1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

72 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ
Tác giả Nguyễn Thụy Hoài Thu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thành Đức
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 641,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ Pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ Pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG TÀI SẢN TRÍ TUỆ

Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỤY HOÀI THU

MSSV: 151121328 Lớp: 15DLK10

TP Hồ Chí Minh, 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG TÀI SẢN TRÍ TUỆ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

KHOA LUẬT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường Đại học Công Nghệ TP.HCM đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý thầy

cô của Trường Đại học Công Nghệ TP Hồ chí Minh, đặc biệt là các thầy cô Khoa Luật của trường đã tạo điều kiện cho em có một môi trường học tập và nghiên cứu thuận lợi

Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Thành Đức đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành tốt khóa luận Thầy đã dành tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường Ngoài việc là một giảng viên hướng dẫn viết khóa luận Thầy luôn tận tình giải đáp những khó khăn, vướng mắt của em trong quá trình học tập cũng như trong công việc Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo tận tình của thầy thì

em rất khó có thể hoàn thiện được bài khóa luận này

Một lần nữa, em xin kính chúc thầy Nguyễn Thành Đức cùng các quý thầy

cô dồi dào sức khỏe và niềm tin mạnh mẽ để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau

Em xin chân thành cảm ơn

Sinh viên

Nguyễn Thụy Hoài Thu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả tên: NGUYỄN THỤY HOÀI THU MSSV: 1511271328

Tác giả xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt

nghiệp này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn

đầy đủ và theo đúng qui định);

Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác

Nếu sai sót, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và pháp luật

Nguyễn Thụy Hoài Thu

Trang 5

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1: Tổng quan về tài sản trí tuệ và góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 4

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN TRÍ TUỆ VÀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG TÀI SẢN TRÍ TUỆ 5

1.1 Khái quát về tài sản trí tuệ 5

1.1.1 Khái niệm tài sản trí tuệ 5

1.1.2 Đặc điểm của tài sản trí tuệ 7

1.2 Khái quát về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 9

1.2.1 Khái niệm về vốn góp và góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 9

1.2.2 Các loại tài sản trí tuệ được góp vốn thành lập doanh nghiệp 11

1.3 Vai trò của tài sản trí tuệ và những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị tài sản trí tuệ 14

1.3.1 Vai trò tài sản trí tuệ và vốn góp bằng tài sản trí tuệ 14

1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của tài sản trí tuệ 16

Trang 7

Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP

DOANH NGHIỆP BẰNG TÀI SẢN TRÍ TUỆ 18 2.1 Chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 18

2.1.1 Chủ thể có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 18

2.1.2 Quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp và đảm bảo của Nhà nước đối với việc thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 20

2.2 Thời điểm góp vốn và định giá tài sản trí tuệ khi góp vốn thành lập

doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 29

2.2.1 Thời điểm góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 29 2.2.2 Định giá tài sản trí tuệ khi góp vốn thành lập doanh nghiệp 31

2.3 Trình tự, thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ và chuyển giao quyền sở hữu tài sản trí tuệ 37

2.3.1 Trình tự, thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 37 2.3.2 Chuyển giao quyền sở hữu tài sản 42

Chương 3 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG TÀI SẢN TRÍ TUỆ 48

3.1 Thực trạng áp dụng pháp luật góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 48

3.1.1 Thực trạng áp dụng pháp luật về góp vốn bằng tài sản trí tuệ trên thế giới

và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 48

3.1.2 Tổng quan tình hình góp vốn bằng tài sản trí tuệ tại Việt Nam 49 3.1.3 Thực trạng áp dụng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng

tài sản trí tuệ tại Việt Nam 51

Trang 8

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng tài sản trí tuệ 55

3.2.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ 55

3.2.2 Kiến nghị giúp xây dựng pháp luật nhằm phát triển giá trị của tài sản trí tuệ, hoàn thiện thiết chế kinh tế, xã hội 58

KẾT LUẬN 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 9

sự được quan tâm, với áp lực tranh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt Nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp buộc phải tăng cường đầu tư vào tài sản trí tuệ Với mục đích đáp ứng nhu cầu của thời đại, pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ của nước ta được xây dựng ngày càng đồng bộ, từng bước đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên

Tuy nhiên, quy định pháp luật này còn tồn tại nhiều bất cập Một số quy định còn thiếu sót, chồng chéo nhau, mâu thuẫn, chưa được sửa đổi kịp thời và lạc hậu so với thực tiễn là nguyên nhân gây không ít khó khăn và khiến doanh nghiệp không đạt được hiệu quả kinh tế như mong muốn trong thực hiện góp vốn bằng tài sản trí tuệ Đặc biệt là khi tài sản trí tuệ được góp vốn thành lập doanh nghiệp trên thực tế ngày càng nhiều nên càng đặt yêu cầu cao cho hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ Từ những cơ sở l luận và thực trạng pháp luật nêu trên, tác giả chọn đề tài: Pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ với mong muốn đưa ra một cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ của các doang nghiệp Đồng thời, tác giả hi vọng bài khóa luận sẽ góp phần vào quá trình sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ trong Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu Tư, Bộ luật Doanh nghiệp,… trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam

Trang 10

2

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bảo hộ tài sản trí tuệ nói chung và bảo hộ hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ nói riêng được các nhà khoa học chuyên ngành luật quan tâm nghiên cứu Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này ở các góc độ khác nhau: Đề tài của tác giả Đoàn Thu Hồng (2012), Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu khái quát những vấn đề chung về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam Đề tài của tác giả Tạ Thị Thanh Thủy (2012), Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ theo pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu về l luận tài sản trí tuệ, các quy định pháp luật trong Luật Doang nghiệp 2005, Luật Đầu tư, Thực tiễn áp dụng pháp luật và từ đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật Hay đề tài của Nguyễn Thị Phương Hảo (2006), Quy chế pháp l về góp vốn bằng tài sản - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Theo đó, tác giả đã nghiên cứu hoạt động góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản tri thức vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung Ngoài ra còn một số bài viết đăng trên các tạp chí như bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Tú (2012) với đề tài Một số vấn đề pháp l về khai thác thương mại tài sản trí tuệ trong các doanh nghiệp Việt Nam được in trên tạp chí Tạp chí Khoa học pháp lí, số 04 Bài viết của tác giả Nguyễn Võ Linh Giang, về Quy định về định giá tài sản là quyền sở hữu trí tuệ khi góp vốn thành lập Doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và Cộng Hòa Pháp được Tạp chí Dân Chủ và Nhà Nước, số 5/2017 ghi nhận Tác

phẩm của tác giả Dương Thị Thu Nga (2014), với đề tài Định giá tài sản trí tuệ theo

pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà

Nội đã trình bày về các quy định của pháp luật về định giá tài sản trí tuệ, các trường hợp cần định giá và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về định giá,

Ngoài ra có những giáo trình, tài liệu mang lại kiến thức chung cho tác giả như: Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ Đại học Luật TP HCM, tài liệu học tập của Tiến sĩ

Lê Nết (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, sách của tác giả Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty, vốn, quản l tranh chấp theo luật Doanh nghiệp 2005,…

và các tài liệu này được tác giả liệt kê ở danh mục tài liệu tham khảo Tóm lại, đến thời

Trang 11

3

điểm hiện tại, chưa có một công trình quy mô nào nghiên cứu một cách toàn diện, về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu trên tập trung vào hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung hoặc hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng các quyền tài sản khác theo quy định của pháp luật Do vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên so với đề tài luận văn này là không trùng lặp về mặt nội dung Luận văn đi vào việc nghiên cứu, tổng hợp một số vấn đề mới với hy vọng đóng góp một góc nhìn khái quát hơn cho việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ ở Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Khóa luận nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề l luận khoa học, pháp l về khái niệm tài sản trí tuệ và góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ Phân tích quy định pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ Từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu: Bài khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định Việt Nam về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ theo quy định của pháp luật được LSHTT 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, BLDS 2015, LDN 2014 và một số văn bản dưới luật khác điều chỉnh Trong khuôn khổ còn hạn chế của khóa luận tốt nghiệp, luận văn không nghiên cứu các quy định pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ trong các phạm vi hoạt động tố tụng, chuyển nhượng phần vốn góp, chi phí trước khi thành lập doanh nghiệp

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Sở hữu trí tuệ và góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ là một lĩnh vực rộng, cần phải được quan sát từ nhiều khía cạnh, nhiều nguồn Bài khóa luận tập trung nghiên cứu việc góp vốn bằng tài sản trí tuệ thông qua phân tích khái niệm và giá trị tài sản trí tuệ, khái niệm về góp vốn bằng tài sản trí tuệ, các quy định pháp luật về góp vốn bằng tài sản trí tuệ và thực trạng áp dụng pháp luật trong việc góp vốn kinh doanh bằng tài sản trí tuệ tại Việt Nam

Trang 12

4

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên thì một số phương pháp đã được áp dụng

và được tổng hợp để nghiên cứu đề tài là: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin Phương pháp luận giải, được sử dụng khi nghiên cứu chương 1 Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp bình luận, đối chiếu so sánh,… được sử dụng trong chương 2 Phương pháp so sánh luật học, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp và nhận định các vấn đề liên quan được sử dụng trong chương 3

6 Kết cấu của đề tài

Khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về tài sản trí tuệ và góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

Chương 2: Quy định pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

Chương 3: Thực trạng áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

Trang 13

5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN TRÍ TUỆ VÀ GÓP VỐN THÀNH

LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG TÀI SẢN TRÍ TUỆ 1.1 Khái quát về tài sản trí tuệ

1.1.1 Khái niệm tài sản trí tuệ

Trong nền kinh tế cổ điển tài sản chỉ bao gồm tiền tệ và vật chất Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, tài sản được biết đến không chỉ bao gồm: tiền, vàng, nhà xưởng, máy móc, xe cộ, mà còn có tài sản vô hình (TSVH) như: sự hài lòng của khách hàng; mối quan hệ khách hàng; các ưu thế phát sinh trong các quan hệ nội tại

Khái niệm về TSTT có nhiều cách hiểu, theo từng cấp độ, phương pháp nghiên cứu, quan điểm tiếp cận mà có sự khác biệt này Theo Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Trong đó tài sản bao gồm bất động sản và động sản2 Theo đó, tài sản là bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình, trong đó có TSTT TSTT ngày càng được khẳng định vai trò quyết định đối với sự phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế,… của mỗi quốc gia TSTT là thước đo hiệu quả kinh doanh và khả năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan đến các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; cuộc biểu diễn của nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi

âm và các chương trình phát sóng; sáng chế trong tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người; khám phá khoa học; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch

vụ và tên thương mại; bảo hộ chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh; và tất cả quyền khác nảy sinh từ kết quả của hoạt động trí tuệ thuộc các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học và công nghiệp3

1 Võ Thị Hồng Nhung (2018), Đo lường hệ số BETA có điều chỉnh đòn bẩy tài chính của ngân hàng thương mại

trong thẩm định giá tài sản vô hình, Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, Số 8 trang 71-74

2

Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015

3 Điều 2 (8) của Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)

Trang 14

6

Theo Tiến sĩ Kamil Idris, TSTT là thuật ngữ mô tả những tưởng, sáng chế, công nghệ, tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc và văn học Những cái vô hình khi mới được tạo ra nhưng trở nên đáng giá dưới dạng hữu hình Ứng dụng thương mại của tư duy tưởng tượng để giải quyết một thách thức kỹ thuật hoặc nghệ thuật với lợi ích kinh tế

Như vậy, có thể thấy TSTT là một loại tài sản do con người sáng tạo ra thông qua các hoạt động tư duy sáng tạo trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học

và nghệ thuật,… mang giá trị, có khả năng sinh ra lợi và được pháp luật bảo vệ Phù hợp với thông lệ quốc tế và điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên, được thể hiện rõ trong LSHTT của Việt Nam, cụ thể TSTT bao gồm: các đối tượng của quyền tác giả gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và đối tượng của quyền liên quan đến quyền tác giả gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng; tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại Đối tượng của quyền đối với giống cây trồnglàvật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch5

Bảo hộ quyền sở hữu TSTT có nghĩa quan trọng đối với một quốc gia Nếu không thể kiểm soát được tình trạng vi phạm TSTT sẽ gây cản trở cho việc phát triển kinh tế vì thiếu môi trường cạnh tranh lành mạnh, vì vậy cần có một khung pháp l phù hợp để đảm bảo quyền sở hữu TSTT cho các chủ sở hữu Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (tiếng Anh là World Intellectual Property Organisation - viết tắt là WIPO), thành lập năm 1883 theo Công ước Paris về Sở hữu Công nghiệp WIPO có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định, hiệp ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh luật pháp và quản lý sở hữu trí tuệ Hiện nay WIPO có 171 nước thành viên Việt

bảo hộ sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới WIPO thực hiện trách nhiệm trên bằng cách thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, quản lý nhiều liên

Trang 15

7

minh và các tổ chức hiệp ước khác được thành lập trên cơ sở các hiệp định đa phương

và xây dựng các luật mẫu để các nước đang phát triển thông qua6. Hiện nay, WIPO đang quản l 21 công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ với các chức năng sau đây: Thống nhất hoá pháp luật của các quốc gia thành viên về sở hữu trí tuệ; nhận đăng k đơn sở hữu công nghiệp quốc tế; trao đổi thông tin về sở hữu trí tuệ; đào tạo và hỗ trợ pháp lý hay kỹ thuật về sở hữu trí tuệ; tạo điều kiện giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ;

và quản lý các thông tin khoa học công nghệ Từ khi trở thành mối quan tâm chung của toàn thế giới, TSTT đã, đang và sẽ có rất nhiều hiệp định, công ước song phương và đa phương cùng với luật của các quốc gia nhằm bảo hộ loại tài sản quan trọng này Lịch

sử của sở hữu trí tuệ là một chủ đề dài hơn nhiều so với những gì bài khóa luận có thể được đề cập trong tiểu mục này Tiền đề cơ bản sở hữu trí tuệ luôn là sự công nhận rằng quyền sở hữu thúc đẩy sự giàu có và phát triển của các quốc gia trên thế giới Trong thế giới ngày nay, sự kết nối giữa TSTT và phát triển kinh tế là nhiều hơn bao giờ hết Khi TSTT trở thành đối tượng tranh luận trong các cuộc tranh luận quốc tế và

1.1.2 Đặc điểm của tài sản trí tuệ

TSTT là một loại tài sản, do vậy nó có đầy đủ đặc tính của tài sản nói chung đó là: chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài sản của mình và không ai được sử dụng tài sản

đó nếu không được sự cho phép của chủ sở hữu Bên cạnh đó, TSTT có các đặc điểm bao gồm: tính vô hình, tính kiểm soát được, tính xác định được, khả năng sinh lợi, tính sáng tạo, tính đổi mới và tính TSTT gắn liền với quyền nhân thân

Tính vô hình: TSTT tồn tại chủ yếu dưới dạng thông tin tri thức, không thể nhận biết được sự tồn tại của tài sản này bằng giác quan như: thị giác, xúc giác, vị giác, thính giác, mà chỉ biết được giá trị, sự tồn tại của TSTT thông qua nhận thức Tính xác định được: TSTT có khả năng nhận diện được Thường được thể hiện dưới những hình thức vật chất xác định như bản mô tả liệt kê, công thức, Mỗi TSTT là một tài sản độc

7 Lê Nết (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp HCM, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 16

8

lập, có nội dung, bản chất chức năng công dụng, nghĩa xác định là giá trị Một TSTT

có thể xác định giá trị khi doanh nghiệp đem tài sản đó đi thuê bán trao đổi hoặc thu được lợi ích kinh tế cụ thể hoặc những quyền hợp pháp khác Tính kiểm soát được: TSTT có khả năng được vật chất hóa nên trở thành đối tượng chịu sự tác động có chủ đích của con người như: sản xuất, sử dụng, phát triển, mua bán, góp vốn,… Tạo ra giá trị và thu về lợi ích cho chủ sở hữu cũng như hạn chế sự tiếp cận các đối tượng khác Tính sinh lợi: Bản chất tài sản đều có khả năng sinh lợi, khi thông qua các hoạt động khai thác, sử dụng, mua bán, trao đổi, góp vốn, liên doanh,… nhằm mang lại lợi nhuận, giá trị, lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu tài sản đó Tính TSTT gắn liền với quyền nhân thân: Khi góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng TSTT, chủ sở hữu chỉ có thể góp vốn bằng quyền tài sản, một số quyền nhân thân của các đối tượng sở hữu trí tuệ không được sử dụng để góp vốn Tính sáng tạo và đổi mới: TSTT là kết quả của các hoạt động tư duy sáng tạo, là sự đổi mới phát triển dựa trên những tri thức hiện có hoặc phát triển một sản phẩm hoàn toàn mới Các TSTT luôn chứa đựng lao động sáng tạo của con người, tính mới, tính sáng tạo là nét đặc trưng nhất của sản phẩm trí tuệ, các tác giả bắt buộc phải tư duy sáng tạo để tạo ra sản phẩm mới Sự phát triển không ngừng nghỉ của TSTT là do tính sáng tạo và tính đổi mới tạo nên8

Bên cạnh các đặc điểm như trên TSTT còn có thời gian sử dụng hữu ích là một đại lượng biến đổi, không cố định Ngoài các tác phẩm văn học nghệ thuật, đa phần các TSTT đều có tính thời gian Những quy định bảo hộ độc quyền có thời hạn cho các sản phẩm trí tuệ chính là động lực khuyến khích phát triển trong việc cải tiến khoa học kỹ thuật Một sản phẩm, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, ngày hôm nay có thể rất được ưa chuộng, nhưng ngày mai nó có thể không phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Ví dụ như trình duyệt Mozilla Firefox, Internet Explorer, Opera hay xe Honda Dream, Honda Cub đã từng chiếm lĩnh hầu hết thị phần trong thị trường Tuy nhiên đến ngày nay những sản phẩm này đã không còn được ưa chuộng

8

Tạ Thị Thanh Thủy (2012), Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ theo pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội

Trang 17

9

TSTT có khả năng lan truyền không có giới hạn, là có thể do nhiều người cùng chiếm hữu, sử dụng, dễ bị sao chép và bắt chước Vì vậy, TSTT cần phải được bảo hộ một cách chặt chẽ Các căn cứ để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: Chủ thể sáng tạo sẽ có những quyền đối với TSTT do họ sáng tạo ra và xã hội phải thừa nhận cũng như bảo vệ những quyền này Những chi phí, nỗ lực sáng tạo của những chủ thể sáng tạo và cách thích hợp nhất là được bù đắp bằng sự độc quyền trong một thời hạn nhất định Thừa nhận và bảo vệ những độc quyền của chủ thể sáng tạo nhằm khuyến khích những chủ thể này sáng tạo nhiều hơn Xã hội được hưởng lợi từ việc sử dụng những đối tượng sở hữu trí tuệ khi chủ thể sáng tạo chấp nhận mở những thông tin về TSTT

1.2 Khái quát về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

1.2.1 Khái niệm về vốn góp và góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

Vốn góp thành lập doanh nghiệp là một trong những điều kiện tất yếu để đăng

ký thành lập và tiến hành hoạt động của một doanh nghiệp Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản doanh nghiệp được sử dụng vào hoạt động sản kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi Các nhà kinh tế học cho rằng, vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh Vốn góp bằng TSTT đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Có thể thấy, các nhà tài chính đã chú đến mặt tài chính của vốn và làm rõ được nguồn vốn cơ bản của doanh nghiệp Theo LDN, góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của doanh nghiệp Như vậy, vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi Vốn bao gồm các tài sản hữu hình như: tiền, các loại giấy tờ có giá, đất đai, nhà xưởng và những TSVH Khi góp vốn, những tài sản không phải tiền được định giá và quy đổi thành tiền theo quy tắc nhất trí giữa các thành viên9

Với việc nhận ra giá trị của TSTT, các doanh nghiệp đang ngày càng chú trọng quản l và nắm giữ TSTT, không chỉ là bảo vệ chống trộm cắp trí tuệ mà TSTT còn là một công cụ tích cực và mạnh mẽ để làm tăng lợi thế cạnh tranh và nâng cao danh

9 Khoản 1, khoản 2 Điều 37 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 18

10

tiếng doanh nghiệp Các chủ sở hữu TSTT ngày càng nhạy cảm với giá trị của TSTT

và sử dụng chúng như một nguồn lực tiềm năng, khai thác chúng trở thành vốn góp để thành lập doanh nghiệp Bên cạnh việc cung cấp vốn để thành lập doanh nghiệp, hoạt động góp vốn còn tạo ra mối liên kết giữa các thành viên trong doanh nghiệp Vốn ít hay nhiều sẽ ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức điều hành của doanh nghiệp, phân chia lợi nhuận và trách nhiệm và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp Để đảm bảo tính minh bạch rõ ràng của hoạt động góp vốn quy định pháp luật chặt chẽ hoàn thiện để

TSTT là tài sản góp vốn và được Nhà nước bảo hộ, chủ sở hữu được quyền góp vốn vào hoạt động thành lập doanh nghiệp Các loại TSTT được nhà đầu tư góp vốn bằng, bao gồm: quyền tác giả quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng và các TSTT khác theo quy định pháp luật

về sở hữu trí tuệ11

Theo đó, ngoài giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, thương hiệu là những đối tượng có thể được góp vốn theo quy định của pháp luật TSTT được góp vốn phải được phép lưu thông trong các giao dịch dân sự Người góp vốn và doanh nghiệp nhận góp vốn phải là đối tượng được phép sở hữu hợp pháp tài sản đó Tài sản đang có tranh chấp không thể đem làm tài sản góp vốn

Đến nay, góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ vẫn chưa phổ biến tại Việt Nam Khái niệm góp vốn tư bằng tài sản trí tuệ bắt nguồn từ khái niệm sở hữu chung Sở hữu chung là sở hữu của nhiều người với tài sản chung Theo điều 214 BLDS 2005, sở hữu chung là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận Các chủ sở hữu chung có quyền và các chủ sở hữu chung có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần quyền sở hữu chung Như vậy, góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ là hoạt động chủ sở hữu TSTT góp quyền sở hữu, quyền sử dụng TSTT vào doanh nghiệp

để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hay cổ đông của CTCP Theo

đó các thành viên, cổ đông này sẽ trở thành tài sản chung của doanh nghiệp và được hưởng các quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng với phần vốn góp

10 Nguyễn Thị Phương Hảo (2006), Quy chế pháp lý về góp vốn bằng tài sản - Thực trạng và phương hướng

hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

11 Khoản 13, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 19

11

Các nguyên tắc cơ bản của góp vốn thành lập doanh nghiệp bao gồm: tự do chí, bình đẳng, tự nguyện, tự định đoạt, thống nhất chí, minh bạch, rõ ràng giữa các thành viên góp vốn

1.2.2 Các loại tài sản trí tuệ được góp vốn thành lập doanh nghiệp

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam không có định nghĩa trực tiếp như thế nào

là TSTT, mà chỉ có định nghĩa gián tiếp thông qua đối tượng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng

Quyền tác giả

Theo Khoản 4 Điều 4 LSHTT 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, quyền tác giả là quyền nhân thân, quyền tài sản của chủ sở hữu đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình

Đặc điểm của quyền tác giả Thứ nhất, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức

sáng tạo, không bảo hộ nội dung sáng tạo Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm, tác phẩm là

sự thể hiện một tưởng dưới một hình thức nhất định Quyền tác giả được phát sinh kể

từ khi tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức nhất định Thứ hai, tác phẩm được

Đặc điểm của quyền liên quan Thứ nhất, quyền liên quan được hình thành dựa

trên việc sử dụng một tác phẩm gốc Chủ thể quyền liên quan có nghĩa vụ tôn quyền của chủ sở hữu quyền tác giả gốc Việc công nhận và bảo hộ quyền liên quan không làm ảnh hưởng đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc Thứ hai, cuộc biểu diễn, ghi

âm, ghi hình, phát thanh truyền hình phải có tính nguyên gốc, tức là do chính công sức

của người biểu diễn đầu tư sáng tạo ra

Trang 20

12

Quyền sở hữu công nghiệp 14

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với TSTT bao

gồm: sáng chế, sáng kiến, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, mạch tích hợp bán dẫn bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, phần mềm vi tính, do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên vào quá trình sản xuất - kinh doanh Đối tượng được công nhận là sáng kiến gồm giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản l , giải pháp tác nghiệp hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ15

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này, ví dụ như: kiểu dáng xe gắn máy, kiểu dáng xe ô tô, kiểu dáng bộ bàn ghế,…

Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành

phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử Thiết kế

bố trí mạch tích hợp bán dẫn là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức khác nhau Thời gian bảo vệ khác nhau, một nhãn hiệu có thể có hiệu lực vô thời hạn thông qua việc tiếp tục sử dụng thương mại hoặc quá trình đăng k và gia hạn

14

Dương Thị Thu Nga (2014), Định giá tài sản trí tuệ theo pháp luật Việt Nam,Khóa luận tốt nghiệp Luật học,

Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

15 Điều 3 Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN Hướng dẫn thi hành một số quy định của điều lệ sáng kiến được ban hành theo nghị định số 13/2012/NĐ-CP

Trang 21

vô hình quan trọng, giá trị thương hiệu của doanh nghiệp chiếm một phần đáng kể trong tổng giá trị của doanh nghiệp

Phần mềm máy tính là một tập hợp những câu lệnh hoặc chỉ thị được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định và các dữ liệu hay tài liệu liên quan nhằm tự động thực hiện một số nhiệm vụ hay chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó16

Quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đích kinh

tế, giá trị sinh lợi của các chủ sở hữu Pháp luật về sở hữu trí tuệ hướng đến bảo vệ những đối tượng vô hình đằng sau kiểu dáng hay nhãn hiệu Đó là uy tín, công sức, chi phí chủ sở hữu đã bỏ ra để tạo lập nên đối tượng sở hữu công nghiệp này

Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: Thứ nhất, quyền sở hữu

công nghiệp chỉ bảo vệ nội dung sáng tạo và uy tín kinh doanh không bảo vệ hình thức sáng tạo Thứ hai, một trong số những tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là

tính mới so với thế giới bao gồm ngày ưu tiên và quyền ưu tiên Thứ ba, chủ sở hữu

quyền sở hữu công nghiệp phải được cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Văn bằng cơ quan nước nào chỉ có giá trị trên lãnh thổ nước đó

Quyền đối với giống cây trồng

Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít

16

Lê Nết (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp HCM, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 22

14

nhất một tính trạng có khả năng di truyền được17 Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình tạo ra hoặc phát hiện

với giống cây trồng là và vật liệu thu hoạch Pháp luật bảo vệ tính ổn định, tính nhất và khả năng phân biệt với giống cây trồng khác của giống cây trồng

1.3 Vai trò của tài sản trí tuệ và những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị tài sản trí tuệ

1.3.1 Vai trò tài sản trí tuệ và vốn góp bằng tài sản trí tuệ

Thông qua hoạt động kinh doanh, chủ sở hữu TSTT không chỉ thu hồi chi phí đầu tư để tạo dựng, phát triển bảo vệ các TSTT mà còn làm cho giá trị của TSTT đó ngày càng tăng lê , tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp và nhờ vào độc quyền khai thác TSTT các doanh nghiệp có thể kiểm soát thị trường do các sản phẩm của mình tạo lập

và duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường Đặc biệt trong việc tạo lợi thế trong mắt của các nhà đầu tư hoặc tổ chức tài chính, trong các giao dịch mua bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp, TSTT là nguồn tài nguyên thúc đẩy nội lực của sự phát triển

Trong những năm 1950, dẫn đầu bởi Robert Solow, bắt đầu tập trung vào tiến

bộ công nghệ như một biến số quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Solow tin rằng, một nền kinh tế sẽ tăng trưởng nếu phần lớn tổng sản lượng được đầu tư cho TSTT hoặc có sự tăng trưởng nhanh chóng của TSTT Tiến bộ về công nghệ và tri thức là yếu

tố chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế Phát hiện của ông sau đó đã được khẳng định một lần nữa trong nghiên cứu của Edward Denison, từ năm 1929 đến 1951, 40% sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người ở Hoa Kỳ là do sự tiến bộ của kiến thức Ngày nay, những con số này có khả năng cao hơn nhờ sự đổi mới liên tục và nhanh chóng, hơn một nửa tăng trưởng kinh tế Mỹ hiện đang được tạo ra bởi các ngành công nghiệp hầu

Trang 23

15

như không tồn tại trong thập kỷ trước Đã có những thay đổi chính sách từ sáng tạo và

Giá trị của sản phẩm, dịch vụ cũng như giá trị của doanh nghiệp và của nền kinh tế được tăng lên nhờ TSTT đem lại TSTT ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế trong doanh nghiệp và quốc gia Năm 1982 khoảng 62% tài sản trong các doanh nghiệp của Hoa Kỳ là tài sản vật chất Nhưng đến năm 2000, con số này còn 30%, và giảm liên tục qua từng năm Doanh nghiệp Microsoft thị trường ước tính khoảng 751,88 tỷ USD trong đó có 550 tỷ là TSTT của doanh nghiệp bao gồm những bằng độc quyền sáng chế, các bí quyết kỹ thuật, bản quyền… TSTT hiện là một tài sản

vô cùng quan trọng của doanh nghiệp, góp phần tăng lợi nhuận cho các nhà đầu tư Theo một cuộc nghiên cứu của Interbrand năm 2002 cho thấy TSTT chiếm ⅓ giá trị cổ phiếu, có những trường hợp đặc biệt cao như McDonald 71%, Disney 68%, Coca Cola

trị của một doanh nghiệp không được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào trên bảng cân đối kế toán Đó là giá trị của tài sản vô hình với phần quan trọng nhất là TSTT Giá trị gia tăng từ các ngành công nghiệp văn hóa (văn học, âm nhạc, nghệ thuật, ) lĩnh vực xuất bản sách Bản quyền và quyền liên quan của tác giả, nghệ sĩ biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, đài truyền hình,… có giá trị tăng lên không nhỏ Song hành với chiều hướng gia tăng của TSTT của thế giới, Việt Nam đã nỗ lực không ngừng đầu tư cho loại tài sản này Năm 2017 giá trị thương hiệu của một số doanh nghiệp tại Việt Nam

thấy con số này sẽ tăng liên tục trong những năm tới

Trang 24

16

TSTT là biểu hiện của phát triển bền vững của các doanh nghiệp cũng như các quốc gia Trong khi các tài nguyên thiên nhiên và các tài sản hữu hình khác sẽ bị cạn kiệt dần trong quá trình sử dụng, TSTT cho thấy khả năng sáng tạo và phát triển TSTT trở thành chìa khóa nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường ngày càng khốc liệt Sức mạnh độc quyền là cần thiết để thúc đẩy các doanh nghiệp liên tục đổi mới Vốn góp bằng TSTT tạo nên sự khác biệt cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh, tạo nên uy tín doanh nghiệp và niềm tin của khách hàng

1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của tài sản trí tuệ

Giá cả của TSTT là số tiền được yêu cầu hoặc được trả cho một TSTT được xác định theo những căn cứ khác với giá trị hoặc có thể được mua bán, trao đổi theo các mức giá không phản ánh giá trị TSTT như: giá trị tài sản đang sử dụng, giá trị đầu

tư, giá trị bảo hiểm, chí người mua, giá trị đặc biệt, giá trị thanh l , giá trị tài sản chuyên dùng, giá trị tài sản có thị trường hạn chế, giá trị tài sản độc quyền, Chi phí của TSTT là số tiền cần thiết để tạo ra một TSTT bao gồm: Chi phí nguyên liệu, vật liệu; chi phí nhân lực; chi phí máy móc, thiết bị, nhà xưởng,… chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc tạo ra sản phẩm như đăng k quyền pháp l , khấu hao bằng sáng chế, giấy phép để tạo ra tài sản đó; chi phí dịch vụ; chi phí bảo hiểm, Giá trị TSTT là giá trị của lợi ích kinh tế trong tương lai của TSTT được xác định vào thời điểm hiện tại được biểu hiện dưới hình thức giá cả Giá trị của tài sản nói chung được tạo lập và duy trì bởi mối quan hệ của các yếu tố: Tính hữu ích, tính khan hiếm, nhu cầu và khả năng chuyển giao22

Tính hữu ích: Là khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng tài sản đó Tính hữu ích là một thuộc tính cơ bản tạo nên giá trị của TSTT Nếu một TSTT không tồn tại tính hữu ích tài sản đó không thể coi là có giá trị Tuy nhiên, tính hữu ích chỉ là một trong các yếu tố ảnh hưởng tới giá trị của tài sản, nó không thể chi phối toàn bộ giá trị của tài sản

22 Tạ Thị Thanh Thủy (2012), Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ theo pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội

Trang 25

Nhu cầu: Là yếu tố cầu TSTT trên thị trường Khi các yếu tố khác không đổi

mà nhu cầu càng cao tất nhiên giá cả của tài sản cũng sẽ được nâng cao và ngược lại giá cả của TSTT đó sẽ bị giảm xuống thấp Ngoài ra nhu cầu còn thể hiện khả năng kinh tế của khách hàng chi trả cho TSTT này

Khả năng chuyển giao: Thể hiện tính chuyển giao sở hữu quyền kiểm soát TSTT từ chủ thể này sang chủ thể khác Đây là đặc tính quan trọng ảnh hưởng tới giá trị của TSTT, nếu không có khả năng chuyển giao thì không thể coi là tài sản Việc chuyển giao TSTT giữa các chủ thể thường được thực hiện thông qua các hợp đồng

Đây là bốn yếu tố chi phối đến giá trị của TSTT, cũng là những yếu tố tạo nên giá trị của TSTT Nếu không có một trong bốn yếu tố thì TSTT không có giá trị và giá

cả thị trường, từ đó không thể xác định giá trị của TSTT và quy đổi thành tiền mặt để tiến hành góp vốn thành lập doanh nghiệp Với tiềm năng phát triển và giá trị to lớn của vốn góp thành lập doanh bằng TSTT Để nguồn lực này có thể phát triển ổn định

và bền vững, chúng ta cần một hệ thống pháp luật đầy đủ và hoàn thiện, để giúp các cá nhân, doanh nghiệp tích cực, chủ động tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng TSTT và hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra cho thị trường, thành viên góp vốn

và doanh nghiệp nhận góp vốn

Trang 26

18

Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG TÀI SẢN TRÍ TUỆ

2.1 Chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

2.1.1 Chủ thể có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

Chủ sở hữu các đối tượng TSTT là tổ chức, cá nhân có các đối tượng TSTT được bảo hộ theo quy định của pháp luật, được phép sử dụng TSTT góp vốn thành lập

theo cơ chế bảo hộ tự động; chủ sở hữu các đối tượng TSTT được xác lập quyền theo thủ tục đăng k bảo hộ; các tổ chức, cá nhân nhận thừa kế, được tặng cho quyền sở hữu TSTT Chủ thể nhận chuyển nhượng TSTT là người được chủ sở hữu TSTT chuyển giao đối tượng sở hữu trí tuệ thuộc phạm vi được bảo hộ của mình Việc chuyển nhượng TSTT phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản

Tuy nhiên, pháp luật quy định không phải tất cả các cá nhân, tổ chức, pháp nhân

là chủ sở hữu TSTT đã nêu trên đều có quyền góp vốn bằng TSTT Theo LDN 2014, các đối tượng bị hạn chế góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng TSTT bao gồm: Công chức bị hạn chế việc góp vốn thành lập doanh nghiệp vào những ngành nghề mà người

đó, vợ hoặc chồng người đó trực tiếp thực hiện việc quản l Nhà nước, công chức không có quyền thành lập và quyền quản l doanh nghiệp Công chức chỉ có thể được góp vốn vào công ty cổ phần với tư cách là cổ đông và không được tham gia HĐQT, được góp vốn vào doanh nghiệp hợp danh với tư cách là thành viên góp vốn Các đối tượng theo quy định của LDN 2014 không có quyền tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng TSTT Các chủ sở hữu TSTT là tổ chức, cá nhân không có quyền thành lập và quản l doanh nghiệp tại Việt Nam là những đối tượng không có quyền góp vốn

Trang 27

19

Chủ thể có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng TSTT, phải là chủ sở hữu TSTT được dùng để góp vốn tại thời điểm góp vốn Bên cạnh đó, việc góp vốn và nhận góp vốn phải được thực hiện trong thời hạn TSTT được bảo hộ, phải k kết hợp đồng chuyển giao TSTT và đăng k tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ngoài ra doanh nghiệp nhận góp vốn phải là chủ thể có quyền nhận góp vốn bằng TSTT Theo Điều 6 LSHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009, chủ sở hữu TSTT có quyền góp vốn sau khi tài sản đó phát sinh và xác lập quyền sở hữu, bao gồm bốn nhóm:

Thứ nhất, quyền tác giả phát sinh từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể

hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng k hay chưa đăng

k Có thể thấy, yêu cầu đối với việc xác lập quyền sở hữu của quyền tác giả là đơn giản nhất, không cần phải thông qua các thủ tục đăng k bảo hộ sở hữu trí tuệ

Thứ hai, quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi

hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả

Thứ ba, quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau: quyền sở hữu công

nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng k hoặc công nhận đăng k quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế

mà Việt Nam là thành viên Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh

Thứ tư, quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở Bằng bảo hộ

giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Theo đó, khi quyền đối với giống cây trồng được quy đổi giá trị để góp vốn và doanh nghiệp có thể sử dụng giống cây trồng này để khai thác, sử dụng cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh

Như vậy, chủ thể được tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng TSTT là chủ sở hữu của TSTT được phép góp vốn, chủ thể đó có quyền tham gia góp vốn và

Trang 28

20

không phải là các đối tượng bị cấm góp vốn, góp cổ phần theo quy định Chủ thể nhận

góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng TSTT có thể là một trong các loại hình doanh

nghiệp theo quy định của LDN 2014

2.1.2 Quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp và đảm bảo của Nhà nước đối với việc thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

Theo Hiến pháp 2013, mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những

có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp Quyền tự do kinh doanh được xếp vào các quyền cơ bản của công dân Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định quyền công

cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng Điều này một lần nữa được LDN 2014 khẳng định: Tổ chức,

cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản l doanh nghiệp tại Việt Nam

Quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp là nội dung cơ bản cũng như nội dung quan trọng nhất trong các quyền tự do kinh doanh Đây là cơ sở để các cá nhân, pháp nhân được Nhà nước công nhận là chủ thể kinh doanh hợp pháp và là tiền đề để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định tại khoản 1 Điều 18 LDN 2014 Vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư là môi trường kinh doanh hấp dẫn ổn định, khả năng sinh lời, đặc biệt là chính sách, chủ trương của Nhà nước và pháp luật đảm bảo vệ lâu dài hoạt động đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư

Về căn cứ xác lập: Xác lập quyền sở hữu đối với TSTT chia thành hai nhóm

Nhóm quyền phát sinh một cách tự nhiên: Quyền được tự động phát sinh cùng với sự

ra đời của TSTT, mà không cần phải thực hiện thủ tục đăng k xác lập quyền tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các TSTT mà quyền sở hữu được phát sinh một cách tự nhiên bao gồm: các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, cuộc biểu diễn, bản ghi

âm, ghi hình; chương trình phát sóng; tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá,

bí mật kinh doanh Nhóm quyền phát sinh trên cơ sở đăng k : Là quyền chỉ được xác

25 Điều 33 Hiến pháp 2013

Trang 29

21

lập khi thực hiện đăng k với cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật Các TSTT được xác lập trên cơ sở đăng k bao gồm: sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và giống cây trồng

Về các hình thức sở hữu: TSTT có thể thuộc sở hữu của Nhà nước, tập thể hoặc

cá nhân TSTT thuộc sở hữu Nhà nước: TSTT được tạo ra trên cơ sở sử dụng kinh phí, phương tiện, cơ sở vật chất và kỹ thuật của Nhà nước và các TSTT mà Nhà nước có được từ hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sở hữu, nhận góp vốn, TSTT thuộc sở hữu của tập thể: bao gồm TSTT được tạo ra trên cơ sở sử dụng kinh phí, phương tiện,

cơ sở vật chất và kỹ thuật của tập thể TSTT thuộc sở hữu của cá nhân: Bao gồm các TSTT được tạo ra trên cơ sở sử dụng kinh phí, phương tiện, cơ sở vật chất và kỹ thuật của cá nhân và TSTT cá nhân có được trên cơ sở nhận chuyển nhượng quyền sở hữu theo hợp đồng, được thừa kế,… Theo đó chủ sở hữu TSTT có quyền góp vốn bằng TSTT thuộc sở hữu cá nhân, thuộc sở hữu tập thể trong trường hợp có được sự thỏa thuận của các chủ sở hữu chung TSTT thuộc sở hữu Nhà nước chỉ được góp vốn khi

có quyết định của cơ quan đã tạo lập hoặc sở hữu TSTT đó

Quyền của thành viên góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ vào công ty trách nhiệm hữu hạn

Thứ nhất, tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết

các vấn đề thuộc thẩm quyền của bỏ phiếu biểu quyết đối với những quyết định quan trọng của công ty và có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp thành lập doanh nghiệp Đây là một trong những quyền quan trọng nhất của nhóm quyền quản trị, thể hiện vai trò của chủ sở hữu

Thứ hai, thành viên góp vốn bằng TSTT được chia lợi nhuận tương ứng với

phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Đồng thời thành viên góp vốn được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản theo đúng thứ tự ưu tiên

Thứ ba, khi công ty có quyết định tăng vốn góp, thành viên góp vốn được ưu

tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ Các thành viên được định

Trang 30

22

đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ, tặng cho và cách khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty

Thứ tư, thành viên góp vốn cơ thể tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện

trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và cán bộ quản lý công ty

Thứ năm, thành viên, nhóm thành viên sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên

hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định còn có thêm các quyền sau đây: Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền; Kiểm tra, xem xét, tra cứu sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm; Kiểm tra, xem xét, tra cứu và sao chụp sổ đăng k thành viên, biên bản họp và nghị quyết của Hội đồng thành viên và các hồ sơ khác của công ty; Yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết của Hội đồng thành

Quyền của cổ đông góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ

Quyền cổ đông phổ thông Theo quy định của LDN 2014, cổ đông phổ thông

sử dụng quyền của mình trong quá trình đầu tư kinh doanh, đồng hành cùng công ty Song, có thể khái quát quyền cổ đông thành bốn nhóm quyền cơ bản sau: nhóm quyền

về quản trị công ty, nhóm quyền về tài sản, nhóm quyền kiểm soát và thông tin và

nhóm một số quyền chủ yếu khác của cổ đông

Nhóm quyền quản trị công ty

Với tư cách là chủ sở hữu công ty cổ phần, các cổ đông có quyền tham gia vào hoạt động quản lý của công ty cổ phần để giám sát và bảo vệ quyền lợi của mình, thể hiện qua nhóm quyền quản trị công ty Đây là nhóm quyền quan trọng của cổ đông, thể

hiện quyền chủ sở hữu công ty Theo LDN 2014, cổ đông các quyền hạn như sau:

Thứ nhất tham dự, phát biểu và biểu quyết trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông

LDN 2014 quy định, cổ đông phổ thông có quyền tham dự, phát biểu và biểu

Trang 31

23

nguyện vọng của mình, thực hiện được các quyền cơ bản khác, chi phối tới các vấn đề quản trị, điều hành công ty như: quyền biểu quyết, quyền bầu các chức danh quản lý, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, Đi kèm với quyền tham dự và phát biểu là quyền biểu quyết Cổ đông phổ thông có quyền biểu quyết những quyết định quan trọng tại cuộc họp ĐHĐCĐ theo quy định pháp luật và điều lệ công ty Thông thường, nội dung biểu quyết thường liên quan đến các vấn đề như: sửa đổi điều lệ công ty, thông qua và bổ sung chiến lược của công ty, phát hành thêm cổ phần, bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT và Ban kiểm soát, tổ chức lại hoặc giải thể công

ty Thông qua đó, cổ đông có thể chi phối các vấn đề quản trị và điều hành công ty

Thứ hai, quyền đề cử người vào hội đồng quản trị và ban kiểm soát Cổ đông

là chủ sở hữu nên họ có toàn quyền quyết định lựa chọn những người thay mình quản

l , điều hành cũng như giám sát mọi hoạt động công ty Thông qua quyền này, cổ đông

đề cử những người mình tin tưởng, có uy tín, năng lực, trình độ chuyên môn và có thể

góp phần vào sự phát triển của công ty

Thứ ba, quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông Đây cũng là một

trong những quyền rất quan trọng, theo khoản 3 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm

2014 để cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên

trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều

lệ công ty, bảo vệ quyền lợi của mình khi: HĐQT vi phạm nghiêm trọng quyền cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền; nhiệm kỳ của HĐQT đã vượt quá sáu tháng mà HĐQT mới chưa được bầu thay thế; xảy ra các

trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty

Thứ tư, quyền yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến hoạt động quản lý, điều hành công ty Thông qua quyền này, cổ đông có quyền yêu cầu

Ban kiểm soát kiểm tra các vấn đề cụ thể liên quan đến quản l điều hành công ty, khi xét thấy cần thiết Theo đó, Ban kiểm soát tiến hành kiểm tra theo yêu cầu của cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 LDN 2014 có trách nhiệm báo cáo kết

26 Điểm a Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Trang 32

cổ đông trong công ty cổ phần bao gồm:

Thứ nhất, quyền nhận cổ tức với mức theo quyết định của ĐHĐCĐ Thông

thường, khi một cá nhân hay tổ chức quyết định đầu tư vào công ty cổ phần các cổ đông đều có một mối quan tâm chung, đó là muốn được chia lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty, tức là mong muốn nhận cổ tức hằng năm Bởi lẽ, theo quy định khoản 2 Điều 132 LDN 2014, cổ đông phổ thông được nhận cổ tức khi: Công ty

đã trích lập các quỹ và bù đắp lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; công ty kinh doanh có lãi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định pháp luật; ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn Bên cạnh đó, tại ĐHĐCĐ, các cổ đông có quyền biểu quyết sẽ quyết định mức trả cổ tức, hình thức trả

cổ tức thông qua nghị quyết trên cơ sở kiến nghị của HĐQT Về việc trả cổ tức, các cổ đông có thể được trả cổ tức bằng tiền mặt hoặc bằng chính cổ phần của công ty hoặc tài sản khác theo quy định tại Điều lệ công ty

Thứ hai, quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ

phần của từng cổ đông trong công ty Khi công ty cổ phần muốn tăng vốn, cổ đông có quyền ưu tiên mua thêm cổ phần Theo quy định LDN 2014, cổ đông được ưu tiên mua

cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong

Điểm c Khoản 2 Điều 124 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Song, mục đích của quyền

ưu tiên mua cổ phần là để nhằm đảm bảo cho tất cả cổ đông sở hữu cùng loại cổ phần được đối xử như nhau, giúp cổ đông duy trì tỷ lệ sở hữu hiện có trong công ty, tạo

27 Điểm c Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 33

25

thêm cơ hội cho các cổ đông có thể trực tiếp mua cổ phần mới của công ty với giá thấp, công ty thì có thể tăng vốn đầu tư, nhất là những công ty niêm yết

Thứ ba, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần cho người khác Một trong những

đặc điểm nổi bật của cổ đông phổ thông là tính tự do chuyển nhượng cổ phần Thông qua đặc tính này, các cổ đông có quyền được tự do chuyển nhượng cổ phần mà mình

sở hữu cho người khác bằng nhiều cách thức như chuyển nhượng cho người khác hoặc bán lại cho chính công ty Tuy nhiên, quyền chuyển nhượng cổ phần có một số hạn chế: một là, cổ phần của cổ đông ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cho người khác; hai là, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cho người không phải cổ đông sáng lập trong thời hạn ba năm; ba là, điều lệ

Thứ tư, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần Đây được xem là một trong

những quyền tài sản quan trọng, thường được cổ đông có quyền biểu quyết sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình Thông qua quyền này, cổ đông có quyền yêu cầu công ty

mua lại cổ phần khi không đồng ý với một số quyết định của công ty

Thứ năm, quyền được nhận lại một phần tài sản của công ty tương ứng với số

cổ phần góp vốn vào công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản Sau khi công ty đã thanh toán đầy đủ cho các chủ nợ và số cổ đông sở hữu các loại cổ phần khác theo quy định pháp luật Theo quy định LDN 2014, khi thanh lý tài sản công ty, tiền thu được từ việc thanh lý sẽ dùng để thanh toán các nghĩa vụ như: tiền công, tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội cho người lao động và nợ thuế và các chi phí thanh toán giải thể hoặc phá sản29 Kế đến, phần giá trị tài sản còn lại sẽ được thanh toán cho các chủ

nợ và cuối cùng thanh toán cho các cổ đông

Nhóm quyền kiểm soát và thông tin

Nhóm quyền thông tin và kiểm soát tạo điều kiện để cổ đông có thể bảo vệ tốt nhất các quyền lợi khác của mình Việc nắm bắt được những thông tin về công giúp cổ

28 Khoản 3 Điều 126, Khoản 3 Điều 119 và Khoản 1 Điều 126 Luật Doanh nghiệp năm 2014

29 Khoản 5 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều 54 Luật Phá sản năm 2014

Trang 34

26

đông có cơ hội liên lạc với những cổ đông khác và kết hợp quyền biểu quyết cho các vấn đề cần có hành động của nhóm cổ đông Qua đó có thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất Nhóm quyền về thông tin và kiểm soát bao gồm các quyền sau: Một

là, quyền được xem xét tra cứu và trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; hai là, quyền được xem xét hoặc tra cứu, trích lục số biên bản họp ĐHĐCĐ và các nghị quyết của ĐHĐCĐ; ba là, quyền được xem xét trích lục số biên bản vả các nghị quyết của HĐQT, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt

điều kiện cần để cổ đông có thể thực hiện tốt các nhóm quyền khác nói chung và các quyền khác nói riêng

Quyền cổ đông ưu đãi Trước tiên, về quyền của cổ đông ưu đãi biểu quyết

Theo quy định LDN 2014, thì cổ đông này có các đầy đủ quyền như cổ đông phổ thông, ngoại trừ quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Bên cạnh đó,

về quyền biểu quyết việc ưu đãi biểu quyết cho cổ đông ưu đãi biểu quyết là cơ hội để giúp cho cổ đông này có thể nâng cao vai trò của mình trong việc quản l , điều hành công ty, đặc biệt họ có khả năng chi phối tới các quyết định quan trọng ĐHĐCĐ và có tiếng nói của họ trong công ty có trọng lượng hơn cổ đông phổ thông, điều này thể hiện qua việc bỏ phiếu biểu quyết Cổ đông ưu đãi biểu quyết có số phiếu nhiều hơn so với

cổ đông phổ thông LDN 2014, chỉ hạn chế về chủ thể có quyền nắm giữ loại cổ phần này31 Cụ thể, cổ phần của cổ đông ưu đãi biểu quyết chỉ có hai chủ thể được quyền

nắm giữ là tổ chức được chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập

Cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi cổ tức có lợi thế hơn trong việc nhận cổ tức, thể hiện qua việc cổ đông này nhận cổ tức dựa trên các điều kiện và quy định cụ thể về quyền nhận cổ tức ghi trên cổ phiếu Theo Điều 117 LDN 2014, cổ phần ưu được trả

cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức được chia hằng năm bao gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết qủa kinh doanh của công ty Mức cổ tức cố định

30 Điều 144 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

31 Khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 35

27

cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng ghi trên cổ phiếu32

Cổ đông ưu đãi hoàn lại là cổ đông có quyền yêu cầu công ty hoàn lại vốn góp bất kỳ lúc nào Theo Điều 118 LDN năm 2014, cổ phần ưu đãi hoàn lại được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại Tuy nhiên, cổ đông ưu đãi hoàn lại cũng có một điểm bất lợi là không được quyền tham dự, phát biểu và biểu quyết tại ĐHĐCĐ và quyền đề cử người vào HĐQT và Ban kiểm soát

Bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp

Văn kiện Đại hội XI của Đảng, phần về chiến lược phát triển kinh tế xã hội

2011 – 2020 đã khẳng định: Hình thành hệ thống đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ Thực hiện nghiêm túc các quy định về quyền sở hữu trí tuệ, tập trung phát triển và khai thác TSTT Mở rộng và nâng cao hệ thống tiêu chuẩn, quy

triển chung của đất nước, của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nghiên cứu hiện nay Xuất phát từ nhu cầu thực tế và sự thừa nhận của các cơ quan có thẩm quyền, đây là cơ sở quan trọng để xây dựng và ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh đầy đủ và toàn diện việc góp vốn thành lập doanh nghiệp Đây là minh chứng cho sự bảo đảm của Nhà nước trong hoạt động góp vốn kinh doanh bằng TSTT tại Việt Nam bên cạnh các quy

định của LSHTT, LDN, Luật chuyển giao công nghệ và các văn bản khác

Thứ nhất, Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình

doanh nghiệp; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh Theo đó, các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài được đảm bảo đầu tư hoạt động đầu tư tại Việt Nam Quy định này cho thấy Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp và sự bình đẳng trước pháp luật của các thành phần kinh tế

32

Khoản 1 Điều 117 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

33

Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Khóa XI (2011), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 36

28

Thứ hai, Nhà nước công nhận và bảo hộ TSTT, vốn đầu tư, thu nhập, các

quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tiến hành khai thác, sử dụng TSTT trong các hoạt động thương mại nhằm thu lại lợi nhuận hợp pháp thì được Nhà nước bảo hộ

Thứ ba, tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh

nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính Tuy nhiên trong một số trường hợp thật cần thiết TSTT sẽ bị quốc hữu hóa, bị tịch thu bằng

biệt của nền kinh tế thị trường và cơ chế bao cấp, tập trung Nếu như trước đây mọi tài sản đều bị quốc hữu hóa, thì trong nền kinh tế thị trường, chỉ trong những trường hợp thật cấp thiết, TSTT là vốn góp của doanh nghiệp mới bị quốc hữu hóa, tịch thu, trưng thu, trưng mua Qua đó cho thấy sự ổn định của an ninh xã hội, bảo vệ thành quả lao động, khả năng tích lũy của toàn xã hội

Có thể thấy rằng Nhà nước bảo đảm để chủ sở hữu TSTT có đầy đủ các quyền

để đầu tư góp vốn bằng TSTT thành lập doanh nghiệp Với sự đảm bảo của Nhà nước

về hoạt động góp vốn và vốn góp bằng TSTT Các nhà đầu tư có thể thành lập công ty

và tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh

Việc góp đúng, đủ số vốn không chỉ là quyền lợi và trách nhiệm của thành viên góp vốn Mà còn là quyền lợi của các thành viên đồng góp vốn, doanh nghiệp nhận góp vốn và bên thứ ba có liên quan Một trong những nghĩa vụ cơ bản của thành viên, cổ đông sáng lập là nghĩa vụ góp vốn Các phần vốn góp của các thành viên đều trở thành tài sản của doanh nghiệp do chính họ tạo dựng nên Việc góp vốn bằng TSTT thực hiện bằng cách chuyển giao tài sản cho doanh nghiệp Thành viên góp vốn phải đảm bảo đối với doanh nghiệp tương tự như người bán bảo đảm đối với người mua Nghĩa là việc góp vốn bằng TSTT giống như việc bán quyền sử dụng tài sản cho doanh nghiệp để đổi lấy quyền lợi từ doanh nghiệp

34

Điều 5 Luật Doanh nghiệp 2014

Ngày đăng: 04/05/2021, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương (2010), Công văn 81-KL/TW ngày 06.08.2010 Kết luận của Bộ Chính Trị Về tập đoàn Công nghiệp Tàu Thuỷ Việt Nam. Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Ket-luan-81-KL-TW-2010-Tap-doan-Cong-nghiep-tau-thuy-Viet-Nam-339651.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2010 Kết luận của Bộ Chính Trị Về tập đoàn Công nghiệp Tàu Thuỷ Việt Nam
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2010
2. Bộ Tài Chính (2001), Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31.12.2001 Về việc ban hành và công bố bốn (04) Chuẩn mực số 04 tài sản cố định vô hình. Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Ke-toan-Kiem-toan/Quyet-dinh-149-2001-QD-BTC-bon-04-chuan-muc-ke-toan-Viet-Nam-dot-1-Hang-ton-khoTai-san-co-dinh-huu-hinh-vo-hinh-Doanh-thu-nhap-khac-48964.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc ban hành và công bố bốn (04) Chuẩn mực số 04 tài sản cố định vô hình
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2001
3. Bộ Tài Chính (2013), Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25.4.2013 Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Thong-tu-45-2013-TT-BTC-Che-do-quan-ly-su-dung-va-trich-khau-hao-tai-san-co-dinh-183508.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2013 Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2013
4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2013) Thông tư 18/2013/TT-BKHCN ngày 01.08.2013 Hướng dẫn thi hành một số quy định của điều lệ sáng kiến được ban hành theo nghị định số 13/2012/NĐ-CP. Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Thong-tu-18-2013-TT-BKHCN-huong-dan-thi-hanh-Dieu-le-Sang-kien-205489.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thi hành một số quy định của điều lệ sáng kiến được ban hành theo nghị định số 13/2012/NĐ-CP
5. Bộ Tài Chính (2015), Thông tư Ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá việt nam số 05, và 07 ngày 06.03.2015 Tiêu chuẩn 05 - Quy trình định giá tài sản. Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-chinh-nha-nuoc/Thong-tu-28-2015-TT-BTC-Tieu-chuan-tham-dinh-gia-Viet-Nam-so-05-06-07-269168.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn 05 - Quy trình định giá tài sản
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2015
6. Bộ Tài Chính (2006), Công văn 3539/TCT-PCCS ngày 20.09.2006 Sử dụng giá trị thương hiệu bổ sung vốn chủ sở hữu. Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/cong-van/Thuong-mai/Cong-van-3539-TCT-PCCS-su-dung-gia-tri-thuong-hieu-bo-sung-von-chu-so-huu-14325.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng giá trị thương hiệu bổ sung vốn chủ sở hữu. Nguồn
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2006
7. Bộ Khoa học và Công nghệ (2014), Thông tư 16/2014/TT-BKHCN ngày 13.06.2014 Quy định về điều kiện thành lập, hoạt động của tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ. Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Thong-tu-16-2014-TT-BKHCN-dieu-kien-thanh-lap-hoat-dong-to-chuc-trung-gian-thi-truong-khoa-hoc-cong-nghe-239555.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về điều kiện thành lập, hoạt động của tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2014
9. Bộ Tài Chính (2014), Thông tư 06/2014/TT-BTC ngày 07.01.2014 Ban hành Tiêu chuẩn Thẩm định giá số 13 - Thẩm định giá tài sản vô hình. Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Thong-tu-06-2014-TT-BTC-Tieu-chuan-tham-dinh-gia-13-219810.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn Thẩm định giá số 13 - Thẩm định giá tài sản vô hình
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2014
12. Quốc hội (2009), Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2009
15. Thủ tướng Chính Phủ (2010), Quyết định 2108/QĐ-TTg ngày 18.11.2010 về việc phê duyệt đề án tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp Tàu Thuỷ Việt Nam. Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Quyet-dinh-2108-QD-TTg-phe-duyet-De-an-tai-co-cau-Tap-doan-Cong-nghiep-tau-thuy-114671.aspx*Tài liệu sách, tạp chí, khóa luận, Luận văn, báo cáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc phê duyệt đề án tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp Tàu Thuỷ Việt Nam
Tác giả: Thủ tướng Chính Phủ
Năm: 2010
16. Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Khóa XI (2011), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Khóa XI
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
20. Hoàng Lan Phương (2012), Khắc phục những bất cập của Pháp luật Việt Nam về định giá tài sản trí tuệ , Tạp chí Chính sách và Quản lý Khoa học và Công nghệ (tập 1 số 2, 2012), tr. 62-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Chính sách và Quản lý Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Hoàng Lan Phương
Năm: 2012
21. Hạnh My (13/05/2011), Góp vốn bằng thương hiệu: Doanh nghiệp "bơi" cách nào cũng đúng. Nguồn: http://www.bvsc.com.vn/News/2011512/173650/gop-von-bang-thuong-hieu-dn-boi-cach-nao-cung-dung.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: bơi
22. Hồ Thúy Ngọc ( 2015), Đánh giá hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế ở Việt Nam , Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế (số 449- tháng 10/2015), tr. 28-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế (
23. Lê Nết (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. HCM, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Lê Nết
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. HCM
Năm: 2006
24. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Doanh nghiệp, vốn, quản lý tranh chấp theo luật Doanh nghiệp 2005, Nhà xuất bản Tri Thức, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp, vốn, quản lý tranh chấp theo luật Doanh nghiệp 2005
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung
Nhà XB: Nhà xuất bản Tri Thức
Năm: 2009
25. Nguyễn Hữu Cẩn (2009), Thực trạng pháp luật hiện hành của Việt Nam về tài sản trí tuệ và định giá tài sản trí tuệ, Đề tài nghiên cứu khoa Học viện Khoa Học Trí Tuệ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng pháp luật hiện hành của Việt Nam về tài sản trí tuệ và định giá tài sản trí tuệ
Tác giả: Nguyễn Hữu Cẩn
Năm: 2009
26. Nguyễn Hữu Cẩn (2018), Đóng góp của tài sản trí tuệ đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp , Tạp chí Diễn đàn Khoa học - Công nghệ (số 7 năm 2018), tr. 20-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Diễn đàn Khoa học - Công nghệ
Tác giả: Nguyễn Hữu Cẩn
Năm: 2018
18. Đoàn Thu Hồng (2012), Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, Luận văn Th.s. Nguồn:http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/7131/1/00050001964.pdf Link
31. Tổ chức Sở hữu thế giới, Trung tâm thương mại Quốc tế (2004), Những điều chưa biết về sở hữu trí tuệ thế giới. Nguồn:https://www.wipo.int/export/sites/www/sme/en/documents/guides/translation/secrets_of_ip_vi.pdf Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w