1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DS2-tháng-2

32 89 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 52,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các đoạn sau trong bản án của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang cho thấy Tòa án đã chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí vé máy bay: “Tại phiên Tòa hôm nay, đại diện hợp pháp cho người bị hại

Trang 1

Vấn đề 1: Xác định thiệt hại vật chất được bồi thường khi

tính mạng bị xâm phạm

Nghiên cứu:

- Điều 591 BLDS 2015 (Điều 610 BLDS 2005), Nghị quyết số 03 năm

2006 của HĐTP và các quy định liên quan khác (nếu có);

- Bản án số 26/2017/HSST ngày 07/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh An

Giang, Bản án số 26/2017/HSST ngày 29/5/2017 của Toà án nhân dântỉnh Vĩnh Phúc

* Tóm tắt bản án số 26/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang:

Bị cáo: Lay Bun Thy

Người bị hại: Lê Văn Được

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Trần Thị Nguyệt (vợ), Nguyễn ThịNuôi (mẹ)

Nội dung bản án: Lay Bun Thy vì có mâu thuẫn, hiểu lầm dẫn đến xô xát vớianh Quang và anh Được, sau đó Thy về nhà lấy súng đến bắn anh Quang và anhĐược Hậu quả, anh Quang bị thương nặng, tỉ lệ thương tật 16% và anh Được tử vong

Người đại diện hợp pháp của anh Được yêu cầu xử phạt mức án cao nhất đốivới Thy, yêu cầu bồi thường chi phí mai táng: 110.400.000 đồng, tiền vé máy bay từSingapore về Việt Nam: 12.000.000 đồng, tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 120.000.000đồng và cấp dưỡng nuôi con của anh Được là cháu Đạt đến tuổi trưởng thành

Tòa án Quyết định: xử phạt Lay Bun Thy 20 năm tù về tội giết người và 5 năm

tù về tội tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, tổng cộng 25 năm tù Buộc bồithường tiền chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho người bị hại Lê Văn Được242.400.000 đồng, cấp dưỡng nuôi cháu Đạt đến đủ 18 tuổi với mức cấp dưỡng bằng

½ mức lương cơ bản do Nhà nước quy định Bồi thường cho bà Thơ 3.000.000 đồng

* Tóm tắt bản án số 26/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc

Bị cáo: Nguyễn Văn A

Người bị hại: anh Chu Văn D

Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Chu Đăng Đ, bà Trần Thị E

Nội dung bản án: vì xích mích trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trạigiam, Nguyễn Văn A đã dùng chân trái đá một cái trúng vào ngực Chu Văn D làm anh

Trang 2

D gục xuống bất tỉnh, sau đó được đưa đi cấp cứu, tuy nhiên do thương tích nặng, sau

đó anh D đã tử vong

Gia đình người bị hại yêu cầu Nguyễn Văn A phải bồi thường các khoản chiphí về mai táng, tổn thất về tinh thần và các tổn thất khác tổng số tiền là 421.000.000đồng

Tòa án quyết định: Xử phạt Nguyễn Văn A 8 năm tù về tội cố ý gây thươngtích, tổng hợp bản án trước đó là 17 năm tù Buộc Nguyễn Văn A phải bồi thường chiphí mai táng, đối với bị hại, bồi thường tổn thất về tinh thần cho gia đình anh D151.000.000 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Chu Đức P 605.000 đồng/01tháng cho đến khi chúa P đủ18 tuổi Không xem xét, giải quyết yêu cầu bồi thườngtiền cấp dưỡng về già cho cha, mẹ anh D do luật không có quy định

Câu 1.1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về thiệt hại vật chất khi tính mạng bị xâm phạm.

Quy định về thiệt hại vật chất khi tính mạng bị xâm hại được BLDS 2015 quyđịnh tại Điều 591 và BLDS 2005 quy định tại Điều 610, BLDS 2015 đã kế thừa vàphát triển thêm từ nững quy định tại BLDS 2005 So với BLDS 2005 thì BLDS 2015

có hướng mở rộng hơn về thiệt hại vật chết khi tính mạng bị xâm phạm Cụ thể nhưsau:

Không còn giới hạn bồi thường những chi phí như “chi phí hợp lý cho việc cứuchữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết” như BLDS 2005 màBLDS 2015 còn mở rộng thêm với các thiệt hại như “thu nhập thực tế bị mất hoặc bịgiảm sút của người bị thiệt hại” và “Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mấtcủa người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị”

BLDS 2015 còn đặt thêm một cụm từ “Thiệt hại khác do luật quy định”, có thểthấy, BLDS 2015 để mở những chi phí vật chất phát sinh khác trong từng trường hợp

cụ thể được quy định trong các luật khác

Câu 1.2: Nghị quyết số 03 của HĐTP có quy định chi phí đi lại dự lễ tang được bồi thường không? Vì sao?

Theo Nghị quyết số 03 của HĐTP thì không có quy định chi phí đi lại dự lễtang được bồi thường Cụ thể tại tiểu mục 2.2 mục 2 Phần II quy định: “Chi phí hợp lýcho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết choviệc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục

Trang 3

vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung Không chấp nhậnyêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ ”.

Như vậy, chi phí đi dự lễ tang không được Hội đồng thẩm phán công nhận làchi phí phải bồi thường mà chỉ có các chi phí mua sắm cho việc mai táng, thuêphương tiện đưa tiễn và chi phí chôn cất mới được bồi thường theo Nghị quyết số03/2006/NQ-HĐTP

Câu 1.3: Trong thực tiễn xét xử trước đây, chi phí đi lại dự lễ mai táng có được bồi thường không? Nếu có, nêu vắn tắt thực tiễn xét xử đó?

Trong thực tiễn xét xử trước đây, chi phí đi lại dự lễ mai táng được Tòa án xemxét bồi thường, cụ thể tại bản án số 41/HS-ST ngày 29/4/1999 của Tòa án nhân dântỉnh Khánh Hòa

Theo bản án, Bị đơn Bích đang điều khiển xe máy loại 100cm3 thì phát hiện chịHạnh đang bế con nhỏ sang đường, do không làm chủ tốc độ nên xe của Bích đâm vào

mẹ con chị Hạnh làm chị Hạnh đập đầu xuống đường, kéo lê một đoạn, đồng thời conchị Hạnh bị văng ra xa, sau khi được đưa đi cấp cứu thì chị Hạnh tử vong Tòa án căn

cứ điểm a, khoản 2, Điều 186; các điểm a và h, khoản 1, các khoản 2 và 3, Điều 38 Bộluật hình sự năm 1985, phạt Bích 18 tháng tù; buộc bị cáo bồi thường cho gia đình nạnnhân các khoản: chi phí mai táng 10.750.000 đồng, xây mộ 7.000.000 đồng, tiền chiphí đi lại vé máy bay cho người thân của bị hại từ miền Bắc vào Nha Trang dự đámtang của chị Hạnh là 10 người x 1.500.000 đồng = 15.000.000 Tiền trợ cấp nuôi cháuNhi sinh năm 1997 mỗi quý 180.000 đồng

Câu 1.4: Đoạn nào trong bản án của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang cho thấy Tòa án đã chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí vé máy bay? Đây có là chi phí đi lại dự lễ mai táng không?

Các đoạn sau trong bản án của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang cho thấy Tòa án

đã chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí vé máy bay:

“Tại phiên Tòa hôm nay, đại diện hợp pháp cho người bị hại là bà Nguyễn thị Nuôi và Trần Thị Nguyệt (mẹ, vợ của bị hại Được) yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản tiền sau: Chi phí mai táng là 110.400.000 đồng, tiền vé máy bay từ Singapore

về Việt Nam là 12.000.000 đồng, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: 120.000.000 đồng

và cấp dưỡng nuôi con của Được là cháu Lê Thành Đạt, sinh năm: 2006 đến tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật Tổng cộng các khoản là 242.400.000

Trang 4

đồng, có khấu trừ 150.000.000 đồng gia đình bị cáo đã giao nộp tại quá trình điều tra, số tiền còn lại bị cáo nộp là 92.400.000 đồng” 1

“Xét thấy yêu cầu đòi bồi thường của đại diện hợp pháp người bị hại Lê Văn Được là bà Nguyễn Thị Nuôi, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thơ hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và được bị cáo đồng ý nên hội đồng xét xử chấp nhận” 2

“Buộc bị cáo Lay Bun Thy có trách nhiệm bồi thường tiền chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho người bị hại Lê Văn Được tổng cộng 242.400.000 đồng, có khấu trừ 150.000.000 đồng gia đình bị cáo đã giao nộp tại quá trình điều tra, số tiền

đó của ai? Thông tin của vé như thế nào? Chỉ đại khái nói rằng chi phí vé từ Singapore

về Việt Nam thì chưa đủ cơ sở để Tòa án chấp nhận yêu cầu bồi thường này, việc Tòachấp nhận yêu cầu bồi thường này theo tôi là chưa có đủ cơ sở Chúng ta cần xác định

rõ mối quan hệ nhân thân giữa người sử dụng vé đó với bị hại để xem xét có cần phảibồi thường hay không khi Tòa theo hướng xem chi phí này là chi phí đi lại dự lễ tang

và được yêu cầu bồi thường theo chi phí mai táng, vì không thể nào xem tát cả chi phí

đi lại của người dự lễ mai táng là chi phí cần phải bồi thường được

Câu 1.6: Nếu chi phí trên là chi phí mà cháu nạn nhân bỏ ra để dự lễ tang thì chi phí đó có được bồi thường không? Vì sao?

Nếu chi phí trên là chi phí mà cháu nạn nhân bỏ ra để dự lễ tang thì chi phí đó

có thể hoặc không thể được bồi thường

1 Phần Xét thấy, Bản án số 26/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, trang 10.

2 Phần Xét thấy, Bản án số 26/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, trang 11.

3 Phần Quyết định, Bản án số 26/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, trang 12.

Trang 5

Bởi vì chúng ta cần xét đến mối quan hệ gần gũi thân thích của người cháu nàyvới bị hại Việc xác định này là rất khó và không đơn giản Tùy vào từng hoàn cảnh cụthể chúng ta có thể xem xét các mối quan hệ này Nếu như chi phí này do những ngườinhư cha, mẹ, vợ, chồng, con ruột, con nuôi của người bị hại thì chúng ta có thể dễdàng xem xét áp dụng bồi thường chi phí đi lại đối với những người này Còn nếu chiphí trên là chi phí mà cháu của bị hại bỏ ra để dự lễ tang thì chúng ta cần nên xem xétđến mức độ gần gũi, thân thích với người bị hại, xem xét mối quan hệ giữa hai người

để có thể đưa ra quyết định chấp nhận hay không chấp nhận chi phí này cần phải bồithường

Câu 1.7: Trong hai vụ việc trên, Tòa án đã buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho ai và không buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho ai? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Trong vụ việc thứ nhất (Bản án số 26/2017/HSST, Tòa án nhân dân tỉnh AnGiang), Tòa án đã đã buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho cháu Lê

Thành Đạt (con anh Được), cụ thể: “Ngoài ra, còn cấp dưỡng nuôi cháu Lê Thành

Đạt, sinh ngày 24/01/2016 (con anh Được) đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), mức cấp dưỡng bằng ½ tháng lương cơ bản do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7/2016 do bà Nguyễn Thị Nuôi đại diện nhận.” 4

Trong vụ việc thứ hai (Bản án số 26/2017/HSST, Tòa án nhân dân tỉnh VĩnhPhúc), Tòa án đã đã buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho cháu ChuĐức P và không buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho bố mẹ bị hạiChu Văn D, cụ thể:

“Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Chu Đức p, sinh ngày 30/12/1999 là con chưa thành niên của người bị hại Chu Văn D số tiền 605.000đ/01 tháng Thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 10 năm 2016 cho đến khi Chu Đức P đủ 18 tuổi” 5

“Đối với khoản tiền gia đình người bị hại Chu Văn D yêu cầu là tiền nuôi dưỡng bố

mẹ người bị hại về già do pháp luật không quy định nên không được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết” 6

4 Phần Quyết định, Bản án số 26/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, trang 12.

5 Phần Quyết định, bản án số 26/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, trang 7.

6 Phần Xét thấy, bản án số 26/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, trang 6.

Trang 6

Câu 1.8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến người được bồi thường tiền cấp dưỡng.

Hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến người được bồi thường tiềncấp dưỡng là hợp lý theo các quy định của pháp luật

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 591 BLDS 2015 thì thiệt hại do tínhmạng bị xâm phạm bao gồm: “Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại

có nghĩa vụ cấp dưỡng” Và tại tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II Nghị quyết số03/2006/NQ-HĐTP quy định về “Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bịthiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết”.7

7 2.3 Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, tương ứng đó Đối với những người

mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình

mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình

và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Trang 7

Như vậy, căn cứ vào BLDS 2015 và Nghị quyết số 03/2006 của HĐTP thìtrong hai bản án trên, đối với trường hợp bồi thường cho con của các bị hại là hoàntoàn đúng, phù hợp với các quy định tại BLDS 2015 và Nghị quyết số 03/2006 vì ChuĐức P và Lê Thành Đạt đều chưa đủ tuổi vị thành niên, sống dựa vào sự nuôi dưỡngcủa cha mẹ, nhưng nay cha là anh Chu Văn D và anh Lê Văn Được đã chết, P và Đạtkhông còn nhận được những khoản nuôi dưỡng lẽ ra P và Đạt vẫn được nhận khi chacòn sống nên Tòa án áp đụng theo quy định của luật buộc bồi thường tuền cấp dưỡngcho P và Đạt đến khi đủ 18 tuổi là hợp lý, đúng quy định của pháp luật.

Còn trường hợp tại bản án số 26/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh VĩnhPhúc, Tòa án không chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng bố mẹ bị hại về già là đúng theocác quy định hiện hành Cụ thể cha mẹ của bị hại được bồi thường tuền cấp dưỡngtrong các trường hợp sau:

“Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng” 8

“Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa

vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng…” 9

Như vậy, theo yêu cầu của gia định bị hại Chu Văn D thì Nguyễn Văn A phảibồi thường tiền cấp dưỡng về già cho cha mẹ bị hại, có nghĩa là gia đình bị hại đangnói đến tương lai khi cha mẹ anh D già thì phải cần tiền nuôi dưỡng, nhưng nay anh D

đã chết nên tương lai cha mẹ anh D không còn nhận được sự cấp dưỡng ấy nên yêucầu Nguyễn Văn A bồi thường việc Tòa án bác bỏ yêu cầu này và giải thích hoàn toànhợp lý theo các quy định hiện hành của pháp luật dân sự khi gia đình anh D không đưa

ra các chứng cứ chứng minh cha mẹ anh D không có khả năng lao động ở thời điểmhiện tại và đang sống dựa vào sự cấp dưỡng của anh D, đồng thời gia đình bị hại cũngkhông chứng minh được có hay không việc anh D đang thực hiện việc cấp dưỡng chocha mẹ mình trước khi anh chết

Từ những lẽ trên, theo tôi, Tòa án đã áp dụng đúng các nguyên tắc bồi thườngcủa pháp luật dân sự hiện hành, tuy nhiên vẫn cần phải xem xét đến trường hợp người

bị hại là người lao động chính, người con duy nhất trong gia đình, cha mẹ của người

bị hại lúc về già khi không còn sức lao động sẽ không còn nhận được sự nuôi dưỡngchính đáng lẽ ra họ sẽ nhận được nếu con mình còn sống

8 Điểm b tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP.

9 Điểm a tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP.

Trang 8

Câu 1.9: Trong bản án số 26, Toà án theo hướng tiền cấp dưỡng được thực hiện một lần hay nhiều lần?

Trong bản án số 26, Tòa án theo hướng tiền cấp dưỡng được thực hiện nhiềulần, cụ thể:

“Gia đình bị hại yêu cầu cấp dưỡng một lần, bị cáo không đồng ý và có đề nghịgiải quyết theo quy định của pháp luật Do vậy, Hội đồng xét xử cần buộc bị cáo cấpdưỡng hằng tháng là phù hợp quy định của pháp luật”.10

Câu 1.10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết nêu trên của Toà án liên quan đến cách thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Theo tôi, hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến cách thức thực hiệnnghĩa vụ cấp dưỡng là chưa hợp lý

Theo công văn số 81/2002 của Tòa án nhân dân tối cao có ghi “trường hợp cácbên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định phương thức bồi thường thiệt hạihằng tháng Trong trường hợp đặc biệt, nếu người được bồi thường thiệt hại hoặcngười được cấp dưỡng yêu cầu được bồi thường hoặc cấp dưỡng theo phương thứcmột lần và xét tháy yêu cầu của họ là chính đáng và người phải bồi thường, người cónghĩa vụ cấp dưỡng có điều kiện thi hành án thì Tòa án có thể quyết định phương thứcmột lần”

Như vậy, khi chiểu theo bản án trên, gia đình người bị hại đã yêu cầu cấpdưỡng một lần, nhưng phía bị đơn không đồng ý, có thể thấy ở đây thỏa thuận về cáchthức cấp dưỡng đã không đạt được Theo nguyên tắc, Tòa án sẽ áp dụng cách thức bồithường tiền cấp dưỡng hàng tháng trong trường hợp này, Tuy nhiên Tòa đã bỏ qua yếu

tố “yêu cầu chính đáng” của phía gia đình người bị hại, Tòa chưa xem xét yêu cầu đó

có chính đáng hay không, có phù hợp với hoàn cảnh của phía gia đình người bị hại lẫnphía bị đơn hay không? Theo tôi Tòa án nên xem xét vẫn đề này trước khi đưa raquyết định về cách thức bồi thường tiền cấp dưỡng một lần hay nhiều lần cho ChuĐức P

10 Phần Xét thấy, bản án số 26/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, trang 6.

Trang 9

Vấn đề 2: Bồi thường thiệt hại phát sinh trong tai nạn giao thông

Nghiên cứu:

- Điều 584, Điều 601 BLDS 2015 (Điều 604, 623 BLDS 2005), Nghị quyết

số 03 năm 2006 của HĐTP và các quy định liên quan khác (nếu có);

- Quyết định số 23/GĐT-DS ngày 2/2/2005 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân

tối cao và Quyết định số 30/2006/HS-GĐT ngày 26/9/2006 của Tòa hình

sự Tòa án nhân dân tối cao

Tóm tắt nội dung Quyết định số 23/GĐT-DS ngày 2/2/2005 của Tòa dân sự Tòa án

nhân dân tối cao

Trước khi xảy ra tai nạn thì anh Bình điều khiển xe cơ giới đi không đúng lànkhi có có tiếng còi xe phía sau thì chuyển sang bên trái Khi đó ông Dũng điều khiển

xe máy không làm chủ được tốc độ và an toàn nên đã để xe máy qua vẹt với xe đạp vàkéo xe đạp của anh Bình đi 5-6m Anh Khoa khi điều khiển ô tô đã thấy được diễnbiến trên nhưng do không làm chủ được tốc độ nên đã để ô tô chèn qua xe đạp của anhBình sau khi xe ông Dũng va quệt với xe anh Bình và kéo rê được gần 20m Toà áncấp sơ thẩm, phúc thẩm xác định trong trường hợp này cả anh Bình, ông Dũng và anhKhoa có lỗi gây ra vụ tai nạn trên và gây thiệt hại cho anh Bình (lỗi chính) và xem xétbuộc ông Dũng và ông Khánh bồi thường toàn bộ Toà GĐT xét thấy Toà nhận địnhlỗi của cả 3 người là đúng tuy nhiên về trách nhiệm bồi thường Toà sơ thẩm và phúcthẩm buộc ông Dũng và Khánh bồi thường cho anh Bình là không chính xác

Tóm tắt Quyết định số 30/2006/HS-GĐT ngày 26/9/2006 của Tòa hình sự Tòa án

nhân dân tối cao.

Bị cáo: chị Trinh

Bị hại: bà Giỏi

Bị đơn dân sự: anh Giang

Nội dung: 12h trưa ngày 23-3-2005 chị Trinh nhờ anh Giang điều khiển xe mô

tô do anh Mướt (chồng chị Trinh) đứng tên chủ sở hữu chở bà Phê và Huôi và nhà.Trên đường về thì đâm vào bà Giỏi đang đi bộ qua đường làm bà bị chấn thương sọnão và chết trên đường đi cấp cứu Toà sơ thẩm áp dụng các quy định của BLDS HS

xử phạt chị 18 tháng trù treo, áp dụng Điều 614 BLDS 1995 buộc chị Trinh ông Mướt

và anh Giang liên đới bồi thường 7.857.000đ cho bà Vồi (con ruột, đại diện hợp phápcho bà Giỏi) Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên trách nhiệm HS, về trách nhiệm DS áp

Trang 10

dụng khoản 1 Điều 42 BLHS, các Điều 611,614 và 627 BLDS 1995 buộc chị Trinh,ông Mướt, anh Giang liên đới bồi thường 25.357.000 cho bà Vồi Toà GĐT xét thấytoà sơ thẩm và phúc thẩm xác định trách nhiệm hình sự là đúng, về trách nhiệm dân

sự, theo quy tại Điều 623 BLDS 2005 và hướng dẫn tại điểm b khoản 2 mục III Nghịquyết 03/2006/NQ-HĐTP xác định chị Trinh là người phải bồi thường thiệt hại Về sốtiền 7.857.000đ gồm tiền xây mộ và chụp ảnh không phù hợp với quy định của BLDS

2005 và Nghị quyết 03/2006

Câu 2.1: Thay đổi về các quy định liên quan tới Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra giữa BLDS 2005 và BLDS 2015?

Cơ sở pháp lý: Điều 623 BLDS 200511 và Điều 601 BLDS 2015

Thay đổi về các quy định liên quan tới bồi thường thiệt hại do nguồn nguyhiểm cao độ giữ BLDS 2005 và BLDS 2015 về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thườngthiệt hại

Khoản 3 và khoản 4 Điều 623 BLDS 2015 quy định chủ thể chịu trách nhiệmbồi thường là chủ sỡ hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm giữ, sử dụng nguồn nguyhiểm cao độ Nếu nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại thì những chủ thể nói trên sẽphải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Đến BLDS 2015 đã quy định theo hướng mở rộng các chủ thể chịu trách nhiệmbồi thường đó là chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ Nếunguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại thì những chủ thể nói trên sẽ phải chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại

Việc thay đổi theo hướng mở rộng đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường sẽbảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại Như tác giả Đỗ Văn

11 Điều 623 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1 Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao

3 Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4 Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hạ

Trang 11

Đại đã viết “trong thực tiễn xét xử Tòa án đã giải quyết theo hướng mở rộng danhsách các chủ thể có thể liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”12 khi BLDS

2005 đang có hiệu lực

Câu 2.2: Xe máy, ô tô có là nguồn nguy hiểm cao độ không? Vì sao?

Xe máy, ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ Bởi lẽ, khoản 1 Điều 601 BLDS

201513 đã liệt kê các nguồn nguy hiểm cao độ đó là hệ thống tải điện, nhà máy côngnghiệp đang hoạt động,… Và còn có cả phương tiện giao thông vân tải cơ giới Tại

khoản 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định “Phương tiện giao thông

cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ

mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.” Từ đó có thể thấy rằng xe máy,

ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ

Câu 2.3: Trong hai vụ việc trên, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay

do hành vi của con người gây ra? Vì sao?

Trong Quyết định số 30, đây là thiệt hại do con người gây ra Căn cứ vào nộidung của Quyết đính thì chúng ta thấy rằng Nguyễn Văn Giang điều khiển xe motochở bà Phạm Thị Phê và bà Phạm Thị Huôi về nhà, đi được khoảng 1km thì đâm vào

bà Nguyễn Thị Giỏi đang bị bộ qua đường Cho thấy rằng, đây là hành vi do chínhGiang điều khiển nguồn nguy hiểm cao độ là chiếc xe moto gây ra Không phải là “tựthân” nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Để áp dụng được chế định đang được nghiêncứu, chúng ta cần phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại vànguồn nguy hiểm cao độ Cụ thể, chúng ta phải chứng minh được rằng “thiệt hại donguồn nguy hiểm cao độ gây ra” như chính tiêu đề của Điều luật đã thể hiện Ở đây,thiệt hại phải xảy ra do nguồn nguy hiểm cao độ, không do hành vi của con người.Trong thực tế , nếu có sự hiện diện của con người thì vai trò của con người chỉ là thứyêu, không là yếu tố quyết định trong việc gây ra thiệt hại.14

Quyết định số 23, đây là thiệt hại do con người gây ra Vì căn cứ vào nội dungQuyết định “anh bình điều khiển xe đạp đi giữa hai làn đường dành cho xe cơ giới, khinge tiếng còi xe ô tô phía sau anh đã tránh sang bên trái Khi đó ông Dũng điều khiển

12 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức-Hội Luật

gia Việt Nam 2018, tr.552.

13 Điều 601 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1 Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao

độ khác do pháp luật quy định.

14 Đỗ Văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb.Hồng

Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2018 (xuất bản lần thứ tư),Bản án số 155, 156, 157 và 158, tr.278.

Trang 12

xe máy do không làm chủ được tốc độ, không đảm bảo được khoảng cách an toàn khitránh vượt và không làm chủ được tay lái khi tham gia giao thông nên đã để xe máy vaquệt và kéo xe đạp của anh đi được 5-6m mới dừng lại” Từ đây chúng ta thấy đượcthiệt hại giữa các bên là do chính hành vi của mỗi cá nhân gây ra không phải là do “tựthân” nguồn nguy hiểm cao độ mà cụ thể là chiếc xe trong Quyết định này gây ra.

Câu 2.4: Trong hai vụ việc trên, đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng các quy định của chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?

Trích Quyết định số 30: “Về trách nhiệm dân sự của Nguyễn Văn giang: Theoquy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2005 (Điều 627 Bộ luật dân sự 1995) về bồithường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và hướng dẫn tại điểm b khoản 2mục III Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm phánTòa án nhân dân tối cao thì “Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độgiao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không theo đúngquy định của pháp luật mà gây thiệt hại, thì chủ sỡ hữu phải bồi thường thiệt hại”…bồi thường thiệt hại là không đúng”15

Quyết định số 23 không rõ Tòa án có áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại

do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay là không áp dụng

Câu 2.5: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án vận dụng các quy định của chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Việc Tòa án vận dụng chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độgây ra trong Quyết định số 30 chưa thực sự thuyết phục bởi lẽ: chúng ta sẽ dựa vàocác căn cứ thiệt hại do nguồn nguy hiểm gây ra để xem xét có là thiệt hại do nguồnnguy hiểm cao độ gây ra:

Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra Thiệt hại trong Quyết định số 30 là bà NguyễnThị Giỏi bị chấn thương sọ não và chết trên đường đi cấp cứu Vậy đã có thiệt hại vềtính mạng

Thứ hai, gây thiệt hại trái pháp luật do chính nguồn nguy hiểm cao độ gây rahay còn gọi là có nguồn nguy hiểm cao độ Chúng ta hiểu thiệt hại do chính nguồn cao

độ gây ra là thiệt hại có nguồn gốc xuất phát từ chính các nguồn nguy hiểm cao độ.Nguồn nguy hiểm cao độ là tự thân các nguồn nguy hiểm cao độ này gây thiệt hại cho

cá nhân tổ chức khác, mà không phải là do lỗi của chủ sở hữu, người sử dụng, bảo

15 Trích phần xét thấy, Quyết định số 30/2006/HS-GĐT ngày 26/9/2006 của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối

cao, tr.3.

Trang 13

quản, trông giữ, vận chuyển.16 Ở căn cứ thứ hai, muốn thỏa mãn cần điều kiện là thiệthại do chính nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Nhưng trong Quyết định số 30 thì ngườiđiều khiển nguồn nguy hiểm cao độ cụ thể là chiếc xe gắn máy là Nguyễn Văn Giang,nhưng người điều khiển đâm vào người bị thiệt hại Không phải là “tự thân” xe motogây ra Như tác giả Đỗ Văn Đại đã viết “Ở đây, thiệt hại phải xảy ra do nguồn nguyhiểm cao độ, không do hành vi của con người Trong thực tế , nếu có sự hiện diện củacon người thì vai trò của con người chỉ là thứ yêu, không là yếu tố quyết định trongviệc gây ra thiệt hại”17 Từ đây chúng ta thấy rằng, cũng có trường hợp trên thực tế,chính nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại nhưng có sự hiện diện hay là có mộtphần vai trò của con người nhưng vai trò này không đáng kể Thì trong Quyết định số

30 chúng ta thấy rằng, nguồn nguy hiểm cao độ này không do chính nó gây ra mà là

do người điều khiển nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật do nguồn nguyhiểm cao độ gây ra và có thiệt hại xảy ra Để dẫn đến mối quan hệ nhân quả này buộcphải có hành vi trái pháp luật do nguồn nguy hiểm ca độ gây ra Đây là điều kiện đầutiên và quan trọng nhất trong mối quan hệ này.18 Nhưng trong Quyết định số 30 thìkhông căn cứ có hành vi trái pháp luật do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Nên căn cứthứ ba này không thỏa mãn

Từ đó chúng ta thấy rằng Tòa án vận dụng chế định bồi thường thiệt hại donguồn nguy hiể cao độ gây ra trong Quyết định 30 này chưa thực sự hợp lý

Câu 2.6: Trong Quyết định số 30, đoạn nào cho thấy Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại?

Trích Quyết định số 30: “Về trách nhiệm dân sự của Nguyễn Văn giang: Theoquy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2005 (Điều 627 Bộ luật dân sự 1995) về bồithường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và hướng dẫn tại điểm b khoản 2mục III Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm phánTòa án nhân dân tối cao thì “Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độgiao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không theo đúng

16 Nguyễn Xuân Quang, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,Nxb Hồng

Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017, chương 6, tr.420.

17 Đỗ Văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb.Hồng

Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2018 (xuất bản lần thứ tư),Bản án số 155, 156, 157 và 158, tr.278.

18 Có quan điểm của tác giả cho rằng “Điều kiện này đòi hỏi nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân tất yếu, nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hại xảy ra là kết quả của hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ.” – Trích http://luanvan365.com/de-tai-mot-so-van-de-ve-boi-thuong-thiet-hai-do-nguon-nguy- hiem-cao-do-gay-ra-21988.html truy cập ngày 13/11/2020.

Trang 14

quy định của pháp luật mà gây thiệt hại, thì chủ sỡ hữu phải bồi thường thiệt hại”…bồi thường thiệt hại là không đúng”19

Câu 2.7: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại.

Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại là chưa thuyết phục Bởi lẽ:

Như đã chứng minh ở câu 520 thì trong Quyết định số 30 thì việc áp dụng chếđịnh bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ chưa thực sự hợp lý Áp dụngchế định này chưa hợp lý ở căn cứ nguồn nguy hiểm cao độ và căn cứ mối quan hệnhân quả giữa nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra Từ đó dẫn đến việc xácđịnh chủ thể bồi thường thiệt hại chưa thuyết phục Mặc dù chúng ta biết rằng bàTrinh người sở hữu xe moto có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ (xe moto) bị

sử dụng trái pháp luật21 Nhưng khi không áp dụng chế định như đã nói thì việc xácđịnh chủ thể bồi thường sẽ là bà Trinh sẽ không phù hợp với quy định của pháp luậtdân sự Tòa án nên quay lại áp dụng chế định nguyên tắc bồi thường thiệt hại theoĐiều 604 BLDS 2005 (hay là Điều 584 BLDS 2015) hay là khoản 2 mục I Nghị quyết03/2006/NQ-HĐTP

Câu 2.8: Trên cơ sở Điều 604 BLDS 2005, Điều 584 BLDS 2015, Tòa án có thể buộc Giang bồi thường thiệt hại không? Vì sao?

Tòa án có thể buộc Giang bồi thường thiệt hại theo Điều 584 BLDS 2015 hoặcĐiều 604 BLDS 2005 Bởi lẽ:

Chúng ta sẽ dựa vào các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt ngoài hợp đồng

để xem xét:

Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra: bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinhthần Trong Quyết định này Tòa án không xác định có thiệt hại về tài sản đối vớingười bị thiệt hại hay không nhưng chúng ta có thể xác định được thiệt hại về tổn thấttinh thần cho những người thân của bà Giỏi

Thứ hai, có hành vi trái pháp luật Hành vi của Giang là hành vi trái pháp luậtxâm phạm đến quyền nhân thân theo Điều 33 BLDS 2015 mà cụ thể là có hành vi xâm

19 Trích phần xét thấy, Quyết định số 30/2006/HS-GĐT ngày 26/9/2006 của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao, tr.3.

20 Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án vận dụng các quy định của chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

21 Trái pháp luật ở đây chúng ta hiểu là nguồn nguy hiểm cao độ không được chiếm hữu, sử dụng đúng quy định của pháp luật Muốn đáp ứng được thì phải thỏa mãn hai điều kiện sau: Thứ nhất có việc giao chiếm hữu,

sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác Thứ hai, việc giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiêm cao

độ phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Trang 15

phạm tính mạng của bà Giỏi, bà bị chấn thương sợ não và chết trên đường đi cấp cứu.Như vậy dã có hành vi trái pháp luật.

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ratrên thực tế Giang

Câu 2.9: Theo Nghị quyết số 03, chi phí xây mộ và chụp ảnh có được bồi thường không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Theo Nghị quyết số 03, chi phí xây mộ và chụp ảnh không được bồi thường

Cơ sở pháp lý khoản 2.2 Điều 2 trong phần xác định thiệt hại có quy định về chi phíhợp lý cho việc mai táng

Câu 2.10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa phúc thẩm và của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến chi phí xây mộ và chụp ảnh.

Về hướng giải quyết, Toà án cấp phúc thẩm đã chấp nhận tiền xây mộ và chụpảnh là chi phí phải bồi thường, còn Toà GĐT đã cho rằng việc xác định như trên củaToà phúc thẩm là không phù hợp với quy định tại Điều 610 BLDS 2005 và hướng dẫntại khoản 2.2 mục II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTM nêu trên vì khoản tiền xây

mộ, chụp ảnh không được xác định là chi phí hợp lý cho việc mai táng

Theo tôi hướng giải quyết của Toà giám đốc thẩm là thuyết phục, điều đó cũng

sẽ dẫn đến việc Toà phúc thẩm giải quyết không thuyết phục, chính vì vậy ở đâychúng ta phân tích theo hướng thuyết phục của Toà Giám đốc thẩm thì sẽ cho thấyđược hạn chế của Toà sơ thẩm Theo khoản 2.2 Điều 2 trong phần xác định thiệt hại cóquy định về chi phí hợp lý cho việc mai táng Như vậy ở đây Nghị quyết của HĐTPtheo hướng liệt kê những chi phí như: “các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cầnthiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chikhác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung.” Nghịquyết của HĐTP cho rằng những chi phí trên là những chi phí hợp lý cho việc maitáng, theo tôi ở đây hợp lý chính là đúng lý lẽ và đạo đức cũng như hoàn cảnh trongtang lễ, đây là những chi phí cần thiết mà một đám tang sẽ có, chính vì vậy đây là sự

bù đắp một phần nào cho gia đình của người bị xâm phạm đến tính mạng Những chiphí này một phần ý nghĩa là bồi thường tổn thất cho tính mạng bị xâm phạm, mộtphần thể hiện rõ trách nhiệm của người gây thiệt hại đồng thời cũng tạo chế tài răng

đe đối với hành vi nguy hiểm này Tuy nhiên không phải chi phí nào cũng được bồithường cả, Nghị quyết 03/2006/NQ-HDDTP đã liệt kê ra một số chi phí không đượcbồi thường cụ thể là chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ Với quy định

Trang 16

trên thì đã rất rõ rằng chi phí xây mộ sẽ không được bồi thường, tuy nhiên chi phíchụp ảnh chưa có quy định cụ thể là có hay không được bồi thường, tuy nhiên xuấtphát từ tính hợp lý theo tôi chi phí chụp ảnh cũng sẽ không được bồi thường, bởi vìđây là một sự lãng phí không cần thiết và đáng có, nó không thực sự hợp lý dù là cáchgiải thích nào đi chăng nữa

Quy định của pháp luật là vậy, tuy nhiên thực tiễn có tuân thủ các quy định trên

là một câu chuyện rất lớn, theo tôi trong tương lai các nhà làm luật nên bổ sung chiphí xây mộ là chi phí hợp lý cho việc mai táng, bởi vì như đã biết mai táng là việcchôn cất người chết đã có từ rất lâu đời, trải qua năm tháng nó dần trở thành phong tụccủa con người chúng ta và người Việt nói riêng Mai táng còn thể hiện sự kính trọngđối với người đã khuất, xây mộ cho người đã khuất hiện nay đã không còn xa lạ gì đốivới chúng ta nữa mà dần trở thành nét ăn sâu vào nét văn hoá của người Việt Ngàynay mưa bão thất thường nếu chỉ chôn cất một cách bình thường như lúc xưa đắp vàonắm đất là xong thì tôi cho rằng điều này sẽ không hợp lý vì như đã biết ngày naymưa bão thất thường nếu không chôn cất đàng hoàng thì có thể gây xói mòn nắm mồgây mất mỹ quan một phần gây ô nhiễm môi trường Vì như đã biết xác người phânhuỷ sẽ sản sinh ra rất nhiều chất độc hại cho nguồn nước cũng như nhiều khí độc gâyảnh hưởng cho người hít phải Hơn thế nữa người Việt ta có truyền thống viếng mộngày Tết, nếu không chôn cất đàng hoàng thì lấy gì biết được mộ ông bà, người thân ởđâu mà viếng Cho nên các nhà làm luật cần phải đưa chi phí xây mộ là chi phí hợp lýcho việc mai táng để được bồi thường

Câu 2.11: Trong Quyết định số 23, đoạn nào cho thấy Bình là người bị thiệt hại?

Đoạn cho thấy Bình là người bị thiệt hại: “Còn anh Khoa khi điều khiển ô tô

đã phát hiện được xe đạp của anh Bình phía trước, sau đó là xe ông Dũng, nhưng do không làm chủ tốc độ, tay lái nên đã để xe tô tô chèn qua xe đạp của anh Bình sau khi

xe ông Dũng va quệt với xe anh Bình và kéo rê đi được gần 20m mới dừng” 22

Câu 2.12: Ông Khánh có trực tiếp gây ra thiệt hại cho anh Bình không? Vì sao?

Ông Khánh không trực tiếp gây ra thiệt hại cho anh Bình Vì căn cứ vào nộidung phần xét thấy của Quyết định số 23/GĐT-DS ngày 2/2/2005 của Tòa dân sự Tòa

án nhân dân tối cao thì người trực tiếp gây ra thiệt hại cho anh Bình là anh Khoa vìanh Khoa điều khiển phương tiện giao thông cơ giới là ô tô nhưng đã không làm chủđược tốc độ, tay lái nên đã xảy ra va quệt với anh Bình nên thiệt hại này trực tiếp doanh Khoa gây ra

22 Ph n xét th y, ầ ấ Quy t đ nh s 23/GĐT-DS ngày 2/2/2005 ế ị ố c a Tòa dân s Tòa án nhân dân t i cao ủ ự ố

Ngày đăng: 19/07/2021, 21:17

w