1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN. THỰC TIỄN TẠI CTCP THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ CT

35 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 44,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty cổ phần là một mô hình kinh doanh điển hình nhất về loại công ty đối vốn, ở đó các cổ đông góp vốn bằng cách mua cổ phần để trở thành đồng chủ sở hữu của công ty. Là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, cấu trúc vốn của công ty cổ phần cũng rất linh hoạt, có thể đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các nhà đầu tư. Theo đó, công ty cổ phần là hình thức tổ chức có khả năng huy động một số lượng vốn lớn ngầm chảy trong các tầng lớp dân cư, khả năng tích tụ và tập trung vốn với quy mô khổng lồ, có thể nói, cùng với quá trình đổi mới kinh tế đất nước là sự không ngừng ra đời và phát triển các loại hình doanh nghiệp, nhất là công ty cổ phần.

Trang 1

Đề tài: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP

CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC TIỄN TẠI CTCP THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤCT

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công ty là một loại hình doanh nghiệp do các thành viên góp vốn thành lập nhằm mục đích kinh doanh Muốn tiến hành sản xuất, kinh doanh bất

cứ ngành nghề, loại dịch vụ nào đều phải cần có vốn Vì vậy, "vốn góp" và

"phần vốn góp" của thành viên góp vốn sẽ gắn liền với sự tồn tại của công ty cho đến khi công ty giải thể hoặc bị phá sản

Công ty cổ phần là một mô hình kinh doanh điển hình nhất về loại công ty đối vốn, ở đó các cổ đông góp vốn bằng cách mua cổ phần để trở thành đồng chủ sở hữu của công ty Là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, cấu trúcvốn của công ty cổ phần cũng rất linh hoạt, có thể đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các nhà đầu tư Theo đó, công ty cổ phần là hình thức tổ chức có khả năng huy động một số lượng vốn lớn ngầm chảy trong các tầng lớp dân cư, khả năng tích tụ và tập trung vốn với quy mô khổng lồ, có thể nói, cùng với quá trình đổi mới kinh tế đất nước là sự không ngừng ra đời và phát triển các loại hình doanh nghiệp, nhất là công ty cổ phần

Với việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2014, các quy định về góp vốn mua cổ phần đã hình thành cơ bản các yếu tố đòn bẩy khuyến khích những người có vốn muốn tham gia đầu tư, góp vốn thành lập và quản trị doanh nghiệp

mà không quá lo lắng những hành vi lợi dụng quyền hạn và chức vụ đề thu lợi cho cá nhân gây tổn hại tới lợi ích chung

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Quy định của pháp luật về góp vốn thành lập công ty cổ phần Thực tiễn tại CTCP CT” Mục đích của đề tài này là muốn cho mọi người hiểu được pháp luật quy định ra sao về góp vốn trong thành lập CTCP và thực tiễn được áp dụng như thế nào

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam các lĩnh vực liên quan đến doanh nghiệp đã được nhiều nhà khoa học, giới luật học và các thương gia quan tâm Trong những năm gần đây đã có nhiều hội thảo, nhiều bài báo, đề tài khoa học nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của doanh nghiệp như doanh nghiệp với nền kinh tế thị trường, văn hoá pháp lý trong doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, hợp đồng thành lập công ty,…

- Sỹ Hồng Nam (2016), Các hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đấttheo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tối cao, Số 3/2016, tr 11-14

- Nguyễn Võ Linh Giang (2015), Quy định về định giá tài sản là quyền

sở hữu trí tuệ khi góp vốn thành lập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

và pháp luật Cộng hòa Pháp, Nghiên cứu lập pháp Viện nghiên cứu lập pháp, Số 17/2015

- Vũ Thị Loan (2014), Pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất, luậnvăn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội

- Hà Thị Doánh (2013), Góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữucông nghiệp theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội

- Đỗ Thị Thìn (2013), Những vấn đề pháp lý cơ bản về góp vốn thành

lập doanh nghiệp, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội

Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề góp vốn thành lập CTCP và thực trạng tại một doanh nghiệp cụ thể nào

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: vấn đề góp vốn trong việc thành lập CTCP

Trang 3

- Phạm vi nghiên cứu: Luật doanh nghiệp 2014 và các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan

- Không gian: Công ty Luật TNHH Everest

- Thời gian: từ năm 2010 đến năm 2016

4 Phương pháp nghiên cứu

- Chương 1: sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp

- Chương 2: sử dụng phương pháp phân tích, thu thập số liệu, tổng hợp

- Chương 3: sử dung phương pháp tổng hợp

5 Kết cấu của đề tài

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về góp vốn thành lập công ty cổ phần và pháp luật điều chỉnh

- Chương 2 Thực trạng thực hiện góp vốn thành lập công ty cổ phần thương mại và dịch vụ CT

- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty cổ phần

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

- Công ty cổ phần: CTCP

- Doanh nghiệp: DN

Trang 5

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GÓP VỐN

THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH

1.1 Khái quát chung về góp vốn trong công ty cổ phần

1.1.1 Các khái niệm có liên quan

1.1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần

Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triểntrong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Sự hình thành và phát triển củacông ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và thị trường tiền

tệ “Công ty cổ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem làphương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốncho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển

Hiện nay, Theo Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014 đã đưa ra khái niệm về Công

ty cổ phần như sau:

“1.Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và khônghạn chế số lượng tối đa;

c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củadoanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác,trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luậtnày

2 Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp

3 Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn”.1.1.1.2 Khái niệm thành lập công ty cổ phần

Trang 6

Dưới góc độ pháp lý, thành lập là việc thực hiện các thủ tục xác nhận sự ra đờicủa một tổ chức, một doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Do vậy, có thể hiểu, thành lập công ty cổ phần là việc chủ sở hữu tiến hành cácthủ tục cần thiết để xác lập, thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền vềviệc ra đời doanh nghiệp của mình

1.1.1.3 Khái niệm góp vốn

Góp vốn là hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sản vào sử dụng trong hoạtđộng kinh doanh để đổi lấy quyền lợi từ công ty, theo đó, người góp vốn khôngnhận được bất kỳ một khoản tiền nào từ việc chuyển giao vốn vào công tynhưng nhận được giá trị khác là quyền lợi trong công ty

Theo quy định tại Khoản 13 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014, góp vốn là việcgóp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm góp vốn đểthành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã đượcthành lập

1.1.1.4 Khái niệm góp vốn thành lập công ty cổ phần

Dẫn chiếu từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu, góp vốn thành lập công ty cổphần là việc các cổ đông thựa hiện hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sảnvào sử dụng trong hoạt động của công ty cổ phần nhằm mục đích sinh lợi

1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần

 Về cổ đông

Đây là mô hình đặc trưng cho công ty đối vốn, có sự liên kết của nhiều thànhviên Vì vậy, khả năng huy động vốn của CTCP khá linh hoạt và hiệu quả

(i) Theo điểm b, c, d khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:

“a Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và khônghạn chế số lượng tối đa

Trang 7

b Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản kháccủa doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.

c Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho ngườikhác, trừ trường hợp quy định tại khỏan 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 củaLuật Doanh nghiệp 2014.”

(ii) Căn cứ vào vai trò của cổ đông trong việc thành lập công ty: (thì cty cổ phần

có một số tư cách cổ đông sau):

- Cổ đông sáng lập: là cổ đông sở hữu ít nhất 01 cổ phần phổ thông và kýtên trong danh sách cổ đông sáng lập của công ty cổ phần Công ty cổ phần mớithành lập phải có ít nhất 03 cổ đông sáng lập

Đối với những công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước hoặc

từ công ty TNHH hoặc được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập từ công ty cổ phầnkhác thì không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập

- Cổ đông góp vốn: là cổ đông sở hữu cổ phần của công ty, trở thành chủ sởhữu chung của công ty nhưng không phải là sáng lập viên của công ty

(iii) Căn cứ vào loại cổ phần mà cổ đông sở hữu:

- Cổ đông phổ thông: là người sở hữu cổ phần phổ thông, cổ đông phổthông là bắt buộc

- Cổ đông ưu đãi: là người sở hữu cổ phần ưu đãi, cổ đông ưu đãi gồm: Cổđông ưu đãi biểu quyết, cổ đông ưu đãi cổ tức, cổ đông ưu đãi hoàn lại và cổđông ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định

 Về vốn điều lệ

Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổphần Gía trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổphiếu Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần

Trang 8

Ví dụ: Vốn điều lệ của công ty cổ phần H là 7.000.000.000 đồng, số tiền nàyđược chia thành nhiều phần bằng nhau, mỗi phần là 10.000 đồng (trị giá 10.000đồng được gọi là mệnh giá cổ phần) Như vậy, số cổ phần của công ty là700.000 cổ phần.

Cổ phần phổ thông là cổ phần bắt buộc phải có của CTCP Người sở hữu cổphần phổ thông được gọi là cổ đông phổ thông, là chủ sở hữu của CTCP nên họ

có quyền quyết định những vấn đề rất quan trọng liên quan đến CTCP

Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi Người sởhữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:

- Cổ phần ưu đãi biểu quyết,

- Cổ phần ưu đãi cổ tức,

- Cổ phần ưu đãi hoàn lại,

- Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định

Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông và có thể có cổ phần ưuđãi Vì vậy, vốn điều lệ của công ty cổ phần phải thể hiện một phần dưới dạng

cổ phần phổ thông và có thể có một phần cổ phần ưu đãi

Ví dụ: Công ty cổ phần H có vốn điều lệ là 700.000 cổ phần này có thể là toàn

bộ cổ phần phổ thông hoặc có thể một phần là cổ phần phổ thông, một phần là

cổ phần ưu đãi

Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại.Trường hợp thành lập mới công ty cổ phần thì tại thời điểm đăng ký thành lậpdoanh nghiệp, vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng mệnh giá cổ phần các loại

đã dược đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty Số cổ phần này phảiđược thanh toán trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhạnđăng ký doanh nghiệp Điều lệ Công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần cóthể quy định một thời hạn thanh toán cổ phần đã được đăng ký mua ngắn hơn

Trang 9

Cổ phần được quyền chào bán đề huy động vốn Tại thời điểm đăng ký doanhnghiệp, số cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần là tổng số cổ phầncác loại mà công ty sẽ bán để huy động vốn, bao gồm cổ phần đã được đăng kýmua (cổ phần đã bán) và cổ phần chưa được đăng ký mua (cổ phần chưa bán).Như vậy, tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp, số cổ phần được quyền chào báncủa công ty cổ phần bao gồm số cổ phần thuộc vốn điều lệ và số cổ phần chưabán.

Cổ đông có thể mua số lượng cổ phần tùy thích, Luật Doanh nghiệp hiện hànhkhông quy định số lượng cổ phần tối thiểu cũng như tối đa mà cổ đông phảimua, trừ cổ đông sáng lập (đối với cổ đông sáng lập bắt buộc bắt buộc các cổđông mà phải cùng nhau mua ít nhất 20% của 700.000 cổ phần phổ thông), mụcđích của việc bắt buộc này là ngằm gắn kết các cổ đông sáng lập về mặt tài sảncũng như trách nhiệm đối với công ty trong buổi đầu hoặt động, mặt khác cũngnhằm tránh việc người thành lập khuếch trương công ty và giá trị cổ phần để bánlại rồi sau đó rút khỏi công ty

Một số ngành nghề kinh doanh bắt buộc phải có vốn pháp định thì vốn điều lệ ítnhất phải bằng vốn pháp định

 Về trách nhiệm tài sản

Trong công ty cổ phần, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm với các khoản nợ vànghĩa vụ tài chính khác tương ứng với số cổ phần đã mua Điều này tạo nên sựkhác biệt giữa CTCP với các loại hình công ty khác như doanh nghiệp tư nhânhay công ty hợp danh Việc giới hạn về chế độ trách nhiệm tài sản là một biệnpháp kích thích nhu cầu đầu tư vốn vào CTCP hay các loại hình có trách nhiệmtài sản hữu hạn

Tuy vậy, tính hữu hạn ở đây không phải là tuyệt đối Khi cổ đông liên đới chịutrách nhiệm dù họ tách biệt với công ty thì không thể coi là “hữu hạn”

 Về chuyển nhượng tài sản

Trang 10

Cổ đông của công ty cổ phần được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần củamình cho người khác, trừ trường hợp:

Thứ nhất, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyểnnhượng Tuy nhiên, cổ phần ưu đãi biểu quyết chỉ tồn tại trong thời hạn 03 năm,

kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Sau thờihạn 03 năm cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.Thứ hai, sau 03 năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

cổ đông sáng lập mới được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình, còn trongthời hạn 03 năm nếu muốn chuyển nhượng thì phải được sự chấp thuận của Đạihội đồng cổ đông

Trường hợp ngoại lệ, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sánglập trong 03 năm không áp dụng đối với cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêmsau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và cổ phần mà cổ đông sáng lập chuyểnnhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty

Ví dụ: Công ty cổ phần H được thành lập ngày 10/10/2016 với 04 cổ đông sánglập là cổ đông A, cổ đông B, cổ đông C và cổ đông D Tại thời điểm Đăng kýdoanh nghiệp, A mua 200 cổ phần phổ thông.Sau khi thành lập 01 thời gian, Amua thêm 100 cổ phần phổ thông Ngày 25/12/2017 A muốn chuyển nhượng

300 cổ phần phổ thông của mình cho người khác được không?

Thứ nhất, thời điểm A muốn chuyển nhượng cổ phần mình sở hữu chưa đủ 03năm nhưng A có thể chuyển nhượng toàn bộ cổ phần phổ thông của mình chocác cổ đông còn lại là B,C, D mà không bị hạn chế về mặt thời hạn

Thứ hai, nếu A muốn chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác khôngphải cổ đông B, C, D thì 200 cổ phần phổ thông A có được gian cổ đông thànhlập công ty chỉ chuyển nhượng được cho người khác khi có sự đồng ý của đạihội đồng cổ đông, còn 100 cổ phần phổ thông mua thêm A được tư do chuyểnnhượng

Trang 11

Một quy định mới của luật doanh nghiệp 2014 mà chúng ta cần phải lưu ý đó làĐiều lệ công ty có thể quy định hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần, tuy nhiênviệc hạn chế này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiêú của cổ phầntương ứng.

 Về huy động vốn

Mỗi loại hình doanh nghiệp có các cách huy động vốn khác nhau, Công tyTNHH không có cổ phần nên họ huy động vốn bằng cách chuyển nhượng muabán giữa các thành viên với nhau Góp thêm vốn, mua bán chuyển nhượng giữacác thành viên khác họ không được phát hành Nhưng trong công ty cổ phần họđược tự do chuyển nhượng cổ phần bất kỳ ai cũng có thể mua bán cổ phần chonhau Giống như các loại hình công ty khác, khi có nhu cầu tăng vốn kinhdoanh, công ty cổ phần có quyền huy động vốn, ưu điểm của công ty cổ phần sovới các loại hình công ty khác chính là việc công ty cổ phần có nhiều hình thứchuy động vốn hơn như: phát hành cổ phần các loại để tăng vốn điều lệ và pháthành trái phiếu

- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

Đối với CTCP, đã thỏa mãn các điều kiện nêu trên, như vậy CTCP là một công

ty có tư cách pháp nhân Trong quá trình hoạt động của mình, công ty chịu tráchnhiệm về các khoản nợ của công ty Với tư cách là một pháp nhân, thông quanđại diện của mình, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong

Trang 12

các quan hệ của mình, có quyền sở hữu tài sản riêng Còn các cổ đông chỉ được

sở hữu cổ phần công ty mà không có bất cứ quyền sở hữu nào đối với tài sản củacông ty

1.2 Quy định của pháp luật về góp vốn thành lập CTCP

1.2.1 Chủ thể góp vốn

Tự do kinh doanh là quyền cơ bản của mỗi công dân Điều đó được ghi nhận vàđược bảo hộ trong các quy định của pháp luật Bởi vậy, quyền góp vốn thành lậpCTCP của các cá nhân, tổ chức cũng được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Tuynhiên, không phải bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có quyền thành lập doanhnghiệp nói chung và CTCP nói riêng Các chủ thể đó thường là các người trong

cơ quan Nhà nước ( cán bộ, công chức, viên chức,…) hay người chưa đủ nănglực hành vi hoặc bị hạn chế khả năng kinh doanh theo quy định của pháp luật.Theo quy định tại Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014, tổ chức, cá nhân có quyềnthành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo, trừ một số trường hợp sau:

- Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thànhlập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, côngchức, viên chức;

- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốcphòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quanchuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừnhững người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp củaNhà nước tại doanh nghiệp;

- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ nhữngngười được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhànước tại doanh nghiệp khác;

Trang 13

- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mấtnăng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyếtđịnh xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộchoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm côngviệc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trườnghợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.Ngoài ra, theo Khoản 3 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014, còn quy định cáctrường hợp không được mua cổ phần như sau:

- Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốnvào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

- Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của phápluật về cán bộ, công chức

So với các trường hợp cấm không được thành lập doanh nghiệp thì đối tượngkhông được mua cổ phần là ít hơn Sở dĩ như vậy là vì, người góp vốn thành lậpcông ty có vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến sự phát triển bền vững củacông ty nên họ phải dành cho nó nhiều thời gian và công sức

1.2.2 Tài sản góp vốn

Căn cứ quy định tại Điều 35 Luật doanh nghiệp 2014, tài sản góp vốn có thể làĐồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giátrị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thểđịnh giá được bằng Đồng Việt Nam

1.2.2.1 Góp vốn bằng tài sản

Tài sản góp vốn ở đây được hiểu là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi,vàng Góp vốn bằng phương thức này là việc đưa tài sản vào công ty nhằm đổilấy quyền lợi đối với công ty Việc góp vốn bằng tiền có tính chất giống như bỏtiền ra mua cổ phần để hưởng quyền lợi như một cổ đông của công ty Góp vốn

Trang 14

bằng tiền mặt có vai trò quan trọng bởi tiền có thể đem vào lưu thông ngay màkhông phải qua các khâu trung gian khác như tiến hành định giá tài sản, khôngphải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản,… tạo ra một lợi thế vượt trội vớicác phương thức góp vốn khác.

1.2.2.2 Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất ngày càng trở thành tài sản có giá trị Vì vậy mà nhu cầu sửdụng nó ngày càng tăng trong các giao dịch, đặc biệt là trong sản xuất kinhdoanh Khi pháp luật cho phép người sử dụng đất được góp vốn thành lập doanhnghiệp bằng giá trị quyền sử dụng đất, điều đó đã thúc đây, kích thích khôngngừng sự phát triển chug của nền kinh tế thị trường

Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là việc các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình cóquyền sử dụng đất hợp pháp dùng để góp vốn hợp tác sản xuất kinh doanh với tổchức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật

Quyền sử dụng đất là một loại tài sản đặc biệt, gắn liền với đất đai Trong khi

đó, đất đai là bất động sản, là loại tài sản cố định có giá trị lớn, có tính bền vững.Bởi vậy, việc sử dụng đất trong góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung vàcTCP nói riêng có những đặc điểm riêng biệt

Về đối tượng góp vốn là quyền sử dụng đất – quyền tài sản, chứ không phải đấtđai Bởi lẽ, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước với tư cách là đại diện chủ

sở hữu trao cho người sử dụng đất quyền sử dụng đất thông qua các hành vi nhưgiao đất, cho thuê đất, được nhận quyền sử dụng đất hợp pháp từ chủ thể khác.Chủ thể có quyền sử dụng đất góp vốn vào doanh nghiệp thì đây sẽ là tài sản củadoanh nghiệp, họ có quyền sử dụng diện tích đất này trong thời hạn góp vốn.Việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất không làm thay đổi hình thức sở hữu đốivới chủ thể góp vốn

Việc thực hiện góp vốn bằng quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện trong thờihạn giao đất hoặc cho thuê đất Điều đó đồng nghĩa với việc nếu thời hạn giao

Trang 15

đất hoặc cho thuê đất kết thúc thì việc thực hiện góp vốn bằng quyền sử dụngđất cũng chấm dứt Khi đó, doanh nghiệp đang sử dụng diện tích đất đó phải trảlại cho Nhà nước hoặc có thể thực hiện thủ tục để được Nhà nước giao đất, chothuê đất.

Việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải tuân thủ các điều kiện do pháp luậtquy định Trước hết, để được thực hiện việc góp vốn vào bất cứ doanh nghiệpnào thì diện tích đất đó phải được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, thểhiện thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờkhác có giá trị pháp lý tương đương; đồng thời thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tàichính theo quy định của pháp luật

Để được góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chủ thể phải đáp ứng các điềukiện theo quy định của Luật Đất đai 2013 như sau:

- Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trườnghợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai 2013;

- Đất không có tranh chấp;

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

- Trong thời hạn sử dụng đất

Tuy hiện nay việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất ngày càng phổ biến và

có nhiều lợi thế nhưng điều đó còn phụ thuộc vào giá cả, vào biến động của thịtrường bất động sản ở mỗi giai đoạn Thông qua định giá tài sản, doanh nghiệp

sẽ xác định được phần vốn góp của chủ thể góp vốn

1.2.2.3 Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ là khái niệm pháp lý chỉ sự bảo hộ của pháp luật đối với các thànhquả lao động sáng tạo bằng trí tuệ, các sản phẩm trí tuệ của con người

Khoản 2 Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác

Trang 16

giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.”

Như vậy, các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp của quyền sở hữu trí tuệhoàn toàn có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn Góp vốn ở đây được hiểu làgóp giá trị của quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện thông qua việc chuyển chủ

sở hữu đứng tên trên văn bằng bảo hộ và ghi nhận quyền sở hữu này trong danhsách tài sản góp vốn của doanh nghiệp Tài sản trí tuệ sau khi được cấp văn bằngbảo hộ quyền sở hữu sẽ được coi là tài sản vô hình có giá trị và được pháp luậtchấp nhận góp vốn khi kinh doanh (Điều 35, Luật doanh nghiệp 2014)

1.2.2.4 Góp vốn bằng tài sản khác

Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự 2015, tài sản bao gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Theo đó, tài sản khác có thể sử dụng để góp

vốn thành lập doanh nghiệp có thể là vật, giấy tờ có giá

Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thểcảm nhận bằng giác quan của mình Với ý nghĩa pham trù pháp lý, vật chỉ có ýnghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểmsoát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người Muốn trở thành vậttrong dân sự phải thỏa mãn những điều kiện sau: là bộ phận của thế giới vậtchất; con người chiếm hữu được; mang lại lợi ích cho chủ thể; có thể đang tồntại hoặc sẽ hình thành trong tương lai

Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc

về công dụng của vật với nhau mà vật được phân thành: Vật chính là vật độc lập

có thể khai thác theo tính năng (ti vi, điều hòa, máy ảnh…); vật phụ là vật trựctiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật

Trang 17

chính nhưng có thể tách rời vật chính điều (khiển ti vi, điều hòa, vỏ máy ảnh,

…)

Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia ra thành nhiều phầnnhỏ mà Bộ luật dân sự phân chia vật thành vật chia được và vật không chiađược Dựa vào đặc tính, giá trị của tài sản sau khi sử dụng thì chia thành vật tiêuhao và vật không tiêu hao Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật mà người taphân loại vật thành vật thành vật cùng loại và vật đặc định Ngoài ra, người tacòn chia ra làm vật đồng bộ và vật không đông bộ

Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao đượctrong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhaunhư séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét về mặt hìnhthức giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định.Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ cógiá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ giấy tờ có giá cótính thanh khoản và là công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyểnnhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu.Ngoài ra, giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro.Bên cạnh đó, còn có các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đốivới tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sởhữu nhà, giấy đăng ký xe máy,… không phải là giấy tờ có giá Những loại giấy

tờ này chỉ được coi là một vật thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ.1.2.2.5 Định giá tài sản góp vốn

Định giá tài sản góp vốn là điều cần thiết để tạo nên sự minh bạch, rõ ràng đốivới các chủ thể góp vốn trong CTCP, tránh xảy ra tranh chấp Trường hợp quyđịnh tại khoản 1 Điều 37 Luật doanh nghiệp 2014 sẽ phải tiến hành định giá tài

sản: “Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi,

Ngày đăng: 06/08/2021, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w