1. Trang chủ
  2. » Tất cả

PLĐC

16 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài làm - Theo điều 554 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, “hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI TẬP THẢO LUẬN NHÓM MÔN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Lớp K57A – Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế

Trang 2

Bài tập 1

Nguyễn văn An là khách quen của cửa hàng Xuân Thủy, một hôm An vào cửa hàng mua hàng và có gửi xe cho bảo vệ của cửa hàng Xuân Thủy là Bình nhưng không lấy vé gửi xe Sau khi mua hàng xong, An ra lấy xe nhưng không tìm thấy xe, An báo cho chủ cửa hàng Xuân Thủy là Hoa yêu cầu bồi thường, Hoa bảo An về và Hoa sẽ có trách nhiệm

hỗ trợ bồi thường

Tuy nhiên đã hai tháng trôi qua, nhiều lần An đến yêu cầu Hoa có trách nhiệm hỗ trợ bồi thường nhưng Hoa từ chối, Hoa cho rằng do bảo vệ Bình giữ xe làm mất nên An phải yêu cầu bảo vệ Bình bồi thường cho mình, cửa hàng của Hoa giữ xe có đưa vé xe đàng hoàng tại An không lấy nên giờ Hoa không có trách nhiệm với việc mất xe của An

Do đó, An khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Hoa phải bồi thường số tiền tương đương giá trị chiếc xe cho mình Theo anh/chị trường hợp này theo pháp luật dân sự, Hoa có phải bồi thường số tiền tương đương giá trị chiếc xe cho An hay không? Tại sao?

Bài làm

- Theo điều 554 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, “hợp đồng gửi giữ tài sản là sự

thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng, bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ, trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền công” Trong tình huống này giữa anh

bảo vệ và anh gửi xe là An đã phát sinh 1 hợp đồng dân sự là gửi giữ tài sản

- Theo điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định “giao dịch dân sự được thể hiện

bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể” Trong trường hợp này tuy An

không lấy vé xe nhưng cửa hàng Xuân Thủy này đã cung cấp dịch vụ gửi xe cho An, và

An đã giao dịch với anh bảo vệ và bỏ xe theo chỉ dẫn của anh bảo vệ Nên trong trường hợp này, hợp đồng dân sự giữa An và anh bảo vệ đã giao kết và có giá trị pháp lý

- Theo khoản 4 điều 557 Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ của bên giữ tài sản:

“Phải bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng” Trong trường hợp này bên cửa hàng Xuân Thủy nhận giữ xe cho anh An và anh

bảo vệ đã sơ xuất để làm mất xe của anh An Vì vậy, bên cửa hàng Xuân Thủy có trách nhiệm bồi thường cho An

Trang 3

- Theo điều 600 Bộ luật dân sự 2015 quy định “bồi thường thiệt hại do người làm công,

người học nghề gây ra: Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật” Trong trường hợp này, bà Hoa cho rằng do anh bảo vệ

giữ xe làm mất nên An phải yêu câu bảo vệ bồi thường cho mình là sai Mặc dù anh bảo

vệ là người sơ xuất nên để mất xe của An mà anh bảo vệ là người làm công cho chủ cửa hàng Xuân Thủy.Vì vậy, chủ cửa hàng Xuân Thủy là Hoa phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại này, còn việc phải bồi thường khoản tiền tương đương với giá trị chiếc xe hay không thì còn phụ thuộc vào thỏa thuận của hai bên Có thể hai bên thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại; nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, trong trường hợp Tòa án giải quyết thì An phải đưa ra các căn cứ chứng minh cho yêu cầu của mình về giá trị tài sản bị mất để Tòa án xem xét và quyết định mức bồi thường Sau

đó, chủ cửa hàng Xuân Thủy có quyền đòi người bảo vệ hoàn trả lại số tiền bồi thường cho An theo quy định pháp luật

Bài tập 2

Trường đại học Ngoại thương và Công ty Bình Minh ký một hợp đồng, theo hợp đồng Trường đại học Ngoại thương mua 50 máy tính của Công ty Bình Minh với giá trị là

500 triệu đồng, công ty Bình Minh có nghĩa vụ giao toàn bộ số hàng cho Trường đại học Ngoại thương vào ngày 20/6/2017 Ngày 20/6/2017 Công ty Bình Minh chỉ giao 30 máy tính, số còn lại đến ngày 30/7/2017 công ty vẫn chưa giao cho Trường đại học ngoại thương

Trường đại học Ngoại thương gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền yêu cầu Công ty Bình Minh phải giao 20 máy tính còn lại trong vòng 1 tuần kể từ 30/7/2018, đồng thời phải chịu phạt vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại cho Trường, Công ty Bình Minh không chấp nhận với lý do lô hàng máy tính nhập khẩu vào thời điểm 20/6/2018 gặp trục trặc không về đúng hạn nên không giao hàng cho Trường đại học Ngoại thương đúng thời hạn theo hợp đồng đã ký

Dựa vào quy định của pháp luật dân sự, hãy cho biết:

a Công ty Bình Minh có phải chịu phạt vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại không? Vì sao? (2 điểm)

Trang 4

b Giả sử trong hợp đồng Trường đại học Ngoại thương và Công ty Bình Minh không thỏa thuận về thời hạn, địa điểm giao hàng thì Công ty Bình Minh phải giao hàng vào thời gian nào? ở đâu? Giải thích? (2 điểm)

Bài làm

a) Giữa Trường đại học Ngoại Thương và Công ty Bình Minh khi tiến hành giao dịch mua bán đã ký hợp đồng, trong đó nêu rõ nghĩa vụ của công ty là giao đủ số lượng hàng vào ngày 20/6/2017 Tuy nhiên, Công ty Bình Minh chỉ giao được số lượng là 30 cái vào

ngày thỏa thuận, vẫn còn thiếu 20 cái Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015 có nêu rõ:

“1 Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

2 Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3 Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.”

Xem xét về lý do Công ty Bình Minh đưa ra, ta thấy việc lô hàng về không đúng hạn nên không thể giao không thuộc một trong các trường hợp được miễn trách được nêu

trong Điều 351 BLDS 2015 vì: thứ nhất lỗi hoàn toàn thuộc về công ty Bình Minh, thứ

hai đây không phải là trường hợp bất khả kháng (do có thể lường trước) Vậy công ty Bình Minh đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, cụ thể là giao thiếu số lượng hàng đã thỏa thuận, và phải chịu trách nhiệm dân sự đối với Trường đại học Ngoại Thương

Về việc công ty Bình Minh có phải chịu phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại cho Trường đại học Ngoại Thương không:

- Về việc chịu phạt vi phạm hợp đồng: Theo điều 418 BLDS năm 2015 quy định về thỏa

thuận phạt vi phạm:

“1 Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.”

Vậy có 2 trường hợp xảy ra:

Trang 5

+ TH1: Trong hợp đồng giữa Trường và công ty Bình Minh không hề thỏa thuận

về phạt vi phạm hợp đồng và mức phạt > Công ty Bình Minh sẽ không phải chịu mức phạt hợp đồng này

+ TH2: Trong hợp đồng giữa Trường và công ty Bình Minh có thỏa thuận về phạt

vi phạm hợp đồng và mức phạt tương ứng > Công ty Bình Minh sẽ phải chịu phạt vi phạm hợp đồng

- Về việc bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào điều 437 BLDS 2015:

Điều 437 Trách nhiệm do giao tài sản không đúng số lượng

1 Trường hợp bên bán giao tài sản với số lượng nhiều hơn số lượng đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận phần dôi ra; nếu nhận thì phải thanh toán đối với phần dôi ra theo giá được thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2 Trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận thì bên mua có một trong các quyền sau đây:

a) Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu;

b) Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại;

c) Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc vi phạm làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.

Vậy khi công ty Bình Minh giao thiếu số lượng hàng đã thỏa thuận vào ngày 20/6/2017, Trường đại học Ngoại Thương có một trong các quyền:

+ Nhận 30 máy đó và định thời hạn để bên Bình Minh giao tiếp số còn lại

+ Nhận 30 máy đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại

+ Hủy hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Thực tế, Trường Ngoại Thương đã nhận 30 máy đó và định thời hạn là 1 tuần kể từ ngày 30/7/2017 để bên Bình Minh giao số còn lại rồi nên không thể yêu cầu bên Bình Minh phải bồi thường thiệt hại cho mình nữa Vì thế, công ty Bình Minh không phải bồi thường thiệt hại như bên Trường yêu cầu

b Nếu trong hợp đồng giữa Trường đại học Ngoại Thương và công ty Bình Minh không

có các điều khoản về thời gian và địa điểm giao hàng thì:

- Về thời gian giao hàng: Căn cứ vào Khoản 2, Điều 434, BLDS năm 2015, Trường

Ngoại Thương có quyền yêu cầu công ty Bình Minh giao hàng, cũng như công ty Bình Minh có quyền yêu cầu Trường đại học Ngoại Thương nhận hàng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho nhau một cách hợp lý

Trang 6

- Về địa điểm giao hàng: Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về địa điểm giao nhận

hàng hóa như sau: Địa điểm giao tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận

thì áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 277 của Bộ luật dân sự năm 2015" Khoản 2 Điều

277 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định địa điểm giao nhận hàng hóa trong trường hợp hai

bên không có thỏa thuận như sau:

(i) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản;

(ii) Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải

là bất động sản Khi bên có quyền thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa vụ và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Vậy trong trường hợp này, hàng hóa giao dịch không phải là bất động sản, do đó công

ty Bình Minh phải giao hàng đến trụ sở của Trường đại học Ngoại Thương chính là trụ sở

của bên có quyền được nêu trong điều luật trên

Bài tập 3

Gia đình bà Thuận nuôi 1 đàn trâu, khi lùa trâu về, bà Thuận phát hiện đã có thêm một con trâu khác nhập vào đàn trâu nhà bà Bà Thuận đã đi hỏi các gia đình có nuôi trâu gần đó nhưng không thấy gia đình nào báo mất trâu Bà Thuận đã nuôi con trâu đó cùng đàn trâu của nhà mình Vài tháng sau, con trâu lạc đó đẻ ra con nghé

Thời gian sau, ông Tư ở thôn bên đến tìm bà Thuận và nói rằng con trâu đó là của nhà ông bị lạc nên muốn nhận lại con trâu và nghé Bà Thuận không đồng ý trả lại con trâu và nghé cho ông Tư vì bà đã có công chăm sóc chúng trong thời gian dài Hỏi:

1 Trường hợp này ông Tư có đòi lại được con trâu đã thất lạc? Tại sao?

2 Giả sử ông Tư có quyền đòi lại con trâu thì ông Tư có đòi được con nghé không? Tại sao?

3 Nếu trong thời gian nuôi con trâu, bà Thuận mang trâu cho bà Hai thuê mỗi tháng

200 ngàn thì số tiền cho thuê trâu thuộc về ai? Tại sao?

Bài làm

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị

thất lạc Cụ thể:

Điều 231 Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc

Trang 7

“1 Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc.

2 Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia súc bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được gia súc Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc 50% giá trị số gia súc sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc.”

1 Như vậy, việc bà Thuận đi hỏi các gia đình có nuôi trâu gần đó mà không báo ngay cho Ủy ban Nhân dân cấp xã là hành động chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình và do

đó không đủ căn cứ để xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc Vì vậy, nếu ông

Tư có đầy đủ bằng chứng chứng minh đây là con trâu của ông Tư thì bà Thuận phải trả lại con trâu đó cho ông Tư Ông Tư cũng không có trách nhiệm trả tiền nuôi giữ cho bà Thuận

2 Giả sử ông Tư có quyền đòi lại con trâu thì ông Tư hoàn toàn có quyền được đòi con nghé vì hành vi của bà Thuận là hành vi chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình

3 Theo Điều 158, Bộ luật dân sự năm 2015:

“Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không

có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được

từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.”

Do đó, nếu trong thời gian nuôi trâu, bà Thuận mang Trâu cho bà Hai thuê mỗi tháng

200 ngàn thì số tiền cho thuê trâu sẽ thuộc về ông Tư vì bà Thuận là người chiếm hữu con trâu không có căn cứ pháp luật và không ngay tình

Bài tập 4

A và B là bạn rất thân, A là sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Ngoại thương, B làm việc ở công ty Hoa Mai A ngỏ ý muốn vay tiền B với số tiền là 20 triệu và B đồng ý Sau khi đưa tiền cho A, B đã viết vào 1 tờ giấy với nội dung: “Đồng ý cho A vay 20 triệu đồng trong vòng 1 năm kể từ ngày hôm nay, ngày 10/1015" Sau 1 năm vào ngày

20/10/16, B đòi lại A số tiền trên nhưng A không trả Ba tháng trôi qua, A vẫn chưa trả B nên B khởi kiện ra tòa để đòi lại số tiền trên

Trang 8

a Tờ giấy trên có phải hợp đồng không? Vì sao?

b Nếu tờ giấy trên là hợp đồng thì B có đòi được A 20 triệu đã cho vay không? Vì sao?

c Nếu đòi được tiền, B có quyền gì khác đối với A liên quan đến việc A trì hoãn không chịu trả tiền cho B?

d Sau tình huống trên, bạn rút ra được bài học gì?

Bài làm

a) Căn cứ theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản

như sau: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” Điều luật này không quy định bắt buộc về hình thức của hợp đồng vay tài sản

và cũng không yêu cầu phải công chứng hoặc chứng thực đối với hợp đồng vay Vì vậy, B

đã viết vào 1 tờ giấy với nội dung: “Đồng ý cho A vay 20 triệu đồng trong vòng 1 năm kể

từ ngày hôm nay, ngày 10/1015" xem như là giấy vay nợ viết tay, giấy vay nợ viết tay vẫn được coi là một hợp đồng vay tài sản và có giá trị pháp lý

b) Căn cứ Điều 466 khoản 1 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản

là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”

Vì vậy B đã cho A vay với số tiền 20 triệu đồng có hợp đồng nên B hoàn toàn có thể đòi lại được số tiền 20 triệu đó

c) Căn cứ Điều 466 khoản 4 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Theo khoản 2 điều 468 của BLDS 2015, “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến

hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất mà pháp luật quy định trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Vậy nên nếu đòi được số tiền bị trì hoãn B có quyền yêu cầu thêm số tiền lãi suất

d) Sau tình huống trên tôi nhận thấy về việc cho vay mượn nói riêng và những vấn đề

có liên quan đến tài sản, quyền lợi cá nhân thì nên cẩn thận, rõ ràng thẳng thắn dù là

Trang 9

người thân hay bạn bè Trong soạn thảo giấy tờ nên đầy đủ cụ thể hơn, cần có công chứng chữ ký hai bên ,có sự tin tưởng chắc chắn khi làm HĐ

Bài tập 5

Ngày 12/3/2015, Hồng và Nga làm hợp đồng mua bán xe máy viết tay, có chữ ký của 2 bên, giá bán xe 30 triệu nhưng chưa làm thủ tục sang tên Đến giữa tháng 5 thì Hồng đòi lại xe máy và đồng ý trả lại Nga 30 triệu tiền bán xe Hồng nói: xe chưa đăng kí sang tên thì vẫn là của Hồng, Hồng có quyền đòi lại và trả lại tiền mua bán xe Hỏi làm vậy có đúng không? Biết rằng Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số

15/2014/TT-BCA ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe:

Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực.

Bài làm

Quy định tại điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04 tháng 4

năm 2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe: “Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực”.

Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA bắt buộc phải có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng

ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của ng bán cuối cùng để sang tên xe Tuy nhiên, trong quá trình nhận xe, phía bà Nga không có ý kiến gì về việc sang tên xe Hai bên chỉ thực hiện hợp đồng mua bán thông qua giấy tờ viết tay và cũng chưa qua thủ tục công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng nên giao dịch mua bán xe sẽ bị vô hiệu

Điều 131 BLDS 2015 quy định: Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

“1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

Trang 10

3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5 Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định”.

Theo khoản 2 điều 131 BLDS 2015 quy định, giao dịch mua xe trong trường hợp này

vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, cho nên hai bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận

Điều 166 BLDS 2015:

“1 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

3 Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó”.

Theo khoản 1 điều 166 BLDS 2015 thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người

chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật Việc không làm thủ tục sang tên thì tức là pháp luật chưa công nhận hợp đồng trên Do vậy, việc bà Hồng có thể đòi lại chiếc xe là được

Như vậy, trong trường hợp bên bà Hồng khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch mua bán xe vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức của giao dịch thì Tòa án sẽ ra quyết định buộc hai bên phải thực hiện đúng quy định này, nghĩa là hai bên sẽ phải tiến hành thủ tục công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán xe theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực Nếu bà Hồng và bà Nga không thể thỏa thuận được về việc công chứng, chứng thực hợp đồng thì hợp đồng mua bán xe sẽ vô hiệu

Bài tập 6:

An đi du lịch ở nước ngoài về, có mượn của Sơn một máy ảnh hiệu Canon để chụp ảnh lưu niệm Hôm An về đến sân bay thì có Hồng ra đón Nhìn thấy chiếc máy ảnh, Hồng khen đẹp và tỏ ý rất thích Thấy vậy, An đã tặng chiếc máy ảnh nói trên cho Hồng

và nói là quà từ nước ngoài đem về Sau đó, Sơn nhìn thấy Hồng sử dụng máy ảnh của mình thì đòi lại Hồng không đồng ý Hỏi : Sơn có quyền đòi lại máy ảnh từ Hồng không hay chỉ có quyền đòi An bồi thường thôi ? Chỉ rõ căn cứ pháp lý để trả lời cho câu hỏi trên

Ngày đăng: 19/07/2021, 16:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w