1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PLDC_THAM KHAO docx

100 383 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 622 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giai cấp thống trị sử dụng Nhà nước để tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp mình.Thông qua Nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung, thống

Trang 1

PHẦN MỘT:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC

I.NGUỒN GỐC NHÀ NƯỚC

Nhà nước là một hiện tượng chính trị - xã hội đa dạng và phức tạp, có liên quan đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp dân cư, các quốc gia và có tác động trực tiếp đến cuộc sống của tất cả mọi người trong xã hội Do vậy, để nhận thức đúng đắn bản chất cũng như quy luật phát triển của Nhà nước, trước hết cần phải làm sáng tỏ nguyên nhân và giải thích quá trình phát sinh của Nhà nước

Vì thế, từ thời kỳ cổ, trung đại đã có nhiều nhà tư tưởng tiếp cận và đưa ra những khái niệm khác nhau về nguồn gốc của Nhà nước Nhìn nhận một cách khái quát, chúng ta có thể phân chia những học thuyết về nguồn gốc của Nhà nước thành hai loại:

- Học thuyết Mác - Lênin về nguồn gốc Nhà nước

- Học thuyết khác về nguồn gốc Nhà nước (Các học thuyết phi Mác xít)

1.Các học thuyết phi Mácxít bàn về nguồn gốc Nhà nước

a Thuyết thần học:

Các nhà tư tưởng theo thuyết này cho rằng: “Thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội, Nhà nước là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung, do vậy Nhà nước là một lực lượng siêu nhiên và đương nhiên quyền lực Nhà nước là vĩnh cửu và sự phục tùng quyền lực Nhà nước là cần thiết

và tất yếu” Do có sự giải thích khác nhau về quan hệ giữa Nhà nước và giáo hội nên những người theo thuyết thần học phân hóa thành nhiều phái

- Phái giáo quyền thừa nhận sự lệ thuộc của Nhà nước vào giáo hội và cho rằng Thượng đế sáng tạo ra nhân loại, thống trị nhân loại cả về thể xác

và linh hồn, sau đó đem trao quyền đó cho giáo hội; nhưng rồi giáo hoàng chỉ giữ lại quyền lực về tinh thần còn quyền thống trị về thể xác giáo hoàng trao lại cho vua tinh thần chi phối thể xác nên giáo hoàng chi phối nhà vua,

ở bên trên nhà vua

- Phái quân chủ cho rằng: vua nhận trực tiếp từ thượng đế quyền thống trị dân chúng và phải chịu trách nhiệm trước thượng đế; nhân dân phải phục tùng tuyệt đối nhà vua (đại diện phái này có Luther, Bossuet, Stahl )

- Phái dân quyền cho rằng: Thượng đế trao cho nhân dân quyền lực rồi nhân dân ủy thác cho nhà vua, cùng vua cam kết rằng vua phải trị vì một cách công minh và chỉ như vây nhân dân mới phục tùng nhà vua; nếu vua thi

Trang 2

hành quyền lực một cách bạo ngược thì nhân dân có quyền vùng dậy và phản kháng lại (đại biểu phái này có CalvIn, Langnet, Althisius )

b Thuyết gia trưởng:

Các nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng lại cố gắng chứng minh rằng:

“Nhà nước ra đời là kết quả phát triển của gia đình và quyền gia trưởng; là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người, vì vậy cũng như gia đình, Nhà nước tồn tại trong mọi xã hội, quyền lực Nhà nước về bản chất giống như quyền lực gia trưởng của người đứng đầu gia đình” (đại biểu của thuyết này có Aristote, Bodin, More )

c Thuyết khế ước xã hội:

Đến khoảng thế kỷ 16, 17,18 đã xuất hiện hàng loạt quan niệm mới về nguồn gốc Nhà nước Nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán của Nhà nước phong kiến, đòi hỏi sự bình đẳng của giai cấp tư sản trongviệc tham gia nắm giữ quyền lực Nhà nước, nên đa số các học giả tư sản đều tán thành

quan điểm cho rằng sự ra đời của Nhà nước là sản phẩm của một khế ước

(hợp đồng) được ký kết, trước hết là giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có Nhà nước Vì vậy, Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu Nhà nước phục vụ họ, bảo vệ lợi ích của họ Nguồn gốc của Nhà nước là khế ước xã hội nên chủ quyền Nhà nước thuộc về nhân dân Trong trường hợp Nhà nước không giữ được vai trò của mình, các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ mất hiệu lực và nhân dân có quyền lật đổ Nhà nước và ký kết khế ước mới

Sự xuất hiện thuyết khế ước xã hội về nguồn gốc Nhà nước đánh dấu bước phát triển nhận thức của con người về nguồn gốc Nhà nước Về mặt lịch sử, thuyết khế ước xã hội phủ nhận thuyết thần quyền về sự ra đời của Nhà nước, đồng thời coi quyền lực Nhà nước là sản phẩm hoạt động của con người Vì vậy, thuyết khế ước xã hội thực sự trở thành cơ sở cho thuyết dân chủ cách mạng và cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản, lật đổ ách thống trị phong kiến Với ý nghĩa đó, nó có tính cách mạng và giá trị lịch sử to lớn

Nhưng học thuyết này vẫn còn hạn chế căn bản vì vẫn giải thích nguồn gốc Nhà nước trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm, coi Nhà nước được lập

ra do ý muốn, nguyện vọng chủ quan của các bên tham gia khế ước, không giải thích được cội nguồn vật chất và bản chất giai cấp của Nhà nước (đại biểu của thuyết này có Hobbles, Locke, Montesquieu )

d Một số học thuyết khác:

Ngoài những học thuyết nêu trên, một số học thuyết khác tuy mức độ phổ biến có hạn chế hơn nhưng đã xuất hiện như:

- Thuyết bạo lực: cho rằng Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử

dụng bạo lực của Thị tộc này đối với Thị tộc khác, mà kết quả là Thị tộc

Trang 3

cHiến thắng “nghĩ ra” một hệ thống cơ quan đặc biệt - Nhà nước, để nô dịch

kẻ cHiến bại (đại biểu của phái này có Hume, Duhring )

- Thuyết tâm lý: Nhà nước xuất hiện do nhu cầu tâm lý của con

người nguyên thủy luôn luôn mong muốn phụ thuộc vào thủ lĩnh, giáo sĩ

Vì vậy, Nhà nước là tổ chức của những siêu nhân có sứ mệnh lãnh đạo xã hội (đại diện cho phái này có Phơreder, L.Petơraitki )

Nhận xét: Nhìn chung, do hạn chế về mặt lịch sử, do nhận thức còn

thấp kém, hoặc do bị chi phối bởi lợi ích giai cấp hay cố tình giải thích sai lệch những nguyên nhân đích thực làm phát sinh Nhà nước, nhằm che đậy bản chất Nhà nước Nên các học thuyết trên chưa giải thích được đúng

nguồn gốc của Nhà nước (Những học thuyết tuyên truyền tính chất thần

thánh, tôn giáo, duy tâm về Nhà nước nhằm ru ngủ quần chúng bằng niềm tin số phận, duy trì sự thống trị của giai cấp cầm quyền; hoặc như giai cấp

tư sản thì lại tuyên truyền cho tính chất “siêu giai cấp” của Nhà nước tư sản, xuyên tạc hoặc che đậy bản chất của Nhà nước) Đa số họ khi xem xét

sự ra đời của Nhà nước đều tách rời những điều kiện vật chất của xã hội, tách rời những nguyên nhân kinh tế, và chứng minh rằng Nhà nước là một thiết chế tồn tại trong xã hội; một lực lượng đứng trên xã hội, đứng ngoài xã hội để giải quyết các tranh chấp, điều hòa mâu thuẫn xã hội nhằm bảo đảm

sự phồn vinh cho xã hội.Theo đó, Nhà nước không thuộc giai cấp nào, Nhà nước là của tất cả mọi người và xã hội văn minh mãi mãi vẫn có Nhà nước

2 Học thuyết Mác- Lênin về nguồn gốc Nhà nước.

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu khoa học của xã hội loài người, với quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chứng minh một cách khoa học rằng Nhà nước không phải là những hiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến Nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Nhà nước là lực lượng nảy sinh từ xã hội, là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người, Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó mất đi Những luận điểm quan trọng về sự xuất hiện Nhà nước được trình

bày trong các tác phẩm: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của

Nhà nước” (Ph.Ăngghen) và “Nhà nước và cách mạng” (V.I.Lênin)

a.Chế độ cộng sản nguyên thủy và quyền lực thị tộc.

Xã hội loài người không phải khi nào cũng có Nhà nước Lịch sử đã chứng minh rằng, xã hội loài người đã có một thời kỳ dài không có Nhà nước Đó là thời kỳ lịch sử của xã hội cộng sản nguyên thủy (CSNT) – hình thái KT-XH đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người

* Cơ sở kinh tế của xã hội CSNT là chế độ sở hữu chung (Công hữu)

về Tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động

Trang 4

Điều này được qui định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém, công cụ lao động thô sơ, con người chưa nhận thức đúng đắn

về thiên nhiên và bản thân mình Họ luôn trong tình trạng hoảng sợ, bất lực trước những tai họa của thiên nhiên thường xuyên xảy đến, năng suất lao động thấp Trong điều kiện đó, con người không thể sống riêng biệt mà phải dựa vào nhau, cùng chung sống, cùng lao động và hưởng thụ những thành quả lao động chung (được đặc trưng bằng nguyên tắc bình quân) Điều này dẫn đến sự bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, không ai có tài sản riêng, không có người giàu, kẻ nghèo, không có tình trạng người nào chiếm đoạt tài sản của người kia Xã hội chưa phân chia thành giai cấp và không có đấu

tranh giai cấp

* Cơ sở xã hội: Tế bào của xã hội không phải là gia đình mà là thị

tộc

Thị tộc được tổ chức theo huyết thống, nền tảng vật chất là kinh tế tập thể

và quyền sở hữu công cộng.Ở gia đoạn đầu, do những điều kiện về KT-XH

và hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ nên các thị tộc được tổ chức theo chế độ mẫu hệ Dần dần, sự phát triển của nền KT-XH đã tác động làm thay đổi quan hệ trong hôn nhân, địa vị của người phụ nữ trong thị tộc cũng thay đổi người đàn ông giữ vai trò chủ đạo trong đời sống thị tộc và chế độ mẫu hệ đã chuyển thành chế độ phụ hệ

Ở thời kỳ này đã có sự phân công lao động nhưng mới là sự phân công lao động tự nhiên giữa đàn ông và đàn bà, giữa người già và trẻ nhỏ để thực hiện các loại công việc khác nhau chứ chưa mang tính chất xã hội (phân công lao động theo lứa tuổi và giới tính)

Tóm lại: Công hữu TLSX+SPLĐ Mọi người đều bình đẳng

Không có sản phẩm dư thừa Không có tư hữu Không có phân chia giai cấp + đấu tranh giai cấp Không có Nhà nước.

* Quyền lực và các qui phạm xã hội trong chế độ CSNT.

Quyền lực thị tộc: Trong xã hội CSNT đã có quyền lực nhưng đó là

thứ quyền lực xã hội được tổ chức và thực hiện dựa trên cơ sở của những nguyên tắc dân chủ thực sự.Quyền lực đó do toàn xã hội tổ chức ra và phục

vụ lợi ích cho cả cộng đồng được thực hiện thông qua thiết chế tự quản của người dân với các cơ quan quản lý gồm có Hội đồng thị tộc, Tù trưởng và các thủ lĩnh quân sự

+ Hội đồng thị tộc: là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc, trong đó

thành viên là tất cả mọi người lớn tuổi không phân biệt đàn ông hay đàn bà HĐTT có quyền quyết định tất cả các vấn đề quan trọng của thị tộc (tổ chức lao động sản xuất, tiến hành chiến tranh, tổ chức các nghi lễ tôn giáo, giải quyết tranh chấp nội bộ ).Các quyết định của HĐTT thể hịên ý chí chung

và có tính bắt buộc chung đối với mọi thành viên trong thị tộc Mặc dù trong

Trang 5

thị tộc chưa có các tổ chức cưỡng chế đặc biệt như: Toà án, cảnh sát nhưng quyền lực xã hội có hiệu lực rất cao và đã thể hiện tính cưỡng chế mạnh mẽ.

HĐTT bầu ra những người đứng đầu thị tộc như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự để thực hiện quyền lực và quản lý những công việc chung Những người này có quyền lực rất lớn nhưng quyền lực của họ hoàn toàn không dựa vào bộ máy cưỡng chế đặc biệt mà dụa vào tập thể cộng đồng, trên cơ sở uy tín cá nhân, sự tín nhiệm và sự ủng hộ của các thành viên trong thị tộc Những người đứng đầu thị tộc không có một đặc quyền, đặc lợi nào so với các thành viên khác Họ có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào nếu uy tín không còn và không được tập thể cộng đồng ủng hộ nữa

Qui phạm xã hội: Trong xã hội CSNT, chưa có pháp luật nhưng đã

tồn tại những qui tắc xử sự chung thống nhất – đó là các qui phạm xã hội thể hiện ý chí chung của tất cả mọi thành viên trong xã hội bao gồm các tập quán và tín Điều tôn giáo

Tập quán luôn gắn liền với các qui phạm đạo đức và tôn giáo và nhiều

khi đồng nhất với chúng Do nhu cầu khách quan của xã hội cần có một trật

tự, trong đó các thành viên phải tuân thủ những chuẩn mực chung, thống nhất phù hợp với những điều kiện của xã hội và lợi ích của tập thể, các tập quán đã dần dần được hình thành một cách tự phát, dần dần được xã hội chấp nhận và trở thành những qui tắc xử sự chung mang tính chất đạo đức của xã hội Do trình độ nhận thức thấp kémcủa con người, nhiều tín Điều tôn giáo cũng được mọi người chấp nhận và nhiều khi được coi là những chuẩn mực tuyệt đối thiêng liêng cho xử sự của con người, vì vậy được mọi nguời tuân theo một cách tự nguyện.Việc tuân theo các quy tắc xử sự đó dường như đã trở thành thóI quen của các thành viên do đó QPXH có tính cưỡng chế mạnh mẽ, các cá nhânvi phạm có thể phải chịu các biên pháp cưỡng chế khắc nghiệt (dẫn chứng)

* Mối quan hệ giữa thị tộc – bào tộc - bộ lạc

Thị tộc là tổ chức tế bào cơ sở của xã hội CSNT, là một cộng đồng xã

hội độc lập Nhưng cùng với sự phát triển của xã hội, do nhiều yếu tố khác nhau tác động (chế độ ngoại tộc hôn) đã đòi hỏi các thị tộc phải mở rộng các quan hệ với các thị tộc khác dẫn đến sự xuất hiện các bào tộc và bộ lạc

Bào tộc là một liên minh bao gồm nhiều thị tộc gộp lại Tổ chức

quyền lực của bào tộc tương tự như của thị tộc nhưng ở chừng mực nhất định sự tập trung quyền lực cao hơn Hội đồng bào tộc bao gồm các tù trưởng, thủ lĩnh quân sự (đã không phải là tất cả các thành viên của bào tộc) Mặc dù phần lớn các công việc trong bào tộc vẫn do hội nghị tất cả các thành viên của bào tộc quyết định nhưng trong nhiều truờng hợp chỉ do hội đồng bào tộc quyết định

Trang 6

Bộ lạc bao gồm nhiều bào tộc có liên kết với nhau, tổ chức quyền lực

tương tự như thị tộc, bào tộc nhưng đã thể hiện mức độ tập trung quyền lực cao hơn Tuy nhiên, quyền lực vẫn mang tính xã hội, chưa mang tính giai cấp

b Sự tan rã của chế độ CSNT và sự xuất hiện của Nhà nước.

Xã hội thị tộc - bộ lạc không biết đến Nhà nước nhưng chính trong lòng nó đã nảy sinh những tiền đề vật chất cho sự ra đời của Nhà nước Những nguyên nhân làm cho xã hội tan rã đồng thời là những nguyên nhân làm xuất hiện Nhà nước

Đóng vai trò quan trọng trong việc làm tan rã chế độ cộng sản nguyên thủy, chuyển chế độ cộng sản nguyên thủy lên một hình thái KT-XH mới cao hơn đó là ba lần phân công lao động xã hội, mỗi lần tạo ra những tiền đề mới dẫn đến sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy

* Lần thứ nhất: nghề chăn nuôi phát triển mạnh đã tách ra khỏi

trồng thời trở thành một ngành kinh tế độc lập.

Hệ quả:

- Sự xuất hiện tài sản tư hữu việc con người thuần dưỡng được động

vật, hình thành nên đàn gia súc và trở thành nguồn tích lũy quan trọng, là mầm móng của chế độ tư hữu Ngành trồng trọt cũng có những bước phát triển mới, năng suất lao động tăng nhanh, sản phẩm làm ra càng nhiều Con người đã tạo ra nhiều của cải hơn mức cần thiết để duy trì cuộc sống của chính bản thân họ Do đó đã xuất hiện những sản phẩm dư thừa và phát sinh khả năng chiếm đoạt những sản phẩm dư thừa ấy, chế độ tư hữu xuất hiện,

xã hội đã phân chia thành kẻ giàu người nghèo

- Do sự phát triển mạnh mẽ của nghề chăn nuôi và trồng trọt một nhu cầu mới đã nảy sinh: nhu cầu về sức lao động Vì vậy, trước kia những tù binh bị bắt trong cHiến tranh thường bị giết chết thì nay được giữ lại làm nô

lệ để bóc lộc sức lao động, kết cấu xã hội phân chia thành chủ nô và nô lệ.

- Chế độ tư hữu xuất hiện đã làm thay đổi chế độ hôn nhân: chế độ hôn nhân một vợ một chồng thay thế cho chế độ quần hôn; đã xuất hiện chế

độ gia trưởng đặc trưng bằng vai trò tuyệt đối và quyền lực vô hạn của người

chồng trong gia đình –“Gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng đang đe

dọa thị tộc” Bởi lẽ, đại gia đình phụ quyền đã được phân thành nhiều gia

đình nhỏ chỉ bao gồm vợ chồng và con cái Mỗi gia đình nhỏ ấy là một đơn

vị kinh tếcó tài sản riêng (công cụ sản xuất, tư liệu lao động) và những thứ

ấy được truyền lại cho con cái từ đời này sang đời khác, càng củng cố thêm chế độ tư hữu

* Lần thứ 2: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp.

Trang 7

Việc tìm ra kim loại và chế tạo công cụ lao động bằng kim loại đã nâng cao năng suất lao động, nghề chế tạo đồ kim loại, nghề dệt, nghề gốm phát triển.

Hệ quả:

- Xã hội hóa tầng lớp nô lệ Sự tăng trưởng không ngừng của sản phẩm

lao động đã nâng cao giá trị sức lao động của con người Sau nlần phân công lao động thứ 1, nô lệ đã ra đời nhưng còn tính chất lẻ tẻ, thì ngày nay càng phát triển và trở thnàh một lực lượng lao động phổ biến

- Đã đẩy nhanh quá trình phân hóa xã hội làm cho sự phân biệt giữa kẻ

giàu và ngưòi nghèo, giũa chủ nô và nô lệ ngày càng sâu sắc, mâu thuẫn giai cấp càng tăng

* Lần thứ 3: Buôn bán phát triển và thương nghiệp xuất hiện.

Hệ quả:

- Đây là lần phân công lao động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa

quyết định Sự phân công này làm nảy sinh ra một giai cấp không còn tham

gia vào sản xuất nữa, mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, đó là giai cấp

thương nhân

- Nếu như ở hailần phân công lao động xã hội trước, những nguyên nhân của sự hình thành giai cấp đều chỉ gắn liền với sản xuất mà thôi, thì ở

lần phân công này: “lần đầu tiên xuất hiện một giai cấp tuy không tham gia

sản xuất môtụ tý nào, nhưng lại chiếm toàn bộ quyền lãnh đạo sản xuấ và bắt những nguời sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế và bóc lột cả hai”- một giai cấp mà lịch sử loài người trước đó chưa hề biết đến.

- Hoàn thiện chế độ tư hữu Xã hội phân hóa thành các giai cấp có lợi

ích đối kháng nhau

Sự ra đời và bành trướng của kinh tế kéo theo sự xuất hiện của đồng tiền (hàng hóa của các loại hàng hóa), nạn cho vay nặng lãi, quyền tư hữu về ruộng đất và chế độ cầm cố phát triển đã tăng cường sự tích tụ, tập trung của cải trong tay của một số ít người giàu có diễn ra nhanh chóng, đồng thời thúc đẩy sự bần cùng hóa của quần chúng và sự tăng nhanh của đám đông dân nghèo Số nô lệ tăng lên rất đông cùng với sự cưỡng bức và bóc lột ngày càng nặng nề của giai cấp chủ nô đối với họ; sự phân hóa giữa chủ nô và nô

lệ càng thêm sâu sắc

KẾT LUẬN: Qua 3 lần phân công lao động xã hội đã làm cho nền

KT-XH có sự chuyển biến sâu sắc:

1.Các ngành kinh tế phát triển, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, đã phát sinh khả năng chiếm đoạt tài sản dư thừa làm của riêng Điều này làm

quá trình phân hóa nảy sinh và chế độ tư hữu ra đời (mâu thuẫn với chế độ

công hữu).

Trang 8

2.Hoạt động mang tính chuyên môn dẫn đếnviệc không nhất thiết phải đòi hỏi lao động của cả tập thể nữa.

3.Chế độ hôn nhân 1 vợ, 1 chồng làm cho gia đình nhỏ tách khỏi gia đình lớn, hình thành các đơn vị kinh tế độc lập, có tài sản riêng, tụ tiến hành sản xuất

4.Những hoạt động thương nghiệp, sự thay đổi nghề nghiệp và sự nhượng quyền sở hữu đất đai đã đòi hỏi phải di động và thay đổi chỗ ở, phá

vỡ cuộc sống định cư của thị tộc (các thành viên của thị tộc, bộ lạc phải

cùng chung sống trên một lãnh thổ mà chỉ mình họ cư trú mà thôi).

5.Trong xã hội hình thành giai cấp thống trị (chủ nô: quý tộc thị tộc trong công xã, bộ lạc; thương nhân; tăng lữ) có quyền và lợi ích mâu thuẫn sâu sắc với giai cấp bị trị (bình dân, nô lệ), không thể Điều hòa được

Tất cả những yếu tố trên đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, phá vỡ tính chất khép kín của thị tộc Tổ chức thị tộc với hệ thống quản lý trước đây trở nên bất lực, không còn phù hợp Để Điều hành, quản lý xã hội mới đòi hỏi phải có một tổ chức mới khác trước về chất Tổ chức đó chỉ đại diện cho quyền lưọi của giai cấp nắm ưu thế về chính trị, nhằm thực hiện sự thống trị giai cấp, dập tắt sự xung đột công khai hoặc cùng lắm là giữ cho chúng ở trong vòng trật tự, tổ chức đó là Nhà nước

Như vậy, Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ CSNT TIền đề kinh tế cho sự xuất hiện của Nhà nước là sự xuất hiện chế độ tư hữu

về tài sản trong xã hội TIền đề kinh tế là cơ sở vật chất tạo ra tiền đề xã hội cho sự ra đời của Nhà nước – Đó là sự phân chia xã hội thành các giai cấp

mà lợi ích cơ bản giữa các gai cấp và tầng lớp này là hoàn toàn đối kháng với nhau đến mức không thể điều hòa được Do vậy, Nhà nước là một hiện tượng thuộc về bản chất của xã hội có giai cấp

Qúa trình hình thành Nhà nước có thể được tóm tắt bằng giản đồ sau:

Sự phát triển của LLSX KT và có sự phân công lao động xã hội

Sự xuất hiện của cải dư thừa và chế độ tư hữu Sự hình thành giai cấp Mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thể Điều hòa được Nhà nước ra đời.

Ở Việt Nam, Nhà nước xuất hiện và khoảng thiên niên kỷ 2 TCN Cũng như các Nhà nước phương Đông khác, sự phân chia giai cấp trong xã hội cổ Việt Nam chưa đến mức gay gắt Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, nhu cầu xây dựng, quản lý những công trình trị thuỷ đảm bảo nền sản xuất nông nghiệp và tổ chức lực lượng chống giặc ngoại xâm đã thúc đẩy quá trình liên kết các tộc người và hoàn thiện bộ máy quản lý Kết quả này đã cho ra đời Nhà nước Việt Nam đầu tiên - Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng

II BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC.

Trang 9

1.Tính giai cấp của Nhà nước.

Xuất phát từ việc nghiên cứu nguồn gốc của Nhà nước, các nhà kinh

điển của CN Mác – Lênin đi đến kết luận: “Nhà nước là sản phẩm và biểu

hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể Điều hòa đươc” Nghĩa là

Nhà nước chỉ sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai cấp và bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc Bản chất đó thể hiện trước hết ở chỗ Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay của giai cấp cầm quyền, là công cụ sắc bén nhất để duy trì sự thống trị giai cấp

Trong XH có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp

khác đều thể hiện dưới 3 loại quyền lực:quyền lực chính trị, quyền lực kinh

tế và quyền lực tư tưởng, trong đó quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định,

là cơ sở để đảm bảo cho sự thống trị giai cấp Quyền lực kinh tế có ý nghĩa quan trọng vì nó tạo ra cho người chủ sở hữu khả năng có thể bắt người bị bóc lột phải phụ thuộc về mặt kinh tế Nhưng bản thân quyền lực kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột Vì vậy, cần phải có Nhà nước, một bộ máy cưỡng chế đặc biệt, để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị

về kinh tế và để đàn áp sự phản kháng của các giai cấp bị bóc lột Nhờ có hNhà nước mà giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị NóI cách khác, giai cấp thống trị đó trở thành chủ thể của quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị

Nhà nước là một bộ máy quyền lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để đàn áp các giai cấp đối địch Với ý nghĩa đó, Nhà nước chính là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị giai cấp thống trị sử dụng Nhà nước để tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp mình.Thông qua Nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí của Nhà nước và do đó buộc các giai cấp khác phải tuân theo trật tự phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị Làm như vậy, giai cấp thống trị đã thực hiện sự chuyên chính của giai cấp mình đối với giai cấp khác Công cụ chủ yếu để thực hiện sự chuyên chính giai cấp là Nhà nước, một bộ máy do giai cấp thống trị tổ chức ra

Nắm quyền lực về kinh tế và chính trị, giai cấp thống trị cũng bằng con đường Nhà nước để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưỏng thống trị trong XH, buộc các giai cấp khác phải phụ thuộc mình về mặt tư tưởng

Nhà nước là công cụ sắc bén nhất thể hiện và thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền Nó củng cố và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội Do vậy, Nhà nước bao giờ cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc Trong các Nhà nước bóc lột, Nhà nước là bộ máy đặc biệt nhằm duy trì

sự thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng của thiểu số giai cấp bóc lột với đông đảo quần chúng lao động, thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc

Trang 10

lột Trong Nhà nước XHCN, Nhà nước là bộ máy để củng cố địa vị thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bảo vệ sự thống trị của đa số với thiểu số giai cấp bóc lột đã bị lật đổ.

2.Vai trò xã hội của Nhà nước.

Vai trò xã hội và giá trị xã hội của Nhà nước thể hiện ở chỗ: Nhà nước giải quyết các công việc mang tính xã hội, phục vụ lợi ích chung của xã hội, đặc biệt trong thời đại ngày nay như: xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, trường học, bệnhviện, công viên, đường sá; bảo vệ môi trường, phòng

và chống các dịch bệnh (Bệnh cúm gà H5N1 – 2004-2006); chính sách giúp

đỡ người nghèo (Chương trình “Nối vòng tay lớn”, “Tháng hành động vì người nghèo”) Do vậy, Nhà nước là một tổ chức quyền lực công, là phương thức tổ chức và bảo đảm các lợi ích chung của xã hội

Điều đó nói lên rằng, Nhà nước là một hiện tượng phức tạp và đa dạng, nó vừa mang bản chất giai cấp lại vừa mang tính xã hội

3 Các dấu hiệu dặc trưng của Nhà nước

- Thứ nhất, Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt,

không còn hòa nhập với dân cư nữa; chủ thể của quyền lực này là giai cấp

thống trị về kinh tế và chính trị Để thực hiện quyền lực này và để quản lý xã hội, Nhà nước có một lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý; họ tham gia vào các cơ quan Nhà nước và hình thành một bộ máy cưỡng chế để duy trì địa vị của giai cấp thống trị

- Thứ hai, Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính

lãnh thổ, không phụ thuộc vào huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính (khác

với tổ chức Thị tộc tập hợp các thành viên của mình theo dấu hiệu huyết thống).Việc phân chia này dẫn đến hình thành các cơ quan quản lý của từng đơn vị hành chính lãnh thổ Không một tổ chức xã hội nào trong xã hội có giai cấp lại không có lãnh thổ riêng của mình, lãnh thổ là dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước Mọi Nhà nước đều có lãnh thổ riêng của mình để cai trị hay quản lý, mọi Nhà nước đều chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã Do có dấu hiệu về lãnh thổ mà xuất hiện chế định quốc tịch - chế định quy định sự lệ thuộc của một công dân vào một Nhà nước và một vùng lãnh thổ nhất định; thông qua đó Nhà nước thiết lập quan hệ với công dân của mình

- Thứ ba, Nhà nước có chủ quyền quốc gia Chủ quyền quốc gia mang

nội dung chính trị pháp lý, nó thể hiện ở quyền tự quyết của Nhà nước về mọi chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc vào bất kì một quốc gia nào khác Chủ quyền quốc gia là một thuộc tính không tách rời Nhà nước, có tính tối cao với đất nước, các tổ chức và dân cư Dấu hiệu chủ quyền Nhà nước còn thể hiện sự độc lập, bình đẳng giữa các quốc gia với nhau dù đó là quốc gia lớn hay nhỏ

Trang 11

- Thứ tư, Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt

buộc đối với mọi công dân Với tư cách là người đại diện chính thức của

toàn xã hội, Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật và đảm bảo thức hiện, có thể cả bằng sức mạnh cưỡng chế Pháp luật do Nhà nước ban hành, nên nó có tính chất bắt buộc chung, mọi người đều phải tôn trọng pháp luật

Nhà nước và pháp luật có mối liên hệ phụ thuộc: không thể có Nhà nước mà thiếu pháp luật và ngược lại

-Thứ năm, Nhà nước quy định và thực hiệnviệc thu các loại thuế dưới

các hình thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước Sở dĩ Nhà

nước phải đặt ra các loại thuế vì bộ máy của Nhà nước bao gồm một lớp người đặc biệt, tách khỏi lao động sản xuất để thực hiện chức năng quản lý,

bộ máy đó phải được nuôi dưỡng bằng nguồn tài chính lấy từ khu vực sản xuất trực tiếp Thiếu thuế bộ máy đó không thể tồn tại được Nhưng mặt khác, chỉ có Nhà nước mới có đặc quyền đặt ra các loại thuế và thu thuế, vì Nhà nước là tổ chức duy nhất có tư cách đại biểu chính thức của toàn xã hội

Những đặc điểm trên đã nói lên sự khác nhau giữa Nhà nước với các

tổ chức chính trị - xã hội khác đồng thời cũng phản ánh vị trí và vai trò của Nhà nước trong xã hội có giai cấp: là một tổ chức đặc biệt, giữ vị trí trung tâm của hệ thống chính trị, có thể tác động một cách toàn diện, mạnh mẽ và hiệu quả với đời sống xã hội, thể hiện lợi ích giai cáp thống trị một cách tập trung nhất

* Từviệc xem xét nguồn gốc, bản chất và các đặc trưng của Nhà nước

có thể đưa ra định nghĩa về Nhà nước như sau:

“Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội

có giai cấp đối kháng (của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới

sự lãnh đạo của ĐCS trong XHCN)"

III CÁC KIỂU NHÀ NƯỚC TRONG LỊCH SỬ.

1.Khái niệm kiểu Nhà nước.

Lịch sử xã hội loài người cho đến nay đã trải qua 5 hình thái KT-XH trong đó có 4 hình thái KT-XH có giai cấp là: CHNL,PK,TBCN và XHCN Tương ứng với 4 hình thái KT-XH đó, có 4 kiểu Nhà nước:

- KIểu Nhà nước chiếm hữu nô lệ

- KIểu Nhà nước phong kiến

- KIểu Nhà nước tư sản

- KIểu Nhà nước XHCN

RIêng ở thời kỳ CSNT, do chưa có sự xuất hiện và tồn tại Nhà nước nên chưa có chưa có kiểu Nhà nước

Trang 12

Vậy: KIểu Nhà nước là tổng thể các dấu hiệu cơ bản của Nhà nước

thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội và những điều kiện phát sinh, tồn tại và phát triển của Nhà nước trong một hình thái KT-XH nhất định.

2.Đặc điểm của kiểu Nhà nước.

- Các kiểu Nhà nước Chủ nô, Phong kiến, Tư sản tuy có những đặc điểm riêng về bản chất, nội dung, chức năng, vai trò xã hội nhưng nhìn chung chúng đều là “Nhà nước theo đúng nghĩa”:

+ Là kiểu Nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về TLSX (chỉ khác nhau ở giai cấp nào tư hữu)

+ Là công cụ để duy trì và bảo vệ sự thống trị của giai cấp bóc lột đối với đông đảo quần chúng nhân dân lao động Cả 3 giai cấp đều đại diện cho thiuêủ số bóc lột

+ Cả 3 kiểu Nhà nước này đều duy trì, củng cố quan hệ bóc lột, làm cho các quan hệ đó ngày càng trở nên hoàn thiện

- So với 3 kiểu Nhà nước trên, Nhà nước XHCN là kiểu Nhà nước mới với bản chất khác hơn cả và là kiểu Nhà nước cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người, theo Lênin đây không còn Nhà nước theo nguyên nghĩa của nó nữa mà là “Nhà nước nửa Nhà nước”, thể hiện:

+ Nhà nước XHCN thiết lập chế độ công hữu về TLSX và bảo vệ nó.+ Nhà nước XHCN là Nhà nước của đại đa số nhân dân lao động trong

xã hội (thể hiện ngay trong Điều 2 Hiến pháp1992)

+ Nhà nước XHCN hạn chế và dần dần đi đến xoá bỏ quan hệ bóc lột, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái, tất cả vì giá trị con người.Như vậy, kiểu Nhà nước là một phạm trù tổng hợp, nó giúp chúng ta tìm hiểu một cách sâu sắc bản chất, chức năng, vai trò xã hội của các Nhà nước trong các hình thái KT-XH khác nhau, chỉ ra các điều kiện tồn tại và

xu hướng phát triển của chúng trong lịch sử

* Sự thay đổi kiểu Nhà nước này bằng kiểu Nhà nước khác mới hơn, tiến bộ hơn là một quá trình lịch sử tự nhiên Quá trình đó có mấy đặc điểm sau:

1 Mang tính tất yếu khách quan: Tới 1 giai đoạn phát triển nào đó, các

lực lượng sản xuất vật chất của xã hội sẽ mâu thuẫn với những QHSX hiện

có⇒Từ chỗ là những hình thức của các LLSX, những quan hệ ấy trở thnàh những xIềng xích của các LLSX Khi đó bắt đầu thời đại của 1 cuộc CMXH

Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn

ít nhiều nhanh chóng

2 Được thực hiện bằng một cuộc CMXH: các giai cấp thống trị đại

diện cho PTSX cũ không bao giờ tự nguyện rời bỏ Nhà nước của mình, do vậy, giai cấp đại diện cho PTSX mới phải tiến hành cuộc CMXH đấu tranh với giai cấp thống trị trước đó

Trang 13

Kiểu Nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu Nhà nước trước, bởi vì nó dựa trên PTSX mới và thúc đẩy sự phát triển của phương thức đó.

IV.HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC

* Khái niệm:Hình thức Nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực Nhà

nước và những phương pháp để tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước Hình thức Nhà nước là một khái niệm chung được hình thành từ 3 yếu tố:

- Hình thức chính thể

- Hình thức cấu trúc Nhà nước

- Chế độ chính trị.

1.Hình thức chính thể.

- Khái niệm: HTCT là cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối

cao của Nhà nước, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ giữa chúng; mức độ tham gia của nhân dân vàoviệc thiết lập cơ quan này.

- HTCT có 2 dạng cơ bản:

a)Chính thể quân chủ: là hình thức trong đó quyền lực tối cao của Nhà

nước tập trung toàn bộ (hay 1 phần) vào trong tay người đứng đầu Nhà nước theo nguyên tắc thừa kế, thế tập (Vua, Hoàng đế, Nữ hoàng, Quốc vương…)

Với việc tập trung quyền lực tối cao của Nhà nước một phần hay toàn

bộ vào trong tay người đứng đầu Nhà nước theo nguyên tăc truyền ngôi mà chính thể quân chủ có 2 biến dạng: Quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế

* Chính thể Quân chủ tuyệt đối: Ở các quốc gia theo hình thức này thì

hoàng đế là người đứng đầu Nhà nước có quyền lực vô hạn Các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tối cao đều nằm trong tay hoàng đế Hình thức này chủ yếu tồn tại trong 2 kiểu Nhà nước đầu tiên là Nhà nước Chủ nô và Nhà nước Phong kiến (Vd: Nhà nước Phong kiến Việt Nam), đến nay không còn tồn tại nữa

* Chính thể quân chủ hạn chế (Quân chủ lập Hiến): Người đứng đầu

Nhà nước hình thành bằng con đường truyền ngôi chỉ nắm một phần quyền lực tối cao, bên cạnh họ còn có các cơ quan Nhà nước hình thành bằng con đường bầu cử chia sẻ quyền lực Nhà nước với họ Ví dụ: Trong các Nhà nước Tư sản có chính thể quân chủ hạn chế, Nghị viện nắm quyền Lập pháp, Chính phủ nắm quyền Hành pháp và quyền Tư pháp thuộc về Toà án Hoàng

đế là nguyên thủ quốc gia nhưng không có thực quyền, thông thường chỉ đại diện cho truyền thống và tình đoàn kết dân tộc (Đã có Vua thì không có Hiến pháp, đã có Hiến phápthì Vua không có thực quyền, Do đó Hiến pháplà công cụ hạn chế quyền lực của Vua)

Phụ thuộc vào sự hạn chế đó, người ta phân biệt 2 loại: Quân chủ nhị nguyên và Quân chủ đại nghị

Trang 14

+ Quân chủ nhị nguyên: Là tính song phương quyền lực của Vua và

Nghịviện (tồn tại vào cuối thế kỷ XIX ở Đức, Nhật, hiện nay chính thể nàykhông còn nữa) Theo HTCT này thì:

+ Nghịviện nắm quyền lập pháp

+ Vua đứng đầu cơ quan hành pháp

+ Hệ thống Toà án chịu ảnh hưởng trực tiếp của Vua

+ Vua có quyền can thiệp đến quyền Lập pháp của Nghịviện thông qua quyền Vectơ (quyền phủ quyết các đạo luật đã được Nghịviện thông qua)

+ Quân chủ đại nghị: là hình thức chính thể phổ biến hiện nay trong

các Nhà nước tư sản thậm chí ngay cả trong Nhà nước tư sản phát triển (Anh, Hà Lan, Bỉ, Thuỵ ĐIển, Nauy, Tây Ban Nha, Thuỵ ĐIển, Nhật Bản)

Ở các quốc gia theo HTCT này thì:

+ Vua là NTQG, thay mặt cho Nhà nước về đối nội, đối ngoại nhưng không có thực quyền, chỉ là hình thức, không đóng vai trò gì đáng kể trong

hệ thống chính trị, chỉ được coi như chế định tiềm tàng trong trường hợp có khủng hoảng chính trị (VD: Tây Ban Nha)

+ Nghịviện nắm quyền lập pháp

+ Chính phủ nắm quyền hành pháp, đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng

do NTQG bổ nhiệm theo nguyên tắc Đảng nào chiếm đa số ghế trong Nghịviện thì có thể đứng ra thành lập Chính phủ và đương nhiên thủ lĩnh của Đảng đó được bổ nhiệm làm Thủ tướng

+ Thành viên Chính phủ do Thủ tướng đề xuất và phải được Nghị viện thông qua;Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện chứ không chịu trách nhiệm trước NTQG

+ Trong trường hợp bất tín nhiệm Chính phủ, Nghị viện có thể giải tán Chính phủ và thành lập Chính phủ mới Ngược lại, Chính phủ có thể lật

đổ Nghịviện trước thời hạn, giải tán Nghị viện và vận động bầu Nghị viện mới

b)Chính thể Cộng hoà: là HTCT trong đó quyền lực tối cao của Nhà

nước thuộc về những cơ quan đại diện được bầu ra trong những thời hạn nhất định HTCT Cộng hoà là hình thức phổ biến hơn cả ở các nước tư bản phát triển hiện nay Ở đây, mọi tàn tích của chính thể quân chủ bị xoá bỏ Chính thể Cộng hoà là hình thức cai trị tiến bộ và dân chủ hơn so với Chính thể quân chủ

Có 2 loại HTCT Cộng hoà:

1.Chính thể Cộng hoà quý tộc: Chỉ có giai cấp quý tộc mới có quyền

bầu cử thành lập cơ quan Nhà nước Tiêu biểu của hình thức này ở thời kỳ Nhà nước Chủ nô có: Nhà nước Spác cổ đại (Thế kỷVII – IV TCN) và ở Nhà nước La Mã cổ đại (Thế kỷ V – II TCN) Trong Nhà nước Spác và La

Trang 15

Mã cổ đại, quyền lực Nhà nước (chủ yếu là quyền lập pháp) nằm trong tay một Hội đồng mà thành viên là các quý tộc giàu sang được bầu ra và được giữ chức vụ suốt đời Bên cạnh đó, có một số cơ quan thực hiện chức năng hành pháp, giám sát và xét xử Các cơ quan này đều được thành lập qua bầu

cử Đại hội nhân dân (thành viên là tất cả những người đàn ông đến tuổi trưởng thành – 30 tuổi trở lên- trong xã hội) vẫn tồn tại nhưng không có vai trò quan trọng Hoạt động của đại hội mang tính chất hình thức và thực tế bị đặt dưới sự chỉ đạo của Hội đồng các quý tộc (Hội đồng trưởng lão Spác –

28 trưởng lão và 2 vua, trưởng lão là người từ 60 tuổi trở lên được tuyển chọn trong hàng ngũ những quý tộc danh vọng;Viện nguyên lão La Mã)

2.Chính thể cộng hoà dân chủ: Quyền bầu cử thuộc về công dân Tuy

nhiên, trên thực tế, chỉ trong Nhà nước DC XHCN, quyền bầu cử của nhân dân mới được thực hiện đầy đủ (nam, nữ 18 tuổi trở lên) Còn ở Nhà nước CHDC chủ nô hay CHDC tư sản thì qui định này chỉ mang tính hình thức (VD: Chính thể CHDC chủ nô điển hình ở Aten (Thế kỷ V-IV TCN), trong các Nhà nước này công dân là những người đàn ông tự do đến tuổi trưởng thành – 30 tuổi- trong xã hội) Như vậy, công dân chỉ chiếm 1/5 dân số, số còn lại là nô lệ không có quyền bầu cử)

Trong Nhà nước tư sản, Chính thể cộng hoà chia làm 3 loại:

- Cộng hòa Tổng thống:

+ NTQG là tổng thống, đồng thời là người đứng đầu Chính phủ do nhân dân bầu (trực tiếp hoặc gián tiếp)

+ Đứng đầu Chính phủ là tổng thống và tổng thống bổ nhiẹm thành viên của Chính phủ, vì vậy Chính phủ chịu trách nhiệm trước tổng thống chứ không chịu trách nhiệm trước Nghị viện

+ Nghịviện không có quyền bất tín nhiệm Chính phủ và ngược lại, Chính phủ không có quyền lật đổ Nghị viện trước thời hạn

+ Tổng thống có thể can thiệp đến quyền lập pháp của Nghịviện thông qua quyền Véctơ (quyền phủ quyết các đạo luật đã được Nghị viện thông qua)

+ Nghịviện có thể can thiệp vào công việc hành pháp của Chính phủ thông quaviệc phủ quyết hoặc phê chuẩn ngân sách hoạt động hàng năm của Chính phủ

- Cộng hòa đại nghị (Đức, Ấn Độ, Ý, Hungary, SIngapho…):

+ Tổng thống là NTQG do Nghị viện bầu

+ Thủ tướng đứng đầu Chính phủ do Tổng thống bổ nhiệm theo nguyên tắc liên minh của đảng nào chiếm đa số ghế trong Nghị viện thì thủ lĩnh của liên minh đó được bổ nhịêm làm Thủ tướng

+ Nghị viện thành lập Chính phủ (thành viên Chính phủ do Thủ tướng

đề xuất, Tổng thống bổ nhiệm và phải được Nghị viện thông qua) Do đó,

Trang 16

Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện, không chịu trách nhiệm trước tổng thống.

+ Chính phủ có thể lật đổ Nghị viện trước thời hạn và ngược lại, Nghị viện có thể bất tín nhiệm Chính phủ, buộc Chính phủ phải từ chức

- Cộng hòa lưỡng tính (Nga, Pháp): vừa mang đặc điểm của CHTT,

vừa mang đặc điểm của CHĐN

+ Đặc điểm của CHTT: Tổng thống là NTQG, đồng thời là người lãnh đạo Chính phủ do nhân dân trực tiếp bầu

+ Đặc điểm của CHĐN: Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ, thành viên Chính phủ và Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm nhưng phải được Nghị viện thông qua, như vậy Nghị viện thành lập Chính phủ

+ Chính phủ vừa phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống, vừa phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện

* Chính thể cộng hoà XHCN (CuBa, Việt Nam, Trung Quốc, Triều

TIên): tuân theo 2 nguyên tắc cơ bản:

- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước

- Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội

2.Hình thức cấu trúc Nhà nước.

- Khái niệm: HTCT là sự tổ chức Nhà nước thành các đơn vị hành

chính lãnh thổ và xác lập mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận hợp thành Nhà nước, giữa cơ quan Nhà nước trung ương với cơ quan Nhà nước ở địa phương

- Phân loại: Có 3 HTCT Nhà nước chủ yếu là Nhà nước đơn nhất và Nhà nước liên bang

a)Nhà nước đơn nhất (Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Lào,

Pháp):

- Là Nhà nước có chủ quyền quốc gia chung

- Có lãnh thổ toàn vẹn, thống nhất

- Các bộ phận hợp thành Nhà nước là các đơn vị hành chính - lãnh thổ, không có chủ quyền quốc gia

- Có bộ máy Nhà nước thống nhất trong toàn quốc

Trang 17

HĐND Xã UBND Xã

- Có một hệ thống pháp luật thống nhất trong toàn quốc

- Công dân có 1 quốc tịch

b)Nhà nước liên bang: là Nhà nước gồm hai hay nhiều nước thành

viên hợp thành (Mỹ, Ấn Độ, MalayxIa, Mêhico, Áo, Đức, Thụy Sỹ, Achen tina, Canada, Nga )

- Trong Nhà nước liên bang, không chỉ có liên bang có dấu hiệu chủ quyền quốc gia mà các nước thành viên cũng có dấu hiệu chủ quyền quốc gia Tuy nhiên, quyền tự quyết được các nước thành viên trao lại cho Nhà nước liên bang Vì vậy, họ không phải là chủ thể độc lập trong quan hệ quốc tế

- Trong Nhà nước liên bang tồn tại 2 hệ thống cơ quan quyền lực, một cho toàn liên bang và một cho mỗi nước thành viên

- Tồn tại 2 hệ thống pháp luật, một cho toàn liên bang, một cho mỗi bang thành viên

* Nhà nước liên minh: Là do sự liên kết tạm thời của các Nhà nước

với nhau nhằm thực hiện một số mục đích nhất định Sau khi đạt được mục đích đó, Nhà nước liên minh có thể tự giải tán hoặc có thể phát triển thành Nhà nước liên bang

VD: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, từ 1776- 1787 là Nhà nước liên minh, sau đó trở thành Nhà nước liên bang; Đức trong thời kỳ 1815-1867 là Nhà nước liên minh.LIên minh Châu Âu EU đuợc hợp thành từ 15 nước thành viên: Pháp, Đức, Ý, Bồ Đào Nha, Phần Lan, Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Lucxambua, AIlen, Áo, HI Lạp, Scotlen và Anh.

Trong chế độ chính trị dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng chủ yếu phương pháp giáo dục - thuyết phục Tuy nhiên, phương pháp dân chủ

có nhiều dạng khác nhau, phụ thuộc vào bản chất của từng Nhà nước cụ thể,

Trang 18

như: dân chủ hình thức, dân chủ thực sự, dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi Ví dụ như chế độ dân chủ trong Nhà nước tư sản là biểu hiên cao độ của chế độ dân chủ hình thức, còn chế độ dân chủ XHCN là dân chủ thực sự và rộng rãi.

Trong chế độ chính trị phản dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng các hình thức, phương pháp mang nặng tính cưỡng chế, đỉnh cao của chế độ này là chế độ độc tài, phát xít

Như vậy, hình thức Nhà nước là sự hợp nhất của ba yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc Nhà nước và chế độ chính trị, ba yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại chặt chẽ với nhau, thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị, phản ánh bản chất của Nhà nước

Đơn nhất Liên bang

Trang 20

V CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC

Bản chất, vai trò của Nhà nước được thể hiện trực tiếp trong nhiệm vụ

và chức năng của Nhà nước, vì thế khi tìm hiểu bản chất của Nhà nước, vai trò xã hội của Nhà nước phải thông qua việc xem xét các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước

1 Nhiệm vụ của Nhà nước: là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới, là

những vấn đề đặt ra mà Nhà nước cần giải quyết Nhiệm vụ của Nhà nước tuỳ thuộc vào bản chất và vai trò xã hội của Nhà nước, vào điều kiện lịch sử của mỗi quốc gia qua từng giai đoạn cụ thể

Nhiệm vụ của Nhà nước tuỳ thuộc vào nội dung tính chất được chia thành: nhiệm vụ cHiến lược lâu dài, nhiệm vụ này hướng tới các mục đích chung, cơ bản Ví dụ: nhiệm vụ xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN

Để thực hiện nhiệm vụ cHiến lược, lâu dài cần phải có những nhiệm

vụ cụ thể trong những khoảng thời gian nhất định.Ví dụ: nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước phục vụ cho công cuộc xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN

2.Chức năng của Nhà nước:

a)Khái niệm: Chức năng của Nhà nước là những phương diện, loại

hoạt động cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước

hChức năng và nhiệm vụ của Nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau Một nhiệm vụ của Nhà nước làm phát sinh một hoặc nhiều chức năng và ngược lại một chức năng của Nhà nước có thể nhằm thực hiện một hoặc nhiều nhiệm vụ

Chức năng của Nhà nước được quy định bởi bản chất của Nhà nước Chức năng của Nhà nước XHCN khác với chức năng của các Nhà nước bóc lột ở nội dung và hình thức thực hiện.\

Chức năng của Nhà nước được thực hiện bởi bộ máy Nhà nước Do

đó, khi nghiên cứu về vấn đề này cần phân biệt giữa chức năng của Nhà nước và chức năng của cơ quan Nhà nước Chức năng của Nhà nước như đã nêu, là những phương diện hoạt động cơ bản của Nhà nước mà mỗi cơ quan Nhà nước đều phải tham gia thực hiện ở những mức độ khác nhau Chức năng của cơ quan Nhà nước chỉ là những phương diện hoạt động của cơ quan đó nhằm góp phần thực hiện chức năng chung của Nhà nước

b) Phân loại: Chức năng của Nhà nước có nhiều cách phân loại khác

nhau Có thể phân loại chức năng của Nhà nước thành: các chức năng đối nội và các chức năng đối ngoại; hoặc thành chức năng cơ bản và các chức

Trang 21

năng không cơ bản; hoặc thành các chức năng lâu dài và chức năng tạm thời

* Chức năng đối nội của Nhà nước là những phương diện hoạt động

cơ bản của Nhà nước trong nội bộ của đất nước, bao gồm:

- Tổ chức và quản lý nền kinh tế

- Tổ chức và quản lý nền văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ

- Giữ vững an ninh, chính trị, trấn áp sự phản kháng của giai cấp đối kháng

- Bảo vệ trật tự pháp luật và quyền lợi của giai cấp cầm quyền

* Chức năng đối ngoại của Nhà nước là những hoạt động cơ bản của

đất nước với các quốc gia khác, dân tộc khác (VD: phòng thủ đất nước, chống sự xâm lược bên ngoài, thíêt lập các mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác)

Hai nhóm chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau, thực hiện tốt các chức năng đối nội sẽ ảnh hưởng tốt chức năng đối ngoại, ngược lại, nếu thực hiện tốt chức năng đối ngoại cũng sẽ ảnh hưởng tốt tới việc thực hiện các chức năng đối nội, và cả hai đều hướng tới việc thực hiện những nhiệm

vụ của đất nước VD: để thực hiện tốt chức năng đảm bảo ổn định an ninh – chính trị, bảo vệ các quyền tự do, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, thì Nhà nước

ta phải phối hợp với các quốc gia khác trong đấu tranh phòng, chống tội phạm quốc tế

VI BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

1 Khái niệm:Bộ máy Nhà nước là hệ thống các cơ quan Nhà nước

từ trung ương xuống đến địa phương, tổ chức và hoạt động trên những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

Các yếu tố hợp thành bộ máy Nhà nước là cơ quan Nhà nước bao gồm

3 loại: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp

2 Đặc điểm: Cơ quan Nhà nước có các đặc điểm sau:

- Cơ quan Nhà nước là một tổ chức công quyền, có tính độc lập tương đối với các cơ quan Nhà nước khác, một tổ chức cơ cấu bao gồm những cán

bộ, công chức được giao những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật

- Cơ quan Nhà nước mang quyền lực Nhà nước Đây là đặc điểm làm cho cơ quan Nhà nước khác hẳn với các tổ chức khác Chỉ có cơ quan Nhà nước mới có quyền nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực Nhà nước, giải quyết những vấn đề quan hệ với công dân Mỗi cơ quan Nhà nước đều có thẩm quyền do pháp luật quy định, đó là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà Nhà nước trao cho để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ Yếu

Trang 22

tố cơ bản của thẩm quyền là quyền ban hành những văn bản pháp luật có tính bắt buộc chung phải thực hiện đối với những chủ thể liên quan.

- Thẩm quyền của cơ quan Nhà nước có những giới hạn về không gian, thời gian và đối tượng chịu sự tác động giới hạn này mang tính pháp

lý vì nó được pháp luật quy định

- Mỗi cơ quan Nhà nước có hình thức và phương pháp hoạt động riêng do pháp luật quy định

- Cơ quan Nhà nước chỉ hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình và trong phạm vi đó, nó hoạt động độc lập, chủ động và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình Cơ quan Nhà nước có quyền đồng thời có nghĩa vụ phải thực hiện các quyền của mình Khi cơ quan Nhà nước không thực hiện quyền hoặc từ chối không thực hiện quyền được pháp luật quy định làvi phạm pháp luật

Mỗi Nhà nước, phụ thuộc vào kiểu Nhà nước, hình thức chính thể nên có cách tổ chức bộ máy Nhà nước khác nhau Bộ máy Nhà nước được tổ chức rất đa dạng, phong phú trên thực tế

3.Hệ thống các cơ quan trong bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

- Hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp

Các cơ quan quyền lực Nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra, nhân danh nhân dân để thể hiện và thực thi một cách thống nhất quyền lực, phải chịu trách nhiệm và báo cáo trước nhân dân về mọi hoạt động của mình Các

cơ quan Nhà nước khác đều phải chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước

- Hệ thống cơ quan chấp hành (cơ quan quản lý Nhà nước) bao gồm: Chính phủ, các Bộ và cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp, các Sở, Phòng, Ban chức năng của UBND

- Hệ thống các cơ quan xét xử bao gồm: TAND tối cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc TW, TAND huyện, quận và tương đương, Tòa án quân

sự các cấp

- Hệ thống cơ quan kiểm sát gồm có: VKSNDTC, VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc TW, VKSND huyện, quận và cấp tương đương, VKS quân sự các cấp

Ngoài bốn hệ thống cơ quan Nhà nước nói trên, trong tổ chức bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam còn có Chủ tịch nước Chủ tịch nước hiện nay là cá nhân, do Quốc hội bầu ra từ trong số đại biểu Quốc hội và đặt dưới

sự giám sát của Quốc hội Chủ tịch nước hiện nay với tính chất là nguyên thủ quốc gia chỉ thay mặ Nhà nước về đối nội và đối ngoại

Trang 23

CHƯƠNG 2:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT

I NGUỒN GỐC CỦA NHÀ NƯỚC

Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng có cùng nguồn gốc, bản chất

và gắn bó hết sức mật thiết với nhau Những nguyên nhân làm phát sinh Nhà nước cũng chính là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật Đó

là chế độ tư hữu về tài sản và sự phân hóa XH thành các giai cấp có lợi ích đối kháng nhau không thể điều hòa được

Trong lịch sử phát triển của loài người đã có thời kỳ không có pháp luật đó là thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thuỷ Song, như mọi xã hội khác,

xã hội CSNT cũng cần trật tự để ổn định và phát triển Do nhu cầu khách quan đó mà đã xuất hiện các qui tắc xử sự chung Đó chính là các qui phạm

xã hội (QPXH) bao gồm tập quán và tín Điều tôn giáo Các tập quán và tín Điều tôn giáo xuất hiện một cách tự phát, theo thời gian dần dần được cộng đồng thị tộc, bộ lạc chấp nhậnvà chúng trở thành những qui tắc xử sự chung mang tính đạo đức và xã hội

Các QPXH trong xã hội CSNT có những đặc điểm sau:

- Thể hiện ý chí chung, phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng thị tộc, bộ lạc

- Là quy tắc xử sự chung của cả cộng đồng, là khuôn mẫu của hành vi

- Được thực hiện một cách tự nguyện, trên cơ sở thói quen, niềm tin tự nhiên; dựa trên tinh thần hợp tác giúp đỡ lẫn nhau.Trong trường hợp chúng

bị vi phạm thì vẫn có sự cưỡng chế nhưng sự cưỡng chế đó do toàn thị tộc tổ chức thực hiện chứ không phải do một bộ máy đặc biệt được hình thành để

thực hiện (Thuyết phục: phương pháp cơ bản được áp dụng đối với người vi

phạm Cưỡng chế:sự lên án của cả thị tộc, bộ lạc).

- Mang tính manh mún, tản mạn và về nguyên tắc chỉ có hiệu lựuc trong phạm vi thị tộc, bộ lạc

Các QPXH đó hoàn toàn phù hợp với các điều kiện KT-VH-XH của

xã hội CSNT, chúng cần thiết và có cơ sở khách quan để tồn tại trong một xã hội chưa có tư hữu và giai cấp

Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia thành các giai cấp thì các qui phạm đó không còn phù hợp nữa vì chúng thể hiện ý chí chung và bảo vệ lợi ích của mọi thành viên trong cộng đồng thị tộc, bộ lạc

Trong điều kiện mới, giai cấp thống trị lợi dụng địa vị xã hội của mình đã tìm cách vận dụng những tập quán có nội dung phù hợp với lợi ích của giai cấp mình, biến đổi chúng bằng con đường Nhà nước và nâng chúng lên thành các QPPL Đây là cách thức hoặc nguồn gốc thứ nhất hình thành nên pháp luật, Ví dụ: Đạo luật 12 bảng của La Mã chính là kết quả của quá trình chuyển hóa các tập quán thành các QPPL; Nhà nước Việt Nam suốt

Trang 24

thời kỳ Hùng vương - An Dương Vương chưa có pháp luật thành văn, hình thức của pháp luật lúc bấy giờ chủ yếu là tập quán pháp.

Bên cạnh đó các Nhà nước đã nhanh chóng ban hành các văn bản pháp luật Bởi lẽ, nếu chỉ dùng các tập quán đã chuyển hoá để điều chỉnh các quan hệ xã hội thì sẽ có rất nhiều các quan hệ xã hội mới phát sinh trong

xã hội không được điều chỉnh (VD: Quan hệ giũa chủ nô- nô lệ, quan hệ trao đổi – mua bán ) Vì vậy để đáp ứng nhu cầu này hoạt động xây dựng pháp luật của các Nhà nước đã ra đời Hoạt động này lúc đầu còn đơn giản,

nhiều khi chỉ là các quyết định của các cơ quan tư pháp, hành chính (Tiền lệ

pháp: áp dụng đối với trưòng hợp chưa có qui tắc tập quán được hình

thành từ trước đó và do Nhà nước chưa đủ khả năng để ban hành những qui định cụ thể để áp dụng nên các cơ quan hành phápdựa vào lợi ích của giai cấp và năng lực của cá nhân của mình để đưa ra phán xét; dần dà những phán xét tốt trở thành khuôn mẫu cho các cơ quan khác áp dụng giải quyết

và được gọi là tiền lệ pháp); sau dần trở nên hoàn thiện cùng với sự phát

triển và hoàn hiện của bộ máy Nhà nước (Văn bản pháp luật: giai đoạn

phát triển cao hơn của xã hội, giai đoạn có chữviết, các văn bản gồm những qui tắc xử sự trước đây thể hiện dưới dạng bất thành văn thì nay được thể hiện dưới dạng VBPL bằng chữviết Điển hình của hình thức này là những văn bản của Nhà nước chủ nô: đạo luật Hamurabi, Manu )

* VBPL có những đặc điểm khác với QPXH thời nguyên thủy như sau:

- Thể hiện ý chí giai cấp thống trị chiếm thiểu số trong xã hội chứ không thể hiện ý chí của đa số dân cư hoặc toàn xã hội

- Nội dung thường là thể hiện quan hệ bất bình đẳng trong xã hội

- Có tính bắt buộc chung, tính hệ thống và thống nhất cao

- Được đảm bảo thực hiện bằng Nhà nước - chủ yếu cưỡng chế bởi một bộ máy đặc biệt, chuyên nghiệp

Như vậy pháp luật được hình thành bằng hai con đường:

- Thứ nhất, Nhà nước cải cách hay thừa nhận các quy phạm xã hội

- phong tục, tập quán chuyển chúng thành pháp luật;

- Thứ hai, bằng hoạt động sáng tạo pháp luật của Nhà nước thông quaviệc ban hành các VBQP; thừa nhận các tiền lệ pháp hay án lệ của Tòa án

BẢNG 2: SƠ ĐỒ VỀ CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH CỦA PHÁP LUẬT

Ban hành các VBQPPL Thừa nhận các tiền lệ hoặc các án lệ của tòa án

Trang 25

II BẢN CHẤT CỦA PHÁP LUẬT

1 Tính giai cấp của pháp luật.

Bản chất của pháp luật cũng giống như Nhà nước là tính giai cấp của

nó, không có “pháp luật tự nhiên hay “pháp luật không có tính giai cấp" Tính giai cấp của pháp luật trước hết ở chỗ,:

- Pháp luật phản ánh ý chí Nhà nước của giai cấp thống trị, nội

dung của ý chí đó đựơc quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị Nhờ nắm trong tay quyền lực Nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua Nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung thống nhất, hợp pháp hoá ý chí của Nhà nước, được Nhà nước bảo hộ thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước

- Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh của pháp luật Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ

giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các QHXH (quan hệ xã hội), nhằm hướng các QHXH phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ củng cố địa vị của giai cấp thống trị Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công

cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp

- Bất kỳ kiểu pháp luật nào cũng mang tính giai cấp nhưng mỗi

kiểu lại có những cách biểu hiện riêng Chẳng hạn: đều là công khai qui định

và bảo vệ quyền lợi, địa vị của giai cấp thống trị nhưng đối với pháp luật chủ

nô, đó chính là quyền lực vô hạn của giai cấp chủ nô và tình trạng vô quyền của giai cáp nô lệ; đối với pháp luật phong kiến thì đặc quyền, đặc lợi của của địa chủ phong kiến và sự đàn áp dã man nhân dân lao động; đối với pháp luật tư sản lại là ý chí, lợi ích của giai cấp tư sản và quyền tự do, dân chủ một cách xảo trá, gian dối của chúng với nhân dân lao động; riêng đối với pháp luật XHCN thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

2 Tính xã hội của pháp luật.

Tính xã hội của pháp luật thể hiện thực tiễn pháp luật là kết quả của

sự “chọn lọc tự nhiên” trong xã hội Các quy phạm pháp luật mặc dù do các

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các QHXH Tuy nhiên trong thực tiễn chỉ những quy phạm nào phù hợp với thực tiễn mới được thực tiễn giữ lại thông qua Nhà nước, đó là những quy phạm “hợp lý”, “khách quan’’ được số đông trong xã hội chấp nhận, phù hợp với lợi ích của đa số trong xã hội

Giá trị xã hội của pháp luật còn thể hiện ở chỗ, QPPLvừa là thước đo của hành vi con người, vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện

Thừa nhận các tiền lệ hoặc các án lệ của tòa án Tòa tòa án

Trang 26

tượng xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các QHXH, hướng chúng vận động, phát triển phù hợp với các quy luật khách quan.

III CÁC THUỘC TÍNH CỦA PHÁP LUẬT

Thuộc tính của pháp luật là những dấu hiệu đặc trưng riêng có của pháp luật nhằm phân biệt pháp luật với các quy phạm xã hội khác

Nhìn một cánh tổng quát, pháp luật có những đặc trưng cơ bản sau:

1.Tính quy phạm phổ biến

Pháp luật được tạo bởi hệ thống các quy phạm pháp luật, quy phạm là

tế bào của pháp luật, là khuôn mẫu, là mô hình xử sự chung Trong xã hội các hành vi xử sự của con người rất khác nhau, tuy nhiên trong nhưng hoàn cảnh điều kiện nhất định vẫn đưa ra đươc cách xử sự chung phù hợp với đa số

Cũng như quy phạm pháp luật, các quy phạm xã hội khác đều có những quy tắc xử sự chung Nhưng khác với các quy phạm xã hội, pháp luật

có tính quy phạm phổ biến

Các quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trên lãnh thổ, việc áp dụng các quy phạm này chỉ bị đình chỉ khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, bổ sung, sửa đổi hoặc thời hiệu các quy phạm đã hết Tính quy phạm phổ biến của pháp luật dựa trên ý chí của Nhà nước “ được đề lên thành luật” Pháp luật đã hợp pháp hoá ý chí này làm cho nó có tính chất chủ quyền duy nhất trong một quốc gia Chính quyền lực chính trị đem lại cho pháp luật tính quy phạm đặc biệt- tính quy phạm phổ biến

sử dụng trong pháp luật là ngôn ngữ pháp luật, lời văn trong sáng, đơn nghĩa Trong pháp luật không xử dụng những từ “ vân vân” và các dấu ( ) Một quy phạm pháp luật không cho phép hiểu thế này cũng được mà hiểu thế khác cũng được

3 Tính được bảo đảm bằng Nhà nước

Khác với các quy phạm xã hội khác, pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và được Nhà nước bảo đảm thực hiện Sự bảo đảm bằng Nhà nước là thuộc tính của pháp luật Pháp luật không chỉ do Nhà nước ban hành

mà Nhà nước còn bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, có nghĩa là Nhà nước trao cho các quy phạm pháp luật có tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân Như vậy pháp luật trở thành quy tắc xử sự

có tính bắt buộc chung nhờ vào sức mạnh quyền lực của Nhà nước

Trang 27

Tuỳ theo mức độ khác nhau mà Nhà nước áp dụng các biện pháp về tư tưởng, tổ chức, khuyến khích kể cả biện pháp cưỡng chế cần thiết để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện.

Như vậy, tính được bảo đảm bằng Nhà nước của pháp luật được hiểu dưới hai khía cạnh Một mặt, Nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật bằng cả hai phương pháp thuyết phục và cưỡng chế Mặt khác, Nhà nước là người bảo đảm tính hợp lý và uy tín của pháp luật, nhờ đó pháp luật được thực hiện thuận lợi trnong đời sống xã hội

IV.CHỨC NĂNG CỦA PHÁP LUẬT.

1.Khái niệm: Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt tác

động chủ yếu của pháp luật phản ánh bản chất giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật

2 Phân loại: Pháp luật có ba chức năng chủ yếu:

- Chức năng điều chỉnh;

- Chức năng bảo vệ;

- Chức năng giáo dục

a) Chức năng điều chỉnh của pháp luật thể hiện vai trò và giá trị xã

hội của pháp luật Pháp luật được đặt ra nhằm hướng tới sự điều chỉnh các quan hệ xã hội Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội; mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội Như vậy pháp luật đã thiết lập “trật tự ” đối với các quan hệ

xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội

b) Chức năng bảo vệ:Bên cạnh chức năng điều chỉnh, pháp luật còn

có chức năng bảo vệ Pháp luật là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Khi có các hành vivi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có hành vivi phạm pháp luật

c) Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tác

động của pháp luật vào ý thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm pháp luật Từ sự nhận thức này hướng con người đến những hành vi, cách xử sự phù hợp với lợi ích của xã hội, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của bản thân

⇒Từ các vấn đề : nguồn gốc, bản chất, các mối liên hệ, các thuộc tính

và chức năng của pháp luật có thể đưa ra định nghĩa : Pháp luật là hệ thống

các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc

Trang 28

thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan

hệ xã hội Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có Nhà nước

V CÁC KIỂU PHÁP LUẬT TRONG LỊCH SỬ

1 Khái niệm: Kiểu pháp luật là hình thái pháp luật được xác định bởi

tập hợp các dấu hiệu, đặc trưng cơ bản của pháp luật là thể hiện bản chất giai cấp, điều kiện tồn tại và phát triển của pháp luật trong một hình thái kinh tế

- xã hội nhất định

2 Phân loại:Chủ nghĩa Mác - Lê Nin xem xét lịch sử xã hội như là

một quá trình lịch sử tự nhiên của sự thay thế một hình thái kinh tế - xã hội khác Mỗi một hình thái kinh tế - xã hội là một kiểu lịch sử của xã hội được thiết lập trên cơ sở của một phương thức sản xuất

Pháp luật là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng Bản chất, nội dung của pháp luật suy cho cùng là do cơ sở kinh tế quyết định, vì vậy, để phân loại các kiểu pháp luật đã tồn tại trong lịch sử cần dựa vào hai tiêu chuẩn:

Thứ nhất, pháp luật ấy ra đời và tồn tại trên cơ sở kinh tế nào? Do

quan hệ sản xuất nào quyết định?

Thứ hai, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp nào? Bảo vệ và củng cố

quyền lợi của giai cấp nào?

Là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của một xã hội nhất định, vì thế tương ứng với các hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp có các kiểu pháp luật :

về tư liệu sản xuất; bảo đảm về mặt pháp lý sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động, duy trì tình trạng bất bình đẳng trong xã hội

Kiểu pháp luật XHCN đang trên con đường hình thành và phát triển, từng bước xây dựng một chế độ sở hữu công cộng về TLSX chủ yếu; thể hiện ý chí của đa số nhân dân lao động trong xã hội; hạn chế dần và đi đến xoá bỏ bóc lột, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, đảm bảo cho mọi công dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tất cả vì giá trị của con người

Trang 29

Sự thay thế các kiểu pháp luật là một tất yếu khách quan phù hợp với quy luật Cơ sở của sự thay thế đó là sự vận động và phát triển khách quan của các quy luật kinh tế - xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất có tính quyết định Sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội được thự hiện thông qua một cuộc cách mạng xã hội đã làm thay thế kiểu Nhà nước và pháp luật tương ứng.

Sự thay thế một kiểu pháp luật này bằng một kiểu pháp luật khác tiến

bộ hơn là một quy luật tất yếu Tuy nhiên các điều kiện, bối cảnh lịch sử khác nhau ở mỗi nước cũng chi phối tới ự thay thế kiểu pháp luật Vì vậy sự thay thế kiểu pháp luật ở mỗi quốc gia diễn ra cũng rất khác nhau Sự thay thế này cũng không nhất thiết phải diễn ra theo trình tự: pháp luật chủ nô, pháp luật phong kiến, pháp luật tư sản, pháp luật XHCN Chẳng hạn ở Việt Nam không có kiểu pháp luật chủ nô, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không có kiểu pháp luật phong kiến Theo quy luật thì kiểu pháp luật sau bao giờ cũng tiến bộ hơn kiểu pháp luật trước

VI QUI PHẠM PHÁP LUẬT, VĂN BẢN QUI PHẠM PHÁP LUẬT

1 Quy phạm pháp luật

a) Khái niệm, đặc điểm quy phạm pháp luật

Qui phạm pháp luật là những qui tắc xử sự có tính chất khuôn mẫu, bắt buộc mọi chủ thể phải tuân thủ, được biểu thị bằng một hình thức nhất định, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được Nhà nước bảo đảm thực hiện và có thể có cả các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, nhằm mục đích điều chỉnh các QHXH

Các qui phạm của các tổ chức xã hội: là các qui phạm do tổ chức xã

hội đặt ra, nó tồn tại và được thực hiện trong các tổ chức xã hội đó,

Các qui phạm đạo đức: là những qui tắc hành vi được hình thành trong

xã hội trên cơ sở quan niệm về đạo đức và được con người tự giác thực hiện

Các phong tục: được hình thành trong lịch sử và nó đã biến thành thói

quen của mọi người trong xã hội

Đặc điểm: Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội, vì vậy

nó mang đầy đủ những đặc tính chung vốn có của quy phạm xã hội, như: là quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu để mọi người làm theo, là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người

Ngoài những đặc tính chung của quy phạm xã hội thì quy phạm pháp luật còn có những đặc tính riêng:

- Quy phạm pháp luật luôn gắn liền với Nhà nước Chúng do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn Chúng được Nhà nước đảm bảo thực hiện.Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt

Trang 30

QPPL với các QHXH khác Các QPXH khác không do Nhà nước qui định

mà do các tổ chức xã hội qui định hyay do các quan niệm về đạo đức hình thành nên hoặc được hình thành một cách tự phát do thóI quen trong xã hội Các qui phạm của các TCXH được thực hiện dựa vào tổ chức, vào lực lượng

và uy tín của tổ chức đó Các qui phạm đạo đức được thực hiện trong đời sống nhờ lòng tin của con người; còn các phong tục được thực hiện trong xã hội, nhờ thóI quen của mọi người

- Quy phạm pháp luật thể hiện ý chí Nhà nước Nhà nước thể hiện ý chí của mình bằng cách xác định những đối tượng nào trong những điều kiện, hoàn cảnh nào thì phải xử sự theo pháp luật, những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có và cả những biện pháp cưỡng chế mà họ buộc phải gánh chịu nếu họ không thực hiện đúng những nghĩa vụ đó

- Quy phạm pháp luật là các quy tắc hành vi có tính bắt buộc chung Tính bắt buộc chung của quy phạm pháp luật được hiểu là bắt buộc tất cả những ai nằm trong điều kiện mà quy phạm pháp luật đã quy định

- Quy phạm pháp luật được thể hiện dưới hình thức xác định Tính hình thức ở đây thể hiện trongviệc biểu thị, diễn đạt chính thức nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật

Còn tính xác định thể hiện trongviệc biểu thị rõ nội dung các quy phạm pháp luật quy định các quy tắc hành vi và được diễn đạt rõ ràng, chính xác Nhờ được biểu thị dưới hình thức nhất định, các quy phạm pháp luật trở nên dễ hiểu và áp dụng được trong đời sống xã hội

Từ những đặc điểm trên có thể khái quát về quy phạm pháp luật

XHCN như sau: Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do Nhà nước

ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp (nhân dân lao động trong chế độ XHCN)

để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo trật tự xã hội mà Nhà nước mong muốn

2 Cấu trúc của quy phạm pháp luật

Cấu trúc của quy phạm pháp luật là cơ cấu bên trong, là các bộ phận hợp thành của quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật bao gồm 3 bộ phận: giả định, quy định và chế tài

a.Giả định: là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu lên

những hoàn cảnh, điều kiện có thể xảy ra trong cuộc sống và cá nhân hay tổ chức nào ở vào những hoàn cảnh, điều kiện đó đều buộc phải xử sự theo những qui định của Nhà nước

Nội dung của bộ phận giả định thường nóI tới chủ thể, thời gian, không gian, hoàn cảnh, điều kiện, tình huống nhất định

Bộ phận giả định của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Tổ chức,

cá nhân nào? Khi nào? Trong những hoàn cảnh, điều kiện nào?

Trang 31

Ví dụ 1: “Người nào Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà

vi phạm về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gật thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm” (khoản 1, Điều 202 Bộ luật Hình

sự năm 1999)

Ví dụ 2:“Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có

thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng, con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng” (khoản 1, Điều 63 Luật HN-GĐ 2000)

Ví dụ 3: “Người nàovi phạm pháp luật giao thông đuờng bộ mà gây

tai nạn thì phải chịu trách nhiệm về hành vivi phạm của mình, nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường theo qui định của pháp luật” (Khoản

5- Điều 4 - Luật GTĐB 2001)

• Giả định của quy phạm pháp luật có thể giản đơn (chỉ nêu 1 hoàn cảnh,

điều kiện), Ví dụ: “Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Nước Cộng

hoà XHCN Việt Nam (sau đây gọi là công dân Việt Nam)” (khoản 1, Điều 4

Luật Quốc tịch Việt Nam 1998); “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang

quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” ( Điều 62 – Hiến

pháp1992)

• Hoặc có thể phức tạp (nêu lên nhiều hoàn cảnh, điều kiện) Ví dụ:

“Người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà cònvi phạm”(khoản 1, Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 1999); “Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mnạg, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù tù 3 tháng đến 2 năm”

(Khoản 1 – Điều 102 – BLHS)

b Quy định: là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu

cách xử sự mà tổ chức hay cá nhân ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong

bộ phận giả định của quy phạm pháp luật được phép hoặc buộc phải thực hiện

Bộ phận quy định của quy phạm pháp luật trả lời câu hỏi: Phải làm gì? Được làm gì? Không được làm gì? Làm như thế nào?

Ví dụ1: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của

pháp luật” ( Điều 57 Hiến phápnăm 1992) (được làm gì)

Ví dụ 2: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên

không thoả thuận, thì có thể áp dụng tập quán hoặc quy định tương tự của

Trang 32

pháp luật, nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong bộ luật này”( Điều 14BLDS 2005).

Ví dụ 3: “Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản

riêng hay nhờ cha mẹ quản lý” ( Điều 45 Luật HNGĐ 2000).

* Mệnh lệnh được nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật có thể dứt khoát (chỉ nêu một cách xử sự và các chủ thể buộc phải xử sự theo

mà không có sự lựa chọn) Ví dụ: Khi việc kết hôn trái pháp luật bị huỷ thì

hai bên nam nữ phải chấm dứt quan hệ vợ chồng ( Điều 17 Luật HNGĐ

2000); “Hình phạt tử hình được thi hành bằnghình thức xử bắn”

(K3-Đ229-BLTTHS)

Hoặc không dứt khoát (nêu ra 2 hoặc nhiều cách xử sự và cho phép các tổ chức hoặc cá nhân có thể lựa chọn cho mình cách xử sự thích hợp từ

những cách xử sự đã nêu, Ví dụ: “Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi

cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài” (Điều 12

Luật HNGĐ 2000); “Trong trường hợp các bên thỏa thuậnviệc trả tiền thuê

theo kỳ hạn, thì bên cho thuê có quyền đơn phươngđình chỉ thực hiện hợp đồng thuê, nếu bên thuê không trả tiền trong ba kỳ liên tiếp, trừ trường hợp

có thỏa thuận khác hay pháp luạt có qui định khác” (K2-Đ486-BLDS)

c.Chế tài: là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện

pháp tác động mà Nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với các chủ thể không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ra trong phần qui định.để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh

Bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Hậu quả

sẽ như thế nào nếuvi phạm pháp luật, không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật

Ví dụ1: “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của

người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm” (khoản 1, Điều 121 BLHS 1999).

Ví dụ 2: “Người nào đua trái phép xe ôtô, xe máy hay các loại xe

khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho sức khỏe, tài sản của người khác, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà cònvi phạm, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến

50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hay phạt tù từ 3 tháng đến

3 năm ” (Đ207-BLHS: Tội đua xe trái phép).

Các biện pháp tác động mà Nhà nước nêu ra trong chế tài pháp luật rất

đa dạng, đó có thể là:

- Những biện pháp cưỡng chế Nhà nước mang tính trừng phạt có liên quan tới trách nhiệm pháp lý Loại chế tài này gồm có:

Trang 33

Chế tài quy phạm pháp luật có thể là cố định hoặc không cố định.Chế tài cố định là chế tài quy định chính xác, cụ thể biện pháp tác động cần phải áp dụng đối với chủ thểvi phạm quy phạm pháp luật đó.

Chế tài không cố định là chế tài không quy định các biện pháp tác động một cách dứt khoát hoặc chỉ quy định mức thấp nhất và mức cao nhất

của biện pháp tác động Ví dụ: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm”(khoản 1, Điều 106 BLHS 1999) Việc áp dụng biện pháp nào, mức độ

bao nhiêu là do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng lựa chọn cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của vụviệc cần áp dụng

Lưu ý:* Không phải mọi trường hợp các QPPL đều có đầy đủ 3 bộ phận

Nhiều QPPL chỉ có bộ phận giả định và qui định, còn 1 bộ phận khác được qui định ẩn hay được viện dẫn ở QPPL khác hay ở VBPL khác

Ví dụ: "Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho

người khác thì bị phạt tù từ 1 đến 3 năm" ( Điều 107 - BLHS 1999); "Tòa

án xét xử công khai trừ trường hợp do luật định" ( Điều 131 Hiến

pháp1992)

* Trong một QPPL: trật tự giả định, qui định và chế tài có thể bị đảo lộn

Ví dụ: "Việc điều tra kết thúc khi cơ quan Điều tra ra quyết định đề nghị

truy tố hay đình chỉ điều tra" (Luật TTHS)

3 Văn bản quy phạm pháp luật

a Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức tiến bộ, khoa học nhất trong các hình thức bên ngoài của pháp luật Chính vì thế nó được các Nhà nước

hiện đại sử dụng rộng rãi nhất Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng XHCN và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống ( Điều 1 - Luật Sửa đổi, bổ sung một

số Điều Luật Ban hành văn bản qui phạm pháp luật 16/12/2002)

Trang 34

Từ định nghĩa trên rút ra những nhận xét sau:

- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Nghĩa là chỉ có những văn bản nào được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (theo luật định) ban hành mới có thể là văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng các quy tắc xử

sự chung (các quy phạm pháp luật ) Đó chính là khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi của con người hay tổ chức con người có tính bắt buộc thực hiện

- Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống, trong mọi trường hợp Khi có sự kiện pháp lý xảy ra văn bản quy phạm pháp luật lại được áp dụng

- Tên gọi, nội dung và trình tự ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong luật

*Phân biệt VBQPPL với các loại văn bản khác:

- Văn bản có tính chất chủ đạo là văn bản do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm thực hiện các chủ trương lớn, các nhiệm vụ, đường lối lớn, đề cập đến các vấn đề có tính chất chính trị, pháp lý của quốc gia, địa phương (ví dụ: lời tuyên bố, lời hiệu triệu ), động viên nhân dân thực hiện các chính sách đó, tuy mang tính pháp lý song không phải là VBQPPL

- Văn bản cá biệt là loại văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào QPPL ban hành để giải quyết những vụviệc cụ thể, hiệu lực chỉ một lần và chỉ có quan hệ với những cá nhân, tổ chức chỉ ra trong chính văn bản (Ví dụ: bản án, quyết định của Tòa

án, quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức )

b Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam.

Căn cứ vào trình tự ban hành và giá trị pháp lý, các văn bản quy phạm pháp luật được chia ra thành 2 loại là các văn bản luật và văn bản dưới luật

* Các văn bản luật.

Văn bản luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của quyền lực Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục được qui định trong Hiến pháp( Điều: 84, 88 và 147 của Hiến phápnăm 1992)

Các văn bản này có giá trị pháp lý cao nhất Mọi văn bản khác (văn bản dưới luật) khi ban hành đều phải dựa trên cơ sở của văn bản luật và không được ttrái với các quy định trong văn bản đó Các văn bản dưới luật trái với các đạo luật đều không có hiệu lực pháp lý và bị bãi bỏ Chỉ có Quốc hội mới có quyền thông qua, sửa đổi hoặc hủy bỏ Hiến pháp, các đạo luật và

bộ luật Các đạo luật không chịu sự kiểm tra, phê chuẩn, đình chỉ của bất cứ

cơ quan nào ngoài Quốc hội

Trang 35

Văn bản Luật có các hình thức là Hiến phápvà luật.

- Hiến pháp(bao gồm Hiến phápvà các đạo luật về bổ sung hay sửa

đổi Hiến pháp) Hiến phápquy định những vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước như: Hình thức và bản chất của Nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Hiến pháplà luật cơ bản của Nhà nước,

có hiệu lực pháp lý cao nhất, là cơ sở pháp lý cho tất cả hệ thống pháp luật Mọi văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với các quy định của Hiến phápvà không được trái với Hiến pháp Trình tự và thủ tục thông qua Hiến phápcũng khác so vớiviệc thông qua các đạo luật thông thường

- Luật (Bộ luật, luật), Nghị quyết của Quốc hội có chứa đựng các quy

phạm pháp luật là những văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành để cụ thể hoá Hiến pháp, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước.Giữa

Bộ luật và Luật thì Bộ luật có tính tổng hợp cao hơn, phạm vi điều chỉnh rộng hơn, bao quát hơn, trọn vẹn một lĩnh vực QHXH quan trọng

Các Luật và Nghị quyết của Quốc hội có giá trị pháp lý cao (chỉ sau Hiến pháp), vì vậy khi xây dựng các văn bản dưới luật phải dựa trên cơ sở các quy định thể hiện trong văn bản luật, không được trái với các quy định đó

* Các văn bản dưới luật.

Văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy định

Những văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật, vì vậy khi ban hành phải chú ý sao cho những quy định của chúng phải phù hợp với những quy định của Hiến phápvà Luật

Giá trị pháp lý của từng loại văn bản dưới luật cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào thẩm quyền của các cơ quan ban hành chúng

Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hiện nay ở nước ta có những loại văn bản dưới luật sau:

- Pháp lệnh do Uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành quy định những

vấn đề được Quốc hội giao Thẩm quyền ban hành Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ quốc hội được quy định trong Điều 91 và Điều 93 của Hiến phápnăm 1992

- Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ quốc hội được ban hành để giải

thích Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, giám sátviệc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước khác

Trang 36

- Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện

những nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, Luật quy định

- Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị của Thủ

tướng Chính phủ.

- Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

ngang bộ, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Chính phủ.

- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Quyết

định, Chỉ thị, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởngviện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Nghị quyết, Thông tư liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước với nhau

(Ví dụ: giữa các Bộ, giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với tổ chức

CT-XH fy\có quyền ban hành Nghị quyết, Thông tư liên tịch).

- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp.

- Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp.

VII QUAN HỆ PHÁP LUẬT

1 Khái niệm quan hệ pháp luật.

Quan hệ xã hội vốn phong phú và đa dạng, vì vậy cần phải dùng rất nhiều loại quy tắc xử sự khác nhau (quy phạm xã hội) khác nhau để điều chỉnh các quan hệ xã hội Chúng có thể là quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, phong tục, tập quán, quy phạm pháp luật Trong hệ thống các quy phạm xã hội, quy phạm pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng Chúng là loại quy phạm có hiệu quả nhất, bởi vậy, trong xã hội XHCN, Nhà nước đã sử dụng hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng nhằm đảm bảo cho chúng phát triển phù hợp với ý chí và lợi ích của mình

Quan hệ pháp luật có những đặc điểm sau:

- Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội có ý chí Nói cách khác, quan hệ pháp luật xuất hiện do ý chí của con người Tính ý chí của quan hệ pháp luật thể hiện ở chỗ quan hệ pháp luật là dạng quan hệ cụ thể hình thành giữa những chủ thể nhất định Các quan hệ này được hình thành thông qua hành

vi có ý chí của các chủ thể Có những quan hệ pháp luật mà sự hình thành đòi hỏi cả hai bên chủ thể đều phải thể hiện ý chí (quan hệ hợp đồng) Cũng

có những loại quan hệ pháp luật được hình thành trên cơ sở ý chí Nhà nước (quan hệ pháp luật hình sự)

- Quan hệ pháp luật XHCN xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật, tức là trên cơ sở ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thể chế hoá, vì thế, quan hệ pháp luật mang tính giai cấp sâu sắc

-Quan hệ pháp luật thuộc loại quan hệ tư tưởng: Quan hệ pháp luật thuộc kiến trúc thượng tầng và phụ thuộc cơ sở hạ tầng là QHSX của XH Trong xã hội có giai cấp, mỗi kiểu quan hệ sản xuất có kiểu pháp luật phù

Trang 37

hợp Các quan hệ pháp luật phát triển, biến đổi theo sự phát triển, biến đổi của quan hệ sản xuất và phục vụ quan hệ sản xuất.

Mặt khác, quan hệ pháp luật cũng có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của cơ sở hạ tầng

- Nội dung của quan hệ pháp luật được cấu thành bởi các quyền và nghĩa vụ pháp lý màviệc thực hiện được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của Nhà nước Đây là đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật Trong quan hệ pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia gắn bó chặt chẽ với nhau

về mặt pháp luật

- Sự xuất hiện, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật luôn gắn liền với sự kiện pháp lý Nói cách khác, chỉ khi có các tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra trong cuộc sống được ghi nhận trong quy phạm là sự kiện pháp lý và các chủ thể pháp luật tham gia thì mới xuất hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật

Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa: Quan hệ pháp luật XHCN là

hình thức pháp lý của quan hệ xã hội, xuất hiện dưới sự tác động của các quy phạm pháp luật, trong đó các bên tham gia quan hệ có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của quy phạm pháp luật, quyền và nghĩa vụ

đó được pháp luật ghi nhận và Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, cưỡng chế Nhà nước.

2 Cấu thành của quan hệ pháp luật.

Quan hệ pháp luật được cấu thành bởi: chủ thể, nội dung và khách thể

a Chủ thể quan hệ pháp luật.

* Khái niệm:Chủ thể của quan hệ pháp luật là các bên tham gia quan

hệ pháp luật Chủ thể của QHPL là cá nhân hay tổ chức có năng lực chủ thể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi) và tham gia vào QHPL

Năng lực pháp luật là khả năng của các cá nhân hay tổ chức có quyền

và nghĩa vụ pháp lý nhất định theo qui định của pháp luật Năng lực pháp luật xuất hiện từ khi con người mới sinh ra và tồn tại cho đến khi người đó chết

Năng lực hành vi là khả năng của các cá nhân hay tổ chức bằng hành

vi của chính mình thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý theo qui định của pháp luật Khác với năng lực pháp luật, năng lực hành vi chỉ xuất hiện khi con người đạt đến một độ tuổi nhất định và phải có trạng thái thần kinh bình thường, tức là không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng Điều khiển hành vi của mình Thông thường, pháp luật hầu hết các nước trên thế giới đều lấy tuổi 18 là tuổi xác định con người có năng lực hành vi đầy đủ Dưới 18 tuổi, con người có thể

có năng lực hành vi hạn chế

Trang 38

Năng lực hành vi hạn chế là năng lực hành vi mà chủ thể pháp luật có thể có trong một số lĩnh vực nhất định Năng lực hành vi hạn chế xuất hiện sớm nhất là năng lực hành vi dân sự Theo qui định của BLDS nước ta( Điều 23) thì năng lực hành vi dân sự hạn chế có thể xuất hiện khi con người đủ 6 tuổi Những người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, ngoài những giao dịch phục vụ nhu cầu hàng ngày phù hợp với lứa tuổi, khi thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo đồng ý Những người mặc dù đã thành niên nhưng mắc các bệnh tâm thần không thể Điều khiển được hành vi của mình và không ý thức được hậu quả pháp lý của nó

vì họ là những người không có năng lực hành vi.việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ phải thông qua người đại diện hợp pháp

Ngoài ra, cũng cần lưu ý, những người đã thành niên và không mắc các bệnh tâm thần nhưng nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tài sản gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi hành vi dân sự của người đó

Ở nước ta, theo qui định của BLLĐ ( Điều 6) năng lực hành vi lao động hạn chế xuất hiện khi con người đủ 15 tuổi Năng lực hành vi chịu trách nhiệm hành chính xuất hiện khi con người đủ 14 tuổi - đối với VPHC

cố ý và đủ 16 tuổi đối với mọi VPHC do mình gây ra Năng lực hành vi chịu TNHS xuất hiện khi con người từ đủ 14 tuổi - đối với những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng và từ đủ 16 tuổi - đối với mọi tội phạm ( Điều 12- BLHS)

Để trở thành chủ thể pháp luật chỉ cần có năng lực pháp luật, nhưng

để trở thành chủ thể QHPL vừa phải có NLPL, vừa phải có NLHV.NLPL là tiền đề của NLHV Không thể có NLHV nếu không có NLPL Đối với các pháp nhân thì NLPL và NLHV xuất hiện cùng một lúc, nhưng đối với cá nhân thì NLPL nóI chung xuất hiện trước, NLHV xuất hiện sau Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý có những QHPL mà chủ thể pháp luật phải trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ, họ không thể nhờ người đại diện thực hiện thay được Ví dụ:việc thực hiện quyền bầu cử và ứng cử,việc thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động,việc thực hiện quyền đăng ký kết hôn Đối với những QHPL này, NLPL và NLHV của các chủ thể pháp luật xuất hiện cùng một lúc Năng lực bầu cử và ứng cử 18 và 21 tuổi, năng lực lao động - 16 tuổi, năng lực kết hôn - nữ 18 tuổi, nam 20 tuổi

* Các loại chủ thể của QHPL

Các chủ thể của QHPL có thể chia làm 4 loại sau:

- Thể nhân (cá nhân - Physical person): bao gồm 3 loại là công dân nước sở tại, công dân nước ngoài và người không quốc tịch

Trang 39

So với công dân Việt Nam thì công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú trên Việt Nam có NLPL hạn chế hơn Ví dụ : họ không có quyền bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước, không thể giữ những chức vụ nhất định trong bộ máy pháp luật, không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động công ích Tuy nhiên, trên cơ sở tôn trọng các quyền cơ bản của công dân và của con người Nhà nước ta luôn thừa nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của họ.

- Pháp nhân (Juridical person): là tổ chức có những dấu hiệu cơ bản sau đây:

1 Được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận

2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

3 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó

4 Nhân danh mình tham gia các QHPL một cách độc lập

- Nhà nước là pháp nhân đặc biệt, là chủ thể đặc biệt của QHPL Khi tham gia các quan hệ quốc tế như ký kết các Điều ước quốc tế, Nhà nước tham gia với tư cách là một pháp nhân Trong quan hệ sở hữu, Nhà nước với

tư cách một pháp nhân là chủ sở hữu của đất đai, rừng núi, sông ngòi, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất Nhưng Nhà nước lại như một pháp nhân

mẹ chứa đựng trong lòng mình nhiều pháp nhân là các tổ chức và cơ quan của Nhà nước Các cơ quan tổ chức của Nhà nước trực tiếp tham gia vào các QHPL với các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định

Các tổ chức không có tư cách pháp nhân cũng có thể trở thành chủ thể của một số QHPL Ví dụ: Hộ gia đình là chủ thể của một số QHPLDS và đất đai, một số Tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân, cũng có thể là chủ thể của QHPLDS

b Khách thể của QHPL.

- Khái niệm: Khách thể của QHPL là những lợi ích vật chất hoặc phi

vật chất mà các chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia các quan hệ pháp luật

Khách thể của QHPL có thể chia làm 3 loại:

- Tài sản vật chất như tiền, vàng, bạc, đá quí, nhà ở,ô tô, xe máy, các loại hàng hóa khác

- Hành vi xử sự của con người như vận chuyển hàng hóa, khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc người già, trẻ em, bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước, phục vụ hành khách trên tàu hỏa, máy bay, hướng dẫn người đi du lịch, tham quan

- Các lợi ích phi vật chất như quyền tác giả, quyền phát minh sáng chế, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng của con người

Trang 40

Khách thể của QHPL chính là cái mà vì nó các chủ thể pháp luật tham

gia vào QHPL Ví dụ: Trong quan hệ mua bán nhà ở, ngôi nhà được coI là

khách thể của QHPL này Trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa, khách thể của QHPL hợp đồng không phải là hàng hóa mà là sự vận chuyển hàng hóa Trong quan hệ tranh chấp về quyền tác giả của một sản phẩm lao động sáng tạo thì khách thể của QHPL là quyền tác giả.

c Nội dung của quan hệ pháp luật

Nội dung của QHPL bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khi tham gia QHPL

* Quyền chủ thể là khả năng của chủ thể được xử sự theo cách thức

nhất định khi tham gia QHPL

Quyền chủ thể bao gồm 3 yếu tố sau:

- Khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép

- Khả năng yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt các hành động cản trở

nó thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý hoặc yêu cầu chúng phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng phát sinh từ quyền và nghĩa vụ này

- Khả năng của chủ thểyêu cầu các cơ quan pháp luật có thẩm quyền can thiệp bảo vệ lợi ích của mình

* Nghĩa vụ của chủ thể là cách xử sự mà chủ thể bắt buộc phải thực

hiện nhằm đáp ứngviệc thực hiện quyền của chủ thể khác

Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể bao gồm 2 yếu tố:

- Phải thực hiện các xử sự mà pháp luật bắt buộc Hành vi bắt buộc này có thể mang tính chủ động, nghĩa là phải thực hiện một hành động nhất định hoặc mang tính thụ động, tức là tự kiềm chế khôngvi phạm các Điều cấm đoán

- Phải chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện đúng các qui định của pháp luật

Trong mối quan hệ pháp luật thông thường, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia QHPL gắn bó với nhau.việc thực hiện quyền của một chủ thể pháp luật này thường là điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của một chủ thể khác và ngược lại

3 Sự kiện pháp lý

QHPL phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt dưới tác động của 3 điều kiện: qui phạm pháp luật, năng lực chủ thể và sự kiện pháp lý

Khái niệm: Sự kiện pháp lý là những sự kiện, hoàn cảnh thực tế, cụ

thể xảy ra không phụ thuộc vào ý chí của con người nhưng làm xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt những QHPL

Ngày đăng: 01/08/2014, 09:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1: SƠ ĐỒ TểM TẮT HèNH THỨC NHÀ NƯỚC - PLDC_THAM KHAO docx
BẢNG 1 SƠ ĐỒ TểM TẮT HèNH THỨC NHÀ NƯỚC (Trang 18)
BẢNG 3: SƠ ĐỒ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH QUAN HỆ PHÁP  LUẬT - PLDC_THAM KHAO docx
BẢNG 3 SƠ ĐỒ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH QUAN HỆ PHÁP LUẬT (Trang 42)
BẢNG 4: MÔ HÌNH TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT  NAM - PLDC_THAM KHAO docx
BẢNG 4 MÔ HÌNH TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w