lòng yêu nước, đấu tranh cho độc lập, xây dựng một nền khoa học Việt Nam Đó là vai trò cá nhân khác nhau trong tiếp biến văn hoá

Để có tầng lớp tri thức cho chính quyền thuộc địa, Chính phủ thuộc địa Pháp mở các trường đại học nhằm đào tạo người bản xứ phục vụ công cuộc cai trị như: năm 1897, mở trường Hậu bổ ở Hà Nội, cải tổ trường Quốc Tử Giám ở Huế, mở trường sư phạm sơ cấp ở Hà Nội Ngoài trường học, người Pháp còn

mở một số có sở nghiên cứu khoa học như Viện vi trùng học ở Sài Gòn (1891),

ở Nha Trang (1896), Hà Nội (1900), trường Viễn Đông Bác Cổ (1898),…Năm

1901, lập trường mỹ nghệ Thủ Dầu Một với bốn bộ môn: gỗ, điêu khắc, khảm

xà cừ, đúc đồng Năm 1907, lập trường mỹ nghệ Biên Hoà đào tạo về gốm, sứ

và đúc đồng Năm 1913, lập trường nghệ thuật bản xứ Gia Định sau đó thay đổi tên liên tục Năm 1920, mở rộng địa bàn ra Bắc, lập trường nghệ thuật thực hành ở Hà Nội, làm đồ mộc, chạm bạc, đúc đồng,… Việc thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1925 không thể nằm ngoài ý đồ ấy Đây là ngôi trường đào tạo nhiều hoạ sỹ góp mặt làm thay đổi nền văn hoá nghệ thuật của Việt Nam sau này Nhưng Tardieu và Nam Sơn đã hợp tác với nhau (đối thoại văn hoá Đông – Tây) để tạo ra một nền hội hoạ Việt Nam hiện đại Nếu Gonchere làm hiệu trưởng thì trường từ đầu đã đi theo hướng khác

- Những tác động vào hội hoạ Việt Nam trước năm 1945

Ngày đăng: 22/08/2021, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w