Tuy nhiên, hiện nay công tác bảo hộ lao động cho người lao động ở một số các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam chỉ mang tính hình thức đối phó với cơ quan điều tra Nhà nước.. - Bài tiểu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CS2)
KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
-***** -TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: BẢO HỘ LAO ĐỘNG
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỐ BÁO DANH: 032 - Stt: 12
SINH VIÊN THỰC HIỆN: Trần Hồng Hải
MSSV: 1853404040652 LỚP: Đ18NL2
GV: ThS TRẦN MINH ĐẠT
Trang 2Điểm chữ Cán bộ chấm thi 2
TP Hồ Chí Minh, Tháng 08 năm 2021
MỤC LỤ
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 THỰC TRẠNG 2
2.1 Cơ sở lý luận về công tác bảo hộ lao động 2
2.2 Tổng quan thị trường xây dựng tại Việt Nam 3
2.3 Thực trạng chính sách bảo hộ lao động trong lĩnh vực xây dựng 3
2.4 Thực trạng số vụ tai nạn lao động 5
2.5 Đánh giá thực trạng công tác bảo hộ lao động ngành xây dựng 7
3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 10
3.1 Cải thiện an toàn vệ sinh lao động 10
Trang 33.3 Biện pháp khắc phuc cho người lao động 11
3.4 Một số biện pháp khắc phục tai nạn lao động 12
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 41 ĐẶT VẤN ĐỀ
- Tai nạn lao động trong suốt quãng thời gian gần đây luôn là vấn đề không chỉ người lao động quan tâm mà còn là vấn đề quan ngại của cộng đồng, xã hội vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng cũng như sự an toàn cho cộng đồng Đây cũng là vấn
đề được nhà nước quan tâm vì sự phức tạp, ảnh hưởng rất lớn tới từng cá nhân, từng gia đình và từng doanh nghiệp Chính vì vậy trong những năm qua nhà nước đã không ngừng tăng cường công tác quản lý về vấn đề an toàn, vệ sinh, bảo hộ lao động Tuy nhiên thực trạng cho thấy vẫn còn nhiều tồn đọng, điều kiện làm việc ở nhiều nơi chưa được cải thiện, tình hình tai nạn nghiêm trọng vẫn còn xảy ra ở nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp, nhiều địa phương trên cả nước và nguy cơ gây ra tai nạn lao động vẫn còn tiềm ẩn
- Chính vì điều đó, công tác bảo hộ lao động cho người lao động là rất cần thiết trong các tổ chức hay doanh nghiệp Chú trọng hơn là trong lĩnh vực xây dựng Tuy nhiên, hiện nay công tác bảo hộ lao động cho người lao động ở một số các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam chỉ mang tính hình thức đối phó với cơ quan điều tra Nhà nước Tình hình hiện nay cho thấy công tác bảo hộ ngày càng buông lỏng, tình trạng xảy ra các vụ tai nạn ngày càng nhiều, tỷ lệ người thương vong ngày càng tăng, bệnh nghề nghiệp tăng cũng không kém, gây nên thương tật cho người lao động Vấn đề bảo hộ lao động vẫn được các doanh nghiệp triển khai nhưng số vụ tai nạn lao động vẫn không ngừng tăng lên Đó là thắc mắc chung của rất nhiều người, mà câu trả lời luôn
là ẩn số Người lao động đi làm với mong muốn là nhận được tiền lương nhằm duy trì, nâng cao chất lượng cuộc sống chớ họ chưa bao giờ mong muốn rằng tai nạn lao động luôn rình rập họ bất cứ lúc nào, nhằm gây ảnh hưởng xấu đến thân thể, sức khỏe và đặc biệt là tính mạng của bản thân họ
- Chính vì vậy, tôi tìm hiểu đề tài “Thực trạng công tác bảo hộ lao động tại Thành phố
Hồ Chí Minh” để làm rõ vấn đề nói trên
- Bài tiểu luận này nhằm mục tiêu cho ta thấy rõ được tầm quang trọng của việc nâng cao chất lượng công tác bảo hộ lao động trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam Với mục tiêu trên xác định các mục tiêu cơ bản: Trình bày thực trạng về vấn đề bảo hộ lao
Trang 5động trong các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam Đưa ra những nguyên nhân gây
ra tai nạn lao động của ngành xây dựng nước ta Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác bảo hộ lao động của ngành xây dựng tại Việt Nam
2 THỰC TRẠNG
2.1 Cơ sở lý luận về công tác bảo hộ lao động
- Khái niệm bảo hộ lao động:
+ Bảo hộ lao động là môn khoa học mang tính kỹ thuật thực tiễn bao gồm các
hệ thống các biện pháp kỹ thuật , các văn bản pháp luật và tổ chức, quản lý, chính sách kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật nhằm cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại phát sinh trong lao động sản xuất, để đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khỏe và năng lực làm việc của con người trong quá trình lao động”
- Khái niệm điều kiện lao động:
+ là tổng thể các yếu tố về kỹ thuật - công nghệ, tổ chức lao động kinh tế, xã hội, tự nhiên thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, năng lực của con người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố tạo nên những điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất của con người”
- Bệnh nghề nghiệp:
+ Bệnh nghề nghiệp là một hiện tượng bệnh lý của người lao động phát sinh do tác động thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu, có hại, mang tính chất đặc trưng cho một loại nghề nghiệp, công việc hoặc có liên quan đến nghề nghiệp, công việc đó trong quá trình lao động
- Khái niệm tai nạn lao động:
+ Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, công tác có liên quan đén quá trình thực hiện nhiệm vụ, công việc được giao, là hậu quả của sự tác động đột ngột từ các yếu tố nguy hiểm, gây chết người hoặc làm tổn thương, phá hủy chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể người lao động
Nguồn: Trịnh Khắc Thẩm, Giáo trình bảo hộ lao động, 2007
Trang 62.2 Tổng quan thị trường xây dựng Việt Nam
- Trong giai đoạn 2015-2019, tốc độ tăng trưởng ngành xây dựng Việt Nam đứng thứ 3 trong khu vực Châu Á Chu kỳ của ngành xây dựng Việt Nam chịu tác động mạnh từ chu kỳ của tăng trưởng kinh tế
- Trong giai đoạn 2015-2019 đạt 4,6%/năm Nhóm doanh nghiệp tư nhân luôn chiếm trên 80% trong cơ cấu sản xuất của ngành xây dựng trong giai đoạn này Dự kiến đến năm 2020,Việt Nam cần thu hút khoảng 202.000 tỷ đồng/năm để phát triển hạ tầng và khoảng 125.000 tỷ đồng/năm cho các dự án hạ tầng điện Khung pháp lý cho hình thức này ngày càng được cải thiện hơn, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư tư nhân vào lĩnh vực đầu tư công
- Ngành xây dựng chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân, lực lượng lao động chiếm khoảng 10% Tuy nhiên, đây cũng là ngành có yếu tố nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đến tính mạng con người Đa số lực lượng chủ yếu ở các vùng quê lên thành phố kiếm sống, làm việc theo kinh nghiệm, thiếu kiến thức và ý thức an toàn vệ sinh lao động Do ý thức tự bảo vệ mình và bảo hộ chưa tốt và điều kiện khách quan, chủ quan khác là nguyên nhân chính dẫn đến những vụ tai nạn thương tâm
- Cơ cấu lao động của ngành xây dựng có xu hướng tăng trong giai 2015-2019, từ mức 5,4% lên 6,2% (Theo Cục Thống kê năm 2019) Hiện tại, lượng nhân công trong ngành xây dựng đạt 4,2 triệu lao động, là ngành có lượng lao động cao thứ 4 cả nước Hiệp hội Nhà thầu Việt Nam (VACC), khoảng 80% công nhân xây dựng hiện nay làm việc có tính thời vụ, chưa được đào tạo bài bản, thiếu chuyên môn và chưa đáp ứng được những yêu cầu về tính chuyên nghiệp trên công trường So với các nước trong khu vực, năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng một nửa mức trung bình của các nước Đông Nam Á Còn khi so sánh với các ngành khác, năng xuất lao động của ngành xây dựng chỉ đứng thứ 16, vì vậy thu nhập của nhân công trong ngành cũng ở mức thấp hơn so với nhiều ngành kinh tế khác và so với các nước trong khu vực
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 72.3 Thực trạng chính sách bảo hộ lao động trong lĩnh vực xây dựng
- Điều kiện lao động:
+ Chủ yếu là trên công trường xây dựng nên đa số là làm ở ngoài trời, trên mặt đất, trên cao Vì tính chất công việc nên nơi làm việc rất ồn ào vì có đủ loại âm thanh của máy cắt, máy gia công sắt thép, máy làm đá, làm đất,….Làm ở ngoài nắng cũng
có, làm ở trong mát cũng có
+ Đa số công nhân làm việc vào thời gian là 7 giờ sáng đến 12 giờ giờ trưa thì
họ được giả lao để ăn uống và nghỉ ngơi đến 1 giờ họ tiếp tục công việc đến 5 giờ chiều Tùy thuộc vào nhiều công ty có thể họ được phụ cấp bữa ăn trưa Mức lương sẽ
từ 150.000 đến 250.000 đồng/ngày
- An toàn lao động:
+ - An toàn điện: Dùng điện áp thấp cho những khu vực nguy hiểm về điện, tăng cường sử dụng vật cách điện, thực hiện nối không, nối đất bảo vệ Tuy vậy tai nạn liên quan đến điện vẫn xảy ra ở nhiều mức độ
+ Kỹ thuật an toàn thiết bị nâng và vận chuyển: là thiết bị hoạt động theo chu kỳ với sự chuyển động thuận nghịch của bộ phận mang tải trọng không gian Thiết bị nâng được sử dụng để là các công việc nâng chuyển theo phương ngang hay phương đứng để bốc, xếp vật liệu, lắp các thiết bị máy móc, kết cấu xây dựng,…và những thiết bị đó phải thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng để đảm bảo an toàn cho công nhân
+ Kỹ thuật an toàn cơ khí: gồm các loại máy như máy ghiền, máy bơm
bê tông, máy hàn, cắt thép, máy trộn,… đều được lắp đặt các cơ cấu cấu che chắn, trang bị cho công nhân các đồ dùng như kính chống tia bức xạ, mặt nạ, nón an toàn, ủng,…bảo dưỡng máy móc theo định kỳ
- Vệ sinh lao động:
+ Tại nơi làm việc có tổng hợp các yếu tố vật lý của không khí trong khoảng thời gian nơi làm việc, gồm các yếu tố như nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí, vận tốc gió, bức xạ nhiệt
+ Điều kiện vi khí hậu tại nơi làm việc phân theo từng loại lao động: Độ ẩm không khí cho phép của các loại lao động từ 40 đến 80% Về nhiệt độ cho phép là 20-34 độ (đối
Trang 8với lao động loại nhẹ); 18-32 độ (lao động loại trung bình); 16-30 độ (lao động loại nặng)
+ Điều kiện vi khí hậu theo nhiệt độ cầu ướt: nếu tiếp xúc liên tục với nguồn nhiệt thì nhiệt độ cho phép là 30 độ (đối với lao động loại nhẹ), 26,7 độ (lao động loại trung bình) và 25 độ (lao động loại nặng)
2.4 Thực trạng số vụ tai nạn lao động
- Mặc dù các chính sách bảo hộ lao động đã được áp dụng song các tai nạn vẫn cứ xảy
ra gây thiệt hại về người và của không ít Ở đâu đó, một phần do người lao động, một phần do các công ty còn chưa áp dụng đúng và triệt để các chính sách Thời gian qua, tình hình tai nạn lao động gia tăng đột biến, tần suất và số vụ tai nạn ngày càng tăng Tình hình này khiến nhiều dư luận bức xúc về việc đảm bảo an toàn lao động tại các công trình xây dựng, trong sản xuất nói chung từ khâu giám sát thiết bị, quy trình an toàn lao động đến việc tuyển dụng lao động
-Theo báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2020 trên toàn quốc đã xảy ra 8.380 vụ tai nạn lao động làm 8.610 người bị nạn (bao gồm cả khu vực
có quan hệ lao động và khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động) trong đó:
- Số người chết vì tai nạn lao động: 966 người, so với năm 2019 giảm 13 người tương ứng 1,34%, (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 661 người, tăng 51 người tương ứng với 8,36% so với năm 2019; khu vực người lao động làm việc không theo hợp động lao động: 305 người, giảm 64 người tương ứng với 17,34% so với năm 2019);
- Số vụ tai nạn lao động chết người: 919 vụ, so với năm 2019 giảm 08 vụ tương ứng 0,87%, (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 629 vụ, tăng 57 vụ tương ứng với 9,97% so với năm 2019; khu vực người lao động làm việc không theo hợp động lao động: 290 vụ, giảm 65 vụ tương ứng với 18,31% so với năm 2019);
- Số người bị thương nặng: 1.897 người (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 1.617 người, tăng 25 người tương ứng với 1,57% so với năm 2019; khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động: 280 người, giảm 20 người tương ứng với 6,57% so với năm 2019);
Trang 9- Nạn nhân là lao động nữ: 2.724 người (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 2.510 người, giảm 25 người tương ứng với 0,99% so với năm 2019; khu vực người lao động làm việc không theo hợp động lao động: 214 người, giảm 22 người tương ứng với 9,32% so với năm 2019);
- Số vụ tai nạn lao động có hai người bị nạn trở lên: 111 vụ, so với năm 2019 giảm 35
vụ tương ứng 31,53%, (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 74 vụ, giảm 45 vụ tương ứng với 37,82% so với năm 2019; khu vực người lao động làm việc không theo hợp động lao động: 37 vụ, tăng 10 vụ tương ứng với 37,03% so với năm 2019)
- Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, ngành xây dựng là ngành
xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động nghiêm trọng thứ hai trong những năm qua, theo
“Thông báo về tình hình tai nạn lao động của năm 2020” thì tỷ lệ xảy ra tai nạn lao động năm 2020 của lĩnh vực xây dựng chiếm 15.6% tổng các loại vụ tai nạn và 16.52% tổng số người chết (Ngã từ trên cao, rơi chiếm 26,61% tổng số vụ và 25,22% tổng số người chết; Đổ sập chiếm 12,84% tổng số vụ và 15,65% tổng số người chết; -Vật văng bắn, va đập chiếm 7,34% tổng số vụ và 6.96% tổng số người chết), đây không phải là con số nhỏ Nó đang ở trong trình trạng đáng cấp báo
- Ngoài ra một số lĩnh vực xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động như:
+ Lĩnh vực khai thác mỏ, khai thác khoáng sản chiếm 16,51% tổng số vụ và 17,39% tổng số người chết; 4
+ Lĩnh vực cơ khí, luyện kim chiếm 6,42% tổng số vụ và 7,83% tổng số người chết; + Lĩnh vực dịch vụ chiếm 5,51% tổng số vụ và 5,22% tổng số người chết;
+ Lĩnh vực dệt may, da giầy chiếm 5,5% tổng số vụ và 5,22% tổng số người chết
- Tình hình tai nạn lao động chết người theo cơ sở sản xuất:
+ Loại hình công ty cổ phần chiếm 37.61% số vụ tai nạn chết người và 40% số người chết;
+ Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 30,28% số vụ tai nạn chết người và 29,57% số người chết;
+ Loại hình doanh nghiệp nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp chiếm 22,93% số vụ tai nạn chết người và 21,74% số người chết;
+ Loại hình doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể chiếm 5,51% số vụ tai nạn và 5,22,% số người chết
Trang 10(Nguồn: Cục An toàn Lao động Bộ LĐ-TB&XH, 2020)
2.5 Đánh giá thực trạng công tác bảo hộ lao động ngành xây dựng
- Trong những năm gần đây, công tác Bảo hộ lao động đã được Nhà nước quan tâm đến, nhằm khắc phục những hiểu biết ít ỏi của người lao động và tổ chức, đề cao tầm quan trong của tính mạng con người trong ngành Các nghị định, thông tư được sửa chữa kịp thời để các cơ quan, tổ chức áp dụng theo Hiện nay, công tác Bảo hộ đã được áp dụng ở hầu hết các công ty, doanh nghiệp, giảm thiểu rõ rệt tỉ lệ tai nạn lao động trong ngành, đảm bảo an toàn cho người lao động cả về tính mạng và tinh thần Điều đó giúp nâng cao hiệu quả làm việc, nâng cao năng suất về công việc, đảm bảo
an toàn người và cửa, từ đó giúp nền kinh tế ngày càng phát triển và mở rộng
- Ngành xây dựng phát triển không ngừng, công tác bảo hộ được sử dụng ở tất cả các
cơ quan đơn vị, nhưng việc thực hiện chưa hoàn toàn là tuyệt đối, nhiều yếu tố tác động khiến cho việc bảo hộ lao động trở nên lỏng lẻo, việc áp dụng chưa được triệt để khiến tai nạn lao động xảy ra ở mức báo động, đặc biệt là trong ngành xây dựng mà chúng ta có thể thấy trong phần thực trạng và những tai nạn lao động thương tâm xảy
ra ở mục nghiên cứu trên Đi tìm những nguyên nhân dẫn dến những kết quả trên giúp
tổ chức phát hiện kịp thời những bất cập và đưa ra những giải pháp khắc phục nhanh nhất
- Nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn trong lĩnh vực xây dựng:
Theo Cục An toàn lao động, nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 47,2%, cụ thể:
+ Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc
an toàn chiếm 24,3% tổng số vụ
+ Người sử dụng lao động không huấn luyện an toàn lao động cho người lao động chiếm 8,1% tổng số vụ
Trang 11+ Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 10,8% tổng số vụ; do
tổ chức lao động chiếm 4,0% tổng số vụ Nguyên nhân người lao động chiếm 22,9%, cụ thể:
+ Người lao động vi phạm quy trình, nội quy an toàn lao động chiếm 18,9% tổng số vụ;
+ Người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 4,0% tổng số vụ
+ Còn lại 29,9% xảy ra do các nguyên nhân khách quan khác nhau
- Do người lao động:
+ Mặc dù có trang bị các thiết bị, phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động nhưng chỉ mang tính hình thức chưa thực đi vào thực hiện Một số công nhân vẫn thờ ơ, không chấp hành, thưc hiện trang bị đày đủ trang thiết bị khi bước vào công trình Có nhiều lý do tác động từ bên ngoài ví dụ như không đội nón bảo hộ vì trời nắng nóng, nếu tai nạn ập tới khó lòng mà an toàn được Sự chủ quan, thiếu ý thức mà
bỏ qua các quy định về an toàn lao động của ngườ lao động Thường xuyên quy phạm quy định an toàn lao động Người lao động do thiếu ý thức tự bảo vệ trước những nguy hiểm thường xuyên “rình rập” nơi công trường 16 Phần lớn công nhân là lao động thời vụ, không có trình độ chuyên môn, ý thức lao động kém Có nhiều công nhân chưa biết gì về nghề mình làm, đôi khi chỉ được nghe giới thiệu nên quyết định làm công nhân trong công trường chỉ mong kiếm được tiền để trang trải cuộc sống Nên họ chưa có kinh nghiệm lẫn trình độ chuyên môn Tuổi tác, trạng thái sức khỏe, trạng thái tinh thần tâm lý, có ảnh hưởng rất lớn vấn đề an toàn Sức khỏe tốt, tâm lý tốt thì khả năng điều khiển, là chủ thao tác tốt thì khó mà nhầm lẫn hay sai sót vậy khả năng sảy
ra tai nạn thấp hơn Nếu khôn thì ngược lại
- Do nhà thầu:
+ Chủ đầu tư còn thờ ơ, không quan tâm tới người lao động lắm Chưa phổ biến
về công tác bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động cho công nhân.Không thường xuyên giám sát, xử lý nghiêm khắc các sai phạm, còn thiếu trách nhiệm và ý thức thực hiện đối với công tác bảo hộ lao động, an toàn lao động Đôi khi họ còn tận dụng những phương tiện, trang thiết bị an toàn cũ, không đảm bảo chất lượng cho nhân công sử dụng để tiết kiệm chi phí đầu tư Đối với các loại máy, thiết bị chuyên