1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

1 số câu hỏi Triết học Mác LêNin

25 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 52,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương môn Triết học Mác Lê Nin full tự luận.............................................................................................................................................................................................................................................................

Trang 1

Câu 1: Nhận thức cảm tính là gì? Nhận thức lý tính là gì? Tại sao nhận thức phải đi từ cảm tính đến lý tính?

*Nhận thức cảm tính: Là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, gắn liền với thực tiễn Ở giai đoạn này, nhận thức của con người phản ánh trực tiếp khách thể thông qua các giác quan, được biểu hiện dưới 3 hình thức:

_ Cảm giác: là hình thức đầu tiên, giản đơn nhất của quá trình nhận thức ở giai đoạn cảm tính, được nảy sinh do sự tác động trực tiếp của các khách thể lên các giác quan của con người, đưa lạicho con người những thông tin trực tiếp, giản đơn nhất về thuộc tính riêng lẻ của sự vật Cảm giác chính là hình ảnh chủ quan của thể giới quan

Ví dụ: Khi chạm tay vào vật nóng, bàn tay có cảm giác nóng và có phản ứng co lại

_ Tri giác: là một hình thức nhận thức của giai đoạn trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) Tri giác là kết quả của sự tác động trực tiếp của sự vật đồng thời lên nhiều cảm giác của con người Do đó, có thể nói “Tri giác là tổng hợp của nhiều cảm giác” Chính vì vậy, tri giác cho ta hình ảnh về sự trọn vẹn hơn cảm giác

Ví dụ: Khi cầm quả bóng đá, thông qua các giác quan biết được quả bóng có hình cầu, làm bằng

da, có 2 màu đen và trắng

_ Biểu tượng: là hình thức cao nhất và phức tạp nhất của nhận thức cảm tính Khác với cảm giác

và tri giác, biểu tượng là hình ảnh sự vật được tái hiện trong óc nhờ trí nhớ, khi sự vật không trựctiếp tác động vào giác quan của con người Biểu tượng là khâu trung gian để chuyển từ nhận thứccảm tính lên nhận thức lý tính

Ví dụ: Khi nhắc đến xe đạp, ngay lập tức người ta hình dung ra phương tiện có 2 bánh bằng cao

su, có bàn đạp và tay lái, ghi đông

*Nhận thức lý tính: (hay còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy lý._ Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh khái quát, gián tiếp một, hoặc một số thuộc tính chung có bản chất nào đó của một nhóm sự vật, hiện tượng được biểu thị bằng

1 từ hay cụm từ

Ví dụ: Thời điểm chưa có Nhà Nước, mọi vấn đề xã hội đều được điều chỉnh bằng quy phạm đạođức hay bằng cảm tính Tuy nhiên khi có Nhà Nước ra đời, đã ban hành các điều lệ, mệnh lệnh buộc dân phải tuân thủ Trải qua nhiều giai đoạn phát triển thành Pháp Luật: “Pháp luật là hệ thống quy tăc xử sự chung do NN ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mong muốn, ý chí của con người”

_ Phán đoán: Là hình thức liên hệ các khái niệm, phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới trong ý thức con người, phán đoán là một hình thức của tư duy trừu tượng, bằng cách liên kết các khái niệm lại để khẳng định hay phủ định một thuộc tính hay một mối liên

hệ nào đó của sự vật

Trang 2

Ví dụ: “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng” là một phán đoán vì có sự liên kết khái niệm

“dân tộc Việt Nam” với khái niệm “anh hùng”

_ Suy lý (suy luận và chứng minh): là những hình thức của tư duy trừu tượng, trong đó các phán đoán đã liên kết với nhau theo quy tắc: phán đoán cuối cùng (kết luận) được suy ra từ những phán đoán đã biết làm tiền đề

Ví dụ: Nếu liên kết phán đoán “đồng dẫn điện” với “đồng là kim loại” thì ra được 1 phán đoán khác “ kim loại đều dẫn được điện”

_ Do sự thống nhất giữa các trực quan sinh động, tư duy trừu tượng và thực tiễn:

+ Thực tiễn vừa là cơ sở, vừa là khâu kết thúc và đồng thời có vai trò kiểm tra tính chân thực các kết quả nhận thức

+ Quá trình nhận thức thông qua các vòng khâu nhận thức để ngày càng tiến sâu hơn vào bản chất của các sự vật, hiện tượng Kết thúc vòng khâu này cũng đồng thời là sự bắt đầu của một vòng khâu mới của sự nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn

+ Mỗi nấc thang mà con người đạt được trong quá trình nhận thức, đều là kết quả của cả nhận thức cá nhân và cả nhận thức lý tính, được thực hiện trên cơ sở của hoạt động thực tiễn

 Nhận thức lý tính không thể thực hiện được nếu thiếu tài liệu, thông tin do nhận thức cảmtính đem lại, nhận thức lý tính làm cho nhận thức cảm tính trở nên sâu sắc và chính xác hơn

Câu 2: Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Vận dụng lý thuyết về mối quan

hệ biện chứng giữa lực lượng lao động và quan hệ sản xuất, hãy phân tích tính tất yếu của quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội?

*Lực lượng sản xuất: là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất

và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội

+ Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội Người lao động là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất của xã hội

Trang 3

+ Tư liệu sản xuất: là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm tư liệu lao động

và đối tượng lao động

*Quan hệ sản xuất: Là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý- trao đổi hoạt động, quan hệ về phân phối sản phẩm lao động.Trong 3 quan hệ trên, tư liệu sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định 2 mối quan hệ còn lại, đồng thời tác động trở lại bằng cách thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển

*Phân tích:

Trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào cũng có phương thức sản xuất giữ vị trí chi phối Ngoài

ra, còn có phương thức sản xuất tàn dư của xã hội trước để lại và phương thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai Các phương thức sản xuất này ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phương thức sản xuất thống trị Mặt khác, trong thời kỳ quá độ chưa có thành phần kinh tế nào giữ vai trò thống trị, chi phối các thành phần kinh tế khác, mà chúng chỉ là những mảng, những

bộ phận hợp thành kết cấu kinh tế xã hội trong một hệ thống nhất biện chứng Tất yếu khách quan là tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là vì:

+) Thứ nhất: Khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, tiếp quản nền kinh tế chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về Tư liệu sản xuất Thực tế có hai loại tư hữu gồm có nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, … của các nhà tư bản trong nước và ngoài nước- đó là kinh

tế Tư bản chủ nghĩa; tư hữu nhỏ gồm có nông dân, buôn bán nhỏ - đó là sản xuất nhỏ cá thể Thái độ của chính quyền mới đối với hai loại tư hữu trên là khác nhau Đối với tư hữu lốn - kinh

tế tư bản tư nhân chỉ có phương pháp duy nhất là quốc hữu hóa Đối với tư hữu nhỏ thì có con đường hợp tác hóa theo con đường nguyên tắc mà V I Lênin đã vạch ra là tự nguyện, quản lý dân chủ, cùng có lợi, … đồng thời tuân theo quy luật khách quan

+) Thứ hai: Sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia do đặc điểm lịch sử, điều kiện chủ quan, khách quan nên tất yếu có sự phát triển không đồng đều giữa các Lực lượng sản xuất và các ngành, vùng, doanh nghiệp … Chính sự phát triển không đồng đều đó quy định Quan hệ sản xuất, trước hết là hình thức, quy mô và Quan hệ sở hữu phải phù hợp với nó, nghĩa là tồn tại Quan hệ sản xuất không giống nhau đó là cơ sở hình thành các thành phần kinh tế khác nhau +) Thứ ba: Để phát triển kinh tế, củng cố Kinh tế - Chính trị - Xã hội, Nhà nước xây dựng những cơ sở kinh tế mới, hình thành thành phần kinh tế Nhà nước Mặt khác, trong điều kiện quốc tế hóa đời sống kinh tế thông qua hợp tác và đầu tư nước ngoài, Nhà nước cùng các nhà Tư bản, công ty trong và ngoài nước hình thành kinh tế Tư bản Nhà nước

*** Vai trò của cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam: Tính tích cực của nền kinh tế nhiều thành phần biểu hiện qua các khía cạnh:

+) Có khả năng khai thác, huy động và sử dụng có hiệu quả sứ mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế trong nước, tận dụng vốn và công nghệ của nước ngoài Do đó phát huy được

cả nội lực và ngoại lực

Trang 4

+) Giải quyết phần lớn công an việc làm cho nhân dân, phát triển làng nghề truyền thống, tận dụng vốn và nhân công nhàn rỗi có hiệu quả, phát huy thế mạnh vốn có của con ngườiViệt Nam, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất.

+) Tạo ra sự đa dạng về quy mô và trình độ kỹ thuật phù hợp với hiển trạng về cơ sở vật chất và trình độ kỹ thuật của nước ta Tạo sự liên kết, liên doanh với nước ngoài với chiều hướng có lợi hơn

+) Khi các thành phần kinh tế đều phát huy thế mạnh, hoạt động tích cực làm cho năng suất lao động phát triển, từ đó nhanh chóng tăng cừơng kinh tế và nâng cao mức sống nhân dân Là bước khởi đầu, đặt nền móng cho thời kỳ quá độ với cơ sở vật chất kỹ thuật chắc chắn đểđưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn Chủ nghĩa tư bản

=> Kết quả thực tế công cuộc đổi mới từ 15 năm đã cho thấy mặt tích cực của cơ chế kinh tế nhiều thành phần là rất to lớn Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu đã trở thành một nước

có nền kinh tế tăng trưởng vững chắc với tốc độ tăng trưởng cao

*** Sự hoàn thiện Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất theo đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa là kết quả của tiến trình lịch sử, tiến trình đó được quy định bởi quy luật Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình

độ của lực lượng sản xuất Thật vậy, Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất thể hiện hai đặc trưng tác động biện chứng trong quá trình xã hội hóa Quan hệ sở hữu kinh

tế Khi Lực lượng sản xuất còn ở mức thấp, ứng với nó là sự tồn tại nhiều

hình thức sở hữu nhỏ và phân tán Lực lượng sản xuất từng bước phát triển sẽ tỉ lệ thuận với tiến trình tập trung hóa và xã hội hóa Quan hệ sở hữu mà đỉnh cao của nó là sở hữu toàn dân, sự hình thành các tập đoàn kinh tế, công ty cổ phần, công ty đa quốc gia, các đại nông trại, được coi

là biểu hiện của quá trình xã hội hóa Quan hệ sở hữu ở một mức độ nhất định do kết quả tác động biện chứng của Quan hệ sản xuất và Lực lượng sản xuất.Với cách nhìn đó thì chế độ công hữu Xã hội chủ nghĩa được xác lập như một tất yếu khách quan bởi sự phù hợp giữa Quan hệ sảnxuất với tính chất và trình độ cao của Lực lượng sản xuất

Nhìn trên góc độ khác, trong mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng Xã hội chủ nghĩa, có thể thấy rằng kinh tế thị trường biểu thị nổi bật như phương thức vận động của Lực lượng sản xuất, còn định hướng Xã hội chủ nghĩa thể hiện như Quan hệ sản xuất cần đạt tới phương thức vận động của đó Chủ nghĩa Xã hội cũng có thể hiểu đó là một nền tảng kinh tế xã hội được dựa trên chế độ đổi mới thực hiện được ý tưởng cao đẹp do lịch sử giao phó là xây dựng một xã hội công bằng, văn minh với ý nghĩa đích thực của nó Có lẽ do quy luật này mà Đảng ta khẳng định tính nguyên tắc của phát triển Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủnghĩa

Trang 5

Câu 3: Vấn đề cơ bản của Triết học là gì? Tại sao nó lại được coi là vấn đề cơ bản của Triết học? Các nhà duy vật và duy tâm trong lịch sử, về cơ bản, đã giải quyết vấn đề đó như thế nào? Cho 1 vài ví dụ

a, Các vấn đề cơ bản của Triết học và cách giải quyết:

Theo Ăngghen vấn đề cơ bản của Triết học là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (giữa tồn tại

Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

Đại đa số các nhà Triết học theo chủ nghĩa duy tâm cũng như duy vật đều cho rằng, con người cókhả năng nhận thức được thế giới Tuy nhiên, các nhà Triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới Xong do vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định đến ý thức nên sự nhận thức đó là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới, nhưng sự tự nhận thức đó là của tinh thần, tư duy

b, Đó là vấn đề cơ bản của Triết học vì:

Lịch sử đấu tranh triết học là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Vấn

đề cơ bản của Triết học chính là chuẩn mực để phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Có thể phân chia các hiện tượng của thế giới ra thành 2 loại: các hiện tượng vật chất và các hiện tượng tinh thần Vật chất và ý thức là hai phạm trù triết học dùng để chỉ hai loại hiện tượng đó Trên thực tế những hiện tượng chúng ta gặp hàng ngày hoặc là hiện tượng vật chất tồn tại bên ngoài ý thức của chúng ta, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại trong ý thức của chúng ta, không

có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hai lĩnh vực ấy

Vậy vật chất (tồn tại) và ý thức (tinh thần, tư duy) có quan hệ với nhau như thế nào, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quy định cái nào? Các học thuyết triết học rất đa dạng, song đều cũng phải trả lời câu hỏi đó, xem đó là điểm xuất phát lý luận Câu trả lới này có ảnh hưởng trực tiếp tới những vấn đề khác của triết học Do đó vấn đề quan hệ giữa ý thức và vật chất hay giữa

tư tuy với tồn tại (tinh thần với giới tự nhiên được coi là vấn đề cơ bản của triết học

+ Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề đó quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận của nhà nghiên cứu, xác định bản chất của các trường phái triết học đó, cụ thể:

Trang 6

- Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ nhất để chúng ta biết được hệ thống triết học này, nhà triết học này là duy vật hay là duy tâm, họ là triết học nhất nguyên hay nhị nguyên

- Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ hai để chúng ta biết được nhà triết học đó theo thuyết khả trihay bất khả tri

+ Đây là vấn đề chung, nó mãi mãi tồn tại cùng con người và xã hội loài người

Câu 4: Phân tích luận điểm của C.Mác: “sự phát triển của các hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” ? Nhân tố chủ quan đóng vai trò gì đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội? Từ thực tế VN hiện nay, hãy lấy ví dụ cho vai trò đó?

a, Theo C.Mác: sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử-tự nhiên:Luận điệm đó được thể hiện ở các nội dung sau đây:

_ Một là, sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan của con người mà tuân theo các quy luật khách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tế-xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học trong đó, cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng

_ Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhận loại, của mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, của xã hội, suy đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội đó

_ Ba là, quá trình phát triển của hình thái kinh tế-xã hội, tức là quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại và đó là sự phát triển của lịch sửu loài người,

có thể do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan, nhưng nhân tố giữa vai trò quyết định chính là

sự tác động của các quy luật khách quan Dưới sự tác động của quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính chất toàn bộ của nó, là quá trình thay thế tuần tự của các hình thái kkinh

tế - xã hội: nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và tương lai nhất định thuộc về hìnhthái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa

b, Nhân tố chủ quan đóng vai trò gì đối với tiến trình phát triển của lịch sử?

Trong khi khẳng định tính chất lịch sử - tự nhiên, tức tính quy luật khách quan của sự vận động, phát triển xã hội, chủ nghĩa Mác Lênin cũng đồng thời khẳng định vai trò của các nhân tố khác đói với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử mỗi cộng đồng người cụ thể nói riêng Đó là sự tác động của các nhân tố thuộc về điều kiện địa lý, tương quan lực lượng chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa của mỗi cộng đồng người, điều kiện tác động của tình hình quốc tế đối với tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người trong lịch sử, Chính do sự tác động của các nhân tố này mà tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người có thể diễn ra với những con đường, hình thức và bước đi khác nhau, tạo nên tính phong phú đa dạng trong sự phát triển của lịch sử nhân loại Tính chất phong phú, đa dạng trong tiến trình phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội có thể bao hàm những bước phát triển “bỏ qua” một hat một vài hình thái kinh tế-xã hội nhất định Tuy nhiên, những sự “bỏ qua” như vậy đều phải có những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định

Trang 7

Như vậy, lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theo tính tất yếu quy luật xã hội, vừa chịu sự tác động đa dạng của các nhân tố khác nhau, trong đó có cả các nhân tố hoạt động chủ quan của con người, nó đóng vai trò là nhân tố thuộc

cơ chế vận động, phát triển của lịch sử nhân loại Từ đó, lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thống nhất trong tính đa dangj và đa dạng trong tính thống nhất của nó

c, Nhân tố chủ quan tại VN:

Vai trò của Đản Cộng Sản, của Nhà nước và năng lực làm chủ của nhân dân với tư cách là nhân

tố chủ quan quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước ta là không thể phủ nhận được Đảng và Nhà nước vừa có vai trò lãnh đạo, tổ chức, quản lý mang tính sáng tạo không thể thay thế, quần chúng nhân dân là chủ thể thực hiện chủ trương, đường lỗi của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành hiện thực sinh động Khi “ý Đảng” và “lòng dân” cùng thống nhất trí và đồng thuận sẽ tạo nên sức mạnh không gì lay chuyển nổi Việc phát huy vai trò của những nhân tố chủ quan đó là yêu cầu không thể thiếu, bảo đảm cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” từng bước trở thành hiện thực

Nói đến nhân tố quan trọng của nước ta hiện nay chủ yếu là nói đến vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, năng lực làm chủ của nhân dân Vì vậy, phát huy vai trò của nhân tố chủ quan nghĩa là phải nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân trong việc tạo những tiền

đề vững chắc cho nền kinh tế thị trường, khai thác những thuận lợi, hạn chế những rủi ro từ sự tác động của điều kiện khách quan; kịp thời phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh Điều đó được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:

_ Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng;

Vai trò của Đảng với tư cách là nhân tố chủ quan, thể hiện ở chỗ Đảng xác định đường lối, chiếnlược, sách lược đúng đắn, từ đó tạo lập những điều kiện, tiền đề cần thiết bảo đảm cho những mục tiêu phát triển của đất nước Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường như hiện nay, việc giữ vững và không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng (với tư cách là nhân tố quan trọng) là một trong những yêu cầu hàng đầu của sự nghiệp cách mạng

=> Phải không ngừng đổi mới tư duy lý luận, trước hết trước hết là tư duy kinh tế của Đảng, không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế củacác tổ chức đảng, tăng cường sự lãnh đạo và kiểm tra về phát triển kinh tế Mặt khác, Đảng phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kiên trì đường lối đổi mới trên nguyên tắc và sáng tạo; Đảng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện về chính trị, tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao sức chiến đấu; phải thường xuyên chăm lo xây dựng, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh, phẩm chất vàtrí tuệ; phải gắn bó máu thịt với nhân dân, phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường và nâng cao chất lượng của công tác kiểm tra, giám sát, không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhất là phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc

“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” được thực hiện một cách cụ thể và sinh động trong hiện thực

Trang 8

_ Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước:

Nhà nước Việt Nam là chủ thể quản lý, đồng thời là chủ thể kinh tế lớn nhất của nền kinh tế nước ta Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Nhà nước phải khẳng định vai trò trong việc bảo đảm cho thị trường hoạt động hiệu quả Nhà nước quản lý nền KT thông qua hệ thống pháp luật, các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch và cơ chế, chính sách, cùng các công cụ kinh tế, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường để giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể dân tộc và phù hợp với yêu cầu xâydựng xã hội XHCN ở Việt Nam Sự quản lý có hiệu quả của Nhà nước không chỉ khắc phục những khuyết tật cố hữu của thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững mà còn thực hiện công bằng xã hội, làm cho mọi người dân đều được hưởng những thành quả chung

từ sự tăng trưởng kinh tế, bảo đảm cho các mục tiêu của CNXH từng bước được thực hiện hóa Muốn vậy, Nhà nước phải không ngừng tự hoàn thiện cho phù hợp với những yêu cầu mới, “tập trung tạo dựng thể chế, cơ chế, chính sách và môi trường, điều kiện ngày càng minh bạch, an toàn, thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tự do sáng tạo, đầu tư, kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng trong kinh tế thị trường

_ Nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân:

Rõ ràng, phát triển một nền kinh tế với mục tiêu vì sự ấm no và hạnh phúc của nhân dân thì đó cũng phải là sự nghiệ do chính nhân dân xây dựng Do đó, phải từng bước hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phân biệt xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất làcác chính sách kinh tế, xã hội; đảm bảo để “nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện” Tuy nhiên, để phát huy quyền và năng lực làm chủ của nhân dân, ngoài việc nâng cao chất lượng cuộc sống, kích thích lợi ích của người lao động, phải nâng cao trình độ dân trí Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng “chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn”, đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục theo hướng cập nhật, gắn học với hành, xây dựng xã hội học tập,

ưu tiên đầu tư cho giáo dục-đào tạo thực sự trở thành “quốc gia hàng đầu” Giáo dục và đào tạo phải được xem là khâu then chốt, là yếu tố quyết định trong việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao

Câu 5: Nêu ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ biện chứng giữa 2 cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả và vận dụng vào vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay.

a, Ý nghĩa của phương pháp luận:

_ Vì mối liên hệ nhân quả là mối quan hệ có tính khách quan, tất yếu nên trong nhận thức và thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân – quả Trong thế giới hiện thực không thể tồn tại những sự vật, hiện tượng hay quá trình biến đổi không có nguyên nhân và ngược lại, không có nguyên nhân nào mà không dẫn tới những kết quả nhất định Muốn nhận thức được sự vật, hiện tượng ấy nhất định phải tìm ra nguyên nhân xuất hiện của chúng, muốn loại bỏ 1 sự vật, hiện tượng nào đó không cần thiết, thì phải loại bỏ nguyên nhân sinh ra nó

Trang 9

_ Xét về mặt thời gian, nguyên nhân có kết quả trước nên khi tìm nguyên nhân của một sự vật, hiện tượng cần tìm ở sự vật, hiện tượng đó mối liên hệ đã xảy ra trước khi sự vật, hiện tượng xuất hiện Trong thời gian hoặc mối quan hệ nào đó, vì nguyên nhân và kết quả có thể đổi chỗ cho nhau, chuyển hóa lẫn nhau nên để nhận thức được tác dụng của một sự vật, hiện tượng và để xác định được phương hướng đúng đắn cho hoạt động thực tiễn, cần nghiên cứu sự vật, hiện tượng đó trong mối quan hệ mà nó giữ vai trò là kết quả, cũng như mối quan hệ mà nó giữ vai trò

là nguyên nhân, sản sinh ra những kết quả nhất định

_ Một sự vật, hiện tượng có thể có nhiều nguyên nhân sinh ra và quyết định, nên khi nghiên cứu

sự vật, hiện tượng đó không thể vội kết luận về nguyên nhân nào đã sinh ra nó; khi muốn gây ra một sự vật, hiện tượng có ích trong thực tiễn cần phải lựa chọn đúng phương pháp thích hợp nhấtvới điều kiện, hoàn cảnh cụ thể chứ không nên rập khuôn theo phương thức cũ Trong số các nguyên nhân sinh ra 1 sự vật, hiện tượng có nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài Nên cần phân biệt rõ nguyên nhân chính xác trong các loại nguyên nhân đó để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn

b, Vận dụng vào phân tích thực trạng môi trường:

Trong lịch sử phát triển của mỗi quốc gia, nhất là sau cuộc cách mạng công nghiệp thì vấn đề phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia luôn được đặt lên là vấn đề hàng đầu Ở hầu hết các quốc gia đều có khuynh hướng “phát triển kinh tế bằng bất cứ giá nào” Chính cuộc chạy đua nhằm mục tiêu phát triển kinh tế nhanh chóng đó đã khiến con người quên đi môi trường sống của chính mình, việc bảo vệ môi trường bị xem nhẹ Vì vậy gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng Nguyên nhân của việc dẫn đến tình trạng môi trường ở thời điểm hiện tại có thể được chia thành

1 số nguyên nhân chính sau:

*Nguyên nhân chủ quan:

_ Ý thức con người có lẽ là cái được nói đến ở đây Cái gì cũng có 2 mặt của nó, sự tác động vào thiên nhiên của con người cũng vậy Nếu con người tác động vào thiên nhiên theo đúng quy luật vốn có, tích cực thì nó sẽ trở nên phong phú, đa dạng Ngược lại tác động tiêu cực thì con người sẽ phải gánh chịu những hậu quả do chính họ đã gây ra

_ Nhận thức của con người la nhân tố quyết định của họ đối với môi trường Vì lợi ích trước mắt,mong muốn làm giàu cho cá nhân mà họ đã không nhận thức được việc làm của họ tác động xấu đến môi trường Trình độ dân trí còn thấp, chưa hiểu biết tác dụng to lớn của rừng và môi trường sống, chưa nắm được tác hại của việc hủy hoại môi trường sống của chính mình

_ Khai thác bừa bãi các tài nguyên thiên nhiên: tài nguyên rừng - diện tích rừng ngày càng thu hẹp hay cháy rừng Nếu việc khai thác cạn kiệt của người dân là nhân tố quyết định thì chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là nhân tố tác động mạnh ý thức người dân Thực tế, chưa có nhiều chính sách pháp luật về môi trường, việc tuyên truyền cũng như việc xử lý vi phạm chưa được quan tâm, chú trọng; hay lực lượng kiểm lâm chưa đủ mạnh để răn đe, bắt giữ các hành vi có hại – lâm tặc phá rừng

Trang 10

_ Ý thức người dân kém trong việc xử lý rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp Cố tình vi phạm, đổ rác không đúng nơi quy định Và kết quả của việc đấy là sức khỏe của con người bị ảnh hưởng nghiêm trọng, bệnh tật ngày càng nhiều: tiêu chảy, hô hấp, đường ruột Nguyên nhânchủ yếu là sử dụng nguồn nước không đạt vệ sinh, môi trường sống ô nhiễm bởi khói bụi và chất thải độc hại Thực phẩm rau quả không được đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

_ Dân số tăng lên cũng là trong những nguyên nhân khiến môi trường thay đổi Dân số tăng khiến việc sử dụng và khai thác các nguồn tài nguyên từ môi trường cũng tăng lên gây ảnh hưởng đến môi trường nước, không khí

*Nguyên nhân khách quan:

_ Nhu cầu người dân sử dụng phương tiện ngày 1 tăng do chất lượng cuộc sống được nâng lên Dẫn đến sự gia tăng của lượng khói bụi, khí thải độc hại thải ra môi trường ngày càng nhiều hơn, gây ô nhiễm môi trường

_ Khả năng sử lý của các bộ phận xử lý rác thải chưa hoạt động hiệu quả: đội ngũ dọn dẹp vệ sinh chưa đáp ứng đủ và xử lí kịp hết rác thải sinh hoạt và công nghiệp, việc thu gom còn nhiều vấn đề bất cập, chất lượng vệ sinh đôi khi còn kém gây mùi ô nhiễm cho đất, nước, không khí

Câu 6: Phân tích vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận này trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

a, Vai trò của quần chúng nhân dân với sự phát triển của lịch sử:

_ Yếu tố căn bản và quyết định của lực lượng sản xuất là quần chúng nhân dân lao động Đó là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất, làm cho phương thức sản xuất vận động và phát triển, thúc đẩy xã hội phát triển Đó là lực lượng cơ bản của xã hội sản xuất ra toàn

bộ của cải vật chất, là tiền đề và cơ sở cho sự tồn tại, vận động và phát triển của mọi xã hội, trong mọi thời kỳ lịch sử

_ Trong mọi cuộc cách mạng xã hội cũng như ở các giai đoạn biến động của xã hội, quần chúng nhân dân luôn là lực lượng chủ yếu, cơ bản và quyết định mọi thắng lợi của các cuộc cách mạng

và những chuyển biến của đời sống xã hội Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, bắt đầu từ sự phát triển của các lực lượng sản xuất, đến một giai đoạn phát triển nhất định nó mâu thuẫn với các quan hệ sản xuất, làm xuất hiện các cuộc cách mạng xã hội Như vậy, nguyên nhân của mọi cuộc cách mạng là bắt đầu từ hoạt động sản xuất vật chất của quần chúng nhân dân Họ thực sự là chủ thể, lực lượng căn bản và chủ chốt,

Trang 11

là động lực cơ bản của mọi quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ,

và của mọi cuộc cách mạng xã hội

_ Toàn bộ các giá trị văn hóa, tinh thần và đời sống tinh thần nói chung đều do quần chúng nhân dân sáng tạo ra Những sáng tạo trực tiếp của quần chúng nhân dân trong lĩnh vực này là điều kiện, tiền đề, là nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, tinh thần Hoạt động phong phú, đadạng của quần chúng nhân dân trong thực tiễn là nguồn mạch cảm hứng vô tận, là chất liệu không bao giờ cạn kiệt, là nguồn tài nguyên bất tận cho mọi sáng tạo tinh thần Quần chúng nhândân cũng là người gạn lọc, lưu giữ, truyền bá và phổ biến các giá trị tinh thần làm cho nó được chọn lọc, được bảo tồn vĩnh viễn

b, Vận dụng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam:

_ Từ kinh nghiệm trong cách mạng giải phóng dân tộc và thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa những năm trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta rút ra bài học quý báu: sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử Trong quá trình đổi mới, Đảng ta cũng khẳng định: “Đổi mới là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân Để công cuộc đổi mới thành công phải động viên được mọi tầng lớp nhân dân vàcác thành phần kinh tế tham gia” Đó chính là một trong những nguyên nhân thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

_ Nhân dân là “mạch nguồn” dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh_ Đặc biệt, trong 10 năm gần đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo mang tính chiến lược về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về công tác dân vận và phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện

_ Tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới_ Một là, các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị tiếp tục quán triệt, triển khai tư tưởng

Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận, về thực hiện dân chủ gắn với phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng và

hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

_ Hai là, thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách toàn diện để Đảng luôn là lực lượng tiên phong bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân và của cả dân tộc Gắn đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

_ Ba là, Đảng, Nhà nước tiếp tục triển khai thực hiện tốt những chủ trương, chính sách “hợp lòngdân”, nhằm chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là ở những vùng đang còn gặp nhiều khó khăn, vùng căn cứ cách mạng trước đây, vùng sâu, vùng xa,

Trang 12

vùng cao, biên giới, hải đảo, Tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh và bền vững, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là thu hẹp dần khoảng cách và sự phân hóa giàu - nghèo trong cả nước Dự báo, giải quyết tốt những vấn đề

xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nhất là những vấn đề bức xúc, nổi cộm, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân

_ Bốn là, tăng cường công khai, minh bạch, dựa vào nhân dân để kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện công tác cán bộ

Câu 7: Bản chất ý thức là gì? Tại sao phản ánh năng động sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất chỉ có ở con người?

a) Bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản ánh tíchcực, sáng tạo hiện thực khách quan của bộ óc người phân tích

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Về nội dung mà ý thức phản ánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ quan Ý thức là cái vật chất ở bên ngoài “di chuyển vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi ở trong

đó Kết quả phản ánh của ý thức tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố: đối tượng phản ánh, điều kiện lịch

sử - xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm sống của chủ thể phản ánh Cùng một đối tượng phản ánh nhưng với các chủ thể phản ánh khác nhau, có đặc điểm tâm lý, tri thức, kinh nghiệm, thể chất khác nhau, trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau thì kết quả phản ánh đối tượng trong ý thức cũng rất khác nhau Trong ý thức của chủ thể, sự phù hợp giữa tri thức và khách thể chỉ là tương đối, biểu tượng về thế giới khách quan có thể đúng đắn hoặc sai lầm, và cho dù phảnánh chính xác đến đâu thì đó cũng chỉ là sự phản ánh gần đúng, có xu hướng tiến dần đến khách thể

- Ý thức có đặc tính tích cực, sáng tạo gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội

Đây là một đặc tính căn bản để phân biệt trình độ phản ánh ý thức người với trình độ phản ánh tâm lý động vật Ý thức không phải là kết quả của sự phản ánh ngẫu nhiên, đơn lẻ, thụ động thế giới khách quan Trái lại, đó là kết quả của quá trình phản ánh có định hướng, có mục đích rõ rệt

Là hiện tượng xã hội, ý thức hình thành, phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn xã hội Thế giới không thoả mãn con người và con người đã quyết định biến đổi thế giới bằng hoạt động thựctiễn đa dạng, phong phú của mình Thông qua thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới và qua

đó chủ động khám phá không ngừng cả bề rộng và chiều sâu của các đối tượng phản ánh

b) Phản ánh năng động sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất chỉ có ở con người vì:

Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội – lịch sử Ý thức không phải là cái không thể nhận thức được như chủ nghĩa duy tâm quan niệm, nhưng nó cũng không phải cái tầm thường như người duy vật tầm thường gán cho nó Thực chất, ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh của 1 dạng vật chất đặc biệt là bộ óc người; nói cách khác, chỉ có con người mới có ý thức Loài người xuất hiện là kết quả của lịch sử vận động, phát triển lâu dài của thế giới vật chất Cấu trúc hoàn thiện của bộ óc người là nền tảng vật

Ngày đăng: 27/07/2021, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w