1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ văn xuôi việt nam 1975 2000

89 485 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ văn xuôi Việt Nam 1975 - 2000
Tác giả Phạm Thị Hoa
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuân Diệu, nhà thơ có công đầu trong việc đóng góp những suy nghĩ, tìm tòi mang tính lí luận về sự hình thành và pháttriển của thơ văn xuôi nói chung và thơ văn xuôi Việt Nam nói riêng,

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trang 2

Lời cảm ơn

Tác giả xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hớng dẫn TS Nguyễn Văn Hạnh đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Tác giả trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa đào tạo Sau đại học, khoa Ngữ văn trờng đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu, triển khai đề tài và hoàn thành luận văn.

Cuối cùng, tác giả bày tỏ lòng biêt ơn sâu sắc đối với gia đình và bạn bè, ng ời thân đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Trang 3

Những tiền đề lịch sử xã hội và t tởng thẩm mỹ cho sự phát triển thơ

văn xuôi (1975 - 2000)

1.1 Thơ văn xuôi trên hành trình thơ ca Việt Nam thế kỉ XX 91.1.1 Những tìm tòi thể nghiệm đổi mới hình thức thơ đầu thế kỷ XX 91.1.2 Cuộc cách tân hình thức thơ trong phong trào Thơ mới 131.1.3 Thơ ca kháng chiến và nhu cầu tìm tòi đổi mới hình thức thơ 151.2 Hiện thực cuộc sống và số phận con ngời thời hậu chiến 231.2.1 Sự đổi thay của hiện thực cuộc sống 231.2.2 Con ngời với nhu cầu đợc đối thoại 251.3 Sự thay đổi trong t duy nghệ thuật thơ 27

1.4 Mở rộng giao lu quốc tế và sự thức tỉnh con ngời cá nhân 40

Chơng 2 Cảm hứng chủ đạo trong thơ văn xuôi (1975 – 2000) 2000) 46

2.1 Nhận thức lí giải những vấn đề thế sự, đời t 462.1.1 Nhà thơ đối diện với mình trong những dằn vặt nghĩ suy 462.1.2 Nỗi niềm ngời lính trở về sau chiến tranh 492.1.3 Những nỗi niềm riêng trong cuộc sống đời thờng 55

2.2.1 Một cách nhìn mới về tình yêu hạnh phúc 612.2.2 Những lo âu, trăn trở trong tình yêu 642.3 Chiêm nghiệm suy t về con ngời và cuộc sống 692.3.1 Những lầm lạc trong cuộc đời tục luỵ 70

Chơng 3 Một số đặc điểm nghệ thuật tổ chức lời thơ trong thơ văn xuôi (1975 - 2000) 77

3.1.2 Sử dụng nhiều từ nối trong tổ chức cấu thơ 82

Trang 4

ợng tự nhiên trong quá trình dân chủ hóa hình thức thơ mang tính toàn cầu,gắn với nhu cầu của con ngời thời hiện đại.

Trong thơ ca Việt Nam, hình thức thơ văn xuôi xuất hiện khá sớm Tuynhiên giai đoạn đợc xem là nở rộ của nó là thời kì sau chiến tranh chống Mỹ.Nghiên cứu hình thức thơ văn xuôi thời kì này, vì vậy để góp phần tìm hiểuthêm về xu hớng vận động của hình thức thơ trong thơ ca Việt Nam hiện đại

1.2 Thơ văn xuôi đợc xem nh là một trong ba hình thức cơ bản của thơ(Thơ cách luật, Thơ tự do, Thơ văn xuôi) Sự ra đời của nó gắn liền với nhucầu giải phóng con ngời cá nhân trong thời hiện đại, nhằm tìm kiếm mộtgiọng điệu phức tạp, gai góc, vừa lắm lí sự, suy t, vừa bộc lộ cảm xúc ào ạt,mãnh liệt, giải phóng tối đa sự dạt dào cảm xúc của chủ thể trữ tình Nghiêncứu thơ văn xuôi, không chỉ để hiểu đặc trng về phơng diện cấu trúc thơ màcòn gợi mở nhiều vấn đề về mối quan hệ giữa hình thức thơ và thời đại

1.3 Trong những năm gần đây, thơ văn xuôi đã xuất hiện trong chơngtrình văn học từ bậc phổ thông đến đại học Việc nghiên cứu thơ văn xuôi, vìvậy, có ý nghĩa thực tiễn, giúp cho ngời dạy, ngời học có thêm những tri thức

về thể loại Từ đó có đợc định hớng đúng đắn trong việc tiếp cận các tác phẩmthơ văn xuôi trong nhà trờng

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Nh tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là khảo sát thơ văn

xuôi Việt Nam 25 năm cuối thế kỷ XX từ góc nhìn thể loại

2.2 Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:

Thứ nhất, chỉ ra đợc những cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của thơ văn

xuôi giai đoạn 1975 - 2000

Thứ hai, chỉ ra đợc những đặc điểm cơ bản của thơ văn xuôi giai đoạn

1975 - 2000 trên một số phơng diện nh: Cảm hứng, giọng điệu, nghệ thuật tổchức lời thơ

Thứ ba, trong một chừng mực nhất định, chỉ ra đợc những đổi mới hình

thức thơ so với các giai đoạn trớc đó

3 Phạm vi, đối tợng nghiên cứu

Trang 5

xuôi (Việt Nam và nớc ngoài) của hai soạn giả Nguyễn Văn Hoa và Nguyễn

Ngọc Thiện, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1997 Ngoài ra chúng tôi, còn sửdụng một số tác phẩm thơ văn xuôi đợc đăng trên các báo Văn nghệ, Vănnghệ Quân đội, Văn nghệ trẻ làm đối tợng khảo sát

3.2 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của đề tài là hình thức thể loại thơ xét từ nhiều mốiquan hệ (với thời đại, với chủ thể sáng tạo, )

4 Phơng pháp nghiên cứu

Xuất phát từ nhiệm vụ, mục đích của đề tài, chúng tôi đặt đối tợng tronghoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong mối quan hệ nhiều chiều, trên cơ sở kế thừa kếtquả nghiên cứu của những ngời đi trớc, chúng tôi sử dụng một số phơng phápnh: phân tích, thống kê, so sánh đối chiếu, khái quát…

5 Lịch sử vấn đề

Nhìn chung, cho đến nay thơ văn xuôi đã có một qúa trình hình thànhphát triể nhng vẫn còn cha định hình Mặc dầu còn có ý nghĩa nghi ngờ hìnhthức thơ văn xuôi, thấm chí không muốn chấp nhận nó là một hình thức thơ

ca, tuy nhiên, trên thực tế nó đã tồn tại, và có một diện mạo riêng Nhữngcông trình nghiên cứu công phu và chuyên sâu về thơ văn xuôi cha nhiều Hầuhết mới dừng lại ở một vài cảm nhận bớc đầu, hoặc là đi vào phê bình giớithiệu một bài thơ văn xuôi cụ thể Dựa trên những t liệu bao quát đợc, và trongphạm vi quan tâm của đề tài, có thể khái quát một số vấn đề cơ bản đã đợc cácnhà nghiên cứu bàn đến trong thơ văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 – 2000) 2000

nh sau:

5.1 Cho đến nay sự tồn tại của thơ văn xuôi trong đời sống thơ ca hiện

đại là một thực tế không thể phủ nhận Nó đợc nhìn nhận nh một hiện tợng tựnhiên trong quá trình dân chủ hóa hình thức thơ mang tính toàn cầu, gắn vớinhu cầu của con ngời hiện đại Trong thơ ca nhân loại cũng nh thơ ca ViệtNam đã có những tên tuổi lớn gắn liền với những bài thơ văn xuôi nổi tiếng

nh W Whitman (1819 - 1892), C Baudalaire (1821 - 1867), A Rimbau (1854

- 1891), Lỗ Tấn (1881 - 1936), R Tagore (1861 - 1941), Chế Lan Viên (1920

- 1989) Tuy nhiên cho đến nay thơ văn xuôi vẫn là một thể loại cha hoàntất, đang trong quá trình vận động phát triển Chính vì vậy, việc xác định nộihàm khái niệm là một điều cha thể Trong bối cảnh đó, các ý kiến bàn về thơ

Trang 6

văn xuôi nói chung, thơ văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 – 2000) 2000 nói riêngmới chỉ là sự khởi đầu

Bàn về qúa trình hình thầnh phát triển của hình thức thơ văn xuôi trongvăn học Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng nó đã có mầm mống từ thể văn biềnngẫu trong văn chơng trung đại nh Cáo, Hịch, Phú Tiêu biểu cho quan niệmnày là Xuân Diệu, Hà Minh Đức Xuân Diệu, nhà thơ có công đầu trong việc

đóng góp những suy nghĩ, tìm tòi mang tính lí luận về sự hình thành và pháttriển của thơ văn xuôi nói chung và thơ văn xuôi Việt Nam nói riêng, trong

tiểu luận Vài ý kiến về Thơ văn xuôi (in trên Báo Văn nghệ số 88/ 1965), đã

cho rằng: “Thơ văn xuôi có nguồn gốc từ thể phú, một thể loại vừa là thơ, vừa

là văn; nó là thơ vì nó có âm thanh theo luật bằng trắc, có vần; mặt khác nócũng là văn, vì câu dài, có đôi khi câu khá dài nh một câu văn (trong thể câu

đối, tức là tơng đơng với hai vế của một câu phú, thì có những trờng hợp câurất dài), nhng câu văn này cắt thành từng mạch nhỏ, theo một nhịp điệu tiếttấu làm a thích cho tai nghe, và câu dới đối với câu trên” Và theo Xuân Diệu,

các bài phú nh Tiền Xích Bích phú, Hậu Xích Bích phú của Tô Thức, Bài Văn

tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh, Khóc Trơng Quỳnh Nh của Phạm Thái đều

mang những đặc điểm trên

Cũng theo Xuân Diệu, thơ văn xuôi đòi hỏi ngời đọc phải có một trình

độ t duy nhất định Khi tiếp nhận một bài thơ văn xuôi, bên cạnh phần rung

động của cảm xúc, ngời đọc phải biết huy động cả sức cảm và sức nghĩ của trítuệ Ngời đọc khó có thể thuộc lòng và ngẫm ngợi một bài thơ văn xuôi nh đốivới các thể thơ khác Tuy nhiên, nhà thơ Xuân Diệu cũng nhắc nhở bạn đọcphải nắm đợc quy luật của sự thởng thức văn nghệ, công chúng vốn khôngthích sự đơn điệu, thêm đợc công cụ để diễn đạt thì nhà thơ cũng sẽ dễ xoaytrở hơn, thơ sẽ có nhiều dạng sắc hơn Sự tìm tòi đa dạng, mở rộng các hìnhthức diễn đạt này không phải là một sự tìm tòi hình thức chủ nghĩa, mà là donhu cầu bên trong của sự sáng tạo, muốn mở rộng các hình thức, các thể điệunhằm phục vụ cho sự diễn đạt nội dung đợc đắc lực và hiệu quả hơn So vớicác thể thơ cách luật và thơ tự do, thơ văn xuôi có thế mạnh là có thể đạt đợccùng một lúc những cảm xúc trùng điệp, những hình ảnh, những ý thơ liêntiếp Do đó trong một câu thơ văn xuôi, có thể diễn tả đợc nhiều sự kiện, nhiềuhình ảnh, nhiều cảm xúc bề bộn đan xen nhau Có những bài thơ văn xuôi cósức bao quát rộng, ôm chứa đợc dung lợng nội dung khá lớn Nó giúp cho nhà

Trang 7

thơ chuyển tải đợc những t tởng phức tạp, những cung bậc gồ ghề, sắc cạnhcủa tình cảm

Hà Minh Đức trong chuyên luận Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam (1968) đã cho rằng, các thể văn vần

nh phú và văn tế và các loại biền văn nh hịch, cáo đều có dáng dấp của thơ vănxuôi Và suy cho cùng thì thể văn xuôi cũ cũng là nguồn gốc gần xa của mộtthể thơ văn xuôi sau này Theo ông, sự khác biệt của thơ văn xuôi với phú,cáo, hịch, văn tế là ở chỗ các thể văn truyền thống có quy tắc về vần và đốicòn thơ văn xuôi thì không

Nh vậy, với nhiều cách nói khác nhau, nhng cả ngời sáng tạo ngời tiếpnhận đều có ý thức rõ ràng về một hình thức thơ vợt thoát những trói buộc củathơ cách luật, giải phóng tới mức tối đa năng lợng cảm xúc dồn nén, đáp ứngnhu cầu đối thoại với cuộc đời của nhà thơ ở đó, thơ và văn xuôi đã giaothoa, hỗ trợ cho nhau tạo nên một khả năng riêng mà các hình thức thơ trớc đókhông có đợc Nó đợc nhìn nhận là một xu hớng vận động t nhiên của thơ ca

Sự ra đời của thể thơ văn xuôi đợc xem là một nhu cầu tất yếu gắn liền với nhucầu giải phóng con ngời cá nhân trong thời hiện đại, nhằm tìm kiếm mộtgiọng điệu phức tạp, gai góc, vừa lắm lý sự, suy t và bộc lộ một cảm xúc ào ạt,mãnh liệt, giải phóng tối đa, sự dạt dào cảm xúc của chủ thể trữ tình

5.2 Nhìn vào sự phát triển của các thể loại thơ Việt Nam sau 1975, cóthể thấy thơ văn xuôi đã khẳng định đợc vị trí của mình Thơ văn xuôi có mặt

trong hành trang của nhiều thế hệ nhà thơ, nh: Nguyễn Đình Thi (Nơi dựa, Truyền thuyết về chim phợng), Phùng Quán (Trăng hoàng cung), Trinh Đờng (Chim năm sắc bi ca), Văn Cao (Đêm quán), Tế Hanh (Văn xuôi cho em), Phạm Hổ (Cái đêm Thánh Gióng về trời), Lê Đạt (Ngó tình), Lữ Huy Nguyên (Mặt trời đỏ bây giờ và bến sông xa), Mã Giang Lân (Một vùng sông), Lê Quang Trang (Vô đề), Nguyễn Hoa (Mùa xuân về), Trúc Thông (Nhớ mẹ sông Châu và Nao nao rừng núi), Thu Bồn

(Con xà mâu tội nghiệp), Thanh Quế (Chùm thơ dọc đờng), Trịnh Thanh Sơn (Gửi mẹ và Bến xa), Vũ Duy Thông (Tình yêu không lời hứa và Đang ma ngoài bờ sông), ý Nhi (Tiếng gọi), Lò Ngân Sủi (Ngời đẹp), Hoàng Vũ Thuật (Mùa thu ơi) Sự hiện diện đông đảo các nhà thơ làm thơ văn xuôi, chứng tỏ

thơ văn xuôi không phải là đặc quyền của lớp nhà thơ nào Tuy nhiên, nhìnvào thực tế sáng tác của các nhà thơ thì dờng nh thế hệ các nhà thơ trẻ “mặn

Trang 8

mà”, và “có duyên” với thơ văn xuôi hơn Đó cũng là điều dễ hiểu Các nhàthơ lớn tuổi không dễ dàng từ bỏ nếp t duy quen thuộc với những âm thanh,nhịp điệu đã thành máu thịt của mình Vai trò tiên phong cho những đổi mớinghệ thuật thờng thuộc về lớp trẻ, những ngời đang sung sức, đầy hăm hở và

đam mê Mỗi ngời một cách, họ đang không ngừng tìm kiếm và thể nghiệm

để khẳng định mình

5.3 Bàn về qúa trình vận động phát triển của thơ văn xuôi Việt Nam,

Lu Khánh Thơ trong tiểu luận Thơ văn xuôi trong sự vận động của thể loại thơ sau 1975 đã điểm lại quá trình vận động của thơ văn xuôi, khẳng định sự

tồn tại của thơ văn xuôi trong đời sống thơ ca Việt Nam và cho rằng, đó làmột “thể tài không thể bỏ qua” Nh chúng ta đã biết, văn học trớc hết là mộthiện tợng ý thức xã hội Tơng ứng với bức tranh xã hội rộng lớn và phức tạp làmột bức tranh thơ nhiều gam màu, dáng vẻ Thơ văn xuôi sau 1975 phát triển

đa dạng và phong phú với nhiều xu hớng, nhiều giọng điệu riêng Mặc dầu cha

có tác phẩm lớn, cha có những đỉnh cao nhng nó đã góp phần làm nên sựphong phú, phức tạp của thơ Việt Nam thời hậu chiến Việc dựng nên một bứctranh chung về thơ ca Việt Nam sau 1975, nói chung, thơ văn xuôi nói riêng,vì vậy, là một công việc cực kỳ khó khăn, phức tạp Cho đến nay, đã có một sốcông trình nghiên cứu về thơ sau năm 1975, trong đó ít nhiều đều có đề cập

đến thơ văn xuôi Có thể kể đến một số cuốn sách nh: 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996), Văn học Việt Nam trong thời đại mới (Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội 2002), Văn học 1975 - 1985 tác phẩm và d luận (Nhà xuất bản Hội nhà văn,

Hà Nội, 1997)… Ngoài ra còn có thể kể đến một số số bài nghiên cứu, phê

bình rải rác trên các báo và tạp chí từ những năm 90 lại nay, nh: Thơ văn xuôi trong sự vận động của thể loại thơ sau 1975, Trờng ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại, Thơ 1975 - 1995, sự biến đổi của thể loại Đặc biệt

trong thời gain này có hai luận án tiến sỹ của Vũ Tuấn Anh và Lê Lu Oanhnghiên cứu về sự phát triển của cái tôi trữ tình sau 1975, trong đó có đề cập

đến hình thức thơ văn xuôi với t cách là một hình thức thể loại thể hiện mộtmột dạng thức tồn tại của cái tôi trữ tình trong thơ Về cơ bản, các công trình

ấy đã nhận diện và phác thảo quá trình phát triển của thơ sau năm 1975 Trong

công trình Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990 (Nhà xuất bản Đại học Quốc

gia Hà Nội, 1998) trên cơ sở nghiên cứu sự vận động của cái tôi trữ tình trong

Trang 9

thơ, Lê Lu Oanh đã tái hiện một cách khá đầy đủ các gơng mặt nổi bật của thơViệt Nam đơng đại, nhận diện và phân loại những xu hớng phát triển chínhcủa thơ sau 1975 Trọng tâm của công trình là đi sâu khai thác cái tôi trữ tình

và một số phơng thức biểu hiện cái tôi trữ tình, trong đó có cái tôi trữ tìnhtrong thơ văn xuôi Theo Lê Lu Oanh, thơ văn xuôi sau 1975 có hai khuynhhớng chính Thứ nhất, “tìm kiếm một giọng điệu vừa phức tạp vừa gai góc,lắm lý sự, nhiều chất suy nghĩ”; thứ hai “bộc lộ cảm xúc ào ạt, mãnh liệt, gấpgáp, không điềm tỉnh mà say đắm buông thả, không muốn bị ràng buộc bởibất kỳ một niêm luật nào để giải phóng sự tối đa sự dạt giào của cảu cảm xúc

và lối kiến trúc bề thế, tầng lớp của hình ảnh từ ngữ” [12,148]

Hà Minh Đức trong bài viết Thơ văn xuôi lại đi vào tìm hiểu ranh giới

về hình thức giữa thơ và thơ văn xuôi, văn xuôi và thơ văn xuôi trên các phơngdiện: phơng thức biểu hiện trữ tình, những hình thức so sánh và vận dụng ngônngữ, hình ảnh và tứ thơ, cấu trúc câu thơ Theo ông, “thơ văn xuôi buộc ngờiviết phải tuân theo những quy luật nghiêm khắc bên trong của nó Trớc hết tácgiả phải có cảm xúc một thi nhân và dù với tính chất rộng rãi và linh hoạt củaphạm vi diễn tả, nhà thơ phải tìm đợc sự hài hoà bên trong của ngôn ngữ vànhịp điệu và sự hàm súc của hình ảnh và lời thơ Một bài thơ văn xuôi khôngthể là một bài văn xuôi bình thờng mà phải là một sáng tác giàu chất thơ ở

đây cảm hứng thơ ca tuy không biểu hiện ra ở những câu thơ, những ngời viếtphải biết chọn lọc những hình thức phù hợp” [12, 627] Trên bình diện cấutrúc ngôn ngữ, Hữu Đạt lại cho rằng, “thơ văn xuôi là đỉnh phát triển cao nhất

của thơ tự do” [12, 630] Trong bài viết T duy và cấu trúc nghệ thuật thơ văn xuôi, Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng, thơ văn xuôi có những đặc điểm u việt so

với các thể thơ khác trong việc bộc lộ tình cảm Giải thích điều này ông viết:

“một khi khuôn khổ thể thơ thờng, quen thuộc, không đủ giúp ngời ta thựchiện sự tự phơi bày mình nh một bản thể thự do, khi đó ngời ta đi tìm một lốikhác: đến với thơ tự do không vần hoặc thơ văn xuôi” [12, 649] Và theo ông,thơ văn xuôi ra đời “trớc hết là do đòi hỏi của một t duy nghệ thuật mới, đi tìmmột độ căng thẩm mỹ mới dựa vào áp lực liên kết của các ý thơ, câu thơ xếpliền nhau, theo một liên hệ cộng hởng nớc đôi: một mặt vẫn tuân thủ trục dọcliên tởng của thơ, mặt khác thu nạp sự diễn tiến theo trục ngang của văn xuôi”[12, 649]

Trang 10

ở các bài viết trên, các tác giả đã đề cập đến một số vấn đề của hìnhthức thơ văn xuôi từ góc độ khái quát và đã ít nhiều nêu đợc một số nét đặc tr-

ng về hình thức thể loại Tuy nhiên, do mục đích nhận diện hình thức thơ vănxuôi, các tác giả đã không đi sâu vào phân tích một giai đoạn hay một hiện t -ợng cụ thể nào Những ý kiến của các nhà nghiên cứu mới dừng lại ở nhữngnhận định mang tính khái quát Chúng tôi xem đó là cơ sở, là những gợi mởcho việc khảo sát thơ văn xuôi 1975 – 2000) 2000, một giai đoạn bùng phát của thơvăn xuôi Việt Nam

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chơng:

1.1 Thơ văn xuôi trên hành trình thơ ca Việt Nam thế kỉ XX

1.1.1 Những tìm tòi thể nghiệm đổi mới hình thức thơ đầu thế kỷ XX

Từ đầu thế kỉ XX đến cuối thế kỉ XX các thể loại thơ có sự phát triểnmạnh mẽ, phong phú: thơ trữ tình, thơ châm biếm đả kích, thơ trí tuệ, thơ dài,trờng ca, thơ không vần, thơ văn xuôi Mỗi thờ đại, mỗi giai đoạn lịch sử th-ờng sử dụng thể loại thích hợp mà ở đây chúng ta có thể thấy đợc sự vận độngtrong t duy sáng tạo của nhà thơ Sự vận động này thể hiện nhiều cấp độ: quanniệm về quan hệ giữa thơ và cuộc sống, thái độ của nhà thơ với cuộc đời, tthế cảm thụ và cách bộc lộ cảm xúc thông qua một hệ thống nghệ thuật (đối t-ợng thẩm mĩ ngôn ngữ, giọng điệu, ) Đồng thời cũng nói lên trình độ, thịhiếu thẩm mỹ của ngời đọc, của cộng đồng, thời đại

Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam chuyển động và vận động theo mộthớng mới gắn liền với những biến động của lịch sử xã hội Hình thức thơ ca cổ

điển nh song thất, Đờng luật gò bó đợc thay thế trớc hết bằng những biến thể

Trang 11

thơ ca dân tộc, từ khúc, rồi tiến đến thơ tự do Nhng nhìn chung dấu vết thơ

ca trung đại vẫn còn in rõ Tự trong ý thức, các nhà thơ luôn có xu hớngmuốn phá vỡ khuôn khổ câu thơ xa cũ, bó buộc để tự do hơn trong việc thểhiện cảm xúc Báo Lục tỉnh tân văn, năm 1907 đăng những bài thơ nội dung

mới trong hình thức cũ có “xô xệch” hơn : “Tính làm sao cho quốc thới gia

h-ng - Nếu thua sút h-ngoại bah-ng hoài thêm hổ - Ngày trớc đã có nhật trình Nông cổ, Lại mới đây - Lục tỉnh tân văn ” (Dục minh tân - Phạm Công Thạch) Theo Tản Đà, vào khoảng năm 1914 ông viết bài thơ Hoa rụng trong Khối tình con : Đang ở trên cành bỗng chốc rơi - Nhị mềm cánh úa - Hơng nhạt màu phai - Sống chữa bao lâu đả hết đời - Thế mà hoa lại sớng hơn ng- ời” Và liên tục, dù ý thức hay không, những năm tiếp theo, Tản Đà luôn có

những bài thơ phá vỡ câu thơ, bài thơ Ông khẳng định : “những điệu thơ đó

thật tự tôi đặt ra, không theo niêm luật ở đâu hết” (Tiểu thuyết thứ bảy, ngày

30 - 11 - 1934) Cũng năm 1914, trên Đông Dơng tạp chí, số 40, Nguyễn Văn

Vĩnh đăng bài Con ve sầu và con kiến (La cigale et la fourmi) dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine, không theo thể cách của lối thơ cũ : “Ve sầu kêu ve ve - suốt mùa hè - Đến kỳ gió bấc thổi - Nguồn cơn thật bối rối - Một miếng cũng chẳng còn - Ruồi bọ không còn một con ” Đến năm 1917, trên báo chí mới

có những lời chỉ trích thơ cũ, chê luật thơ cũ trói buộc, tù hãm cảm xúc Phạm

Quỳnh bàn về thơ Nôm (Nam phong, số 5 năm 1917) xem “luật thơ nghiêm

nh luật hình” Gần mời năm sau, Trịnh Đình R viết bài trên Phụ nữ tân văn

kịch liệt bài bác thơ Đờng: “Cái nghề thơ Đờng luật khó đến nh thế, khó cho

đến kẻ muốn làm thơ, mỗi khi có nhiều ý tởng mới lạ muốn phá ra lời, song vìkhó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo, nên ý tởng dầu hay song đành bỏ bớt.Cái phạm vi của thơ Đờng luật thật là tẩn mẩn Nếu ta còn a chuộng mà theolối thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không bao giờ mong phát đạt

nh vậy” (Có nên a chuộng thơ Đờng luật không? Phụ nữ tân văn, số 26, năm

1929) Nh thế đủ biết yêu cầu đổi mới thơ, tự do thể hiện cảm xúc, t tởng, trớchết là yêu cầu nội tại, bức thiết của những ngời sáng tác

Những năm đầu của thế kỷ XX, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,Huỳnh Thúc Kháng vẫn sử dụng rất nhiều thơ thất ngôn Đờng luật, song thấtlục bát, lục bát, có khi là sử dụng phú tế, ca trù Thơ ca của các nhà nho chí sĩyêu nớc và cách mạng nhìn chung đã có sự biến đổi về nội dung t tởng, về ýthức hệ, nhng hình thức vẫn cha có gì thay đổi Có chăng là từ ngữ bớt phần

Trang 12

uyên bác, gần với tiếng nói hằng ngày hơn để dễ đi vào quần chúng nhân dân.

Đại đa số các tác phẩm có nội dung tuyên truyền, cổ động phong trào yêu nớc,cha hề có báo hiệu cần đập vỡ hình thức biểu hiện cũ Sau này, trớc sự pháttriển rần rộ của phong trào thơ mới, “Ông già Bến Ngự” mới phát triển quan

điểm của mình về đổi mới hình thức trên Văn học tuần san, số 2 ngày 1 10

1933 và in kèm thơ ông mới sáng tác: “Ta say, mà say, chẳng bao giờ rời Chốc lại trông trăng, trăng mỉm cời - Mình với trăng, với bóng thành ba ngời

Chén đầy, chén vơi, chén đầy rồi lại chén vơi Mình dậy múa, bóng theo hoài - Mình ngồi hát, trăng nghe chơi” (Uống rợu dới trăng - Phan Bội Châu).

Nới rộng thể thơ, câu chữ sáng rõ, dễ hiểu, không niêm luật gò bó, nhng rung động, cảm hứng vẫn cha đi vào quỹ đạo mới, cố gắng cách tân thểloại nhng nội dung cảm xúc vẫn là cũ, vẫn in rõ dấu ấn thơ ca cổ điển: nhà thơmột mình với thiên nhiên, với vũ trụ để cảm nhận cái vĩnh viễn, cái vô tận, vôcùng của thời gian, không gian đối lập với kiếp ngời trong một hệ đề tài quenthuộc: nhà thơ - trăng - rợu, hớng tới cô đơn và yên tĩnh

Tản Đà, nhà nho tài tử, tiếp thu văn hóa phơng Tây, đã bộc lộ “cái tôi”cá nhân mạnh mẽ Chính ông đã chuyển thể loại phi chính đạo vào trung tâmvăn học, thị dân hóa các thể loại văn học truyền thống Đó là công lao lớn củaTản Đà về mặt cách tân thể loại văn học của nớc nhà trên con đờng phát triển.Cái tôi đa tình, mơ mộng thích hợp với nhịp điệu nhẩn nha, uyển chuyển, manmác của những câu thơ, vần thơ, từ khúc, ca trù, đặc biệt là phong thi (ca dao).Các hình thúc này mới thể hiện đúng tâm hồn mới - đô thị: sống theo cá nhân,theo sở thích, nay đây mai đó, thởng thức những của ngon vật lạ và yêu thơng

Tản Đà viết Hoa rụng (1914), Tâm hồn náng Mỵ Ê, Tống biệt (1917), Cảm thu, Tiễn thu (1920), .theo từ khúc Có lúc ông phá vỡ cấu trúc câu ca dao truyền thống (Chơi xuân kẻo hết xuân đi) Trang nghiêm nh thất ngôn, đến

Tản Đà cũng trở nên xộc xệch, buông thả, mất đi cái âm điệu khuôn thớc, trở

thành lời nói ngang ngang khác lạ: “Chơi lâu, nhớ quê về thăm nhà - Đờng

xa, ngời vắng bóng chiêu tà - Một dãnh lau cao, làn gió chạy - Mấy cây tha lá, sắc vàng pha” (Thăm mã cũ bên đờng) Có thể thấy Tản Đà là ngời tiên

phong mở đờng cho việc chuyển dịch từ câu thơ ngâm sang câu thơ nói Vớithơ cổ, ngời đọc thích độc thơ lên ngâm ca, tận hởng âm điệu của ngôn ngữvăn chơng Đọc thơ là cái tình trong ấy hơn là tìm cái sự buộc đời Thơ Tản

Đà có nhiều chi tiết của cuộc đời trần tục, đời sống thị thành đang t sản hóa,

Trang 13

cho nên nó làm biến dạng những hình thức tự do hơn - hình thức dân gian vớinhững phong thi (ca dao), ca khúc (dân ca) hoặc sáng tác những vần điệu mớihợp với tâm hồn đang dào dạt của mình Tản Đà tỏ ra thuần thục song thất, lụcbát, thất ngôn bát cú, những điệu ca trù, hát xẩm, những ca khúc Việt Nam vàcả từ khúc Trung Quốc Trên cơ sở đó, ông cách tân, tạo nét riêng Nhng rồi

ông vẫn không bứt lên đợc để hòa vào dòng thơ hiện đại

Trần Tuấn Khải lại nghiêng về cảm hứng yêu nớc, thơng nòi Thơ TrầnTuấn Khải phong phú về hình thức biểu hiện, nhng thành công nhất là nhữngbài hát theo lối dân tộc, hiện đại Ông có thơ tú tuyệt, bát cú, thơ trờng thiên,văn tế, ca trù, lục bát, những bài ca lý nh Hành văn, Cổ bản, Nam ai và nhữngbài hát xẩm, nhũng “câu hát vặt” Dựa trên cơ sở câu thơ lúc bát, “câu hát vặt”

là lục bát biến thể thờng kéo dài ngân nga, thêm từ, thêm ngữ chậm rãi nhgiọng điệu sa mạc, có thể thêm vào nhiều ý tứ, rất linh hoạt và vì tâm trạng đ-

ợc thể hiện cụ thể, sinh động tha thiết hơn:

Anh khóa ơi! Lúc đêm thâu ngồi tựa chốn buồng điều.

Một mình em mở quyển Kim Vân Kiều em đọc em ngâm“ ”

Đọc đến câu : Đã nguyền đôi chữ đồng tâm Giật mình tởng khách xa xăm em lại sầu

(Mong anh khóa)

Trần Tuấn Khải không sở trờng về Đờng luật bát cú hay tứ tuyệt, trongnăm tập thơ của ông có nhiều bài hát xẩm du dơng và những bài ca lý đúng

điệu, chứng tỏ ông rất sành về làn điệu dân ca Đặc biệt phong dao (ca dao)

ông sáng tác khá nhiều, điêu luyện, rất dân gian (cũng có nghĩa là dân tộc),nhiều bài học đợc phổ biến rộng rãi, đợc ca dao hóa

Nh vậy, đến Phan Bội Châu, nhất là đến Tản Đà, Trần Tuấn Khải, câuthơ truyền thống đợc tự do hơn, nhiều bài thơ đợc sử dụng hình thức thơ cadân gian và từ khúc, mở dầu cho những trào lu cách tân mạnh mẽ trong phong

trào Thơ Mới sau này Đóng góp của họ trớc hết là ở nhận thức về sự cần thiết

phải đổi mới hình thức thơ phù hợp với con ngời thời đại

1.1.2 Cuộc cách tân hình thức thơ trong phong trào Thơ mới

Đến Thơ mới xét tổng thể, giọng điệu thơ mới là giọng điệu của tiếng

nói đời sống hằng ngày phong phú, thoát khỏi những niêm luật của thơ cổ.Buổi đầu là hiện tợng văn xuôi hóa, văn xuôi biền ngẫu, câu thơ cốt giữ cáinhịp nhàng, xóa đi những cái khô cứng, mòn cũ, ghi lại kịp thời những dòng

Trang 14

cảm xúc, những cái gần gũi, cụ thể và mơ hồ, Những bài thơ đầu tiên là văn

xuôi nhịp điệu biền ngẫu nh Tình già của Phan Khôi:

Hai mơi bốn năm xa, một đêm vừa gió lại vừa ma Dới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,

Hai các đầu xanh, kề nhau than thở

- Ôi đôi ta, tình th

ơng nhau thì vẫn nặng,

Mà lấy nhau hẳn là không đặng

Để đến nỗi tình trớc phụ sau, chi cho bằng

Sớm mà buông nhau ” Hoặc Trên đờng của Lu Trọng L Nhng nhiều bài thơ của Lu Trọng L

có quan hệ với thơ ca dân gian Chẳng hạn: “rồi ngày lại ngày Sắc màu Phai - Lá cành: Rụng -Ba gian : trống - Xuân đi - Chàng cũng đi - Năm nay xuân còn trở lại - Ngời xa không thấy tới” (Vắng khách thơ) Nguyễn Thị

-Manh -Manh (Nguyễn Thị Kiêm) bỏ thể thơ mòn cũ, tạo ra những câu thơ

giọng điệu đồng dao: “Hai cô thiếu nữ đi ra đồng - (Một cô ở chợ, một cô ở

đồng) - Hai cô thiế nữ đi ra đồng - Một mảnh lụa hồng, một vóc vải đen ”(Phụ nữ tân văn- 1993) Điều này chứng tỏ các nhà thơ muốn phá vỡ cái cũ, giọng

điệu cũ nhng cha kịp tạo ra cái mới cho nên dựa vào vốn có trong truyền thốngthơ ca dân tộc Đó là giọng điệu từ tiềm thức, bất cứ lúc nào, chỉ cần một rung

động nhỏ cũng có thể nổi bật lên, ngân nga Cái giọng điệu tự nhiên, hồnnhiên ấy vốn từ trong mỗi con ngời Việt Nam, trong tâm thức cộng đồng, trớchết là các nghệ sĩ, các nhà thơ Chính cái giọng điệu này làm thay đổi cácdòng thơ, câu thơ, cũng có nghĩa là các thể thơ trở nên bất ổn dù đó là nhữngcách luật của dân tộc đã đợc ổn định

Thơ mới sử dụng hầu hết các thể thơ truyền thống trong thơ ca dân gian,thơ ca bác học, những dòng thơ, câu thơ đã khác, tức là đã sáng tạo, nâng caophù hợp với dòng cảm xúc Đến đây thì cả thể thơ và hồn thơ Trung Quốc đều

để lại dấu vết không nhiều Dới áp lực của văn hóa Pháp, thơ ca Pháp tác độngtheo một đờng gấp khúc, khúc xạ: “Hồn thơ Pháp hễ chuyển đợc vào thơ Việt

là đã Việt hóa hoàn toàn”[25, 38] Nhóm tao đàn Bạch Nga học tập thơ Pháp

sử dụng câu thơ Alexandrin, 12 chữ:

Tôi đến đây, lữ khách ơi, lòng quạnh hiu nh bóng xế Tôi sẽ còn đến đây với những cánh hoa đợm lệ

Để tôi nghe khóc hồn anh lam li suối chảy bên đồi

Trang 15

Để tôi nghe khóc hồn anh những giọt lệ suối lòng tôi.

(Mộng Sơn - Viếng mồ lữ khách)

Thế nhng sau những câu thơ nặng nề, chậm chạp này chỉ xuất hiện ở vàibài, Mộng Sơn quay trở về và viết theo thể thơ dân tộc quen thuộc: năm chữ,bảy chữ, lục bát Nguyễn Vỹ cũng chỉ còn lại những bài bảy chữ, tám chữ và

thành công ở thể loại hai chữ (Sơng rơi), thất ngôn trờng thiên (Gửi Trơng Tửu) Các nhà thơ mới lúc này viết nhiều thơ 7 chữ và 8 chữ, một thể thơ có nguồn gốc thơ ca dân tộc (ca trù) Thế Lữ với Mây vần ma, Chế Lan Viên với

Điêu tàn, Anh Thơ với Bức tranh quê, Tế Hanh với Hoa Niên, Trong 95 bài

ở hai tập Thơ thơ và Gửi Hơng cho gió, Xuân Diệu viết 46 bài thơ 7 chữ, 33 bài tám chữ Huy cận trong tập Lửa thiêng cũng chủ yếu sử dụng thơ bảy chữ,

tám chữ và một số bài lục bát đạt tới mức cổ điển Ngay nh nhà thơ cách mạng

Tố Hữu, trong tập Từ ấy cũng “đã sử dụng nhiều nhất những thể thơ phổ biến

của phong trào thơ mới đặc biệt là tám từ”[18,131]

Hình thức thơ Pháp, thơ tự do, sản phẩm độc đáo của trờng phái thơ ợng trng đợc thơ mới chú ý vận dụng Thơ tự do tôn trọng và khai thác triệt đểchất nhạc trong giọng điệu cảm xúc Và điều này cũng không xa lạ với thơ catruyền thống: các bài ca dao, các bài hát ca trù, các bài dân ca Bắc, Trung,Nam Lấy từ bất cứ bài thơ nào của thơ mới, chúng ta đều thấy bóng dáng củathơ ca dân tộc Nói thế để thấy hồn dân tộc, giọng điệu, âm thanh tiếng Việt làbền vững và năng động, có khả năng mở rộng, tiếp thu và đồng hóa cái mới đểtạo nên sự phong phú của mình Thơ tự do có nguyên quán ở Pháp từ cuối thế

t-kỷ XIX đã trở thành một thể thơ vừa dân tộc vừa hiện đại trong nền thơ ViệtNam Các nhà thơ dù viết về vấn đề gì, với những tâm trạng nh thế nào thì vẫnnằm trong “văn mạch dân tộc” nh Xuân Diệu khẳng định Đóng góp quantrong và trớc hết của thơ mới là t tởng, tình cảm mới (Trên các cấp độ nộidung cảm hứng lãng mạn, hiện thực, cách mạng) Và mặt khác, công lao củathơ mới là làm bùng nổ những t tởng mới trong những cái áo khoác mới đợc

kết bằng chất liệu quen thuộc truyền thống Nh vậy, về thể loại, hình thức câu

thơ, các nhà thơ mới cùng chung một nhịp với Tản Đà, Trần Tuấn Khải, sửdụng nhiều yếu tố dân gian (ca dao, dân ca, hát nói, )

1.1.3 Thơ ca kháng chiến và nhu cầu tìm tòi đổi mới hình thức thơ

Sau năm 1945, các nhà thơ tiếp tục sử dụng một cách sáng tạo các thểthơ dân tộc Từ năm chữ, bảy chữ, tám chữ, lục bát đến các thể dặm vè dân

Trang 16

gian, các thể thơ văn xuôi cổ nh câu đối, phú, văn tế, Từ kết cấu sử thi,truyện nôm dân gian đến những quy mô kịch thơ, trờng ca hiện đại Bên cạnhviệc đổi mới các thể thơ dân tộc, thơ tự do phát triển mạnh mẽ Thơ tự do tiếndần đến thơ không vần, thơ văn xuôi Trong điều kiện chống Mỹ cứu nớc vàxây dụng chủ nghĩa xã hội, đất nớc không ngừng phát triển đã tác động đếnnội dung và hình thức thơ.

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, thơ tự do phát triển, thànhcông và phát huy tác dụng nhiều trong quần chúng là dạng hợp thể và biếnthể Từ sau năm 1955, nhất là những ngày cả nớc trực tiếp chống đế quốc Mĩ(sau năm 1964) thơ tự do chuyển mạnh sang phá thể Khả năng biểu hiện củathơ tự do rất lớn Nó hoàn toàn không bị gò bó bởi những quy tắc, những luật

lệ nh các thể thơ dân tộc Và càng về sau nó càng có những tìm tòi, thểnghiệm mới trong cấu trúc thơ Có ngời kéo dài câu thơ bằng cách xuốngdòng không viết hoa đầu dòng tạo ra những câu thơ dài theo chiều dọc Câuthơ có khả năng thể hiện trọn ven một ý muốn nói mà nếu chỉ riêng một câuthơ ngắn thì cha thể nói hết đợc Có ngời dùng hình thức câu thơ bậc thang,coi trọng những nhịp ngắt trong câu thơ tạo ra khả năng diễn đạt của từng từ,từng nhóm từ ở cả hai phơng diện nội dung và hình thức, ý thơ đợc tăng thêm

sức gợi cảm và nhạc điệu Trong bài thơ Với Lê Nin, Tố Hữu đã sử dụng rất

đạt lối ngắt nhịp theo bậc thang ở hai câu kết:

Và chiều nay trớc phút vội đi xa Ngời còn nghe

Trang 17

hóa, rung động, liên tởng và vận dụng ngôn ngữ đều trong quá trình chọn lọc,sáng tạo Thơ văn xuôi đợc sáng tác nhiều trong những năm cả nớc trực tiếpchống Mĩ cứu quốc Những sự kiện nóng hổi, những suy nghĩ, cảm xúc mạnh

mẽ ào ạt vào thơ Có khi phải mô tả, phải ghi nhanh, ghi nhiều hình ảnh, sựviệc, Tất cả những điều ấy đòi hỏi hình thức câu thơ phải chuyển biến, nớirộng, kéo dài mới có thể chứa nổi nội dung phản ánh

Cùng với những tìm tòi, đổi mới cấu trúc thơ là những tìm tòi về vần vànhịp điệu trong thơ tự do Đối với thơ, vần là quan trong nhng nh thế không

có nghĩa vần quyết định cái gì là thơ, cái cái gì không phải là thơ Nhớ máu

của Trần Mai Ninh không vần mà vẫn gợi cảm, xúc động Nhiều bài thơ củaNguyễn Đình Thi bỏ vần, gạt luật bên ngoài đi nhng “có luật bên trong rấtmạnh”, ấy là cái hồn, cái âm thanh, nhạc điệu phong phú của câu thơ Trong

thực tế sáng tác ít có những bài thơ không hiệp vần trong toàn bài nh Nhớ máu (Trần Mai Ninh), Không nói (Nguyễn Đình Thi), Một bài thơ không vần

kể chuyện chụp ảnh ở một vùng giáp với mặt trận (Phạm Tiến Duật) Ngời

đọc thờng gặp nhiều hơn là hiện tợng những đoạn thơ không vần trong một bàithơ có gieo vần

Phần lớn những bài thơ tự do đạt hiệu quả, truyền cảm là giữ đợc yếu tốnhịp điệu Cách ngắt nhịp câu thơ sáng tạo làm tăng thêm khả năng diễn đạt,tạo điều kiện cho thơ bay bổng, phục vụ đắc lực cho nội dung Không chú ý

đúng mực đến nhịp điệu sẽ làm hạn chế tính nhạc và có khi phá vỡ âm thanhcủa câu thơ Và từ đó làm sai lệch nghĩa của nội dung Maiacốpxki nói: “Nhịp

điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ, không giải thích đợc nó

đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu nh nói về từ lực hay điện từ Từ lực và điện từ

là những dạng của năng lợng” Trong thơ nhịp điệu luôn giữ một vai trò hếtsức quan trọng Nó luôn luôn có tác dụng nâng đỡ cảm xúc, làm tăng thêm sựbiểu đạt của câu thơ, bài thơ Thơ tự do ngày càng phát triển và trở thành một

xu hớng quan trọng trong thơ ca hiện đại Việt Nam Nó tạo nên những sắc tháibiểu hiện mới cho thơ Những ngày kháng chiến chống Mĩ cứu nớc, thơ tự

do tràn vào tất cả các tập thơ nhng những năm gần cuối thế kỉ, các nhà thơ

tr-ớc cách mạng tháng Tám lại trở về với các thể thơ dân tộc Tỉ lệ thơ tự dotrong các tập thơ của những tác giả này là rất thấp, có khi không đáng kể Cácnhà thơ trẻ vẫn là những tác giả xông xáo trong thơ tự do nhiều hơn, và phầnnào đã đáp ứng đợc nhu cầu phản ánh cuộc sống phong phú, bề bộn Đó là sự

Trang 18

thể hiện rõ quy luật nội dung thống nhất và gắn bó mật thiết với hình thức.Nội dung yêu cầu phải có hình thức thích hợp Thơ tự do có u thế, có khả năngphản ánh cuộc sống rộng hơn bất cứ một thể thơ nào khác và nhờ vậy nó gầngũi với cuộc sống hơn

Một hiện tợng cần chú ý là thời kì này xuất hiện rầm rộ các bài thơ dài

và trờng ca, tức là trong thơ có sự mở rộng cấu trúc thể loại Thơ dài và trờng

ca thờng vận dụng tổng hợp các thể thơ Cho nên, chính xác, đây là thể loại

thơ kết hợp nhiều thể thơ Tố Hữu viết Ba mơi năm đời ta có Đảng (1960), Theo chân Bác (1970), Nớc non ngàn dặm (1973); Huy Cận viết Ngời thợ ảnh (1963), Ngời bác sỹ (1963); Chế Lan Viên viết Cách mạng, chơng đầu (1970), Những bài thơ đánh giặc (1972), Ngày vĩ đại (1975), Thơ bổ sung (1975); Tế Hanh viết Câu chuyện quê hơng (1973): Hoàng Trung Thông viết Nh đi trong mơ (1975), Tiếp đến Thu Bồn có Bài ca chim Chơrao (1963), Ba dan khát (1977), Lê Anh Xuân viết Nguyễn Văn Trỗi (1967), Giang Nam có Ngời anh hùng Đồng Tháp (1968), Nguyễn Khoa Điềm có Mặt đờng khát vọng

(1974), Và còn hàng loạt tác phẩm thơ dài hơi khác của các tác giả khác

Điều này chứng tỏ các nhà thơ muốn tìm một hình thức thích hợp có nhiềukhả năng phong phú để truyền vào đó tất cả những màu sắc đa dạng và sục sôikhát vọng của những tháng năm nhiều biến động, lôi cuốn, hấp dẫn, tự hàocủa dân tộc Đồng thời cũng chứng tỏ khả năng của các nhà thơ là muốn vơnlên ở một tầm cao khái quát, ở một độ sâu triết học của t tởng nhận thức vềnhân dân, đất nớc và có một tay nghề đã trải qua những thử thách

Sau năm 1975 trờng ca vẫn tồn tại, nhng vắng bóng dần từ sau năm

1985 Điều này có nhiều lý do Có thể không khí trờng ca đã nhạt Những vấn

đề lớn, trọng đại của lịch sử đất nớc, nhân dân vốn là nội dung cảm hứng củatrờng ca, ít đợc các nhà thơ chú ý Vấn đề thế sự, đời t chiếm hầu hết các trangthơ, tập thơ Những bài thơ ngắn, có khi rất ngắn xuất hiện Thơ tự do, thơkhông vần, thơ văn xuôi phát triển đem lại thuận lợi cho việc thể hiện cảmxúc Câu thơ xuôi dòng, vắt dòng, leo thang, tạo dáng mới Có thể thơ cổ phụchồi, tất nhiên là đợc nâng cao, sáng tạo:

ấy là đêm trăng thành phố Phồn Xơng trai làng gái làng đất Nhã Nam

súng đón máy bay giặc bổ kích bao gạo bên sơcf va lách cách

Trang 19

vàng ơm mấy chiếc mũ rơm tròn hoa dẻ rừng thơm mái tóc ớt

và trăng đêm ấy khi hiện khuất trăng nhu ánh mắt gái dân quân

(Vũ Từ Trang - Trăng Phồn Xơng) Cái thể hành ấy trớc đây từng vơng vấn nhiều trong Tây tiến, Những làng đi qua của Quang Dũng, rồi Ngời cụt tay ở làng Bình Triệu của Huyền

Kiêu, đến đây vẫn là kể, vẫn là tả, nhng vui hơn và tự tin hơn Đặc biệt thể thơlục bát trở lại và thể hiện sức sống bền vững của mình với nhiều biến hóa Cónhà thơ dành cả tập thơ cho lục bát, những cuộc thi thơ lục bát Và có nhiềunhà thơ thành công ở thể loại này: Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh, Phạm CôngTrứ, Ngời đọc sẽ cảm nhận ra rất nhiều những biến thể tài hoa của lục bát:

Chia cho em một đời tôi một cay đắng

một niềm vui

một buồn.

(Chia, Nguyễn Trọng Tạo)

Câu thơ lục bát đợc ngắt khi leo thang, khi thành nhiều dòng, cấu trúclại âm thanh, gây ấn tợng, thể hiện tâm trạng:

-Em mang hơng lửa đi rồi Rêu phong

Phố cổ Tôi ngồi Hóa Đông

(Dơng Trọng Dật - Tự khúc cuối mùa thu)

- Bớm non tơ

Khóc trong chiềuvẫy tay Gửi một lời yêu

Lỡ làng.

(Lục bát Đèo Ngang, Phạm Ngọc Liên)

Thơ bảy chữ cũng tạo ra những biến thể phóng túng nhấn mạnh ý, hình

ảnh, cảm xúc thơ:

Thu đến Chiều đông

Trang 20

Gió ngỡ ngàng Lá bay vời vợi dọc thời gian

áo em gom hết mùa thu chín Hồn phố dâng theo một dải vàng

(Thu vàng, Ngô Văn Phú)

Hình dáng cấu trúc bài thơ phong phú Có thơ ngắn và thơ cực ngắn Cảbài thơ chỉ hai, ba câu, có khi một câu Có bài thơ còn ngắn hơn cả tên củachính nó:

- Tôi đứng về phe nớc mắt

(Dơng Tờng - Đừng để sau này ghi lên mộ chí)

- Gió là gạch nối Bầu trời - đất đai.

- Em là muối

ớp nỗi đau Tơi mãi.

(Nguyễn Hoa)

Nh đã nói ở trên, số lợng những bài thơ văn xuôi thành công ở vào giai

đoạn nào cũng ít và hiếm Tuy nhiên, nó lại đợc xem là có tính dân chủ, tự do

nhất của thể loại trữ tình, là “phơng tiện của ngời nghệ sỹ hiện đại tha thiết” Theo C Baudelaire (1821 - 1867), đó là loại “thơ du dơng không điệu, không vần, hơi mềm và hơi cứng, để có thể thích ứng với những chuyển động trữ tình của tâm hồn, với là sóng nhấp nhô của mơ mộng, với những xúc cảm bất th- ờng của lơng tri” Đặc điểm nổi bật của thể loại thơ văn xuôi là sự mở rộng

những vùng giao thoa giữa hai thể loại thơ và văn xuôi Cảm xúc của nhà thơvợt khỏi sự ràng buộc của vần, nhịp, độ ngắn dài của câu thơ, bài thơ So vớithơ ca truyền thống, cấu trúc một bài thơ văn xuôi đã đợc mở dần biên độ,dung nạp trong nó nhiều yếu tố văn xuôi nh cốt truyện, lời kể, lời đối thoại,những nghịch lí mở ra một khả năng to lớn cho việc kết hợp những hài hòa ttởng và tình cảm, lý trí và cảm xúc trong thơ Với sự xuất hiện của thơ vănxuôi, ranh giới thơ đã đợc mở rộng, đánh dấu quá trình tự do hóa hình thứcthơ Chính vì vậy, thơ văn xuôi đợc xem nh là một khuynh hớng phát triển củathơ ca hiện đại, có khả năng đáp ứng một cách cao nhất nhu cầu hớng nội, vớiniềm khát khao đợc tự thú, tự bạch của con ngời cá nhân, cá thể Mặt khác, sựdung nạp lối biểu hiện của văn xuôi vào thơ cho phép nhà thơ không chỉ khám

Trang 21

phá, bày tỏ mà còn có thể lý giải mọi vấn đề của đời sống với một cái nhìn đadiện.

Thơ văn xuôi không phải là “đặc sản” của riêng lớp nhà thơ nào, nhngnhìn vào thực tế sáng tác của các nhà thơ thì thấy rằng thế hệ các nhà thơ trẻ

“mặn mà”, và “có duyên” với thơ văn xuôi hơn Đó cũng là điều dễ hiểu, vìthế hệ các nhà thơ lớn tuổi không dễ dàng từ bỏ nếp t duy quen thuộc vớinhững âm thanh, nhịp điệu đã thành máu thịy của mình Sự níu kéo của thóiquen cũng phần nào làm ảnh hởng đến những cách tân nghệ thuật Vai trò tiênphong cho những đổi mới nghệ thuật thờng thuộc về lớp trẻ, những ngời đangsung sức, đầy hăm hở và đam mê Mỗi ngời một cách, họ đang không nhừngtìm kiếm và thể nghiệm để khẳng định mình Những bài thơ văn xuôi đến vớingời đọc không đơn thuần chỉ là cảm xúc Nhiều bài thơ buộc ngời đọc phảisuy ngẫm, trăn trở, xem xét dới nhiều góc độ mới có thể cảm nhận đợc hếtnhững chiều sâu triết lí ẩn chứa trong đó Đây là một thế mạnh, đồng thờicững là mặt hạn chế của thơ văn xuôi Do tính nhiều tầng bậc trong ngữ nghĩa,nhièu lớp thang trong cấu trúc, thơ văn xuôi dờng nh cha quen lắm với tâm lí

tiếp nhận của ngời đọc Tác phẩm Bài gọi cây và thế giới của Nguyễn Vĩnh

Tiến là bài thơ văn xuôi đợc xây dựng trên một tứ thơ thông minh, với nhữnghình ảnh thơ phong phú, mới lạ Tác giả đã gửi gắm trong đó nhiều ý tởng sâusắc về thế giới, về thiên nhiên, về con ngời Nhng thật không nhẹ nhàng chútnào khi tiếp xúc với nó.Thơ văn xuôi cũng khẳng định vị trí của mình Câu thơdài, rộng chứa rất nhiều tâm sự, có khi bộc bạch cả những trải nghiệm cánhân, có lúc trầm t suy nghĩ hoặc triết luận về thế sự Sau năm 1975, thể tài

đời t phát triển, thơ văn xuôi thích hợp cho việc thể hiện những tìm tòi khai

mở nội dung Rất nhiều nhà thơ thuộc các thế hệ thử sức ở thể thơ này: Chế

Lan Viên (Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ) Tế Hanh (Văn xuôi cho em), Nguyễn Đình Thi (Nơi dựa, Truyền thuyết về chim phợng), Thanh Thảo (Khối vuông ru bích), Nguyễn Đức Mậu (Hà Nội, Chiều nay), Nguyễn Quang Thiều (Những ví dụ), Cũng có những bài hình thức là thơ văn xuôi, nhng thựcchất là những bài nằm trong thể thơ quen thuộc, đợc viết dài thành câu gợicảm giác mênh mang

1.2 Hiện thực cuộc sống và số phận con ngời thời hậu chiến

1.2.1 Sự đổi thay của hiện thực cuộc sống

Trang 22

Với thắng lợi vĩ đại mùa xuân năm 1975, đất nớc ta chuyển từ chiếntranh sang hòa bình Xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâu sắc trênnhiều phơng diện Song đây cũng là một thời kỳ khá đặc biệt, với biết bao vấn

đề mới mẻ đang đặt ra, có những điều đã lờng tính đợc những cũng có vô số

điều trớc đó cha hề đợc nghĩ đến Điều này có một tác động rất lớn đến t tởng,tình cảm con ngời thời hậu chiến

Nếu trong chiến tranh, con ngời Việt Nam sống với một lý tởng son sắt,

một niềm tin mãnh liệt “Xẻ dọc Trờng Sơn đi cứu nớc Mà lòng phơi phới dậy tơng lai” (Tố Hữu) thì khi đất nớc hòa bình, con ngời phải đối diện với bao

nhiêu vấn đề nóng bỏng, phức tạp của cuộc sống thờng nhật Chiến tranh đặt

ra cho dân tộc một sự chọn lựa khốc liệt: Sống - chết, đợc - mất, thắng - bại, tự

do - nô lệ Sự lựa chọn giản dị mà tất yếu đó là tranh đấu đến cùng để bảotồn sự sống, để giữ gìn dáng hình núi sông và bản sắc văn hóa ngàn đời.Không khí của thời chống Mỹ là cái không khí hừng hực tranh đấu với tinhthần lạc quan và tinh thần chiến thắng Con ngời luôn tồn tại trong ý thức

cộng đồng: “lúc riêng ta thấy mình xấu hổ”, những mất mát, đau thơng tạm

thời nén lại, vón sâu vào trong tâm thức Trong những năm đầu thập kỷ 60,miền Bắc bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phơng lớncho cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nớc Chỉ một thờigian không lâu sau đó, chiến tranh đã lan rộng ra cả nớc Cả dân tộc lên đờng

ra trận, đâu cung xlà hậu phơng, đâu cung xlà tiền tuyến Bối cảnh lịch sử đó

đã cho ra đời một nền văn học kháng chiến mang đậm chất sử thi

Sau năm 1975, xã hội Việt Nam chuyển sang một trạng thái tâm lý mới.Trong những năm đầu sau ngày thống nhất đất nớc, dân tộc ta hân hoan trongkhúc ca khải hoàn, và tin tởng vào một tơng lai tơi sáng phía trớc Cả đất nớc

lại lên đờng vào công cuộc dựng xây với một khí thế “Từ chiến trờng ra ta xốc tới công trờng” (Tố Hữu) Tuy nhiên, do những sai lầm trong nhận thức về

thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, thêm vào đó là duy trì mô hình quản lýquan liêu bao cấp quá lâu, nên đất nớc gặp nhiều khó khăn, tác động rất lớn

đến tâm lý, tình cảm của nhân dân, nhất là những ngwoif lính trở về sau chiếntranh Năm 1986, chủ trơng đổi mới của Đảng đã thổi một luồng gió mới vào

đời sống xã hội Việt Nam Nó làm thay da đổi thịt, tạo những bớc khởi sắc đaViệt Nam hòa nhập với cộng đồng thế giới Tuy nhiên, cũng trong thời giannày, do những xáo trộn trong đời sống xã hội, do cơ chế quản lý cha đồng bộ

Trang 23

cộng thêm các mặt trái cơ chế thị trờng và bối cảnh phức tạp của toàn cầu đãkhiến cho tâm lý con ngời bị phân hóa Một mặt, con ngời Việt Nam lạc quantin tởng vào tơng lai, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nớc Mặtkhác, không ít ngời tỏ ra bi quan, hoang mang trớc sự đảo lộn các giá trị, trớcsức mạnh ghê gớm của đồng tiền, trớc sự trợt dốc, băng hoại của đạo đức,nhân cách Bức tranh xã hội hỗn độn những mảng màu tối sáng Thêm nữa, ởnhững năm cuối thế kỷ XX, thế giới cũng có biết bao nhiêu biến động dữ dội,nhân loại cũng đối mặt với bao nhiêu vấn đề nóng bỏng: Chiến tranh, huỷ diệt,môi trờng, bệnh tật, toàn cầu hoá, những phát minh thần diệu về Internet, vềcông nghệ sinh học Tất cả những biến động diễn ra trong nớc và quốc tế đó

đã tác động đến cách cảm, cách nghĩ của ngời Việt Nam, trong đó có các nhàthơ Từ đó nảy sinh nhu cầu nhận thức lại cuộc sống Con ngời thoát khỏivòng hào quang của quá khứ, dũng cảm đối mặt với các vấn đề phức tạp mà

đời sống đang đặt ra hằng ngày, hằng giờ Con ngời bộc lộ tất cả những gì tíchcực cũng nh tiêu cực, những khát khao và bất lực, những bản lĩnh và những sựtuyệt vọng, những sự bứt phá, kiếm tìm và cả những sự cô đơn hoài nghi ýthức dân chủ trỗi dậy mạnh mẽ và sâu sắc Con ngời khao khát tìm về nhữnggiá trị nhân bản đích thực mang tính vĩnh hằng

Nh vậy, sự chuyển biến xã hội đã dẫn đến sự thay đổi trạng thái tâm lý,

ý thức của con ngời Việt Nam sau 1975 Và từ bối cảnh đó đã nảy sinh nhữngtiền đề thẩm mỹ dẫn đến sự phát triển phong phú đa dạng của diện mạo vănhọc sau 1975 nói chung, thơ văn xuôi nói riêng

1.2.2 Con ngời với nhu cầu đợc đối thoại

Sau 1975, sự chuyển biến về hoàn cảnh xã hội, ý thức xã hội đã dẫn đến

sự thay đổi về thị hiếu thẩm mỹ Trong hoàn cảnh đất nớc đang dồn toàn tâmtoàn lực vào cuộc chiến đấu sống còn thì quan điểm thẩm mỹ có xu hớng nhấtthể hoá Cái tôi đã hoà vào cái ta ở giai đoạn này, ngời ta có nhu cầu quantâm đến những vấn đề lớn lao, nóng bỏng của thời đại Giọng chủ âm của thơ

ca kháng chiến nói riêng, văn học kháng chiến nói chung là giọng điệu sử thi.Văn học nghệ thuật mang sứ mệnh thiêng liêng cao cả, đó là phục vụ chocông cuộc kháng chiến bảo vệ đất nớc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Các sángtác của các nhà văn nghiêng về phản ánh cái chung, cái hào hùng, cái lý tởng.Con ngời trong quan niệm văn học 1945 - 1975 là những anh hùng lý tởng,

đẹp nh những viên ngọc không một chút tỳ vết Mỗi ngời nghệ sỹ hoà mình

Trang 24

vào cuộc sống của nhân dân, hoà mình vào bản hùng ca của thời đại Họ ý

thức rất rõ vị trí của mình Nhng giọng anh đơn lẻ Sánh sao bằng đồng ca”

(Phạm Tiến Duật) Do vậy, văn học 1945 - 1975 nh những khúc ca chung ít cónhững đảo phách, nghịch âm phức tạp Tính mới lạ, vì vậy, không phải là tiêuchuẩn đánh giá của văn học thời kỳ này

Từ sau năm 1975, nhất là giữa thập niên 80 trở lại đây, những biến đổi

to lớn to lớn trong đời sống xã hội đã đa đến sự thay đổi các thang chuẩn quantrọng trong khi nhìn nhận các giá trị của cuộc sống và của văn học nghệ thuật

Sự thức tỉnh ý thức cá nhân, sự quan tâm nhiều hơn về con ngời cá nhân cáthể, với những nhu cầu trong thời bình là bớc chuyển biến tất yếu của ý thứcxã hội Con ngời cá nhân đã dần dần trở thành nhân tố trung tâm trong đờisống xã hội Đó là con ngời đợc nhận diện trong quan hệ đa chiều và luônkhao khát đợc nhận thức, đợc khẳng định mình Đối diện với hiện thực cuộcsống ngổn ngang với bao quan hệ phức tạp, nhà thơ không thể tự dối lòng.Công chúng không còn a lối nói một chiều, lý tởng hoá cuộc sống mà đòi hỏiphải lý giải, cắt nghĩa nhiều dữ kiện của đời sống, nhận thức lại nhiều vấn đề.Văn học thời kỳ này có xu hớng nhạt dần cảm hứng sử thi, chuyển hớng quantâm nhiều hơn đến số phận đời t, đời thờng, từ cộng đồng tổ quốc đến con ng-

ời cá nhân cá thể Văn học nói chung, thơ ca nói riêng phải phản ánh đợc hiệnthực đời sống hàng ngày, những quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan, đa sự, phứctạp, chằng chịt đợc đan dệt bởi những mạch nổi, mạch ngầm Con ngời đợcphản ánh trong giai đoạn này là con ngời đa diện, đa trị, lỡng phân, con ngời

đan cài, chen lẫn giao tranh giữa bóng tối và ánh sáng, rồng phợng lẫn rắn rết,thiên thần và quỹ dữ, cao cả và tầm thờng trong một thế giới tạp âm và nghịch

lý Văn học bao giờ cũng rất mẫn cảm với không khí tinh thần với nhu cầuthời đại “Qua nhà thơ, ngời ta thấy thời đại mà anh ta đang sống ” Bởi vậy,các nhà văn đã cố gắng nắm bắt, thể hiện những biến đổi và những dòng mạch

đang diễn biến của ý thức xã hội, hơn nữa nó còn có sự tác động nhất định đếncác xu hớng đã góp phần không nhỏ vào quá trình dân chủ hoá ý thức xã hội

So với thời chiến tranh, con ngòi thời hậu chiến gần gũi hơn và cũngtrần thế hơn Chất lý tởng, sự anh hùng cao cả đã đợc thay thế bằng những dằnvặt suy t Con ngời hoang mang trớc sự phức tạp của đời sống với sự đảo lôncủa những giá trị, những quan hệ chuẩn mực cũ Thái độ đối với hiện thực lúcnày là thái độ suy xét công bằng Nhà thơ kháo khát đợc đối thoại Đối thoại

Trang 25

với đời, đối thoại với mình Đối thoại để mong tìm ra lời giải cho những gì

đang băn khoăn day dựt:

Mồ côi cha lên ba Mời ba tuổi anh đánh dày ngoài phố Ba mơi năm cầm súng, mong xoá đi những bóng trẻ nhọc nhằn trên phố chiều đông Ba m-

ơi năm máu lửa Giờ lại thấy em, còng còng, cặm cụi, lau chùi Ngời lính già

oà khóc (Sau ba mơi năm – 2000) Trần Tùng Linh)

Không phải ngẫu nhiên mà ở thời kỳ này trong thơ văn xuôi lại xuấthiện nhiều bài thơ dới dạng đối thoại với mình trong t thế tự ngắm mình Cóthể xem đây là trạng thái muốn tách mình ra khỏi thế giới để đợc thấy mình

chân thực hơn, với những mâu thuẫn trong tâm hồn ý Nhi với Ngời đàn bà ngồi đan có thể xem là điển hình cho trạng thái tâm hồn này của nhà thơ:

Trong nỗi chua chát của tuyệt vọng Trong kiêu hãnh của sự khớc từ, anh đơn độc Ngọt nh rợu, đắng nh rợu, vui nh tiệc cới, buồn nh tiệc cới Chị dang giữ kín đau thơng hay là hạnh phúc, Lòng chị đang tràn đầy niềm tin hay ngờ vực … .

Nhìn chung những tiền đề xã hội - thẩm mỹ đã góp phần tạo nên nhữngnét mới cho văn học giai đoạn sau 1975 Có thể thấy rằng, bớc sang giai đoạnnày, quan niệm nghệ thuật về con ngời đã đợc bổ sung hoàn thiện hơn, đi sâuvào khám phá nhiều mặt của hiện thực cuộc sống, của bản chất con ngời.Giọng đơn thanh chuyển thành giọng đa thanh Đã có nhiều cách tân, đổi mớitrong t duy nghệ thuật và biểu hiện Nhu cầu của cuộc sống đã buộc văn họcphải thay đổi Có thể nói, bức tranh đa dạng, đa sắc và đầy đủ phức tạp của đờisống đã phản ánh vào văn học, đổ bóng xuống các tác phẩm thi ca

1.3 Sự thay đổi trong t duy nghệ thuật thơ

1.3.1 T duy nghệ thuật thơ trớc 1975

Thế kỷ XX là cái mốc quan trọng trong cuộc hành trình của văn học nóichung, của thơ ca nói riêng Từ đây, văn học Việt Nam nói chung, thơ ca ViệtNam nói riêng bớc vào thời kỳ hiện đại và hậu hiện đại với sự phong phú của

hệ thống thể loại, sự đa dạng của hệ thống đề tài, với đông đảo ngời làm thơ

Trang 26

cổ vũ ý thức đoàn kết và tinh thần đấu tranh dân tộc Nhiều sáng tác mang mộtnội dung yêu nớc sâu sắc, chứa chan sinh lực và tình cảm cách mạng, nhất làthơ văn của Phan Bội Châu Với ý thức lấy thơ văn phục vụ lý tởng cáchmạng, dùng thơ văn làm phơng tiện phổ biến rộng rãi lý tởng đó trong quầnchúng nhân dân, thức tỉnh tinh thần yêu nớc thơng nòi của họ, các nhà thơ đãkhộng tự gò mình trong những hình thức chật hẹp của thơ Đờng, mà trở về vớinhững hình thức thơ ca cổ truyền dân tộc đợc quần chúng a thích, đã cố gắngvận dụng lối diễn đạt giản dị gần gũi với quần chúng Hầu hết các bài thơ đềulàm theo các thể thơ truyền thống của dân tộc, đặc biệt là các thể lục bát, songthất lục bát hoặc hát nói Tuy sử dụng nhiều thể loại rộng rãi và vận dụngnhiều hình thức diễn đạt, nhng thơ ca của các tác giả cũng bị hạn chế về giá trịnghệ thuật Câu thơ có lúc còn cha đợc điêu luyện và hàm súc Giá trị chủ yếucủa những sáng tác này là tính chất tiến bộ của lý tởng và nhiệt tình cáchmạng của tác giả

Từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, sự hình thành và phát triển củacác giai cấp tiểu t sản và t sản ở thành thị đã tạo thành một lớp công chúngmới Lớp công chúng này có những yêu cầu riêng về t tởng, tình cảm và thịhiếu thẩm mỹ Họ đòi hỏi tiếng nói riêng trong văn học và thơ ca, cũng nh đòihỏi những hình thức diễn đạt và phơng tiện biểu hiện phù hợp và gần gũi với

họ Trở lực đầu tiên và là mục tiêu hầu nh cố định đang chờ đón những mũitên bắn phá, chính là xiềng xích gò bó của hình thức thơ Đờng luật Thực rathì bản thân hình thức thơ Đờng luật, với những qui tắc của nó, đã từng là mộthình thức biểu hiện phù hợp với nội dung t tởng và thị hiếu thẩm mỹ của mộtthời kỳ lịch sử nào đó; và lịch sử văn học cũng đã để lại nhiều sáng tác thơ ca

có giá trị làm theo thể Đờng luật Nhng hình thức thơ Đờng luật ở giai đoạnnày đã trở thành một trở ngại cho sự phát triển của t tởng và cảm xúc mới.Hình thức đó quá nhiều thế kỷ vốn đợc suy tôn nh một thể loại thơ ca chínhthống duy nhất nên việc phê phán thể thơ Đờng luật không chỉ là việc phêphán riêng những gò bó về ý thức, mà còn là sự tấn công vào những giá trịtinh thần, và những tiêu chuẩn thẩm mỹ của t tởng phong kiến Trong hoàncảnh đó Thơ mới ra đời Nó đã đem lại cho thi đàn một không khí hết sức mới

mẻ và sôi nổi Nhiều tài năng lần lợt xuất hiện với những phong cách sáng tạoriêng Thơ mới là tiếng nói của tầng lớp tiểu t sản, có thể nói họ tìm đến nghệthuật nh tìm đến cứu cánh cho đời sống tình cảm Thiết tha với cuộc sống và

Trang 27

cuộc đời ngoài kia, nhng rồi chính họ lại từ chối nó, từ chối cái thực tại nhiềubất công và buồn tủi Buổi ban đầu họ sôi nổi và gắn bó với chủ nghĩa cánhân, và chủ nghĩa cá nhân t sản đã giam hãm họ trong vòng vây tù túng chậthẹp.

Điều đáng chú ý trong phong trào Thơ mới là phần đóng góp về hìnhthức nghệ thuật Phong trào Thơ mới đã đem lại cho bộ mặt thơ ca nhiều đổimới đáng kể, nh về các thể thơ về sự biểu hiện phong phú của các trạng tháicảm xúc hay về những yếu tố mới trong ngôn ngữ thơ ca Thơ mới đã chốnglại những lối cấu tứ và diễn đạt của thơ cũ Thơ cũ vận dụng nhiều lối diễn đạt

ớc lệ khuôn sáo để diễn đạt những tứ thơ và cảm xúc chung chung Trái lại hệthống xúc cảm và những hình ảnh trong thơ mới nhìn chung đều mang rõ néttính chất cá thể hóa, cho nên có sắc thái riêng sinh động hơn Cảm xúc củanhà thơ đợc biểu hiện qua những hình thức phù hợp, nên tính chất trữ tìnhcàng nổi bật Nhờ có hình thức thơ thích hợp nên trạng thái cảm xúc và lối cấu

tứ của các nhà thơ mới phong phú và đa dạng hơn Tính chất cá thể hóa củatâm trạng và hình ảnh trong thơ luôn gắn liền với sự khẳng định vai trò củachủ thể trong nhận thức và cảm thụ thẩm mỹ Những tác giả trong phong tràoThơ mới luôn giữ đợc đặc trng đó của sự biểu hiện, do đó tránh đợc những lốidiễn đạt chung chung trừu tợng Nhng vấn đề đặt ra quan trọng và có ý nghĩaquyết định đối với giá trị và tác dụng của thơ là sự thống nhất giữa chủ quan

và khách quan, giữa cái tôi và cái ta Mặt khác, sự cảm thụ thẩm mỹ đợc nânglên mức tinh tế thông qua sự phát triển nhạy bén của nhiều giác quan Thơmới đã mở rộng góc độ thụ cảm cái đẹp trong thiên nhiên và trong đời sốngbằng sự lắng nghe tinh tế của thính giác, sự quan sát tài tình của thị giác và sự

hỗ trợ của nhiều giác quan khác nh vị giác, khứu giác và xúc giác Thơ mớicũng vận dụng nhiều cách sử dụng ngôn ngữ phong phú, từ những lối so sánhbình thờng đến các lối ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa Về mặt kết cấu, phong tràoThơ mới đã mở ra những hình thức kết cấu mới về thơ ca khác với lối kết cấucủa thơ Đờng luật Trong khuôn khổ của bài thơ thất ngôn bát cú Đờng luật,kết cấu của một bài thơ nh một cái khuôn định sẵn gò những suy nghĩ và tìnhcảm của nhà thơ phát triển theo những nguyên tắc và định lệ nhất định Cònkết cấu chung của các hình thức thơ mới đều tùy thuộc trạng thái của xúc cảm.Hình thức kết cấu là kết quả, là phơng thức biểu hiện nội dung cảm xúc chứkhông phải là tiền đề, là khuôn mẫu định trớc cho cảm xúc Do đó kết cấu của

Trang 28

thơ mới mang nhiều sắc thái và hình thức phong phú, phù hợp với các trạngthái suy nghĩ và cảm xúc của các nhà thơ Kết cấu thơ ca là sự tổ chức nộidung cảm xúc và thi tứ Nhiều nhà thơ dùng hình ảnh tợng trng cho toàn bài

nh một phúng dụ (Nhớ rừng, Hy mã lạp sơn, Tình tự, ) Những thủ pháp nh

tăng cờng trùng điệp, so sánh, đối lập, biểu hiện, song song, đợc vận dụngrộng rãi trong các dòng thơ, các khổ thơ và có khi trong toàn bài thơ Nhữnghình thức đặc biệt trong cú pháp thơ ca nh câu hỏi, lời tán thán, chỗ nghỉ đều

đợc dùng một cách phổ biến Trong tổ chức kết cấu nhịp điệu cũng có nhữnghiện tợng đáng chú ý Về cơ bản câu thơ mới cũng trùng lặp với dòng thơ, nh-

ng lại có trờng hợp một dòng thơ bao gồm nhiều câu thơ

Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh.

Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi.

( Xuân Diệu)

Bên cạnh lối kết cấu nhiều câu thơ trong một dòng thơ là lối kết cấumột câu thơ trong nhiều dòng thơ và phổ biến nhất là hai dòng Câu thơ trênthờng đợc gọi là câu thơ bắc cầu

Ai biết hôm nay là ngày hội

Của lòng ta Em trân thiết trang hoàng

(Huy Cận)

.Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ

Nghiêng xuống làn rêu một tối đầy.

( Xuân Diệu )

Đi đôi với những u điểm trên, thơ mới có những nhợc điểm rất đáng kể

về hình thức biểu hiện Thơ mới thuộc dòng thơ lãng mạn Thoát ly thực tế xãhội, cảm hứng của nhà thơ thờng không gắn bó với những vấn đề đang trựctiếp đợc đặt ra trong đời sống, những cảnh sinh hoạt và những cuộc đời cụ thể.Cảm hứng thi ca chủ yếu là cảm hứng lãng mạn xuất phát từ tâm trạng chủquan của nhà thơ Đề tài trong thơ mới thờng tập trung vào những biểu hiệncủa tình cảm yêu đơng, vào cái đẹp thơ mộng trong thiên nhiên Thơ mới làtiếng nói chải chuốt, thơ mộng của một lớp công chúng thành thị mà cha phải

là tiếng nói sâu kín và phổ biến của quảng đại quần chúng Thơ mới thờngdùng những từ nhẹ nhàng, gợi cảm, hoặc da diết đau thơng mà thiếu hẳn tiếngnói giản dị phong phú, khỏe và chắc của cuộc đời thực Trong nhiều trờng

Trang 29

hợp, Thơ mới đã rơi vào chủ nghĩa hình thức, hoặc chạy đuổi theo âm thanh vànhịp điệu, hoặc dùng nhiều sáo ngữ trong miêu tả và biểu hiện

Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một con đờng mới cho sự sángtạo thơ ca Lý tởng cao cả của nhà thơ là phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh cáchmạng Nội dung của thơ ca không hớng về những tâm trạng cô đơn nằm trongvòng vây của chủ nghĩa cá nhân t sản, mà bắt nguồn từ sự nghiệp lao độngsáng tạo của quần chúng cách mạng Văn học Việt Nam từ sau Cách mạngtháng Tám là một hiện tợng nghệ thuật sâu sắc và rộng lớn trong đời sống tinhthần xã hội Cội nguồn nuôi dỡng thi ca của nền văn học mới là hiện thực xãhội đang biến đổi, là cuộc sống mới đang hình thành, và đặc biệt là ý thức tựgiác lịch sử của cộng đồng đợc chuyển hóa thành ý thức nghệ thuật, bộc lộtrong nhận thức về mối quan hệ giữa thơ ca và đời sống; bộc lộ trong sự lý giải

về con ngời, về vai trò của nó đối với sự tiến bộ của xã hội và sự vận động củalịch sử

Vẫn là cái tôi trong thơ, nhng nhà thơ thời kỳ này cảm nhận cuộc đờitrên cấp độ của cái tôi chung và số phận lớn của dân tộc Đó là cái tôi hoàntoàn mới trong lịch sử thơ trữ tình Việt Nam Cái tôi trong thơ trữ tình ViệtNam từ sau cách mạng dù đợc gọi bằng nhiều tên: cái tôi công dân, cái tôi thế

hệ, cái tôi cộng đồng, nhng hạt nhân của nó là cái tôi chung Hiện tợng thơ trữtình đặc biệt hớng tới các mối quan hệ xã hội, nhấn mạnh chất liệu đời sống,tái hiện sự kiện và biến cố cách mạng, phát hiện bằng nghệ thuật ý nghĩa xãhội - thẩm mỹ của chúng là một đặc trng thi pháp có cơ sở trong tâm thức củacác thế hệ thơ Việt Nam, và hơn nữa có cơ sở trong ý thức của nền văn họcmới Thơ trữ tình cách mạng là sản phẩm của thời đại cách mạng Nhu cầubộc lộ mình trong sự kiện, nhu cầu nhận thức sứ mệnh lịch sử của con ngờitrong biến cố đã in dấu ấn vào hình thức nghệ thuật bóng dáng tinh thần củanhà thơ, làm thay đổi diện mạo và cấu trúc thơ truyền thống

Những cách tân thi ca kiểu nh Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Đêm mít tinh của Nguyễn Đình Thi, Nhớ của Hồng Nguyên là những mẫu mực của

nền thi ca cách mạng Đó đợc xem là hình thức thơ văn xuôi xuất hiện trongnhững ngày đầu của cuộc kháng chiến Trong số đó, đặc biệt Nguyễn ĐìnhThi với sự đột phá vào khâu “thơ không vần”, có ảnh hởng rất lớn đến sự sángtạo thơ sau này Đó là tiếng nói biểu cảm của trí tuệ, của giác quan, gần vớitiếng nói tự nhiên của con ngời thể hiện Sự thành công của lớp nhà thơ đầu

Trang 30

tiên đại diện cho nền thi ca mới nh Trần Mai Ninh, Nguyễn Đình Thi, HồngNguyên, là ở chỗ họ đã phát hiện ra những khía cạnh mới của con ngời vàcuộc sống, và tự giác hòa mình vào sự kiện, trình bày nó với tình cảm trữ tìnhhồn nhiên trong sáng.

Qua hai cuộc kháng chiến của dân tộc, đặc biệt là trong kháng chiếnchống Mỹ, thơ ca đã phát huy đợc tính chiến đấu kịp thời và tính thời sự nhạybén Trên tuyến lửa của lòng căm thù, và trong chiều sâu của mỗi trái tim yêunớc, thơ ca có mặt ở khắp mọi nơi Miêu tả nhiều mặt khác nhau của đời sống,

từ một trận chiến chống máy bay địch đến xây dựng một cây cầu, từ ngời lái

xe ngoài trận địa đến cô du kích trên mảnh đất xanh tơi của ruộng đồng, từniềm vui chiến đấu đến phút chia ly quyến luyến yêu thơng Thơ chống Mỹngay từ những năm đầu đã khẳng định đợc những thành tựu của một giai đoạnphát triển mới trong thơ ca Thơ chống Mỹ cứu nớc đã biểu hiện sâu sắc t tởngyêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội Một khí thế mới thấm đợm dạt dào trong thơ

ca Đó là lòng tự hào về truyền thống của quá khứ, về thắng lợi của hiện tại vàniềm tin vào tơng lai Thơ chống Mỹ cứu nớc là khúc ca chiến thắng, chất thơquyện hòa cùng chất thép, niềm lạc quan cách mạng vợt lên những tổn thất

đau thơng Không có những hạn chế trong t tởng nh thơ ca những năm đầukháng chiến chống Pháp Thơ ca chống Mỹ cứu nớc mang lý tởng cao đẹpgiàu tính chiến đấu, chân thực nhng không tự nhiên thô sơ, nói đến tổn thấtchia ly nhng không ngậm ngùi bi lụy, luôn khẳng định niềm tin và ớc mơ nh-

ng không phiêu lu ảo tởng Chủ nghĩa anh hùng cách mạng nh nội dung chủyếu và cảm hứng chủ đạo, đã đợc khai thác và biểu hiện với nhiều sắc tháiphong phú Có thể có những góc độ nhìn ngắm và cách cảm thụ khác nhau,nhng rõ ràng tất cả đều hớng về một mục tiêu duy nhất Chủ nghĩa yêu nớc đ-

ợc nâng cao hơn trên nền của t tởng xã hội chủ nghĩa Cơ sở giai cấp đã tạonên chiều sâu trong tình cảm và sự sắc sảo trong nội dung quan điểm dân tộc.Nỗi băn khoăn chung của các nhà thơ là làm sao biểu hiện cho đợc tính cách

và tâm hồn của con ngời Việt Nam trong thời điểm lịch sử vẻ vang nhất, làmsao nói lên đợc những sợi dây ràng buộc vừa cụ thể, vừa vô hình giữa quá khứ,hiện tại và tơng lai, giữa cuộc đấu tranh của dân tộc ta và bớc phát triển chungcủa thời đại

Thơ chống Mỹ thể hiện khá rõ nét vơn tới kết hợp giữa hiện thực và lýtởng, giữa cái bình thờng và cái vĩ đại, giữa cái chung và cái riêng, giữa hiện

Trang 31

thực và lãng mạn Những phạm trù trên vốn luôn có mặt trong thơ trongnhững tơng quan đối lập và hài hòa Trong thơ ca thời kỳ trớc cách mạng cónhững mặt tởng nh vĩnh viễn đối lập nhau Cách mạng đã đem lại những cơ sởhiện thực và cách nhìn biện chứng để nhà thơ có thể thấy đợc sự thống nhấtbên trong giữa các phạm trù đó Một thực tế rất vĩ đại mà cũng rất cụ thể củacuộc chiến đấu đi vào trong thơ tạo thành cái nền vững chắc nhng vẫn trongtrẻo ý thơ Những nhà thơ lớp trớc, cũng nh những cây bút mới xuất hiện luônluôn chú ý bồi đắp cho thơ của mình chất thực của đời sống và chất thơ của lýtởng Chúng ta bắt gặp sự kết hợp này trong các sáng tác của các nhà thơ thờichống Mỹ nh Thanh Thảo, Chế Lan Viên, Hữu Thỉnh, Thu Bồn Nhìn vàotiến trình thơ Việt Nam hiện đại, có thể thấy số lợng những bài thơ văn xuôithành công ở vào giai đoạn nào cũng ít và hiếm Thời kỳ thơ mới 1932 - 1945

có một số bài thơ văn xuôi nh Tình già (Phan Khôi), Giọt sơng hoa (Phạm Văn Hạnh), Giọt ma rơi, Thanh Khí (Nguyễn Xuân Sanh), Chơi giữa mùa trăng (Hàn Mặc Tử), Trinh bạch (Yến Lan), Thời kỳ kháng chiến chống Pháp có những bài nh Đêm mít tinh của Nguyễn Đình Thi, Nhớ của Hồng Nguyên, Nhớ máu của Trần Mai Ninh Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, thơ

văn xuôi có phần khởi sắc hơn Những nhà thơ lớp trớc nh Chế Lan Viên,Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Văn Cao đều có những bài thơ vănxuôi ghi lại đợc dấu ấn nơi ngời đọc Trong số đó, Chế Lan Viên là ngời viết

nhiều thơ văn xuôi và cũng có nhiều bài có giá trị hơn cả Trong tập ánh sáng

và phù sa có những bài thơ văn xuôi khá nổi tiếng đợc nhắc đến nhiều nh Cành phong lan bể, Tàu đến, tàu đi, gọi chung là văn xuôi về một vùng thơ.

Có thể nói đến Chế Lan Viên, thơ văn xuôi đã không cần nơng tựa vào vần để

tự nó làm nên một thể loại độc lập Ông đã thực sự trở thành một cột mốc củathơ văn xuôi Việt Nam Nh vậy có thể thấy, giai đoạn trớc 1975, thơ trữ tìnhViệt Nam là sản phẩm tinh thần của hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại củadân tộc Thơ văn xuôi cũng không nằm ngoài t duy nghệ thuật chung đó

1.3.2 T duy nghệ thuật thơ sau 1975

Đại thắng mùa xuân 1975 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhândân ta: đất nớc thống nhất, non sông liền một dải, một kỷ nguyên mới mở racho dân tộc Nhng thực tế thì mọi ý nguyện diễn ra không dễ dàng và đơngiản Ba mơi năm chiến tranh để lại bao khó khăn, phức tạp, đời sống thiếuthốn, nhếch nhác và cả những mệt mỏi thờng tình hiện về dới nhiều dạng vẻ

Trang 32

Nói rằng chiến tranh đã kết thúc, nhng biên giới Tây Nam và phía Bắc, tiếngsúng vẫn không ngừng, máu của đồng bào ta, chiến sỹ ta vẫn còn đổ Baonhiêu cuộc tiễn đa, bao nhiêu gia đình lại li tán Rồi những thế lực phản độngbên ngoài tìm mọi cách kích động, xuyên tạc, bao vây, cô lập chúng ta giữanhững ngổn ngang của thời kì hậu chiến.

Mặt khác về chủ quan, chúng ta vẫn tiếp tục quản lí xã hội theo cáchvận hành đời sống chiến tranh và đến lúc này lại đợc đẩy lên mức cao hơn: tậptrung, quan liêu, bao cấp Hậu quả của cơ chế này là gần mời năm sản xuất trìtrệ, kinh tế không phát triển, đời sống nhân dân không đợc cải thiện Từ đấytâm t, tình cảm của con ngời phân tán, bức tranh xã hội tiêu điều, chân dung

đất nớc mờ nhạt với thế giới bên ngoài Chính điều đó đã kéo theo sự xáo

động của văn học với t cách là một hình thái ý thức xã hội Vấn đề chiếntranh, vấn đề số phận đời t, vấn đề đạo đức nhân cách, những kiểu t duy, làm

ăn cũ đều đợc nhìn nhận lại, phát hiện lại với ý nghĩa nhân văn mới Đây làthời kỳ của những d âm anh hùng, cao cả, nhng đã bộc lộ những bất ổn, những

đổi thay, những mâu thuẫn, những xung đột gay gắt: giữa tiến bộ và lạc hậu,giữa cái đúng hợp quy luật và cái lỗi thời trái tự nhiên, hài hớc Đó là nguồn

đề tài phong phú cho văn học nói chung

Nhìn chung, trong thời gian sau 1975, đề tài chiến tranh, đất nớc, nhândân anh hùng, đã chuyển dần sang cuộc sống đời thờng, thơ bớt tả đi mà đisâu biểu hiện tâm trạng cá nhân, cái tôi trở thành trung tâm của cảm hứngsáng tạo, hình thức thể hiện phong phú, nhiều tìm tòi So với ttrớc, thơ sau

1975 xuất hiện một t duy nghệ thuật mới: cảm hứng nghệ thuật bắt nguồn từchính số phận và kinh nghiệm của cá nhân nhà thơ Thơ đã có một cái nhìnmới Các mặt, các khía cạnh khác nhau của hiện thực đợc soi rọi bằng mộtnhận thức mới Nhận thức trong thơ đa dạng, đa chiều cả về nội dung và nghệthuật Tất nhiên sự xuất hiện một t duy nghệ thuật mới, có tính lịch sử, phụthuộc vào yêu cầu của thời đại, của ngời đọc và cả chính bản thân chủ thểsáng tạo Nhà nghiên cứu Vũ Văn Sỹ nhận xét: “Trong mời năm trở lại đây

đang xuất hiện một khuynh hớng thơ khác hẳn với khuynh hớng chủ đạo trớc

đây: Nó hớng đến các mối quan hệ thế sự, hớng tới số phận riêng lẻ Và cácnhà thơ đã đặt lên hàng đầu cái thế giới nội cảm và những kinh nghiệm sống

của mình nh một kiểu t duy và đạt tới sức mạnh cảm hứng” (Hiện tợng đối thoại với sử thi trong thơ, Cửa Việt, số 5 - 1990) Nguyễn Đức Mậu viết: “Sau

Trang 33

chiến tranh và những năm gần đây, thơ bắt nhịp cuộc sống mới đa chiều, phứctạp hơn Cảm hứng ngợi ca trong thơ hôm nay dờng nh lắng lại, thay vào đó làdòng thơ mang chính nội tâm của tác giả, trớc sự bề bộn, lo toan của đời th-ờng Nhà thơ hớng vào nội tâm, lấy cái tôi làm chủ đạo Sự đổi mới trong thơhiên nay là trở về với bản chất vốn có của thơ, tạo ra giọng điệu thích hợp vớithời đại mình sống” (Sự đổi mới trong thơ - Nhân dân chủ nhật, ngày 26 - 11 -

1989) Sự cảm nhận cuộc sống đa chiều và sâu sắc bộc lộ ở nhiều tập thơ: Tự hát (1984) của Xuân Quỳnh, ánh trăng (1984) của Nguyễn Duy, Khối vuông Rubich (1985) của Thanh Thảo, Ngời đàn bà ngồi đan (1985) của ý Nhi, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986) của Nguyễn Quang Thiều ở đây có nhiều

bài thơ nói lên những suy nghĩ thấm thía về con ngời, cuộc đời Có khi bànluận, bình giá, nêu câu hỏi chất vấn qua chiêm nghiệm của nhà thơ

Cũng chính ở thời kì hậu chiến này, nhiều nhà thơ đã dồn sức cho thể

loại trờng ca và sự thể nghiệm thơ văn xuôi: Những ngời đi tới biển (1977) Những ngọn sóng mặt trời (1982) của Thanh Thảo, Ngọn giáo búp đa (1977) của Ngô Văn Phú, Ba dan khát (1977), Campuchia hy vọng (1978), Thông

điệp mùa xuân (1985) của Thu Bồn, Đờng tới thành phố (1979) của Hữu Thỉnh, Đất nớc hình tia chớp (1981) của Trần Mạnh Hảo Nhìn chung,

phong trào sáng tác thơ sau 1975 đã dần trở lại gắn bó hơn với cuộc sống hiệntại Khoảng cách giữa thơ với nhà thơ đợc khỏa lấp Những vấn đề mà trongchiến tranh thơ không đụng đến, hoặc có gợi lên thì vẫn nhằm tới lợi ích cộng

đồng, bây giờ đợc khơi sâu, nhấn mạnh, khẳng định: nỗi buồn riêng, thânphận cá nhân, những phía chìm, mặt khuất của thế giới nội tâm, vấn đề muônthủa của con ngời, Thơ lúc này không phải chỉ là tả, là kể, trình bày, mà làbiểu hiện hiện thực bằng những tâm trạng, những cá tính sáng tạo độc đáo,nhờ vậy vừa phản ánh cuộc sống, thơ vừa đi vào tầng sâu, vùng xa của tình

cảm con ngời Trong sự phát triển của văn học thừ sau 1975 đến nay, có thể

khẳng định một điều rằng hình thức thơ văn xuôi đang có xu hớng nở rộ.Những nhà thơ từ thời chống Mỹ vẫn tiếp tục thể hiện sức sáng tạo của mình

nh Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Chế Lan Viên bên cạnh

đó, điều đáng nói là có sự xuất hiện của nhiều cây bút trẻ, có năng lực thể hiệnmình qua các cuộc thi thơ nh Phạm Thị Ngọc Liên, Huỳnh Kim, đã gópphần khẳng định sự phong phú của hình thức thơ văn xuôi Việt Nam từ sau

1975 đến nay Độ lùi không gian và thời gian đã bổ sung sắc thái bi tráng,

Trang 34

trầm tĩnh, đẩy thể loại trờng ca trữ tình đến độ viên mãn khó trở lại Nhngcũng ngay sau đó - từ nửa sau của những năm tám mơi - đột nhiên và mạnh

mẽ, nội dung thơ trữ tình chuyển hớng nhanh chóng sang các chủ đề xã hội.Các cảm xúc cá nhân của nhà thơ cũng thờng ít gắn với những chấn động lớnlao của thời đại Thơ chuyển hớng mạnh mẽ vào các chủ đề xã hội mạng tính

chất thế sự và đời t Sự chập nhận của ngời đọc đối với các tập Di cảo của Chế

Lan Viên, Lu Quang Vũ, Phùng Khắc Bắc cho thấy đời sống văn học đã cónhững thay đổi Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng, tìm hiểu sự vận độngcủa văn học từ sau năm 1975, nếu không thấy sự xuất hiện của cá nhân nh mộtphạm trù xã hội phổ biến sẽ không thể lý giải đợc sự biến động và sự phân hóatrong nội dung thể loại của nó Nỗi buồn, sự cô đơn, tình yêu đôi lứa, nhữnggóc khuất của con ngời, cái chết thể chất và cái chết tinh thần, sự lật trở nhữnggiá trị siêu cá nhân trong thơ không thể không mang ý nghĩa xã hội Nócũng nhắc nhở cho ngời đọc khi trở lại những giá trị lịch sử, cá nhân sẽ tồn tạimột cách hẫng hụt Khi chuyển hớng vào các chủ đề xã hội, các nhà thơ đặtlên hàng đầu những suy nghĩ cá nhân và bộc lộ chính kiến riêng của mình

Những bài thơ nh Đánh thức tiềm lực, Nhìn từ xa Tổ quốc của Nguyễn Duy,

và sau đó bài Ngời đàn ông bốn mơi tuổi nói về mình của Trần Vàng Sao đã

từng khuấy động đời sống văn học Trong không khí dân chủ của đời sống vănhọc, thơ trở về với cội nguồn của trữ tình thông qua các chủ đề đa dạng vàmuôn thủa Trong sự nhập cuộc với đời sống bộn bề, phức tạp, thơ dẫu cha có

đợc những thành tựu rực rỡ, những đỉnh cao tiêu biểu, vẫn mang đợc hơi thở

và khát vọng của thời đại, cố gắng vơn tới những cảm hứng phong phú và vĩnhcửu vốn có của thể loại trong tiến trình đổi mới Thực tế của cuộc sống thờibình vào cuối những năm 80 trở lại đây, những qui luật khắt khe của thị trờng,của mu sinh khiến cho thơ ngả sang màu sắc thế sự, đợc cảm nhận trên nhữngcung bậc mới của cuộc sống đời thờng Bớc vào giai đoạn mới, nhiều nhà thơvừa tự phát hiện ra mình, tự thấy chán ghét lối thơ công thức, sơ lợc, giả tạo,

đồng thời xác nhận trách nhiệm và địa vị nhà thơ đối với lịch sử Một ý thứcmới về thơ xuát hiện Sự trung thực xã hội trong t tởng với quan niệm phải dấnthân vào cuộc đời, phải tôn trọng sự thật là một mô típ trữ tình phổ biến Tráchnhiệm công dân, đạo đức nghệ sỹ đợc đặt ra tuy âm thầm nhng khá quyết liệt.Nhân cách nghệ sỹ đối với lịch sử đợc thể hiện trên hai phơng diện: các vấn đềxã hội với t cách công dân và những vấn đề đời sống cá nhân với t cách một cá

Trang 35

tính Nhà thơ trực tiếp va chạm với một đời sống hiện thực, không lí tởng hóaxã hội sau chiến tranh Trớc hết đó là nhận thức về nỗi đau có thực với những

mất mát về con ngời, về tinh thần, càng ngày thấm sâu: “Khi nhịp sống quanh mình ngày mỗi nhanh hơn, trách chi ngời nghèo mau già lắm! đấy cũng là luật công bằng của một bề sự sống” (Bài thơ văn xuôi viết cho Thảo Nguyên,

La Quốc Tiến, Tuyển tập thơ văn xuôi, NXB GD, 1997) Tiếp đó, là nhữngcảm nhận về trạng thái xã hội hiện tại với những khiếm khuyết, băng hoại vềmôi trờng và nhân cách, chứa đầy những thông tin nhức nhối, xót xa về sốphận của những con ngời cụ thể bộc lộ trớc hết qua cuộc đời những ngời thân.Trạng thái xã hội ấy đợc trình bày qua những nỗi bất hạnh của con ngời màsức mạnh và chiều sâu trữ tình đạt đợc nhờ bộc lộ những sự thật tàn nhẫn:Thua thiệt, khổ sở, đói nghèo mòn mỏi, bất công, trốn chạy quá khứ, xa lánhcội nguồn, suy thoái đạo đức, ớc mơ lụi tàn, tài năng rơi rụng, cảm giác về sựquay vòng những bất hạnh truyền kiếp diễn tả sự bất lực của con ngời trongnhững điều kiện lịch sử mới, tạo nên nỗi lo ngại:

Tôi chẳng sợ cuộc chiến tranh trong hoà bình, Nhng lòng tin, tôi có lúc

đói lòng tin Tim tôi gióng hồi chuông cấp báo Tôi đã đồng hành cùng gió bão, Biết mặt từng đám mây khi giông tố nổi lên Nhng cuộc đời ôi thật mênh mông (Thu Bồn)

Nh vậy, với t duy nghệ thuật mới và trớc sự phân hóa của thể loại, thơ

đã tỏa nhánh trên nhiếu hớng chủ đề, thể hiện đa dạng các mô típ trữ tình,khai thác các khía cạnh khác nhau trong đời sống xã hội và trong tâm cảm conngời, nhằm đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của độc giả, hiệu ứng nghệ thuật và khátvọng sáng tạo của các nhà thơ hiện nay.Trong xu hớng đó, hình thức thơ vănxuôi có nhiều đổi mới so với thơ văn xuôi thời kỳ chống Mỹ Thơ gần với đờihơn, nhiều chất lý sự hơn So với thơ văn xuôi thời kỳ chống Mỹ, thơ văn xuôithời hậu chiến đã trở thành một khuynh hớng rõ rệt, đặc biệt là trong sáng táccủa các nhà thơ trẻ Việc tìm đến hình thức thơ văn xuôi đợc nhìn nhận nh mộtnhu cầu tự nhiên trong sáng tạo gắn liền với một thế hệ nhà thơ Họ thích lốinói gai góc, trần trụi, lắm lý sự, nhiều suy t, chế ngự cảm xúc bằng sự tinh xảocủa lý trí, tranh luận, đối thoại Cha bao giờ, nhu cầu khẳng định cái tôi cánhân, đi tìm giọng điệu riêng lại da diết nh lúc này Các nhà thơ, mỗi ngời mộtlối rẽ riêng, tuy cha có những phong cách mới, độc đáo song đều góp phần tạonên sự đa sắc, đa giọng của thơ sau 1975 Trớc đây, mỗi nhà thơ cũng mang

Trang 36

một dáng vẻ riêng nhng chung quy lại đó vẫn là sự thống nhất trong một tiếngthơ trữ tình chính trị Còn hiện nay, sự đa dạng về giọng điệu là kết quả của sựgiải phóng ý thức, giải phóng cá tính, nó tạo nên sự phân luồng rõ rệt của cáckhuynh hớng Đó đợc nhìn nhận nh một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn

đến sự phát triển mạnh mẽ của thơ văn xuôi 25 năm cuối thế kỷ XX (1975 – 2000)2000)

1.4 Mở rộng giao lu quốc tế và sự thức tỉnh con ngời cá nhân

Hơn một phần t thế kỷ đi qua, kể từ khi cuộc kháng chiến chiến chống

Mỹ cứu nớc kết thúc thắng lợi (30/4/1975), đất nớc ta đã vợt qua bao khó khănchồng chất của thời hậu chiến Văn học, trong đó có thơ ca, đã đồng hànhcùng dân tộc qua những thăng trầm của lịch sử Dù trực tiếp hay gián tiếp, mọibiến động của đất nớc đều tác động đến đời sống văn học Sự phát triển củahình thức thơ văn xuôi sau 1975 không nằm ngoài quy luật đó

đẹp, không chỉ về thể loại mà còn về các phơng diện khác của văn học nh đềtài, nội dung cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, sự chuyển động của ngôn ngữ,giọng điệu, góp phần làm nên sự vận động của văn học nớc nhà Từ sau

1975, đất nớc ta hoàn toàn đợc giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà, dântộc ta có hòa bình, nhân dân ta lại cùng nhau chung sức, đồng lòng góp phầnvào dựng xây lại đất nớc, cũng từ đây, chúng ta càng rộng mở vòng tay đón sựgiao lu hợp tác với nhiều nớc trên thế giới Quá trình mở rộng giao lu tiếp xúccàng đợc thúc đẩy mạnh mẽ hơn nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI Chínhcông cuộc đổi mới, sự giao lu, tiếp xúc này đã là tiền đề cho sự phát triểnmạnh mẽ các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có văn học Nói về điều

này, báo cáo đề dẫn tại Hội thảo khoa học 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, đã nhận định: “Văn học Việt Nam từ sau tháng 4 năm

1975, nhất là từ giữa những năm 80 trở lại đây, đã đi những bớc tiếp xa hơn

Trang 37

trên con đờng hiện đại hóa nền văn học dân tộc ở thế kỷ XX, để hòa nhập đầy

đủ vào tiến trình văn học thế giới” Xu hớng dân chủ hóa trở thành xu hớngvận động bao trùm của nền văn học Dân chủ hóa đã thấm nhuần và đợc thểhiện ở nhiều cấp độ và bình diện của đời sống văn học Trong xu hớng dânchủ hóa của xã hội, văn học không hề từ bỏ vai trò vũ khí tinh thần - t tởngcủa nó, nhng nó đợc nhấn mạnh trớc hết ở sức khám phá thực tại và thức tỉnh

ý thức về sự thật, ở vai trò dự báo, dự cảm Thêm nữa, nó còn đợc xem là mộtphơng tiện cần thiết để tự biểu hiện, bao gồm cả việc phát triển t tởng, quanniệm, chính kiến của mỗi ngời nghệ sỹ về xã hội và con ngời Văn học khôngchỉ là tiếng nói chung của dân tộc, thời đại, cộng đồng, mà còn có thể là phátngôn của mỗi cá nhân Trong một nền văn học hớng tới tinh thần dân chủ,càng đòi hỏi và có thể thừa nhận t tởng riêng, cái nhìn riêng của mỗi ngời thìngời viết dù rất tin và muốn bênh vực cho những quan niệm của mình cũngkhông thể biết đến những t tởng và quan niệm khác

Xu hớng dân chủ hóa và đổi mới trong văn học đã thâm nhập và đợcbiểu hiện ra trên nhiều bình diện của sáng tác, từ hệ đề tài, các kiểu kết cấu vàmô tuýp chủ đề cho đến giọng điệu, ngôn ngữ Và một điều rất dễ phân biệtnữa đó là ai cũng dễ dàng nhận ra trong nền văn học sử thi của giai đoạn trớc

có giọng điệu bao trùm là ngợi ca, trang trọng với những sắc thái hoặc hào

hùng, hoặc trữ tình ngọt ngào, thắm thiết nh chúng ta gặp trong Bài ca chim Chơ-rao của Thu Bồn, Tàu đi của Chế Lan Viên, Tính độc thoại cũng là đặc

điểm không thể tránh khỏi của khuynh hớng sử thi Khi văn học hớng tới tinhthần dân chủ, thì tính chất đơn thanh sẽ dần nhờng chỗ cho tính đa thanh,phức điệu Xu hớng dân chủ hóa đã đa đến sự nở rộ của các phong cách, cácbút pháp, bộc lộ hết mình các cá tính sáng tạo của nhà thơ cùng với việc ra sứctìm kiếm, thử nghiệm nhiều hình thức và thủ pháp thể hiện mới, kể cả tiếp thu

và vận dụng những yếu tố của các trờng phái nghệ thuật hiện đại phơng Tây.Tính từ 1985, văn học Việt Nam thực sự đã có một giai đoạn phát triển mới

Đời sống văn học sôi động và phong phú hẳn lên Số lợng sách báo in ra, kể cảsách dịch và các sáng tác trong nớc, ngoài nớc tăng hơn trớc đây rất nhiều L-ợng văn học dịch rất nhiều có dấu ấn rõ ràng của sự mở rộng giao lu tiếp xúc.Theo GS Trơng Đăng Dung: “Sự thâm nhập của văn học dịch vào các nền vănhọc khác nhau với mức độ tiếp nhận cũng khác nhau đã soi sáng và gợi mởnhững khía cạnh lý luận của nghiên cứu văn học so sánh” Có thể thấy, trong

Trang 38

quá trình phát triển của văn học, việc mở rộng giao lu tiếp xúc là một phầnkhông thể thiếu Khi một nền văn học này đợc tiếp nhận, ảnh hởng bởi mộtnền văn học khác hoặc ngợc lại thì chúng sẽ dễ dàng phát hiện ra bản thânmình hơn vì chúng đợc nhìn bằng con mắt của một nền văn học khác Chỉtrong giao tiếp và đối thoại thì thế đứng của mỗi nền văn học mới đợc củng cố

và tự khẳng định “Khi hai nền văn học gặp gỡ, đối thoại với nhau Chúngkhông hòa trộn vào nhau, mỗi bên bảo vệ sự thống nhất và sự nguyên vẹn đểngỏ của mình” ( Bakhtin )

1.4.2 Sự thức tỉnh con ngời cá nhân

Nh chúng ta đã biết, văn học, đặc biệt là thơ ca bao giờ cũng là tiếngnói của con ngời cá nhân, cá thể Thơ đợc ví nh “bản tự thuật tâm trạng” (G.Pospelov) Vì thế, “tác thi bất khả dĩ vô ngã” (làm thơ không thể không có cáitôi) Sự phát triển của thơ ca, vì vậy, luôn gắn liền với việc giải phong con ng -

ời cá nhân cá thể Ngợc dòng lịch sử trở về với hồi đầu thế kỷ XX, đặc biệt lànhững năm 20, do sự chuyển biến của hình thái xã hội và sự tác động, ảnh h-ởng của văn hóa, t tởng phơng Tây, ý thức cá nhân đã đợc nảy nở mạnh mẽcùng với tinh thần dân chủ trong xã hội Việt Nam đơng thời, đặc biệt là trongtầng lớp tiểu t sản thành thị và trí thức Tây học Đó là cơ sở t tởng cho sự hìnhthành và phát triển cái “tôi” cá nhân, cá thể trong văn học, đặc biệt là trongkhuynh hớng lãng mạn Cái “tôi” ấy chống lại sự kiềm tỏa của lễ giáo phongkiến, đòi giải phóng cá nhân, cá tính, giải phóng tình cảm, cảm xúc mà trớchết là trong tình yêu và hôn nhân Cái “tôi” đã đem lại cho văn học nguồn cảmhứng mới mẻ và khá dồi dào, tự nhiên, nhng rồi cũng mau chóng khô cạn, bếtắc Cuộc cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến liền tiếp sau đó đãkhơi dậy và phát triển đến cao độ ý thức cộng đồng mà cốt lõi là lòng yêu nớc,tinh thần dân tộc và ý thức giai cấp Có thể nói, nền văn học cách mạng suốt

ba mơi năm (1945 - 1975) đã đợc xây dựng và phát triển trên nền tảng t tởng

là ý thức cộng đồng ấy Cảm hứng chủ đạo của nền văn học là chủ nghĩa yêunớc, khát vọng độc lập, tự do và lý tởng xã hội chủ nghĩa Từ sau năm 1975khi cuộc sống dần trở lại với những quy luật bình thờng của nó, con ngời trở

về với muôn mặt đời thờng, phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề trong một giai

đoạn có nhiều biến động, đổi thay của xã hội Bối cảnh đó đã thúc đẩy sự thứctỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi ngời và từng số phận Sựthức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ đề

Trang 39

mới, làm đổi thay quan niệm về con ngời Văn học ngày càng đi tới một quanniệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con ngời mà nền tảng triết học và hạt nhân cơbản của quan niệm ấy là t tởng nhân bản Con ngời vừa là điểm xuất phát, là

đối tợng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích đến cuối cùng của văn học, đồngthời cũng là điểm quy chiếu, là thớc đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sựkiện và biến cố lịch sử Con ngời đợc nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đachiều của mọi mối quan hệ: con ngời xã hội, con ngời với lịch sử, con ngờicủa gia đình, gia tộc, con ngời với phong tục, với thiên nhiên, với những ngờikhác, với chính mình Con ngời cũng đợc văn học soi chiếu, khám phá ởnhiều bình diện, tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống t tởng, tình cảm và đờisống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thờng, con ngời cụthể, cá biệt và con ngời trong tính nhân loại phổ quát

Xu hớng dân chủ hóa và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã đa tới sự pháttriển phong phú, sôi nổi, đa dạng của văn học từ sau 1975, đặc biệt là từ thời

kỳ đổi mới đất nớc Sự đa dạng và phong phú đợc thể hiện trên nhiều bìnhdiện văn học: Đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, nhiều tìm tòi về thủpháp nghệ thuật; đa dạng về phong cách và khuynh hớng thẩm mỹ Quả thựckhu vờn văn học ngày nay là một cảnh tợng rất đa sắc màu nhiều hơng vị, lắmdáng vẻ, thậm chí còn có những hiện tợng kì dị, lạ lùng

Có thể nói rằng, văn học sau đổi mới, trong đó có hình thức thơ vănxuôi đã xuất hiện nhiều lối viết khác trớc đây Trong vận hội mới, trớc thị hiếucông chúng mới, các nghệ sỹ không thể đi theo đờng xa, lối cũ, một số tác giả

đã tự đổi mới trong t duy sáng tạo với bao chiêm nghiệm và dự cảm về sự biến

đổi của xã hội, thời cuộc, thân phận con ngời Sau chiến tranh, đất nớc đổithay, đáp ứng với hiện thực văn học phải có đổi mới Điều này mang tính pháttriển và phù hợp với quy luật khách quan: “Khi những biến động xã hội luônluôn tác động đến cuộc sống, số phận con ngời đổi thay, những vấn đề thế sự

và nhân sinh luôn đặt ra những câu hỏi giày vò lơng tâm của mỗi ngời thì ngờiviết cũng phải suy nghĩ và có thái độ thích hợp” (Hà Minh Đức) Cuộc sốnghôm nay không còn đơn giản, nó đòi hỏi nhà thơ phải có cái nhìn khắt khehơn, hoài nghi hơn, cần phải đóng dấu đợc cái bản ngã của mình vào trangviết Sẽ là trái với quy luật phát triển nếu chúng ta tiếp tục chấp nhận nhữngdàn đồng ca tẻ nhạt, đơn điệu với lối thơ nh điệu ru ầu ơ Thơ hôm nay phảibộc lộ đợc những màu sắc phong phú của đời sống, những ngõ ngách sâu kín

Trang 40

của tâm linh, những oán hận, những bất trắc, những khổ đau, những niềm tin

và khát vọng mãnh liệt Thơ phải nh nụ cời và nớc mắt đợc chng cất từ trongsâu thẳm tâm hồn mỗi nhà thơ Mỗi ngời một dáng vẻ, ngời nói ngợc, ngờiphá phách, ngời tự thú, ngời trở lại cội nguồn Rất nhiều gơng mặt đã hăm hởtham dự vào cuộc hành trình thơ ấy và có không ít những tìm tòi đã thànhcông Sự phát triển của thơ văn xuôi sau 1975 đã nằm trong quỹ đạo ấy Đócũng là con đờng thơ trở về với chính mình, thành thật với chính mình trongmột tiếng nói cá nhân cá thể

Ch ơng 2 cảm hứng chủ đạo trong thơ văn xuôi (1975 – 2000) 2000)

Sau năm 1975, đất nớc bớc vào thời kỳ mới Bên cạnh âm vang của bảnanh hùng ca giữ nớc, nhiều vấn đề đã nảy sinh trong hiện thức thời hậu chiến

Đó số phận những ngời lính trở về sau chiến tranh lạc lõng giữa cuộc sống đờithờng, là những mâu thuẫn, xung đột gay gắt giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa cái

đúng hợp quy luật và cái lỗi thời trái tự nhiên, hài hớc Nó đòi hỏi văn học,trong đó có thơ ca phải đổi mới t duy, cả trong nhận thức và phơng thức thểhiện Trên cái nền của hiện thực ấy, thơ ca đã có bớc chuyển mình, từ cảmhứng sử thi chuyển dần sang cảm hứng thế sự đời t; từ bộc bạch giải bàychuyển dần sang luận bàn, lý giải… Thơ văn xuôi là hình thức tỏ ra phù hợpnhất cho sự thay đổi nay

2.1 Nhận thức lí giải những vấn đề thế sự, đời t

2.1.1 Nhà thơ đối diện với mình trong những dằn vặt nghĩ suy

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, trong đời sống văn học dân tộc

có sự xuất hiện ồ ạt của những gơng mặt nhà thơ để lại ấn tợng mạnh mẽ tronglòng công chúng Bên cạnh những ngời vừa bớc ra khỏi cuộc chiến tranh ácliệt là những gơng mặt mơi lạ, trẻ trung Họ đã góp phần làm nên một diệnmạo mới cho thơ thời hậu chiến Đó là sự mới lạ trong cách nhìn cuộc sống,trong cách thể hiện tiếng nói trữ tình Nó cho thấy, ở chiều sâu của một quátrình chuyển động, thơ đã có những kiềm tìm thay đổi ngay từ trong ý thức

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1991
4. Xuân Diệu (1965), Vài ý kiến về thơ văn xuôi, Báo Văn nghệ số 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về thơ văn xuôi
Tác giả: Xuân Diệu
Năm: 1965
5. Hữu Đạt (1996), Thơ văn xuôi là đỉnh phát triển cao nhất của thơ tự do, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn xuôi là đỉnh phát triển cao nhất của thơ tự do
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
6. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
7. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
8. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
9. Hà Minh Đức (1968), “Thơ văn xuôi”, Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn xuôi”, "Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1968
10. Nguyễn Văn Hạnh (2006), Rabindranath Tagore với thờ kỳ phục hng ấn Độ, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rabindranath Tagore với thờ kỳ phục hng ấn "Độ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2006
12. Nguyễn Văn Hoa, Nguyễn Ngọc Thiện (1997), Tuyển tập thơ văn xuôi (Việt Nam và nớc ngoài), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ văn xuôi (Việt Nam và nớc ngoài)
Tác giả: Nguyễn Văn Hoa, Nguyễn Ngọc Thiện
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
13. Bùi Công Hùng (1983), Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1983
14. Mã Giang Lân, Xu hớng tự do hóa hình thức thơ, Tạp chí khoa học, tháng 2/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hớng tự do hóa hình thức thơ
15. Mã Giang Lân (2005), Văn học hiện đại Việt Nam - vấn đề - tác giả, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại Việt Nam - vấn đề - tác giả
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
16. Nguyễn Văn Long (2001), Văn học Việt Nam trong thời đại mới (từ sau cách mạng tháng Tám 1945), Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trong thời đại mới (từ sau cách mạng tháng Tám 1945)
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2001
17. Phơng Lựu & Trần Đình Sử (1998), Lí Luận văn học (3 tập), Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí Luận văn học
Tác giả: Phơng Lựu & Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
18. Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức (2006), Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại
Tác giả: Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2006
19. Trần Thị Mai Nhi (1994), Văn học hiện đại giao lu và gặp gỡ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại giao lu và gặp gỡ
Tác giả: Trần Thị Mai Nhi
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
20. Lê Lu Oanh (1998), Thơ trữ tình Việt Nam (1975 - 1990), Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trữ tình Việt Nam (1975 - 1990)
Tác giả: Lê Lu Oanh
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1998
21. Thiếu Sơn (1934), Lời phê bình Linh Phợng, Đông Hồ, Linh Phợng, Nxb Nam Kỳ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời phê bình Linh Phợng
Tác giả: Thiếu Sơn
Nhà XB: Nxb Nam Kỳ
Năm: 1934
22. Vũ Văn Sỹ (2001), Trờng ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại, Trong “Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trờng ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện "đại", Trong “"Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học
Tác giả: Vũ Văn Sỹ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
23. Vũ Văn Sỹ (2002), “Những thể nghiệm trong thơ Nguyễn Quang Thiều”, Trong Thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thể nghiệm trong thơ Nguyễn Quang Thiều”, Trong "Thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Vũ Văn Sỹ
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w