Văn xuôi viết về đề tài lịch sử sau 1975 vẫn đang trong quá trình tìmtòi, xác định hớng đi cho mình nhng bớc đầu chúng ta đã có thể nhận thấynhững thành tựu và đóng góp của mảng văn học
Trang 1Bộ giáo dục & đào tạo
Trờng Đại học Vinh
-*** -Ngô Thị Quỳnh Nga
những hớng tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học việt nam sau 1975
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh - 2007
Trang 2Bộ giáo dục & đào tạo
Trờng Đại học Vinh
-*** -Ngô Thị Quỳnh Nga
những hớng tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học việt nam sau 1975
Chuyên ngành: văn học việt nam
Mã số: 60 22 34
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học: TS Phan Huy Dũng
Vinh - 2007
Trang 3Mục lục
Trang
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu 11
5 Phơng pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp mới của luận văn 12
7 Cấu trúc luận văn 12
Chơng 1: Tổng quan về mảng văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam hiện đại 1.1 Khái niệm văn xuôi viết về đề tài lịch sử 13
1.2 Các giai đoạn phát triển và những hớng tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam hiện đại (trớc 1975) 13
1.3 Những điều kiện tạo nên bớc phát triển mới của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam sau 1975 19
Chơng 2: Những hớng tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam sau 1975 trên phơng diện nội dung 2.1 Thay thế cảm hứng minh họa bằng cảm hứng nhận thức 25
2.2 Quan tâm là sáng tỏ cội nguồn văn hoá của các sự kiện lịch sử 47
2.3 Việc vận dụng nguyên tắc lấy xa nói nay 61
Chơng 3: Những hớng tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam sau 1975 trên phơng diện nghệ thuật 3.1 Thay thế tính ghi chép biên niên bằng tính linh hoạt, ngẫu hứng trong kết cấu… 80 80
3.2 Gia tăng yếu tố h cấu “tuỳ tiện… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80 100
3.3 Quan tâm tới vấn đề lịch sử trong con ngời qua việc xây dựng các nhân vật có sức sống nội tại… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80… 80 113
Kết luận………127
Tài liệu tham khảo
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt là sau Đại hội VI của Đảngnăm 1986 đã có những đổi mới mang tính đột phá cả về nội dung và hình thức.Văn học đã thực sự đợc “cởi trói”, ngời nghệ sĩ đợc tạo điều kiện phát triển vàthể hiện cá tính sáng tạo của mình Các nhà văn đã không ngần ngại khi đi vàonhững vùng khuất tối, gai góc của đời sống để khám phá, phản ánh thế giới tinhthần đầy phức tạp và nhu cầu bản năng của con ngời, đề cập đến những vấn đềbức xúc trong cuộc sống hiện đại Trong không khí sôi nổi và dân chủ của vănhọc nớc nhà thời kì đổi mới, văn xuôi viết về đề tài lịch sử cũng có sự vận động,phát triển, đổi mới mạnh mẽ, thực sự gây ấn tợng đối với độc giả Cách nhìnnhận về lịch sử, quan niệm về lịch sử của các nhà văn đa dạng hơn Lịch sửkhông còn là “những xác chết và những sự cố biên niên u lì” nữa mà đợc thổivào tinh thần, hơi thở của cuộc sống hiện đại Chất liệu lịch sử đợc xử lí khácnhau ở mỗi nhà văn, nhng nhìn chung các tác giả đều cố gắng tìm kiếm nhữnghớng đi mới, vợt thoát khỏi lối viết truyền thống Vậy sau 1975 văn xuôi viết về
Trang 5đề tài lịch sử đã có những hớng tìm tòi nh thế nào? Đề tài của chúng tôi cố gắnglàm rõ vấn đề này.
1.2 Văn xuôi viết về đề tài lịch sử sau 1975 vẫn đang trong quá trình tìmtòi, xác định hớng đi cho mình nhng bớc đầu chúng ta đã có thể nhận thấynhững thành tựu và đóng góp của mảng văn học này đối với sự phát triển chungcủa văn học dân tộc Sau 1975, nhất là từ những năm 90 của thế kỉ XX, văn họcViệt Nam chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt tác phẩm viết về đề tài lịch sử
với cách thể hiện hoàn toàn mới lạ Bộ truyện ngắn lịch sử (“Phẩm tiết”, “Kiếm
sắc”, “Vàng lửa”, “Nguyễn Thị Lộ”) của Nguyễn Huy Thiệp, truyện ngắn “Mùa
ma gai sắc” của Trần Vũ, tiểu thuyết lịch sử “Hồ Quý Ly”, “Mẫu thợng ngàn”
của Nguyễn Xuân Khánh, “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo, “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác, “Gió lửa”, “Đất trời” của Nam Dao xuất hiện đã tạo nên
những “cú sốc” trong d luận, làm tốn không ít giấy mực của giới phê bình.Những tác phẩm này đã thể nghiệm một cách viết mới, đa đến một quan niệmmới về đề tài lịch sử Nhiều tác phẩm đã đợc trao giải chính thức của Hội Nhà
văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội nh “Vằng vặc sao Khuê” của Hoàng Công Khanh (năm 1999), “Hồ Quý Ly” (năm 2000), “Giàn thiêu” (2003), “Mẫu thợng
ngàn” (năm 2006) Nh vậy văn xuôi viết về đề tài lịch sử sau 1975 đã đạt đợc
những thành công đáng kể và đang còn nhiều hứa hẹn phía trớc Tuy nhiên, sựnghiên cứu về mảng văn học này còn cha tơng xứng với những đóng góp của nó.Với số lợng tơng đối ít ỏi, các bài viết và công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại
ở những tác phẩm cụ thể hoặc khẳng định chung chung những thành tựu đã đạt
đợc của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam sau 1975, chacho ta thấy đợc đầy đủ diện mạo của mảng văn học này Đây cũng là lí do để
chúng tôi lựa chọn đề tài “Những hớng tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử
trong văn học Việt Nam sau 1975” nhằm tìm hiểu những nỗ lực tìm kiếm hớng
đi mới trên phơng diện nội dung và nghệ thuật của văn xuôi viết về đề tài lịch sửsau 1975, qua đó nhận ra những đổi mới và đóng góp của mảng văn học này chonền văn học hiện đại
1.3 Việc đi sâu tìm hiểu “Những hớng tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài
lịch sử trong văn học Việt Nam sau 1975” sẽ giúp chúng ta có cái nhìn kháiquát về xu hớng vận động chung của văn xuôi viết về đề tài lịch sử nói riêng và
Trang 6của văn học Việt Nam sau 1975 nói chung, đánh giá đúng giá trị của những tácphẩm từng gây nhiều tranh cãi.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn xuôi viết về đề tài lịch sử từ đầu thế kỉ XX đến trớc 1975 đã đợc cácnhà nghiên cứu tìm hiểu khá kĩ lỡng, trong đó, công trình bao quát nhất về mảng
văn học này là luận án tiến sỹ của Nguyễn Văn Lợi với đề tài: “Tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945” Luận án đã khái quát quá trình
hình thành, vận động và những đặc điểm về nội dung, hình thức của tiểu thuyếtlịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Tác giả đã đa ra cách hiểu về tiểu thuyếtlịch sử là “những tác phẩm mang trọn đặc trng của tiểu thuyết nhng lại lấy nộidung lịch sử làm đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật” [46, tr.23] Ôngcũng chỉ ra sự khác biệt giữa tiểu thuyết lịch sử và khoa học lịch sử
Sau năm 1975, với những tìm tòi mới trên phơng diện nội dung và hìnhthức, văn xuôi viết về đề tài lịch sử cũng đã đợc d luận quan tâm Một số bài viết
đã đa ra những quan điểm mới rất đáng chú ý về mảng văn học này Trongnhững sáng tác thuộc nhiều thể loại viết về đề tài lịch sử, mảng tiểu thuyếtchiếm số lợng lớn và đạt đợc nhiều thành tựu hơn cả Bởi vậy, việc các bài viết
và công trình nghiên cứu chủ yếu quan tâm đến tiểu thuyết là điều dễ hiểu
2.1 Số bài viết, công trình nghiên cứu khái quát về quá trình phát triển vàcác đặc trng cơ bản của tiểu thuyết lịch sử tuy cha nhiều nhng rất đáng chú ý
Giáo s Phan Cự Đệ, trong cuốn “Văn học Việt Nam thế kỉ XX”, chơng III đã đề
cập những vấn đề cơ bản nhất của thể loại cũng nh nhấn mạnh đặc điểm chủ yếucủa tiểu thuyết lịch sử, so sánh nhiệm vụ của nhà viết sử và nhà viết tiểu thuyếtlịch sử, phân biệt hai khái niệm tiểu thuyết lịch sử (roman historique) và lịch sử
đợc tiểu thuyết hoá (histori romancé) Tác giả đã đề xuất một cách nhìn khá mới
về tiểu thuyết lịch sử thông qua việc chỉ ra tác dụng của nó: “Nó có thể soi sángnhững thời kỳ quá khứ con ngời đã trải qua với mục đích rõ ràng là gạn lọcnhững tình trạng tiến thoái lỡng nan của thời đại Tác giả tiểu thuyết lịch sử sửdụng quá khứ nh một khí cụ để vẽ lên những điểm tơng đồng giữa quá khứ vàhiện tại và do đó làm sáng tỏ hiện tại” [1, tr.179]
Cách nhìn mới về tiểu thuyết lịch sử của ông còn thể hiện qua nhận xét về
tiểu thuyết lịch sử “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác:
Ông không quan niệm lịch sử chỉ là những câu chuyện của các ônghoàng, bà chúa, của các tớng lĩnh, là sử biên niên của các trận đánh.Tiểu thuyết lịch sử trớc hết là tiểu thuyết, là “thế sự”, là chất “văn
Trang 7xuôi”(caractère prosaique), là cuộc sống muôn màu muôn vẻ của conngời và thiên nhiên [19, tr.192].
Nhà văn Nam Dao trong bài “Về tiểu thuyết lịch sử” đã nói rõ quan niệm
riêng của mình Theo ông, “lịch sử không là những xác chết và những sự cố biênniên u lì Trong tiểu thuyết lịch sử, quá khứ là lịch sử nhìn bởi nhà văn, nhà văn
nh chủ thể” [16], và “tiểu thuyết lịch sử hoá ra là một tập hợp những dự phóng
về tơng lai có thể có đợc” [16] Trong “Lời ngỏ” tiểu thuyết “Gió lửa” ông viết:
“soi rọi vào những vấn đề nhân quần xã hội và thân phận con ngời trong quákhứ là một cách đi tìm sự sống tàng ẩn trong lịch sử Lịch sử đó là lịch sử sống
Nó tạo đợc khả năng nhìn vào tơng lai dới một góc độ có ý thức” [15] Cùng
quan điểm với Nam Dao, trong bài “Về tiểu thuyết lịch sử”, Nguyễn Vy Khanh
cho rằng tiểu thuyết lịch sử: “là một cách tra hỏi và nghi vấn quá khứ để biệnminh hiện tại và chỉ hớng cho tơng lai, qua trung gian một hay nhiều tác giả
Nh vậy, chúng cũng là những tiểu thuyết luận đề khi đặt lại vấn đề, dữ kiện lịch
sử, đề ra luận đề mới, mợn dĩ vãng nói chuyện hiện tại, có thể có ý chống lại
b-ớc lịch sử hoặc trật tự xã hội đang có” [37].
Nhà văn Hoàng Quốc Hải bằng kinh nghiệm sáng tác của mình trong bài
phỏng vấn “Tiểu thuyết lịch sử là h cấu đến độ chân thực!” đã chia tiểu thuyết
lịch sử thành hai trờng phái “chính sử” và “dã sử”, ngoài ra còn có trờng phái
“chính dã bất phân Tức là họ dùng cả chính sử và dã sử để làm cái cớ, rồi viếttheo ý mình” Nhà văn tự nhận mình viết theo trờng phái chính sử “của các cụLep Tôn-xtôi và Alếchxây Tôn-xtôi” [25] Nguyễn Mộng Giác có cùng ý kiếnvới Hoàng Quốc Hải Đây cũng là cách phân chia khá sát với hiện thực sáng táctiểu thuyết lịch sử sau 1975, đợc nhiều ngời tán đồng
Gần đây có một số công trình khái quát những cách tân, quá trình vận
động, phát triển của tiểu thuyết lịch sử qua một số tác phẩm tiêu biểu nh các
luận văn thạc sĩ : “Tiểu thuyết Hồ Quý Ly trong sự vận động của tiểu thuyết lịch
sử nửa sau thế kỉ XX” của Đỗ Hải Ninh, “Thành tựu của tiểu thuyết lịch sử qua Vạn Xuân và Hồ Quý Ly” của Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn “Những cách tân
đáng chú ý của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời đổi mới” của Nguyễn Thị
Ph-ơng Thanh đã đánh giá khá bao quát và thấu đáo những đổi mới của tiểu thuyếtlịch sử sau 1975 Tuy nhiên những công trình này chủ yếu khái quát nhữngthành công của tiểu thuyết lịch sử, và mới chỉ khảo sát trên một số tiểu thuyết,
bỏ qua bộ phận sáng tác khá đặc sắc là truyện ngắn lịch sử
Trang 82.2 Mối quan hệ giữa văn học và lịch sử, giữa h cấu nghệ thuật và sự thậtlịch sử trong các tác phẩm viết về đề tài lịch sử hiện nay vẫn đang là vấn đề đợcnhiều ngời quan tâm ý kiến chung của các tác giả là “cần phải viết các sự kiện
cụ thể” nhng “không cần phải tuân theo một cách quá mù quáng các sự kiện
đó” Về vấn đề này, Phan Cự Đệ khẳng định: “Trong quá trình sáng tác, các nhàviết tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừa phải phát huycao độ vai trò của h cấu sáng tạo nghệ thuật” [19, tr.167] và “Nhà nghệ sĩ sẽdùng quyền sáng tạo và h cấu để bổ sung cho những chi tiết, những thời kì màlịch sử không nói đến dựa trên vốn sống và những tài liệu lịch sử, nhà nghệ sĩphải tởng tợng và bổ sung cho vô số những “điểm trắng” [19, tr.166] Theo ônggiữa văn chơng và lịch sử có sự thẩm thấu vào nhau, khó có thể tách biệt “trongtiểu thuyết lịch sử, sự kiện lịch sử và sự kiện h cấu, nhân vật lịch sử và nhân vậtsáng tạo trộn lẫn vào nhau, vì thế khó lòng có thể bảo đảm một sự chính xác lịch
sử đến tuyệt đối” [19, tr.170]
Trần Vũ với kinh nghiệm của một ngời “chuyên lôi chuyện lịch sử vàotrong sáng tác” đã gọi tiểu thuyết lịch sử là “một bộ phận của h cấu” Ông
khẳng định “Lịch sử trong tiểu thuyết - một tuỳ tiện ý thức”, đồng thời phản đối
gay gắt quan niệm “viết tiểu thuyết phải y chang nh thật”, mà cho rằng “có thểpha trộn nửa thật nửa ảo và có quyền phóng đại thực tế lên đến mức tiểuthuyết” [70]
Đỗ Ngọc Yên trong bài “Giới hạn giữa h cấu nghệ thuật và sự thực lịch
sử” đăng trên báo Văn nghệ trẻ số 24 cũng có cùng quan điểm trên:
Ngời nghệ sĩ hoàn toàn có quyền tái hiện lịch sử theo cách riêngcủa mình Nhng tuyệt nhiên anh ta không đợc phép bịa đặt lịch sử,hay nhà nghệ sĩ không chỉ biết tôn trọng đến mức cần thiết sự thật lịch
sử mà cần phải sáng tạo thế giới thứ hai, thế giới của các hình tợng vănhọc nghệ thuật bằng cảm xúc, tài năng cá nhân của anh ta [71]
Cùng quan niệm với các tác giả trên còn có Bùi Văn Lợi, Nam Dao,Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Vy Khanh Nhìn chung các nhà nghiên cứu đềunhấn mạnh vai trò của yếu tố h cấu trong tác phẩm viết về đề tài lịch sử
2.3 Sự tự khẳng định khá ấn tợng của mảng văn xuôi viết về đề tài lịch sửsau 1975 với những hớng tìm tòi, thể nghiệm táo bạo, mạo hiểm đã lập tức thuhút đợc sự chú ý của d luận Nhiều bài báo, chuyên khảo, các cuộc thảo luận,hội thảo đã đa ra những ý kiến đánh giá trực tiếp về các tác phẩm
Trang 9Hoàng Công Khanh, tác giả tiểu thuyết “Vằng vặc sao Khuê”, đạt giải
th-ởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 1999 đợc Trần C đánh giá rất cao về: “bảnlĩnh trong việc xây dựng nhân vật Nguyễn Trãi đạt tới tầm cỡ lịch sử, trên nhiềubình diện, trong đời sống chung và cả đời sống riêng t” [10]
Nguyễn Xuân Khánh có lẽ là nhà văn có duyên nhất với mảng sáng tác về
đề tài lịch sử Trong vòng sáu năm ông đã cho ra đời hai cuốn tiểu thuyết bề thế,
công phu, hấp dẫn và chiếm đợc cảm tình của d luận Khi tác phẩm “Hồ Quý
Ly” của ông xuất hiện và đạt giải chính thức cuộc thi tiểu thuyết 1998 - 2000 do
Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức và giải 2000 - 2001 của Hội Nhà văn Hà Nội,
báo Văn nghệ đã tổ chức “Hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly” (số 41, ngày
7/10/2000) Qua hội thảo, tác phẩm đã đợc nhìn nhận từ nhiều phơng diện, nhất
là ở phơng diện thể loại Nhà văn Hoàng Quốc Hải nhận xét: “Đây là cuốn tiểuthuyết lịch sử viết rất nghiêm túc, bám sát chính sử Văn chơng mợt mà, có sứccuốn hút, đọc hết 800 trang vẫn muốn đọc lại”[54] Ông phát hiện “t tởng chủ
đề của tiểu thuyết Hồ Quý Ly xoay quanh ba chữ “thời thiên tuý” mà tác giả đãkhéo léo đề cập ” [54] Theo ông, nguyên nhân thành công của cuốn sách làtác giả đã chọn đợc thời điểm lịch sử và nhân vật mà mình yêu thích và nghiềnngẫm cả cuộc đời, tạo đợc cảm hứng tự do, gạt ra mọi ràng buộc, thể hiện tínhcông bằng lịch sử
Trịnh Đình Khôi nhấn mạnh những u điểm nổi bật của tác phẩm: “Cuốnsách rất có văn Lâu nay ta chú ý truyện nhiều hơn văn Vấn đề đặt ra có ý nghĩahiện đại: các mối quan hệ giữa nhà nớc và nhân dân, giữa giới cầm quyền và tríthức, giữa chính trị và văn học” [54]
Ngoài ra còn có các bài viết đăng trên các báo, tạp chí xem sự xuất hiệncủa tiểu thuyết Hồ Quý Ly là một sự kiện quan trọng đánh dấu bớc phát triển
của tiểu thuyết lịch sử nớc nhà Lại Nguyên Ân trong bài “Hồ Quý Ly” đăng
trên tạp chí Nhà văn số 6 năm 2000 đã sớm phát hiện thấy những nét mới củatác phẩm này: “Tác giả Nguyễn Xuân Khánh vừa khai thác tối đa các nguồn sửliệu, văn liệu hiện còn, vừa phóng khoáng trong những h cấu tạo ra một thực tạitiểu thuyết vừa tơng đồng với những thông tin còn lại về một thời đại đã lùi xavừa in dấu cách hình dung và trình bày riêng của tác giả”[5] Nhà văn Trung
Trung Đỉnh trong bài viết “Hồ Quý Ly và những giải pháp mới cho tiểu thuyết
lịch sử nớc nhà” cho rằng sức hấp dẫn của tác phẩm “không chỉ ở văn mạch mà
cái chính là tác giả đã lựa chọn đợc cho mình một thế đứng vững chắc và một
Trang 10thế đứng với t thế của một nhà tiểu thuyết trớc vấn đề hôm qua và hôm nay”[20]
Nh vậy các ý kiến trên nhìn chung đều thống nhất đánh giá Hồ Quý Ly làmột tiểu thuyết thành công trên nhiều phơng diện, đã có công mở ra hớng đimới cho tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử sau 1975
Tiểu thuyết “Mẫu thợng ngàn” đạt giải thởng của Hội Nhà văn Hà Nội
năm 2006 cũng nhận đợc sự hởng ứng không kém nồng nhiệt của d luận Sự u áicủa độc giả đối với cuốn tiểu thuyết này đợc thể hiện ngay từ nhan đề của các
bài viết Nguyên Ngọc viết “Mẫu thợng ngàn: Một cuốn tiểu thuyết thật hay về
văn hoá Việt” Trong bài viết này Nguyên Ngọc cho rằng “Nếu đi tìm một nhân
vật chính cho cuốn tiểu thuyết này, thì hẳn có thể nói nhân vật chính đó là nềnvăn hoá Việt” [51] Phạm Hồ Thu ca ngợi tác phẩm “ bài ca về vẻ đẹp Việt”
[60] Hoà Bình nhìn thấy ở “Mẫu thợng ngàn” “Nội lực văn chơng của Nguyễn
sử gai góc, đa diện”[63]
Gần đây trong d luận đang xuất hiện nhiều ý kiến trái ngợc nhau về tiểu
thuyết “Tây Sơn bi hùng truyện” của nhà văn Lê Đình Danh Phần lớn các ý
kiến đều tán đồng, xem đây là một đóng góp quan trọng của nhà văn Trong lời
mở đầu cuốn tiểu thuyết, nhà văn Hoàng Minh Tờng cho đây là “Cuốn tiểuthuyết hấp dẫn và bổ ích” cùng với lời giới thiệu cũng rất hấp dẫn: “Phàm là mộtngời ham mê lịch sử và văn chơng, cầm cuốn sách này khó có thể dứt ra đợc.Rất giống nh cảm giác thuở học trò đọc Tam quốc diễn nghĩa hay Thuỷ hử, bạn
sẽ bị cuốn sách lôi cuốn ngay cả khi đang ăn hay trớc lúc đi ngủ” và “một cách
kể chuyện nh lùa ngời đọc vào hết mê hồn trận này đến những kí sử kia”[64].Nhà văn Lê Hoài Lơng lại có ý kiến khác hẳn Ông cho rằng có “Những hạt sạn
đáng tiếc từ một cuốn sách”[48] Ông không phủ nhận là “cuốn sách khá hấp
dẫn”, nhng với cảm nhận của “một công dân Bình Định đã từng tự hào về truyềnthống quê hơng mình” ông cho rằng tác giả đã “có sai lầm không thể chấpnhận” đợc khi xây dựng hai nhân vật quan trọng của Tây Sơn, Trần Quang Diệu
và Bùi Thị Xuân Hình ảnh hai nhân vật lịch sử kiệt xuất qua cách mô tả của Lê
Trang 11Đình Danh là “sự xúc phạm niềm kính ngỡng đối với các anh hùng dân tộc, chí
ít đã đợc mặc định trong lòng dân Bình Định” [48]
Bên cạnh các tác phẩm đợc sáng tác ở trong nớc, các nhà văn ở hải ngoạicũng đóng góp cho văn học nớc nhà nhiều tác phẩm có giá trị, đợc d luận hởng
ứng Tác phẩm tiêu biểu và phổ biến nhất là trờng thiên tiểu thuyết “Sông Côn
mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác, bộ ba tiểu thuyết “Gió lửa”, “Đất trời”, “Bể dâu” của Nam Dao, truyện ngắn “Mùa ma gai sắc” của Trần Vũ “Sông Côn mùa lũ” đợc xuất bản ở trong nớc nên đợc nhiều ngời biết đến hơn Nhìn chung
phản ứng của độc giả đối với tác phẩm này là tích cực, thống nhất, thiện chí.GS.TS Mai Quốc Liên - ngời có công đa tác phẩm đến với ngời đọc trong nớc -cho rằng sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết là ở mạch truyện thế sự, ở những trăntrở, xót thơng cho thân phận con ngời Phan Cự Đệ đánh giá tác phẩm đã “cungcấp cho chúng ta nhiều tài liệu phong phú về xã hội học, địa lý học, kinh tế họccủa các vùng đất phía Nam cuối thế kỉ XVIII” [19, tr.193] Theo ông, thông
điệp của tác phẩm là “lòng xót thơng trớc thân phận thất thế, lỗi thời của nhữngngời trí thức nho học trong thời loạn (ông giáo Hiến), trớc cảnh ngộ bất hạnhcủa ngời đàn bà trong chiến tranh” và “có thể xem cảm hứng nhân đạo chủnghĩa là cảm hứng chính của tiểu thuyết” [19, tr.195] Tuy nhiên Phan Cự Đệ
cũng nhận thấy thông điệp của “Sông Côn mùa lũ” đối với thời hiện đại “bị
phân tán, không tập trung, không gây ấn tợng mạnh” [19, tr.196] Nguyễn Khắc
Phê trong bài viết trên tạp chí Sông Hơng băn khoăn: “Phần đầu cuốn tiểu thuyết
quá dài trong khi những trang viết về chiến công của Nguyễn Huệ cha thấy “baylên”, cha tạo nên cảm hứng lớn lao, đẹp đẽ trong lòng ngời đọc trớc một nhânvật xuất chúng” [56] Nhận định này phần nào phản ánh một cách nghĩ quenthuộc về tiểu thuyết lịch sử của ngời đọc nớc nhà Tác giả Trần Hữu Thục trong
bài viết: “Nhân vật Nguyễn Huệ trong “Sông Côn mùa lũ” đã so sánh nhân vật Nguyễn Huệ trong “Sông Côn mùa lũ” với nhân vật Nguyễn Huệ trong lịch sử, Nguyễn Huệ trong tiểu thuyết “Gió lửa” của Nam Dao, “Mùa ma gai sắc” của
Trần Vũ để tìm ra những nét mới trong quan niệm về nhân vật lịch sử củaNguyễn Mộng Giác [61]
Phần truyện ngắn lịch sử chiếm số lợng khiêm tốn hơn tiểu thuyết nhng
không kém phần đặc sắc Chùm truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp: “Vàng
lửa”, “Kiếm sắc”, “Phẩm tiết”, “Nguyễn Thị Lộ” đăng báo “đã là những tiếng
bom làm một số ngự sử của chế độ mất ăn mất ngủ” D luận trong nớc sôi lên
tr-ớc một hiện tợng lạ Ban đầu nhiều ý kiến phản đối gay gắt, cho Nguyễn Huy
Trang 12Thiệp là không thông hiểu sử nớc nhà, bôi nhọ lịch sử Nhà văn Hồ Phơng chorằng “tác giả tỏ ra tuỳ tiện quá đáng trong khi dùng nhân vật lịch sử để chở cho
ý tứ của mình” [53, tr.452] Nguyễn Thanh trong bài “Về truyện ngắn Phẩm tiết
” đã phê phán gay gắt: “Tôi rùng mình không ngờ phẩm giá nhân cách vuaQuang Trung bị ngời trong đám con cháu đời sau dìm xuống tận đáy của sự tồitàn” [53, tr.452] Số ý kiến bênh vực tác giả lúc ấy ít ỏi và không mạnh mẽ lắm
Lại Nguyên Ân khuyên mọi ngời “Đọc văn phải khác với đọc sử” và “nhà văn
có thể và cần phải tham gia bằng những đề xuất mới, nhất là khi họ có căn cứ đểlật lại những nghi án, những định đề đã không còn đủ sức đứng vững” [53,tr.186] Đặng Anh Đào nhận ra: “Nguyễn Huy Thiệp đã viết nên những truyệnngắn báo động lịch sử là những “báo động thức tỉnh” [53, tr.298] Sau gần 10năm xuất hiện, truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp đã đợc đánh giá lại
công bằng hơn Thụy Khuê trên “Sóng từ trờng” trong bài “Sử quan Nguyễn
Huy Thiệp” qua phân tích các truyện ngắn lịch sử đã khẳng định những đóng
góp của tác giả Nhìn chung ngày nay giới nghiên cứu đều khẳng định truyệnngắn lịch sử Nguyễn Huy Thiệp có tính chất mở đờng cho một hớng đi mới củavăn xuôi viết về đề tài lịch sử mà những tác giả sau này ít nhiều đều chịu ảnh h-ởng
Từ những tài liệu nghiên cứu mà mình có đợc, chúng tôi thấy mảng vănxuôi viết về đề tài lịch sử đã đợc d luận quan tâm Có nhiều bài viết đa ra ý kiến
đánh giá khá thuyết phục về các tác phẩm cụ thể Tuy nhiên, số công trìnhnghiên cứu một cách công phu còn khá ít ỏi, chủ yếu là tìm hiểu những đổi mớicủa văn xuôi viết về đề tài lịch sử qua một tác phẩm cụ thể hoặc dừng lại ở bộphận tiểu thuyết lịch sử mà bỏ qua phần truyện ngắn lịch sử - bộ phận có tínhchất mở đờng cho những quan niệm mới về văn xuôi viết về đề tài lịch sử sau
1975 Khi tìm hiểu về mảng văn học này các tác giả cũng chỉ chú tâm làm sáng
tỏ những thành tựu đã đạt đợc, cha có sự khái quát về đờng hớng sáng tác chung
của các nhà văn viết về đề tài lịch sử Đề tài luận văn của chúng tôi cố gắng xác
định những hớng tìm kiếm mới trên phơng diện nội dung và nghệ thuật của vănxuôi viết về đề tài lịch sử sau 1975, qua đó xác định những đặc trng và đóng gópcủa mảng văn học này đối với quá trình vận động, phát triển chung của văn họcViệt Nam sau 1975
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nhận định khái quát về mảng văn xuôi viết về đề tài lịch sử trongvăn học Việt Nam hiện đại
Trang 133.2 Khảo sát những tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong vănhọc Việt Nam sau 1975 trên phơng diện nội dung.
3.3 Phân tích những tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong vănhọc Việt Nam sau 1975 trên phơng diện nghệ thuật
4 Phạm vi t liệu khảo sát
T liệu khảo sát chính của chúng tôi là những tác phẩm có sự cách tân, vợtthoát hẳn lối viết truyền thống, đợc d luận chú ý trong thời gian gần đây, viết vềnhững sự kiện, thời đại, con ngời thuộc về một quá khứ xa (từ cuối thế kỉ XIX trở
về trớc) Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu những tác phẩm văn xuôi viết về đề tàilịch sử trớc và sau 1975 viết theo quan niệm truyền thống để tiện cho việc so sánh,làm rõ những tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử sau 1975
6 Đóng góp mới của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu tơng đối khái quát, toàn diện nhữnghớng tìm kiếm mới trên phơng diện nội dung và nghệ thuật của văn xuôi viết về
đề tài lịch sử sau 1975, qua đó xác định đờng hớng sáng tác chung của các nhàvăn viết về đề tài lịch sử cũng nh những đặc trng và đóng góp của mảng văn họcnày đối với quá trình vận động, phát triển chung của văn học Việt Nam sau1975
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận
văn của chúng tôi đợc triển khai trong ba chơng:
Chơng 1 Tổng quan về mảng văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn họcViệt Nam hiện đại
Chơng 2 Những tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn họcViệt Nam sau 1975 trên phơng diện nội dung
Chơng 3 Những tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn họcViệt Nam sau 1975 trên phơng diện nghệ thuật
Trang 14Chơng 1 Tổng quan về mảng văn xuôi viết về đề tài lịch sử
trong Văn học việt nam hiện đại 1.1 Khái niệm văn xuôi viết về đề tài lịch sử
Trong luận văn của chúng tôi, “văn xuôi viết về đề tài lịch sử” là kháiniệm ớc lệ, chỉ các sáng tác văn học đợc viết bằng hình thức văn xuôi, lấy sựkiện, biến cố và con ngời lịch sử làm đối tợng phản ánh, qua đó bộc lộ t tởng,quan niệm của tác giả Trong tác phẩm văn xuôi viết về đề tài lịch sử nhữngnăm gần đây không chỉ có cảm hứng về lịch sử mà còn có cảm hứng về đời t,thế sự và những triết lí nhân sinh Nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử dờng nh chỉ
là cái cớ, là khí cụ để “vẽ lên những điểm tơng đồng giữa quá khứ và hiện tại và
do đó làm sáng tỏ hiện tại” [19, tr.179] Lịch sử đợc thổi vào hơi thở của thời
đại trở nên sống động, gần gũi và hấp dẫn hơn
1.2 Các giai đoạn phát triển và những hớng tìm tòi của văn xuôi viết
về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam hiện đại (trớc 1975)
Đề tài lịch sử xuất hiện trong văn học Việt Nam từ rất sớm Ngay từ khinền văn học viết mới hình thành, cảm hứng về lịch sử dân tộc đã trở thành mộtnội dung chính trong sáng tác của các nhà thơ Lý Thờng Kiệt, Trơng Hán Siêu,Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông Trải qua bao thế kỷ, đề tài lịch sử vẫn luôn lànguồn cảm hứng sáng tạo vô tận cho giới cầm bút Cùng với sự đổi thay của đấtnớc qua từng chặng đờng phát triển, những tác phẩm viết về lịch sử cũng cónhững diện mạo riêng Thời kỳ trung đại, tác phẩm văn xuôi viết về đề tài lịch
sử tuy cha nhiều nhng đã để lại dấu ấn riêng, đặc biệt là “Hoàng Lê nhất thống
chí” của Ngô Gia văn phái Sang thế kỷ XX, văn học Việt Nam bớc vào quá
trình hiện đại hoá, văn xuôi viết về đề tài lịch sử phát triển cả về số lợng và chất
Trang 15lợng Quá trình phát triển của văn xuôi viết về đề tài lịch trong văn học ViệtNam hiện đại có thể chia làm 3 giai đoạn (giai đoạn đầu thế kỷ XX - 1945, giai
đoạn 1945 - 1975, giai đoạn từ 1975 đến nay) tơng ứng với những đặc trng riêngcủa mảng văn học này trong từng thời kỳ
1.2.1 Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945
Trong giai đoạn này văn xuôi viết về đề tài lịch phát triển mạnh mẽ với sốlợng tác phẩm lớn và gặt hái đợc khá nhiều thành công Hàng loạt tác phẩm nổi
tiếng nh “Trùng Quang tâm sử” (Phan Bội Châu), “Tiếng sấm đêm đông”, “Bà
Triệu ẩu”, “Hai Bà đánh giặc” (Nguyễn Tử Siêu), “Ai lên phố cát”, “Cái hột mận” (Lan Khai), “Hòm đựng ngời”, “Loạn kiêu binh”, “Bà chúa Chè” (Nguyễn
Triệu Luật), “An T”, “Đêm hội Long Trì” (Nguyễn Huy Tởng), “Lịch sử Đề
Thám”, “Gia Định tổng trấn tả quân Lê Văn Duyệt” (Ngô Tất Tố), “Tiêu Sơn tráng sĩ ” (Khái Hng) đã khẳng định vị trí của văn xuôi viết về đề tài lịch sử
trong tiến trình vận động, phát triển của văn học dân tộc Nhìn chung văn xuôiviết về đề tài lịch sử giai đoạn này có hai dạng chính Hai thập kỷ đầu, tác phẩmviết về đề tài lịch sử xuất hiện chủ yếu ở miền Nam và có tính chất “ngoại sử”,
tiêu biểu là “Phan yên ngoại sử - Tiết phụ gian truân” (1910) của Trơng Duy Toản, “Oán hồng quần Phùng Kim Huê ngoại sử” (1920), “Tô Huệ Nhi ngoại
sử” (1920) của Lê Hoằng Mu ở các tác phẩm này lịch sử chỉ đợc dùng nh cái
nền để tác giả đi sâu vào miêu tả đời t của cá nhân, của con ngời cụ thể không
có thật trong lịch sử “Phan yên ngoại sử - Tiết phụ gian truân” của Trơng Duy
Toản kể lại nỗi gian khổ của cặp tình nhân Vơng Thế Trân và Nha Khả ái, cuốicùng đợc sum họp một nhà Tác phẩm lấy thời Nguyễn - Tây Sơn làm khungcảnh nhng các nhân vật đều h cấu, không có thật Với tác phẩm này Trơng DuyToản đã gián tiếp cổ vũ động viên cho phong trào chống Pháp của các sĩ phu và
nhân dân ta hồi bấy giờ “Oán hồng quần Phùng Kim Huê ngoại sử” lại lấy bối
cảnh thời Pháp đô hộ, kể về cuộc đời chìm nổi của Phùng Kim Huê Các tácphẩm ngoại sử này cốt truyện đều rút từ thực tế xã hội đơng thời Cuối nhữngnăm 20, đặc biệt là trong những năm 30 của thế kỷ XX, văn xuôi viết về đề tàilịch sử đã phát triển nhanh chóng ở miền Bắc và đi theo hớng “dã sử” Đặc điểmcủa tác phẩm mang tính chất “dã sử” là có nhân vật chính là những anh hùngdân tộc, nhân vật có thật trong lịch sử Sự thay đổi này là do ảnh hởng của
những tiểu thuyết dịch Trung Quốc mang tính “dân tộc” nh “Hồi trống tự do”,
“Hồng Tú Toàn”, “Trung Hoa quang phục” Đây cũng là thời kì phong trào
yêu nớc dâng cao mạnh mẽ trong cả nớc, các nhà văn tìm đến đề tài lịch sử để
Trang 16biểu hiện lòng yêu nớc của mình đồng thời cổ vũ lòng yêu nớc của nhân dân Sốlợng tác phẩm viết về đề tài lịch sử giai đoạn này chiếm số lợng lớn trong tổng
số tác phẩm văn xuôi viết về đề tài lịch sử của văn học Việt Nam thế kỷ XX.Nhiều tác giả xem đây là đề tài chính trong sáng tác của mình Nhìn chung, vănxuôi viết về đề tài lịch sử của giai đoạn này vẫn chịu ảnh hởng sâu sắc của hìnhthức kể chuyện chơng hồi, kết cấu thời gian đơn tuyến, miêu tả ngoại hình đểkhắc họa tính cách nhân vật, ngời kể chuyện ở ngôi thứ ba, ngôn ngữ biền ngẫu,kết thúc có hậu Tuy nhiên cũng phải nhận thấy những tác phẩm này đã có sựchuyển biến rõ rệt theo tinh thần hiện đại Nhiều tác giả đã chú ý đến nghệ thuậttiểu thuyết, không khí và màu sắc lịch sử đợc trình bày trên cơ sở tôn trọng sử
liệu, đã có sự kết hợp giữa tính chân thực lịch sử với h cấu tởng tợng “Đêm hội
Long Trì ” của Nguyễn Huy Tởng đã xây dựng thành công một loạt nhân vật
hoàn toàn h cấu nh Bảo Kim, Quỳnh Hoa, Nguyễn Mại bên cạnh những nhânvật có thực trong sử sách nh Trịnh Sâm, Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu Lân Phan
Bội Châu trong “Trùng Quang tâm sử” cũng sáng tạo những nhân vật h cấu khá
ấn tợng nh anh Phấn, cô Chí Nhiều nhân vật đợc các nhà văn phân tích, khaithác ở khía cạnh tâm lý, tính cách, mang dáng dấp của nhân vật tiểu thuyết hiện
đại Nhân vật Trịnh Sâm trong “Đêm hội Long Trì” đợc đánh giá bằng cái nhìn
cảm thông, thơng hại Trong con ngời ông chứa đầy mâu thuẫn Ông mê đắmnhan sắc Đặng Thị Huệ nhng cũng rất thơng con, không nỡ làm theo đòi hỏi củaHuệ ép gả con cho Đặng Lân; là ngời nhu nhợc nhng biết chọn ngời hiền tài
Trong “Bà chúa Chè”, Nguyễn Triệu Luật đã khắc họa khá thành công tính cách
của Đặng Thị Huệ, ngời đàn bà không chịu làm “con công giữa bầy gà” màchọn cách sống quyết liệt để đạt đợc những điều mong muốn Những chi tiếtnày dù còn ít ỏi nhng đã thể hiện sự sáng tạo rất đáng trân trọng của các tác giảviết về đề tài lịch sử giai đoạn này
Trong hoàn cảnh đất nớc bị giặc ngoại xâm, các nhà văn bằng nhữngtrang viết của mình đều góp một tiếng nói nhằm nhóm lên ngọn lửa sục sôi vì n-
ớc trong lòng nhân dân Vì thế nội dung chính trong tác phẩm văn xuôi viết về
đề tài lịch sử giai đoạn này là ca ngợi lịch sử dân tộc và con ngời Việt Nam anhhùng, qua đó đánh thức hiện tại, khích lệ lòng yêu nớc, yêu quê hơng, lòng tựhào dân tộc của ngời đọc Các tác phẩm thờng lấy một cuộc kháng chiến chốngngoại xâm hoặc hình tợng một ngời anh hùng làm trung tâm Bên cạnh cảmhứng lịch sử và dân tộc, trong văn xuôi viết về đề tài lịch sử còn xuất hiện cảm
hứng đạo đức - thế sự Các tác phẩm “Đêm hội Long Tri” của Nguyễn Huy
Trang 17T-ởng, “Cái hột mận” của Lan Khai, “Bà chúa Chè” của Nguyễn Triệu Luật, “Bà
Quận Mỹ” của Chu Thiên là những ví dụ “Bà Quận Mỹ” viết về duyên tình
giữa quận chúa Bạch Lan và danh tớng Bùi Văn Khuê trong khung cảnh chiếntranh Lê - Mạc Bùi Văn Khuê bị bạn phản bội giết chết, Bạch Lan tự tử Tácphẩm đặt ra vấn đề gái sắc trai tài trớc những va đập của quyền lực và nhân tâm
đen tối Tác phẩm “Cái hột mận” kể về mối tình tay ba, đơn phơng và thủ đoạn,
trắc trở và thơ mộng giữa Dơng Phi - vợ Ngoạ Triều với Lý Công Uẩn và BộiNgọc Tác phẩm hấp dẫn nhờ những trang viết về bạo chúa rất sắc sảo, ly kỳ,rùng rợn, giàu màu sắc giang hồ hiệp nghĩa Cùng viết về một giai đoạn lịch sửnhiều biến cố đặc biệt - thời chúa Trịnh Sâm với sự xuất hiện của ngời đàn bàtuyệt sắc làm chao đảo kinh thành - nhng mỗi tác phẩm lại khai thác một khía
cạnh khác nhau “Bà chúa Chè” tập trung miêu tả tính cách của Đăng Thị Huệ
từ lúc còn là một cô thôn nữ hái chè cho đến khi đợc chúa Trịnh sủng ái, làm malàm gió chốn cung đình và cuối cùng thanh thản nhận cái chết nh là kết quả biết
trớc của một cuộc chơi Trong “Đêm hội Long Trì”, chuyện mê đắm mù quáng
tuyên phi Đặng Thị Huệ của chúa Trịnh làm nền cho mối tình đẹp đẽ của đôitrai tài gái sắc Quỳnh Hoa - Bảo Kim Mối tình này đã đối lập với sự lộng hànhcủa Đặng Mậu Lân dâm đãng, thô bỉ, cậy thế làm càn Truyện kết thúc có hậu,thể hiện thái độ bất bình đối với thế lực bạo tàn, xấu xa và khát vọng chân lý củangời dân Đây cũng là những tác phẩm viết theo khuynh hớng lãng mạn Tiểu
biểu nhất cho khuynh hớng này là Khái Hng với “Tiêu Sơn tráng sĩ”, Chu Thiên với “Thoát cung vua Mạc” Nh vậy, phần lớn các tác giả đã biết dựa vào các t
liệu lịch sử để làm sống lại những thời kỳ lịch sử đã qua nhng vẫn có một số tácphẩm quá lệ thuộc vào sự kiện, nghiêng về ký sự lịch sử, khảo cứu lịch sử nh tácphẩm của Đào Trinh Nhất, Phan Trần Chúc ở Nam Bộ, văn xuôi viết về đề tàilịch sử thời kỳ này thấm đẫm đạo lý Các tác phẩm không miêu tả tình hìnhphức tạp của cuộc đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, không phản ánhnhững mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị mà chỉ mợn bối cảnh lịch sử để
thể hiện quan hệ giữa con ngời với con ngời Tiêu biểu là tác phẩm “Giọt máu
chung tình” của Tân Dân Tử, “Nam cực tinh huy”, “Nặng gánh cang thờng” của
Hồ Biểu Chánh
1.2.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1975
Trong những năm 1945 - 1975, văn học Việt Nam phát triển trong hoàncảnh đất nớc có chiến tranh Văn học lúc này giữ vai trò quan trọng trong sựnghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa: “Văn hoá văn nghệ
Trang 18cũng là một mặt trận Anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận ấy” (Hồ Chí Minh).Hiện thực đời sống kháng chiến trở thành đối tợng trung tâm của văn học Bởivậy mảng văn xuôi viết về đề tài lịch sử tạm thời lắng xuống Phải đến nhữngnăm 60, 70 tác phẩm viết về đề tài lịch sử mới xuất hiện trở lại với những tác giả
tiêu biểu nh Hà Ân (“Quân He khởi nghĩa”, “Trên sông truyền hịch”) Chu Thiên (“Bóng nớc hồ Gơm”), Nguyễn Huy Tởng (“Lá cờ thêu sáu chữ vàng” “Kể
chuyện Quang Trung”) Cảm hứng chủ đạo của các tác phẩm này là ngợi ca
truyền thống anh hùng của dân tộc qua các cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm vàchống lại triều đình phong kiến thối nát Văn xuôi viết về đề tài lịch sử giai đoạnnày phát triển không rầm rộ nh ở nửa đầu thế kỷ nhng đã đạt không ít thànhcông Hầu hết các nhà văn đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sử liệu với h cấu
để dựng nên không khí của thời đại, sáng tạo những hình tợng lịch sử sinh động
Truyện “Quân He khởi nghĩa” khắc họa sinh động hình ảnh ngời anh hùng
Nguyễn Hữu Cầu Đó là con ngời luôn nghĩ đến hạnh phúc, ấm no của ngời dân.Qua tác phẩm, Hà Ân muốn thể hiện thái độ trân trọng đối với ngời anh hùng áo
vải có nghĩa khí, có lòng yêu nớc thơng dân sâu sắc Truyện “Tổ Quốc kêu gọi”
(Hà Ân) dựng lại bối cảnh xã hội những năm đầu thế kỷ đầy biến động vớichính sách khai thác ráo riết của thực dân Pháp Bên cạnh các chi tiết có thậttrong lịch sử, nhà văn đã điều chỉnh các chi tiết để tạo cho cuộc khởi nghĩa mộttính cách toàn diện và hoàn chỉnh hơn Bên cạnh những nhân vật lịch sử “chânthực” còn có những nhân vật lịch sử đợc miêu tả hoàn toàn khác lạ so với bảnthân họ trong chính sử, sinh động và có sức sống nội tại Họ đã từ trang sách b -
ớc vào đời, trở thành nhân vật mang giá trị điển hình cao Đó là những tác phẩm
nh “Nỏ thần” (Tô Hoài), “Vợ ngời thủ lĩnh” (Lý Thị Trung), “Quận He khởi
nghĩa”, “Tớng quân Nguyễn Chích”, “Nguyễn Trung Trực” (Hà Ân)
Nhìn chung văn xuôi viết về đề tài lịch sử của giai đoạn này vẫn cha có sựcách tân đáng kể về t tởng và bút pháp Các nhà văn còn chịu sự chi phối sâu sắccách nghĩ của quan niệm truyền thống về văn chơng Cách viết của họ là trungthành tuyệt đối với các sự kiện lịch sử đã qua và khơi gợi trong lòng ngời đọcnhững tình cảm tốt đẹp về truyền thống dân tộc Nhân vật lịch sử chủ yếu đợcmiêu tả ở hoạt động Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử đợc coi nh những phơng
tiện để giáo dục đạo đức Trong lời giới thiệu cuốn “Quận He khởi nghĩa” của
Hà Ân, Mỹ Lơng Bình nhận xét:
Đây là loại hình có tác dụng mạnh trong giáo dục t cách cho quầnchúng, nó đem kiến thức lịch sử cho ngời đọc, không bằng dữ liệu, số
Trang 19liệu mà bằng con đờng tình cảm Nó dùng nghệ thuật sáng tạo, hình
ảnh văn học để làm rung động ngời đọc, làm cho ngời đọc thông hiểulịch sử thông qua thởng thức cái hay, cái đẹp của văn học nghệ thuật[3]
Từ sau 1975 cho đến những năm 90 của thế kỉ XX, lối viết này vẫn còn in
đậm trong các sáng tác của Thái Vũ, Ngô văn Phú, Hà Ân
1.3 Những điều kiện tạo nên bớc phát triển của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt nam sau 1975
1.3.1 Những thay đổi trong việc xác định con đờng phát triển của đất ớc
n-Sau đại thắng mùa xuân năm 1975 nhân dân Việt Nam đã phải đối mặtvới những khó khăn chồng chất của thời kỳ hậu chiến Nền kinh tế nghèo nàn,lạc hậu, trì trệ, đờng lối, chính sách của Đảng còn nhiều chỗ khiếm khuyết Vừathắng đế quốc Mỹ, nhân dân Việt Nam lại tiếp tục phải đơng đầu với âm muchống phá của bọn diệt chủng Pôn Pốt và nớc láng giềng Trung Quốc Trớc tìnhhình ấy Đảng ta đã nhiều lần tổ chức các hội nghị nhằm đa ra những sách lợcbình ổn tình hình kinh tế, chính trị trong nớc Đặc biệt đại hội VI của Đảng(tháng 12/1986) đợc coi là đại hội có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu một b-
ớc ngoặt trong đờng lối lãnh đạo, mở ra thời kỳ phát triển mới cho cách mạngViệt Nam Đảng ta chủ trơng xây dựng nền kinh tế mở, vận hành theo cơ chế thịtrờng, hội nhập với nền kinh tế thế giới Đảng cũng khuyến khích toàn Đảng,toàn dân đổi mới t duy, nhìn thẳng vào sự thật Những định hớng đúng đắn trong
đờng lối phát triển đã làm cho đời sống nhân dân đợc cải thiện Tuy nhiên, làngió đổi mới cùng với nền kinh tế thị trờng, bên cạnh việc đa nền kinh tế đất nớc
đi lên cũng bộc lộ những mặt trái của nó Văn học là một bộ phận hết sức nhạycảm, trớc những đổi thay của đất nớc, các nhà văn cũng đã nhanh chóng tự đổimới mình để đáp ứng yêu cầu của thời đại, hoà nhập vào nền văn học thế giới
1.3.2 Những nhận thức mới về vai trò và sứ mệnh của văn học nghệ thuật
Ra đời trong hoàn cảnh đất nớc có chiến tranh, văn học Việt Nam giai
đoạn 1945 - 1975 đợc xem là vũ khí t tởng sắc bén và lợi hại phục vụ các mụctiêu và đáp ứng các yêu cầu của cách mạng “Văn học nghệ thuật cũng là mộtmặt trận Anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận ấy” (Chủ tịch Hồ Chí Minh) - đó
là chân lý hiển nhiên về vị trí của văn học nghệ thật và vai trò của ngời nghệ sỹ
Trang 20mà không một ngời nghệ sỹ chân chính nào không thừa nhận Nam Cao trong
“Đờng vô Nam” (năm 1946) viết: “Cây bút của tôi bất lực Nó không khạc ra
lửa và ra đạn nh cây súng Các bạn tôi cũng đều thấy na ná nh tôi Họ đều thấyrằng bàn tay họ cha cầm súng một phen thì cầm bút cũng vụng về” Sau chiếnthắng lịch sử ngày 30/4/1975 lịch sử Việt Nam đã bớc sang trang mới Đất nớcbớc vào thời kỳ hoà bình, xây dựng và phát triển Cuộc sống của dân tộc và mọigia đình dần trở lại với những qui luật bình thờng của nó Con ngời trở về vớimuôn mặt đời thờng, phải đối mặt với rất nhiều khó khăn vất vả đầy biến động
và đổi thay của thời kỳ hậu chiến kéo dài từ 1975 - 1985 Hoàn cảnh xã hội mới
đặt ra yêu cầu cần phải có những nhận thức mới về vai trò và sứ mệnh của vănhọc nghệ thuật Xã hội và thời đại ngày nay vẫn xem văn học là vũ khí t tởngquan trọng của Đảng nhng nó còn đợc nhấn mạnh thêm ở sức khám phá thực tại,
ở vai trò dự báo, dự cảm Điều này đã đợc khẳng định ở Đại hội lần thứ VI của
Đảng: “Không hình thái t tởng nào có thể thay thế đợc văn học và nghệ thuậttrong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếpnghĩ, nếp sống của con ngời”, và Nghị quyết 05 của Bộ chính trị ban chấp hànhtrung ơng khoá VI: “Văn nghệ nớc ta càng phải đổi mới, đổi mới t duy, đổi mớicách nghĩ, cách làm”, văn nghệ phải trở thành “Tiếng nói đầy trách nhiệm, trungthực, tự do, tiếng nói của sự thật, của lơng tri, của tinh thần nhân đạo cộng sảnchủ nghĩa , phát huy chức năng hiểu biết, khám phá, dự báo, sáng tạo, nắm bắtnhạy bén hiện thực đang diễn ra”(Nghị quyết 05 của Bộ chính trị Ban chấp hànhTrung ơng khóa VI) Nghị quyết 05 của Bộ chính trị đã tạo đà cho văn học pháttriển, mang những tố chất mới so với thời kỳ trớc Trong buổi nói chuyện vớicác văn nghệ sĩ (ngày 6/7/1987) Tổng bí th Đảng cộng sản Việt Nam NguyễnVăn Linh đã khuyến khích các văn nghệ sĩ thay đổi t duy, nhìn thẳng vào cuộcsống, nói thật mọi vấn đề của cuộc sống Sự kiện này thể hiện quan điểm thôngthoáng của Đảng đối với văn học nghệ thuật, giúp các nhà văn tự tin hơn vớinhững vấn đề mình suy nghĩ Nhờ vậy không khí sáng tác văn học sôi nổi vàdân chủ hơn Nhà văn đợc tự do thể hiện tài năng sáng tạo của mình Họ dámnhìn thẳng vào vấn đề gai góc của cuộc sống, lên tiếng đấu tranh chống cái ác,cái xấu
Thời kỳ 1945- 1975, đợc đánh giá cao nhất là những tác phẩm viết về đềtài chiến tranh, ca ngợi lòng dũng cảm, cái cao cả, cái đẹp, lòng thuỷ chung Sau
1975 trong quan niệm của các nhà văn đã có sự thay đổi mọi vấn đề của cuộc
Trang 21sống hay nói cách khác tất cả những gì liên quan đến con ngời đều đợc các nhàvăn quan tâm và đa vào văn học.
1.3.3 ảnh hởng tích cực của việc giao lu văn học
Giao lu là qui luật của sự phát triển trong xã hội văn minh Thời đại bùng
nổ thông tin hiện nay không cho phép một dân tộc nào có thể sống trong tìnhtrạng phong bế về văn hoá Đặc biệt, Việt Nam lại nằm trong khu vực giao thoagiữa các nền văn minh phơng Đông và phơng Tây, chịu tác động trực tiếp củacác quan hệ quốc tế vừa phong phú, hấp dẫn, vừa gay gắt, phức tạp Việc mởrộng giao lu với nớc ngoài đã có tác động tích cực đến mọi mặt của đời sống xãhội, trong đó có văn học Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam có thể thấy quátrình giao lu tiếp xúc đã mang đến sự biến đổi to lớn về cấu trúc và phẩm chấtcủa nền văn học Hơn một ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam ta đã biết từchối những ảnh hởng tiêu cực để giữ cốt cách văn hoá dân tộc, đồng thời tiếpthu những giá trị tinh hoa u việt của họ Chúng ta đã tiếp thu hệ thống thể loại
và thi pháp của nền văn học Trung Hoa, sáng tạo lại trên tinh thần dân tộc, tạonên nền văn học trung đại Việt Nam phát triển đa dạng, phong phú Tiếp xúc vớivăn học châu Âu đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam đợc nhập vào quỹ đạo củavăn học hiện đại thế giới Cuộc tiếp xúc này đã tạo nên “một thời đại trong thica” Việt Nam Lần đầu tiên, “cái tôi” cá nhân xuất hiện, thay thế cho “cái ta”của văn học cũ Kho tàng văn học Việt Nam tiếp nhận thêm những sản phẩmmới nh thơ mới, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, ký, trờng ca Nhận thức đợc vaitrò quan trọng của giao lu, hợp tác quốc tế, bớc vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam
đã thực hiện chính sách mở cửa với phơng châm: Việt Nam muốn là bạn với tấtcả các nớc trên thế giới Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV, Ban chấp hành Trung -
ơng Đảng khoá VII đề ra yêu cầu: “Phát triển văn hoá với nớc ngoài, tiếp thunhững tinh hoa của nhân loại, làm giàu đẹp thêm nền văn hoá Việt Nam Ngănchặn và đấu tranh chống xâm nhập của các loại văn hoá độc hại, bảo vệ văn hoádân tộc” Nhờ chính sách cởi mở và đúng đắn đó, văn học Việt Nam có cơ hội
đợc gia nhập ngôi nhà chung của văn học thế giới Các cuộc giao lu văn họcgiữa Việt Nam với văn học các nớc trên thế giới đợc tổ chức thờng xuyên giúpnền văn học của chúng ta xích lại gần các nớc hơn Đây cũng là cơ hội để chúng
ta tự nhận lại mình, đánh giá đúng khả năng, vị trí của mình Giao lu văn họclàm cho bức tranh dịch thuật của Việt Nam sáng sủa, khởi sắc hơn Cách đâynửa thế kỷ, do yêu cầu của chiến tranh, cả nớc dồn sức cho tiền tuyến, chúng ta
Trang 22luôn phải đề phòng âm mu chống phá của kẻ thù trên nhiều mặt trận, trong đó
có mặt trận văn hoá nên tỏ ra quá thận trọng trong việc tiếp nhận văn học nớcngoài Trong suốt một thời gian dài, chúng ta hớng tới nền văn học các nớcthuộc phe chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là văn học Xô Viết Độc giả Việt Nam hầu
nh chỉ biết đến Puskin, L.Tônxtôi, A.Tônxtôi, Gôgôn, M Gorki, M Sôlôkhốp,
Lỗ Tấn và xem nh đó là tất cả thế giới Đổi mới đã đa văn nghệ ra khỏi chiếckhung chật hẹp với những chế định khắt khe Nhiều tác phẩm trớc đây bị quykết là có vấn đề, bị phê phán kịch liệt nay đợc nhìn nhận lại Chúng ta biết đếnvăn học Xô Viết không chỉ ở những tác phẩm viết về chiến tranh, cách mạng mà
còn biết đến những tác phẩm kiệt xuất nh “Đoạn đầu đài” của Tr.Amatốp,
“Những đứa con phố Arbat” của A.Rybakov Văn học các nớc t bản chủ nghĩa
và các nớc thuộc thế giới thứ ba cũng đợc chú ý với các tên tuổi M.Frisch,A.Moravia, R.Durrenmat, Hemingway Nhiều tác phẩm mới ra lò đã nhanhchóng xuất hiện ở Việt Nam Chúng ta cũng đợc thởng thức kịp thời các tácphẩm đạt giải Nobel ngay sau khi nó đợc công bố Trong giải thởng thờng niêncủa Hội nhà văn, nhiều tác phẩm văn học dịch đã đợc trao giải chứng tỏ văn họcdịch đang đợc quan tâm đích đáng
Việc mở rộng giao lu, hợp tác với các nớc giúp các nhà văn mở rộng tầmnhìn, đợc tiếp xúc với những công trình lý thuyết lớn trên thế giới Không ítcông trình nghiên cứu, lý luận, không ít trào lu, khuynh hớng văn học nổi tiếngcủa thế giới đợc giới thiệu Lý luận tiểu thuyết của M.Bakhtin, lý thuyết của chủnghĩa hình thức Nga, của trờng phái văn hoá lịch sử, của chủ nghĩa cấu trúc, củachủ nghĩa hậu hiện đại đã trở thành những nhân tố tích cực thúc đẩy sự pháttriển của hoạt động nghiên cứu, phê bình, góp phần giúp các nhà văn xác định
đợc đờng hớng sáng tác, bắt nhịp đợc vào sự vận động chung của thế giới Thời
đại công nghệ thông tin với sự phát triển mạnh mẽ của các phơng tiện thông tin
đã tạo điều kiện thuận lợi cho văn học Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc
tế Các website văn học giúp chúng ta có thể nắm bắt đợc tình hình thời sự vănhọc thế giới một cách nhanh chóng nhất Ngoài ra, còn có hàng loạt tạp chí vănhọc, tạp chí chuyên ngành xã hội, các mục bài trên các báo, phơng tiện truyềnthông luôn đa tin về hoạt động văn học
Nhờ chính sách mở cửa, mối quan hệ giữa văn học trong nớc và văn họchải ngoại đợc xây dựng Các nhà văn Việt Nam ở nớc ngoài là những ngời trựctiếp tiếp thu hệ t tởng và thành tựu văn học của các nớc Tác phẩm của các nhàvăn này, kể cả những ngời trớc đây bị đánh giá là lệch lạc về t tởng đợc xuất bản
Trang 23thuận lợi trong nớc Họ là một trong những chiếc cầu nối đa văn học Việt Namhội nhập với văn học thế giới.
Giao lu văn học đã đem đến sự khởi sắc cho văn học Việt Nam Hội nhậpvào nền văn học quốc tế, chúng ta đợc tiếp thu thành tựu của văn học thế giớihiện đại, tạo nên sự mới lạ, khơi dậy khả năng sáng tạo của các nhà văn trong n-
ớc Văn học Việt Nam đã có những thay đổi lớn trong quan niệm sáng tác, quanniệm về cuộc sống và con ngời, về chức năng, vai trò của văn học, về vị trí củanhà văn Đây chính là nền tảng để các nhà văn chung thuỷ với đề tài lịch sửmạnh dạn đổi mới cách viết của mình
Chơng 2 Những hớng tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử
trong văn học Việt nam sau 1975 trên phơng diện nội dung
Trang 24“Nội dung” vốn là một phạm trù của triết học Trong văn học nội dung
đ-ợc coi là một trong hai phơng diện cơ bản của tác phẩm văn học Các nhànghiên cứu văn học quan niệm “nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống đợcphản ánh trong tác phẩm qua sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn”[30, tr.167] Nội dung trong tác phẩm gồm hai mặt: mặt khách quan (đề tài) vàmặt chủ quan (chủ đề, t tởng) Hai mặt này có mối quan hệ xuyên thấm vàonhau Nội dung tác phẩm bao giờ cũng đợc thể hiện bằng một hình thức tơngứng Sau 1975, văn xuôi viết về đề tài lịch sử có sự phục sinh với những hớngkhai thác mới trên phơng diện nội dung
2.1 Thay thế cảm hứng minh họa bằng cảm hứng nhận thức
2.1.1 Biểu hiện của cảm hứng minh họa và nguyên nhân chi phối nó
Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ suốt 30 năm đã đặt dân tộc tatrớc những thử thách đặc biệt Sự sống còn của đất nớc lúc này đòi hỏi phải huy
động toàn bộ sức ngời, sức của cho kháng chiến Ra đời trong hoàn cảnh ấy, vănhọc cũng đợc coi là một mặt trận Đại hội văn nghệ toàn quốc năm 1948 xác
định nhiệm vụ: “Văn nghệ phải ghi lấy cái sắc thái của xã hội Việt Nam đangbiến chuyển, phải hoà hợp với bớc đi của dân tộc đang tiến tới tơng lai Ghi đợccách nhìn, điệu cảm, lối nghĩ của những ngời kháng chiến, ghi đợc cái tình
kháng chiến” (Tạp chí Văn nghệ số 4/1948) Trên tinh thần ấy văn chơng thực
sự trở thành vũ khí sắc bén để chống giặc: “Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cờng quyền” (Sóng Hồng) Các nhà văn luôn theo sáttình hình chính trị, phục vụ chính trị, phản ánh kịp thời diễn biến của cuộckháng chiến, cổ vũ nhân dân trong lao động và trong chiến đấu Nhu cầu sángtạo của nhà văn trong sáng tác phải nhờng chỗ cho mục đích tuyên truyền nhnhà thơ Chế Lan Viên nói: “Thơ chỉ sống một phần cho mình, ba phần chonhiệm vụ” Do đó văn học giai đoạn này mang đậm tính thời sự và nổi trội tínhminh họa Các vấn đề chính trị trở thành nội dung chính của tác phẩm, và nhàvăn có nghĩa vụ tuyên truyền những quan điểm, đờng lối, chính sách của Đảng,phải “Bay theo đờng dân tộc đang bay - Nghĩ trong những điều Đảng nghĩ”(Chế Lan Viên) Điều này có thể giải thích vì sao văn học 1945 - 1975 lại hoàntoàn ăn nhập với bớc đi của cách mạng, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đấtnớc Do đề cao chức năng giáo dục của văn chơng, thiên về mục đích tuyêntruyền, ghi chép lại những chủ trơng, quan điểm của Đảng nên văn học giai
-đoạn này có sự hạn chế về đề tài và nghệ thuật xây dựng nhân vật Đề tài mà
Trang 25các tác giả hớng tới là đề tài kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc Nội dung tác phẩm nghiêng về phản ánh những thắng lợi của kháng chiến
và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Những tác phẩm nh “Màu tím hoa
sim” của Hữu Loan, “Tây Tiến” của Quang Dũng bị phê phán vì nói đến cái chết
và những tình cảm riêng t Lúc bấy giờ ngời ta yêu cầu chỉ phản ánh cái oaihùng, cái bi hùng không đợc chấp nhận Cũng do nhiệm vụ cổ vũ động viênnhân dân ra chiến trờng, công trờng nên con ngời trong giai đoạn văn học này đ-
ợc phản ánh khá đơn giản, một chiều Con ngời đợc phản ánh trong tác phẩm lànhững con ngời mới, con ngời anh hùng, đẹp một cách “hoàn thiện hoàn mĩ”
nh những viên ngọc không có tì vết Chị Trần Thị Lý đợc Tố Hữu ca ngợi nhmột huyền thoại: “Em là ai cô gái hay nàng tiên - Em có tuổi hay không có tuổi
- Mái tóc em hay là mây là suối - Thịt da em hay là sắt là đồng” (“Ngời con gái
Việt Nam”) Nhân vật Nguyệt trong truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng” của
Nguyễn Minh Châu thật khó có thể tìm thấy một khiếm khuyết nhỏ cả về hìnhthức và tâm hồn Nguyệt đẹp từ đầu đến chân, từ hình thức bên ngoài đến tâmhồn bên trong Nhân vật thờng đợc phân làm hai tuyến rõ rệt: một bên là conngời mới, con ngời anh hùng, một bên là con ngời lạc hậu, bảo thủ, cá nhân,phản động, rất hiếm thấy nhân vật có sự đan xen xấu tốt Các nhà văn mongmuốn xây dựng con ngời anh hùng trở thành những mẫu ngời lý tởng của thời
đại để gánh vác sứ mệnh lịch sử Đó cũng là những mẫu ngời mà dân tộc, nhândân ta muốn có để nêu gơng sáng cho mọi ngời học tập và noi theo Văn xuôiviết về đề tài lịch sử ra đời trong giai đoạn này mang tinh thần chung ấy của vănhọc kháng chiến Cảm hứng chủ đạo của các tác phẩm viết về đề tài lịch sử làngợi ca truyền thống anh hùng của dân tộc qua việc miêu tả các cuộc khởi nghĩa
chống ngoại xâm và chống lại triều đình phong kiến phản động, suy tàn “ Bóng
nớc Hồ Gơm” của Chu Thiên là cuốn tiểu thuyết “khá toàn bích trên phơng diện
phản ánh lịch sử” (dẫn theo [57, tr.12]) Tác phẩm ca ngợi tinh thần bất khuất
của sĩ phu Hà thành trớc sự xâm lăng của thực dân Pháp Tác phẩm “Quận He
khởi nghĩa ” của Hà Ân lại tập trung khắc họa hình ảnh Nguyễn Hữu Cầu và
phong trào khởi nghĩa do ông lãnh đạo chống lại quan quân nhà Trịnh Tiểu
thuyết “Biển động” của Thái Vũ tái hiện, ngợi ca cuộc khởi nghĩa Chày Vôi của
anh em Đoàn Trng, Đoàn Trực Các tác phẩm này thông qua việc tái hiện các
sự kiện lịch sử và ngời anh hùng trong quá khứ đã gián tiếp cổ vũ tinh thần yêunớc của nhân dân, động viên mọi ngời theo gơng các anh hùng đi trớc đứng lên
Trang 26tham gia kháng chiến giành độc lập cho dân tộc Tác phẩm văn xuôi viết về đềtài lịch sử giai đoạn này tuy không nhiều nhng nó đã hoàn thành nhiệm vụthiêng liêng mà đất nớc và thời đại giao phó, cùng với các thể tài khác góp phầnkhông nhỏ tạo nên chiến thắng của dân tộc trong công cuộc chống ngoại xâm.
Sự gia tăng cảm hứng minh hoạ trong văn học nói chung, văn xuôi viết về
đề tài lịch sử nói riêng đã kìm hãm khả năng sáng tạo của nhà văn, làm cho vănhọc đi trái với qui luật của nó là phản ánh hiện thực bằng hình tợng Hạn chếnày có nguyên nhân sâu xa của nó Văn học nghệ thuật giai đoạn 1945- 1975 đ-
ợc viết dới sự lãnh đạo của Đảng Nhận thức đợc tầm quan trọng của văn họcnghệ thuật đối với tâm lý của nhân dân các vị lãnh đạo văn nghệ và Đảng takhuyên văn nghệ sĩ: “Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là hai đề tài thiêng liêng vàcao cả của văn học hiện nay Văn học thời kỳ này thực sự trở thành một bứctranh chân thực, đẹp đẽ về lịch sử dân tộc” (Phạm Văn Đồng) Nhng mặt khác,
đứng về phía các nhà văn mà nói, văn học phục vụ chính trị cũng là nguồn cảmhứng chân thật của nhiều thế hệ nhà văn trong 30 năm này Nói cách khác, đây
là sự tự nguyện hết lòng của các văn nghệ sĩ với sự nghiệp cách mạng Nhà vănPhan Tứ phát biểu: “Không ai ép mình đi kháng chiến chống Pháp, không ai épmình đi kháng chiến chống Mỹ và cũng không ai ép mình viết về đề tài chiếntranh Tất cả đều do mình tự nguyện” Các văn nghệ sĩ đã hăm hở khoác ba lô rachiến trờng, xông pha nơi ma bom bão đạn, đến với những vùng quê mới, thâmnhập vào đời sống quần chúng công nông binh để phản ánh kịp thời, động viên,
cổ vũ nhân dân ta một cách hữu hiệu Mỗi nhà văn khoác trên vai mình nhiệm
vụ kép: nhà văn - chiến sĩ Trớc cách mạng Xuân Diệu viết: “Là thi sĩ nghĩa là
ru với gió - Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” Sau cách mạng, quan niệm về
vị trí của ngời nghệ sĩ của ông đã hoàn toàn thay đổi: “Tôi cùng xơng thịt vớinhân dân của tôi - Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu” Chế Lan Viên cảm nhận
về vị trí của mình; “Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ - Bên những chiến sĩ
đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi” Nhiều nhà văn không chuyêncũng tập sáng tác và cho ra đời những tác phẩm ghi chép, phản ánh Cảm hứngminh họa trong văn học 1945 -1975 còn do yêu cầu của độc giả thời chiến Ngời
đọc giai đoạn này mong muốn có đợc những tác phẩm phản ánh kịp thời khôngkhí chiến đấu và lao động sản xuất của nhân dân để khuyến khích, động viên họtham gia Đồng thời họ mong muốn có đợc những mẫu ngời lý tởng để học tập,noi theo Những nguyên nhân trên đã chi phối sâu sắc đến cảm hứng sáng táccủa nhà văn Do yêu cầu của thời đại, dân tộc và nhân dân, văn học nghệ thuật
Trang 27phải hy sinh phẩm chất sáng tạo của mình để phục vụ kháng chiến, bởi vậy cảmhứng minh họa trong văn học gia tăng và đợc chấp nhận Sau khi đất nớc đợcgiải phóng, nhân dân đợc sống trong hoà bình, văn học cũng đợc cởi trói, nhàvăn đợc tự do sáng tạo để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới Nguyễn Minh Châu
đọc “lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh hoạ”, đa văn học Việt Nam
sang một trang mới
2.2.2 Biểu hiện của cảm hứng nhận thức và vai trò tích cực của nó
2.2.2.1 Khả năng độc lập nhận thức của nhà văn
Văn học giai đoạn 1945 -1975 vận động theo xu hớng đại chúng hoá Tácphẩm đợc đề cao ở mục đích tuyên truyền, giáo dục Nhà văn đợc bao cấp về t t-ởng, viết theo sự định hớng của Đảng T tởng của tác phẩm là t tởng chung củatoàn dân tộc, nhà văn phải cố gắng viết làm sao cho “phải đạo” Bởi vậy, các tácphẩm văn học giai đoạn này thờng hao hao giống nhau, ít thấy dấu ấn riêng củatác giả Cách đánh giá sự kiện bao giờ cũng là “ta thắng, địch thua, niềm Bắc đ-
ợc mùa, miền Nam thắng lớn, thế giới chia làm hai phe rõ rệt” Trong môi trờng
ấy những nhà văn chân chính ít có cơ hội đợc lao động nghệ thuật thực sự Thời
kỳ đổi mới với không khí cởi mở, dân chủ đã tạo nên những bớc chuyển mìnhmạnh mẽ cho văn học Đợc Đảng “động viên khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòisáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm táo bạo và rộng rãitrong sáng tạo nghệ thuật và phát triển các loại hình và thể loại nghệ thuật, cáchình thức biểu hiện” (Nghị quyết 05 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ơngkhóa VI về văn hoá văn nghệ) các nhà văn đợc trả lại vị trí ngời nghệ sĩ - nhà t t-ởng, đợc tự do thể hiện phẩm chất nghệ sĩ của mình Văn học không còn là phátngôn chung của cộng đồng, dân tộc mà còn là phát ngôn riêng của mỗi nhà văn.Nhà văn đợc tự do đa ra cách nhìn riêng của mình về hiện thực xã hội và con ng-
ời Nhng họ không áp đặt cho ngời đọc những t tởng có sẵn đợc hình tợng hoá
mà mang đến cho ngời đọc bức tranh sinh động về cuộc sống thấm nhuần cảmxúc, suy nghĩ của mình, gợi ra cho họ, cùng họ thảo luận và để họ tự phán xét
ở đây, kinh nghiệm riêng của nhà văn vẫn giữ vai trò quyết định, tạo ra sự độc
đáo thẫm mỹ trong sáng tác Truyện ngắn “Mùa trái cóc ở miền Nam” là sự thể
hiện những trải nghiệm riêng của Nguyễn Minh Châu về sáng tác văn học:
Tôi biết trong và sau trận đánh lịch sử cuối cùng ấy đã chứa đựngbiết bao chuyện thật và chuyện giả dối đến đau lòng Cái sự thậtnghiệt ngã sẽ lắng đọng mãi mãi trong trí nhớ những thằng lính đang
Trang 28ngồi với tôi đây nhng nay mai sẽ mỗi ngời đi mỗi ngã Còn lịch sử viếtbằng văn bao giờ cũng trang trọng và sạch sẽ
Nhà văn Bảo Ninh trong “Nỗi buồn chiến tranh” có cách nhìn “cuộc
chiến tranh của riêng anh”, “không phải sử thi truyền thống” Chiến tranh trongquan niệm của ông là “những ngày đau thơng huy hoàng”, “Những ngày bấthạnh nhng chan chứa tình ngời”, “là gánh nặng bạo lực mà thân phận con sâu
cái kiến của ngời lính phải cõng trên lng đời đời kiếp kiếp”.
Các nhà văn viết về đề tài lịch sử sau 1975 cũng có quan niệm riêng củamình về lịch sử Đối với họ, lịch sử không chỉ là thế giới dành riêng cho các bậcvua chúa, không chỉ là những sự kiện hào hùng mà còn có cả những ngời dân vôdanh, bé nhỏ và những chuyện đời thờng xoay quanh cuộc sống của họ Các vịvua, chúa, tớng lĩnh cũng không chỉ có những mặt tốt đẹp, uy nghiêm, đĩnh đạc
nh bề ngoài họ thể hiện Bên cạnh con ngời “bị lịch sử lựa chọn ” họ còn là một
con ngời sinh học cũng biết vui, buồn, cũng khao khát quyền lực và đam mê sắcdục Họ đạt đợc thành công rực rỡ trong sự nghiệp nhng cũng không ít lần bấtlực với chính mình, rơi vào bi kịch, cảm thấy cô đơn, trống trải Và chúng tacũng không thể khẳng định rằng trong suốt cuộc đời họ không bao giờ ích kỉgây tổn thơng cho ngời khác, tay họ cha một lần nhúng chàm, cha từng suy nghĩhoặc hành động ác Nguyễn Huệ dới con mắt của Nam Dao, Nguyễn MộngGiác, Trần Vũ đợc đánh giá cao ở tài thao lợc, ở t tởng đổi mới, là một vị minhquân nhng cũng có những tật xấu nh nói năng thô lỗ, cuồng dâm, luôn cảm thấycô đơn vì có một thứ quyền lực đã đẩy ông dần xa mọi ngời Chúng ta vẫn tựhào về vị nguyên phi nhà Lý - ỷ Lan, ngời đàn bà tài giỏi, khôn khéo, đảm đang
đã giúp vua cai trị đất nớc nhng ai hay chính bà lại đã từng hành động rất tànnhẫn: bức tử Hoàng hậu họ Dơng và chôn 76 cung nữ theo nhà vua Hành động
đó đã khiến hậu thế không khỏi băn khoăn nghi ngờ về con ngời thực của bà Các tác giả viết về đề tài lịch sử đã không xây dựng nhân vật theo mô hình cứngnhắc nh sử sách đã nói Họ đặt nhân vật trong những mối quan hệ khác nhau, d-
ới nhiều góc nhìn để xây dựng đợc những hình tợng sống động, chân thực,thuyết phục cả những ngời đọc khó tính nhất, và điều quan trọng là giúp ta cócái nhìn đầy đủ, khách quan hơn đối với các nhân vật lịch sử
Bản chất của văn học là sáng tạo và yêu cầu phải có đối với một nhà văn
đích thực là phải đem lại cái nhìn mới về cuộc sống Một thời do yêu cầu của
Trang 29cuộc kháng chiến cứu quốc các nhà văn đã phải cố ép mình viết theo nhữngkhuôn mẫu nhất định, t tởng chủ quan của chủ thể sáng tạo phải nhờng chỗ chỗcho đối tợng khách quan Bởi vậy, họ “Cứ viết là cảm thấy áng văn của mình tẻnhạt, hời hợt, vụn vặt, vì chính ngời viết còn cha hiểu nổi nhân vật của mình Họthuộc về một lớp ngời khác và có lúc tôi đã nghĩ họ ở một cái tầm khác”
(Nguyễn Khải - “ Họ đã sống và chiến đấu” ) Ngày nay không khí đổi mới đã
giúp các nhà văn ý thức rõ hơn đặc thù của nghề nghiệp Họ là một công dân nghệ sĩ, nhà văn - nhà t tởng Nhà văn chỉ có thể xác lập đợc chỗ đứng củamình, không bị đồng nhất với những cá nhân khác khi anh ta tạo ra đợc phongcách riêng Nhà văn Nam Cao đã từng nói: “văn chơng không cần đến những ng-
-ời thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đa cho Văn chơng chỉ dung nạpnhững ngời biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn cha ai khơi và sáng tạo
những gì cha có” (“Đời thừa”) L.Tônxtôi cũng khẳng định: “Nghệ thuật và kính
hiển vi mà nghệ sĩ soi vào những bí ẩn của tâm hồn mình và trình bày những bí
ẩn chung cho tất cả mọi ngời” (Nguyễn Hải Hà, Thi pháp tiểu thuyết L.Tônxtôi).
Đóng góp của nhà văn cho nền văn học đợc đánh giá ở sự sáng tạo, ở nhữngphát hiện mới đợc thể hiện trong tác phẩm Cá tính sáng tạo của ngời nghệ sĩchính là thớc đo tài năng và khả năng cống hiến của anh ta cho nghệ thuật Việctạo nên tiếng nói riêng của tác giả trong sản phẩm sáng tạo của mình đợc coi là
đặc điểm tiêu biểu của một nghệ sĩ chân chính: “Cái quan trọng trong tài năngvăn học và tôi nghĩ rằng cũng có thể trong bất kì một tài năng nào, là cái màtôi muốn gọi là tiếng nói của mình, cái quan trọng là cái giọng riêng biệt củachính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một ngời nào khác”(dẫn theo [40, tr.90])
Ngời nghệ sĩ đợc trời phú cho những năng lực đặc biệt nh sự nhạy cảm
tr-ớc những vấn đề của cuộc sống, trí tởng tợng phong phú và khả năng quan sáttinh tế Họ không cần đợi ai chỉ dạy mà hoàn toàn có khả năng nhận thức vềcuộc sống bằng sự mẫn cảm của mình Những phẩm chất năng lực đặc biệt nàygiúp nhà văn thấy những điều mà ngời thờng khó thấy, nh Đôpgiencô nói: “Haingời cùng nhìn xuống, một ngời chỉ nhìn thấy vũng nớc, ngời kia lại thấy đợc
những vì sao” Những điều nhà văn đa ra bằng sự cảm nhận chủ quan của mình
có khi lại có sức thuyết phục ngời khác hơn, làm cho nhiều ngời tỉnh ngộ Khả
Trang 30năng đó đã đợc chứng thực qua lịch sử văn học Thực tế cho thấy nhiều tácphẩm cho ta những hiểu biết về đời sống xã hội, khát khao về đời sống cá nhân
hơn cả những t liệu khác Bộ “Tấn trò đời” của H.Balzac đợc Ăng ghen xem nh
bộ bách khoa về cuộc sống: “xung quanh bức tranh trung tâm này Bandăc tậptrung toàn bộ nớc Pháp, trong đó ngay cả về phơng diện các chi tiết kinh tế, tôicũng đã biết đợc nhiều hơn ( ) các sách của tất cả các chuyên gia, các nhà sử
học, kinh tế học, thống kê học thời ông cộng lại” (dẫn theo [49, tr248]) “Truyện
Kiều” của Nguyễn Du không chỉ là bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại nhà
thơ sống mà đó còn là “một bách khoa th của muôn vàn tâm trạng” Viết về đề
tài lịch sử, các nhà văn nh Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Vũ,Nguyễn Xuân Khánh đã đem đến những sáng tạo đích thực, với cái nhìn mới
mẻ về lịch sử Bằng sự cảm nhận tinh tế, nhạy bén đối với các vấn đề quá khứcác nhà văn này đã đem lại cho độc giả những hiểu biết mới về lịch sử, có sự đối
thoại, “nhận thức lại” quá khứ và gợi mối liên hệ với các vấn đề hiện tại nh vấn
đề sử dụng trí thức, vấn đề đổi mới, vấn đề xác định con đờng phát triển của đấtnớc Trong quá trình sáng tác, nhà văn có thể cần đến sự hỗ trợ, chắp cánh củacác yếu tố khác nhng điều đó không thay thế đợc sự sáng tạo, bản lĩnh của ngờiviết Họ sẽ tự đánh mất mình nếu lệ thuộc vào những chất liệu có sẵn
2.1.2.2 Sự đam mê của nhà văn đối với việc khám phá những vùng khuất tối của lịch sử
Nh đã nói ở trên, khả năng độc lập nhận thức là phẩm chất đặc biệt mànhà văn nào cũng có Tuy nhiên không phải lúc nào nó cũng đợc thể hiện và
đem lại hiệu quả cao mà còn phụ thuộc vào tính cách, sở thích, bản lĩnh củatừng ngời Chỉ khi nào gặp khó khăn hay rơi vào tình huống đặc biệt ngời ta mới
đánh giá hết đợc năng lực của họ Thực tế cho thấy sự lựa chọn đề sáng tác củacác nhà văn là không giống nhau Ngời này thích viết về nông thôn, ngời kiathích viết về miền núi, có ngời lại chọn đô thị làm nguồn cảm hứng Có ngờithích viết những chuyện giật gân nhng có ngời lại chọn đề tài là những cái bìnhthờng, nhỏ nhặt trong đời sống Cũng viết về nông thôn nhng ngời thì thiên vềngợi ca, biểu dơng, ngời lại phản ánh nó ở mặt trái Tơng tự nh vậy, đề tài lịch
sử qua ngòi bút của mỗi nhà văn đợc thể hiện không giống nhau Một số nhàvăn muốn qua tác phẩm tái hiện lại bức tranh chân thực nhất về lịch sử dân tộcbằng sự cần mẫn su tầm sử liệu Một số khác lại muốn đem đến cho ngời đọc
Trang 31những hiểu biết mới về quá khứ qua sự cảm nhận, phân tích của cá nhân anhta Nh vậy, sự lựa chọn các đề tài sáng tác khác nhau đã tạo nên sự phong phúcho văn học đồng thời đánh giá đợc tài năng và bản lĩnh của mỗi nhà văn Lịch
sử văn học đã chứng minh rằng những tác phẩm đã gây đợc tiếng vang, đợc dluận chú ý đều là những tác phẩm đề cập đến các vấn đề phức tạp, gai góc của
đời sống xã hội “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh thu hút đợc sự chú ý của
độc giả bởi ông không viết về chiến tranh bằng cảm hứng ngợi ca mà bằng sựchiêm nghiệm của một ngời trong cuộc Ông nhìn nhận cuộc chiến ở mặt tráicủa nó Chiến tranh không chỉ có những chiến thắng hào hùng mà còn hiện ra d-
ới “bộ mặt gớm guốc” khiến “bất kì ai đã trải qua đều mãi bị ám ảnh, mãi mãimất khả năng sống bình thờng, mãi mãi không thể tự tha thứ cho mình” Truyện
“Thiên sứ” của Phạm Thị Hoài là sự phá huỷ triệt để hình tợng ngời trí thức.
Qua tác phẩm nhà văn lên tiếng cảnh báo về nguy cơ tha hoá lu manh hoá củatầng lớp trí thức hiện nay
Khi lựa chọn lịch sử làm chất liệu sáng tác các nhà văn sau 1975 đã chịunhiều áp lực bởi lịch sử là cái đã có và đợc nhiều ngời biết đến Nhất là đối vớimột dân tộc coi trọng quá khứ nh chúng ta thì lịch sử luôn là đối tợng đã ăn sâubén rễ trong tâm trí mỗi ngời dân, rất khó lay chuyển Việc đa ra cái nhìn mới
về lịch sử rất dễ làm xúc phạm đến niềm tin của nhiều ngời và khó đợc chấpnhận Đây là một thách thức đối với các nhà văn trong không khí sáng tạo mới.Anh ta vừa phải am hiểu lịch sử nh một sử gia lại vừa phải có phẩm chất củamột ngời nghệ sĩ Nói cách khác viết về đề tài lịch sử nhà văn phải nhảy qua haivòng lửa, vòng lửa lịch sử và vòng lửa tiểu thuyết Trớc vấn đề khó khăn nàykhông ít ngời đã lựa chọn cách viết an toàn, trung thành với lối viết truyềnthống, tôn trọng tuyệt đối lịch sử Họ muốn qua tác phẩm của mình tái hiện hạibức tranh lịch sử chân thực, sinh dộng Nhà văn Thái Vũ khẳng định “khi tôi nóitôi viết tiểu thuyết lịch sử sự thật là tôi không viết tiểu thuyết mà viết lịch sử ”[66] Cách viết này không phải là không có những thành công Tiểu thuyết “
Vằng vặc sao Khuê” của Hoàng Công Khanh đã đợc nhận giải thởng của Hội
Nhà văn Hà Nội năm 1999 Bốn tập tiểu thuyết về triều đại nhà Trần của HoàngQuốc Hải đợc d luận quan tâm Tác giả đã tái hiện lại một cách sinh động bứctranh về một triều đại rực rỡ vàng son cùng với bao nhiêu bão táp Các nhân vậtlịch sử nh Trần Thủ Độ, Trần Thị Dung, Lý Chiêu Hoàng, Trần Cảnh đợc đặttrong các quan hệ đời t, thế sự làm cho họ trở nên chân thực hơn Các tác phẩmnày ít nhiều đã mang tới cho ngời đọc nỗi xúc động và khâm phục nhờ niềm tin
Trang 32chân thành của ngời viết Nhng công bằng mà nói, sáng tác theo khuynh hớngnày các tác giả cha đem lại cho ngời đọc một phát hiện bất ngờ, mới mẻ nào Vìthế cha thể tạo nên đợc sức hẫp dẫn, cuốn hút ngời đọc vào từng trang sách Bêncạnh đó nhiều nhà văn đã mạnh dạn thể nghiệm những hớng sáng tác mới Họkhông quá lệ thuộc vào các t liệu có sẵn và bị chi phối bởi cảm quan lịch sử của
ngời đọc truyền thống mà đã sáng tạo lại lịch sử, “nhào nặn lại lịch sử ” theo
tinh thần hiện đại Điều nhà văn quan tâm ở nhân vật không phải nh những gìlịch sử đã nói mà tìm hiểu họ ở hậu trờng, ở những góc khuất trong cuộc đời, bổsung cho những “khoảng trắng” của lịch sử Nhân vật Nguyễn Huệ đợc các sáchlịch sử kể lại bằng tất cả niềm tôn kính, ngỡng mộ Các nhà văn Nguyễn HuyThiệp, Trần Vũ, Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao từ cái nhìn bên trong, thấy đợcNguyễn Huệ không chỉ ở dáng vẻ bề ngoài uy nghiêm, đĩnh đạc mà còn ở mặtsâu khuất, mặt tâm linh: một con ngời cô đơn, khao khát sự hòa hợp, chân trọngcái đẹp, một ngời cũng có lúc dung tục, cuồng dâm, thô bạo Tất cả những tínhcách anh hùng và đời thờng ấy đã tạo nên một Nguyễn Huệ chân thực, gần gũi.Lâu nay chúng ta thờng bị choáng ngợp trớc những kỳ tích lớn nên không nhìnthấy những khiếm khuyết, mặt bên trong con ngời ông Soi rọi vào những vùngkhuất tối của lịch sử, các nhà văn đã đem đến cho chúng ta cái nhìn đầy đủ hơn
về Nguyễn Huệ Con ngời thật của Nguyên phi ỷ Lan trong tiểu thuyết “Giàn
thiêu” của Võ Thị Hảo hiện lên qua hành động ra lệnh thiêu sống Hoàng hậu họ
Dơng và bảy mơi sáu cung nữ và qua sự xám hối của bà những năm cuối đời.Nhân vật Hồ Quý Ly trong tiểu thuyết cùng tên lại đợc nhà văn Nguyễn XuânKhánh khai thác từ cái nhìn bên trong, phát hiện những cơn bão lòng luôn dội
về trong ông để thấy đợc Hồ Quý Ly là một ngời tàn bạo nhng cũng là một ngờicô đơn, hớng thiện, một ngời có tâm đa đất nớc phát triển đi lên
Phản ánh lịch sử ở những miền sâu khuất, các tác giả đã cho chúng ta mộtcái nhìn mới mẻ về lịch sử Con ngời đợc khám phá từ những miền sâu khuấthiện lên với tất cả những gì nh nó vốn có, sống động, chân thực
2.1.2.3 Sự bổ sung cần thiết của nhà văn thông qua tác phẩm viết về đề tài lịch sử cho cách nhận thức của con ngời thời nay đối với quá khứ
Trớc đây, thái độ đánh giá của con ngời đối với lịch sử thờng dựa trênquan điểm chính sử Ngời ta ca ngợi, có thiện cảm với phe chính nghĩa - cùngphe với mình và ứng xử ngợc lại với phe đối lập Thái độ chính trị rất rõ ràng,dứt khoát đến mức cực đoan: đối với kẻ địch, kẻ biến loạn, bao giờ cũng cămthù cao độ, phe ta thì đợc ngợi ca, ngỡng mộ, đợc bỏ qua những sai sót Quan
Trang 33điểm chính trị của ngời xa đợc thể hiện trong các sách biên niên sử, dã sử,truyền thuyết Đây là nguồn t liệu quí giá giúp hậu thế biết đợc quá khứ của cha
ông, thêm tự hào về truyền thống lịch sử dân tộc Tuy nhiên những t liệu này
ch-a đủ để làm nên bức trch-anh lịch sử hoàn thiện bởi:
Khi miêu tả một nhân vật lịch sử các sử gia thờng chỉ xét họ trongnhững giờ phút họ đóng một vai trò lịch sử, họ chỉ xét nhân vật trong
“t thế lịch sử ” của nó Nhng làm thế tức là cắt xén nhân vật, biểu hiện
nó một cách phiến diện và thậm chí có khi xuyên tạc vì trong lúcnhững cá nhân có ý thức về vai trò lịch sử của mình, họ thờng đóngkịch [53, tr.20]
Điểm nhìn ấy mới chỉ giúp ta nhìn thấy lịch sử từ một phía, dễ dẫn đến
sự qui kết, phiến diện, đánh giá không thoả đáng về công và tội, nhất là nhữngtrờng hợp phức tạp Văn học bằng những u thế riêng của mình đã giúp khoa họclịch sử khắc phục đợc những hạn chế, làm cho bức tranh lịch sử trở nên đầy đặn,sống động, bổ sung cho ngời đọc những nhận thức cần thiết về quá khứ Đặcbiệt, những tác phẩm viết về đề tài lịch sử có sự sáng tạo táo bạo của ngời viết
đã đem lại cho ngời đọc những hiểu biết về lịch sử nhiều hơn rất nhiều công
trình nghiên cứu lịch sử Pautôpxki khi đọc xong bộ tiểu thuyết lịch sử “Piốt
Đại đế ” của A Tônxtôi đã phải thừa nhận: “Tiểu thuyết của Alếchxây Tônxtôi
đem lại cho tôi nhiều điều bổ ích về thời kỳ Pie Đại đế hơn nhiều công trìnhnghiên cứu lịch sử” (dẫn theo [49]) Những nhà văn này không mô phỏng lạiquan điểm chính sử mà đã mạnh dạn đi vào những vùng gai góc, khuất tối, nhìnnhận con ngời lịch sử với những gì nó có, phát hiện ra ở nó những điều mà lịch
sử không phát hiện đợc hoặc không ghi lại Lịch sử đợc nhìn trong cái nhìn đachiều, soi ngắm từ nhiều góc độ giúp ta nhìn nhận con ngời, sự việc toàn diệnhơn, giải toả khỏi những đánh giá một chiều, cứng nhắc Nguyễn Trãi trong
“Bình Ngô đại cáo” đã đánh giá về triều đại Hồ Quý Ly chỉ bằng một câu ngắn
gọn: “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà - Để trong nớc lòng dân oán phản” Lờinhận xét đó quá khái quát, cha giúp hậu thế hình dung cụ thể về con ngời HồQuí Ly Nguyễn Xuân Khánh bằng sự cần mẫn trong su tầm sử liệu và sự sángtạo táo bạo đã làm cho những dòng sử hoá thạch kia trở thành những trang viếtgiàu xúc cảm và rung động lòng ngời Nhân vật Hồ Quí Ly hiện lên từ nhiều
điểm nhìn (điểm nhìn văn hoá, điểm nhìn lịch sử và từ sự đánh giá của các nhânvật khác) với tất cả sự phức tạp, đa dạng trong tính cách, sự cô đơn, những bikịch trong cuộc đời Đó là một con ngời với đầy đủ mọi u, khuyết của nó, “Thân
Trang 34mật và tài giỏi”, “kiêu ngạo mà giản dị”, “Cứng rắn mà dịu dàng” [38, tr.95].
Hồ Quý Ly hiện lên trong tác phẩm với những đặc điểm tính cách không khácnhiều so với nhận định của các sử gia Đó là con ngời cơ mu, quyền biến, giàutham vọng, ông không từ bất cứ một thủ đoạn nào dù là tàn bạo nhất để đạt đ ợcmục đích của mình Ông giết nhiều tôi trung nhà Trần vì họ muốn duy trì triều
đại cũ Ông sẵn sàng giết cả Đa Phơng - ngời em nuôi, con thầy dạy võ mình chỉvì nghi ngờ anh ta phản bội Giết Ngọc Kiểm rồi lại dùng cái chết đó để “Dậptắt d luận và tiến thêm một bớc bẻ gãy phe chống đối” [38, tr.462] Các vụ chínhbiến, giết chóc những ngời chống đối Hồ Quý Ly diễn ra thờng xuyên trongtriều đình có sự chỉ đạo của ông Mặc dù cha lên làm vua nhng dờng nh mọiquyền hành đều nằm trong tay Hồ Quý Ly Ông đợc ví nh “con Rồng nằm ngủ”,
“thực thực h h đó là con rồng, bởi vì trong con rồng có hàm chứa con rắn Màrắn thì vừa độc, vừa hiểm”[38, tr.94] Mọi ngời xem ông là “kẻ tàn tặc, đa sát,nhiễu sự Lên ngôi hắn sẽ là một bạo chúa, một Tần Thuỷ Hoàng của nớcViệt”[38, tr.100] Tuy nhiên, Nguyễn Xuân Khánh không vội vàng đánh giá HồQuý Ly chỉ bằng những hành động bên ngoài đó Nhà văn tìm ra những nguyênnhân thúc đẩy hành động của Hồ Quý Ly và thấy đợc những việc làm của ôngphần nhiều có lý Giúp việc cho vua Trần Nghệ Tông, đợc vua tin tởng, ông làngời hiểu hơn ai hết nhà Trần đã quá mục ruỗng, không thể làm giờng cột chothiên hạ đợc nữa Những kẻ hèn yếu cố tỏ ra là một vị vua hiền không thể đảm
đơng chính sự Những ngời tâm phúc của nhà Trần nh Trần Nguyên Đán, TrầnKhát Chân cha đủ dũng cảm vợt qua đợc những tai tiếng để làm cuộc cáchmạng Nhà Trần cần có một ông vua “kiệt liệt”, có đủ tài đức để vực đất nớckhỏi họa diệt vong Hồ Quý Ly có tham vọng thực hiện sứ mệnh lịch sử này,
“muốn thay máu cho cả dân tộc đang ốm yếu, trì trệ, đầy mầm bệnh nan y” [57,tr.44] Nhng để thực hiện điều đó ông phải có quyền lực, phải gạt bỏ mọi vậtcản dù là kẻ thù, bạn tri âm hay tình anh em máu mủ Bên cạnh con ngời HồQuý Ly quyết đoán, thủ đoạn đến mức tàn bạo ấy mấy ai biết đợc còn có một
Hồ Quý Ly khác - một con ngời cô đơn, mềm yếu và hớng thiện Sống trongthời “thiên tuý”, phải đối phó với nhiều phe phái, âm mu, ông luôn cảm thấy cô
đơn, thèm đợc mọi ngời hiểu mình: “ta cần, ta muốn, ta thèm đợc có ngời hiểu
ta vây cánh của ta họ có hiểu ta không? có lẽ họ mới hiểu ta ở bên ngoài ” [38,tr.94] Bao đời nay có lẽ chúng ta cũng mới chỉ hiểu Hồ Quý Ly ở bề ngoài.Nguyễn Xuân Khánh bằng sự tinh tế và tỉnh táo của mình đã tìm thấy cái “bề
Trang 35sâu, bề sau, bề xa” của con ngời Hồ Quý Ly qua những dòng suy tởng, những ýnghĩ thầm kín Nhà văn đã phát hiện ra những điều mà lịch sử không phát hiện
ra hoặc không ghi lại Hồ Qúy Ly qua cái nhìn của Nguyễn Xuân Khánh là mộttính cách phức tạp Trong con ngời ông tồn tại cả phần chìm khuất và phần lộdiện, cả hai mặt tối - sáng, âm - dơng Tính cách của ông “thay đổi vô cùngnhanh chóng Đang từ một con ngời trầm tính đến mức lạnh ngắt, ông trở nên
đùng đùng sát khí ” [38, tr.550] Ông dồn mọi công sức và tâm huyết để viếtsách Minh Đạo, mong muốn tìm ra đợc cái đạo sáng cho đất nớc Trong sáchMinh Đạo ông mạnh dạn phê phán những quan điểm không hợp thời của Khổng
Tử, Chu Trình, ca ngợi vua Trần Minh Tông Điều ông làm đối lập lại với hệ ýthức có từ ngàn đời, ăn sâu bén rễ trong đầu các nhà nho nên ông đã phải chịukhông ít lời đả kích Ông muốn tạo ra những điều mới mẻ trong xã hội hiện tại,không muốn sử dụng những khuôn mẫu, những lối đi sáo mòn nh các vị vuakhác T tởng này của ông đã “vợt các nhà nho cùng thế hệ với ông và sau ôngnữa” [57, tr.157] Con ngời Hồ Quý Ly tởng nh chỉ biết có âm mu và tham vọngquyền lực nhng lại cũng có lúc yếu đuối và đa cảm Ông xót xa nhận thấy “cuộcsống cung đình nh một cơn lốc đã hút ông vào, không cho phép ông đợc hởngthụ những điều tầm thờng ấy” [38, tr.570] Đạt tới đỉnh cao quyền lực ông mớinhận ra: “chỉ những cảm giác hiền hoà an lành mới thực sự hạnh phúc” [38,tr.570] Nhng ông không có đợc những phút giây ấy Ông thèm muốn đợc làmmột con ngời bình thờng, thèm một bát canh sâm nóng bà Huy Ninh nấu khi
ông ốm để ông có thể “cảm nhận đợc hơng thơm của một nhánh hành hoa” [38,tr.569] Tâm hồn ông là khối cô đơn mà chỉ có con trai - Nguyên Trừng là hiểu
đợc Những khi cô đơn ông lại đến bên bàn thờ của vợ để đợc an ủi, nâng đỡ,chia sẻ Tài năng sáng tạo của Nguyên Xuân Khánh đã giúp chúng ta hiểu thêmnhiều điều về Hồ Quý Ly, giúp các nhà nghiên cứu nhìn Hồ Quý Ly thoả đánghơn, hoá giải những định kiến mà lịch sử buộc cho ông
Lâu nay sử sách vẫn thờng nói đến vua Quang Trung trong t cách một anhhùng áo vải, bách chiến bách thắng, một con ngời có tài cầm quân, vào Nam raBắc nh quỷ thần, không ai có thể lờng biết Nhng vẫn còn nhiều điều bí mật về
ông mà khoa học lịch sử cha khám phá ra hoặc cha giải thích đợc ngọn ngành,thuyết phục Quang Trung là một tớng giỏi, một minh quân nhng đồng thời ôngcũng là một con ngời, cũng khao khát tình yêu, khao khát chiếm lĩnh cái đẹp
đích thực, cũng có lúc thô lỗ, tàn bạo Quả thật, hình tợng Quang Trung trongcác tác phẩm này hoàn toàn đối lập với những gì sử sách đã kể Nhiều ngời khó
Trang 36chịu thậm chí phản đối kịch liệt với cách xây dựng hình tợng đó nhng họ vẫn bịlôi cuốn, thích thú bởi họ không chỉ biết đến Quang Trung “ở vẻ bề ngoài” màcòn biết đến Quang Trung ở “bề sâu, bề xa”, một Quang Trung rất ngời mang
đầy đủ những ham muốn đời thờng
Nh vậy, bằng sức mạnh của nghệ thuật văn chơng đã giúp chúng ta có
ợc cái nhìn đa chiều về quá khứ, tránh đợc những qui kết cực đoan, giải quyết
đ-ợc những vấn đề mà khoa học lịch sử còn bỏ ngỏ
2.1.3 Sự quan tâm đặc biệt tới một số giai đoạn, sự kiện và nhân vật lịch
sử còn gây nhiều tranh cãi
Các nhà văn theo quan niệm truyền thống viết về đề tài lịch sử với mongmuốn tái hiện lại bức tranh lịch sử hoành tráng, thể hiện niềm tự hào về truyềnthống dân tộc Để dễ bề ngợi ca họ thờng chọn những giai đoạn, sự kiện và nhânvật lịch sử ít biến động, ý kiến đánh giá về cơ bản là thống nhất nh nhà Trần,nhà hậu Lê, nhân vật Bà Trng, Bà Triệu, Trần Hng Đạo, Nguyễn Trãi Các nhàvăn viết theo khuynh hớng phi truyền thống lại dùng lịch sử nh một phơng tiện
để gửi gắm những ý nghĩ về cuộc sống, bộc lộ cái nhìn của thời đại mình Họkhông nô lệ vào những gì đã có sẵn, không bớc theo lối mòn của truyền thống
Đối tợng lịch sử đợc lựa chọn để thể hiện ý tởng của họ không phải là những giátrị lịch sử đã đợc khẳng định, đã bình ổn Họ đặc biệt quan tâm tới một số giai
đoạn, sự kiện, và nhân vật lịch sử còn gây nhiều tranh cãi, đang có nhiều nghivấn, cần đợc nhìn nhận, đánh giá lại Sự lựa chọn này phát huy đợc khả năng
độc lập nhận thức, sáng tạo của nhà văn, tạo cơ hội cho họ đợc thể hiện nhữngquan điểm riêng của mình về quá khứ và hiện tại, góp phần lý giải những nghivấn lịch sử
Từ thuở ấu thơ, chúng ta đã xúc động biết bao khi nghe kể về Nguyên phi
ỷ Lan, ngời con gái hái dâu nghèo khổ may mắn đợc làm vợ vua, ngời đàn bàthông minh sắc sảo, vị tha, có công nhiếp chính thay vua trong thời gian nhà vua
đi trấn ải Đã có bao nhiêu câu chuyện dựng lại đầy đủ bức tranh về triều đạinhà Lý - một triều đại cực thịnh với những con ngời nổi tiếng nh Nguyên phi ỷ
Lan, tớng quân Lý Thờng Kiệt, nhà s Từ Đạo Hạnh Tiểu thuyết “Giàn thiêu”
của Võ Thị Hảo viết về thời Lý nhng tác giả không nhằm phục chế lại toàn bộ
bối cảnh xã hội thời đại đó nh sử sách đã viết “Giàn thiêu” đợc khai thác từ một
câu nhận xét trong sách lịch sử “Quí Sửu, Thái Ninh năm thứ hai (1073) NhânTông mới lên ngôi, nghe lời mẹ là Linh Nhân Thái Hậu, giam Dơng Thái Hậu
Trang 37và bảy sáu ngời thị nữ vào cung Thợng Dơng, bức phải chết chôn theo lăngThánh Tông” (dẫn theo [31, tr.130]) Sau đó, ỷ Lan đã cho xây dựng chùa chiền
ở khắp nơi trong cả nớc nh một hành động xám hối Chi tiết có thật trong lịch sửnày đã làm cho nhiều ngời phải suy nghĩ, phán đoán, hoài nghi Nên đánh giáthế nào về việc Nguyên phi gây ra cái chết oan ức của hoàng hậu họ Dơng cùngbao cung tần mỹ nữ? ỷ Lan thành tâm thờ Phật hay “hối lộ” đức Phật để mongcon trai bà có ngời nối dõi? Bà thơng đứa con có nguy cơ tuyệt tự hay chỉ tìmmọi cách để thoả mãn ngọn lửa khao khát quyền lực? Đại s Đạo Hạnh là mộtnhà s đáng kính, tinh thông Phật pháp, đợc dân chúng sùng bái Ông chú tâmvào việc viết kinh sách, giảng đạo học, khuyết khích đệ tử và dân chúng khinhthờng vật chất, kêu gọi mọi ngời hớng thiện Lời nói của ông có sức nặng nghìncân khiến mọi ngời tin và nghe theo đến nỗi ông phải giật mình đau xót: “Ta đãlừa dối họ! ta đã bỏ rơi họ Cả đời họ đã theo ta, để bị ta lừa dối ? Họ sẽ sống rasao với sự lừa dối của ta?” [31, tr.451] Ông còn cố sống đạo mạo nhng càng épmình theo khuôn khổ ngọn lửa dục vọng trong lòng Đạo Hạnh càng rực cháy.Thời trai trẻ, lòng hận thù đã khiến ông phải từ bỏ tình yêu, niềm hạnh phúc lớnlao, duy nhất của đời mình Trả xong thù, tu hành đắc đạo ông lại cố ép mìnhtheo khuôn vàng thớc ngọc, đóng vai một ngời mẫu mực Nhng dù có tự chechắn vẻ bề ngoài thế nào đi nữa thì Đạo Hạnh vẫn là một con ngời Ông khôngthể thoát đợc những tục lụy trần gian, những ham muốn đời thờng Ông đầu thaivào Dơng Hoán - vua Lý Nhân Tông - để đợc thoả mãn tham vọng về quyền lực
và sắc dục, những thứ mà ông đã phải kìm nén suốt bao nhiêu năm Thế nhng
điều đó vẫn không làm ông hạnh phúc Quan tâm tới mặt trái trong mỗi con
ng-ời này nhà văn Võ Thị Hảo đã làm hành động “giải thiêng”, giải thoát chúng takhỏi những tình cảm thờ cúng, chỉ nhìn thấy một mặt của con ngời Trong mỗicon ngời bao giờ cũng có phần tối và phần sáng, phần thiện và phần ác, nếuchúng ta nhìn họ quá lý tởng sẽ làm họ mất đi bản chất thật của mình Đây cũng
là một quan niệm mới mẻ về con ngời trong văn xuôi viết về đề tài lịch sử sau1975
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh lựa chọn nhân vật chính cho tiểu thuyếtcủa mình là Hồ Quý Ly cũng là một sự lựa chọn mạo hiểm Hồ Quý Ly khôngphải là một vị vua sáng mà là một kẻ “loạn thần tặc tử” Đây là một hình tợngphức tạp, có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, tốn không ít giấy mực của cácnhà nghiên cứu mà vẫn cha tìm đợc ý kiến thống nhất Nguyễn Xuân Khánhmạnh dạn đi vào vùng gai góc này, sử dụng u thế của văn chơng để lý giải một
Trang 38hiện tợng lịch sử phức tạp Nhà văn đặt nhân vật Hồ Quý Ly trong mối quan hệphức tạp của gia đình, xã hội, khám phá con ngời Hồ Quý Ly trên nhiều phơngdiện: một cận thần, một thái s văn võ song toàn, tinh tế, sâu sắc, một ngời cha,một ngời chồng và một ngời đầy tham vọng, quyết đoán, táo bạo đến mức tànbạo Soi chiếu nhân vật từ nhiều góc nhìn Nguyễn Xuân Khánh đã có đợc mộtcách đánh giá thoả đáng Hồ Quý Ly là ngời có tội nhng cũng là ngời có nhiều
đóng góp cho lịch sử nớc nhà, một ngời có t tởng cách tân, có óc phê bình sángtạo không chịu đi theo những lối mòn cũ, có khát vọng đa đất nớc phát triểngiàu mạnh (xin xem thêm mục 2.1.2.3)
Nhân vật lịch sử đợc các nhà văn sau 1975 lựa chọn nhiều nhất là QuangTrung - Nguyễn Huệ Cho đến nay Nguyễn Huệ vẫn đợc coi là một ẩn số lịch
sử Có khá nhiều điều về ông đang khiến ngời ta băn khoăn, nghi vấn NguyễnHuệ xuất thân “áo vải, cờ đào”, không thuộc dòng dõi quý tộc, không có họcthức uyên thâm nh Trần Hng Đạo, Nguyễn Trãi ; cũng không có nhiều kinhnghiệm trên chính trờng nh các vị hoàng đế, tớng lĩnh khác, không có đợc ngờiphò tá đắc lực nh Nguyễn Trãi của Lê Lợi Thế nhng Nguyễn Huệ đã làm đợcnhững điều phi thờng, tạo nên ấn tợng mạnh mẽ trong lòng mọi ngời suốt baothế kỉ Trong một thời gian ngắn ông đã tiêu diệt hai triều chúa, một triều vua,
đánh tan hai mơi vạn quân Thanh xâm lợc chỉ trong vòng năm ngày Ông vừa làmột vị tớng tài ba, một nhà chính trị thiên tài và là một chiến lợc gia kiệt xuất.Liệu trong cuộc đời thực có thể có một vị vua nào nh thế không? Đâu là nguồngốc sức mạnh của Quang Trung? Đời t của ông nh thế nào? Giải thích ra sao vềcái chết bí ẩn của ông? Đó là những nghi vấn đang đợc các nhà nghiên cứu đơng
đại quan tâm, tìm hiểu Và đây cũng chính là địa bàn để các nhà văn thể hiện tàinăng, cá tính sáng tạo của mình Nguyễn Huệ xuất hiện trong nhiều tác phẩmkhông phải trong t thế của một vị tớng đang cầm quân mà rất đỗi bình thờng,chân thực nh những gì vốn có Từ lời nói đến hành vi, cử chỉ của ông đều toát ra
vẻ hoang dã, cục cằn, suồng sã, bản năng
Nguyễn Huy Thiệp đợc coi là nhà văn đầu tiên mạnh dạn mở một lối đimới trong văn xuôi viết về đề tài lịch sử mà các tác giả sau ít nhiều đều chịu ảnhhởng Ông đã viết về Nguyễn Huệ không giống với những gì đã có trong lịch sử.Nhà văn ghi lại hình ảnh Nguyễn Huệ ở phần đời t, những suy t, trăn trở Vua
Quang Trung xuất hiện trong “Phẩm tiết ” không phải với t thế oai phong, lẫm
liệt mà trong dáng vẻ rất bình thờng, thậm chí tầm thờng, giống nh một ông vuanào khác mà ta đã bắt gặp trong truyện về vua chúa: hách dịch, a nịnh bợ, mê
Trang 39gái và ăn nói tuỳ tiện Giận Ngô Khải, ông đã mắng hắn bằng những từ ngữ tụctằn: “Thằng Khải kia, tài bằng cái đấu, khinh ta quá chừng! Trời cho mày sống,cớp bao nhiêu lộc thiên hạ, ăn miếng ngon không biết đậy mồm, còn chê là lợm.May nhờ phúc tổ, có ít của chìm, nh cái đuôi khô, tháng ba ngày tám đem ragặm, tởng xênh xang ?” Ta khó có thể tin rằng một anh hùng lừng lẫy nhQuang Trung lại có hành động “đang đêm xoã tóc, đi chân đất, vừa đi vừa vấp,chạy vào báo cho Vinh Hoa việc Khải mất ” [59, tr.248] Trớc vẻ đẹp lạ lùngcủa nàng Vinh Hoa, không chỉ tớng Tây Sơn “đánh rơi cả kiếm” mà ngay cảQuang Trung cũng “rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rợu quí cầm tay” Ông hếtlòng yêu thơng, chiều chuộng Vinh Hoa với ao ớc đợc thành thân với nàng Cho
đến lúc chết, Nguyễn Huệ vẫn không thôi khao khát đợc đụng chạm vào thânthể nàng Mắt ông chỉ khép lại khi Vinh Hoa đặt ngón tay út của mình lên hai
mí mắt nhà vua, còn “chỗ ngón tay út của Vinh Hoa đen nh chàm, rửa thế nàocũng không sạch” [59, tr.250] Chuyện một vị vua nh thế không phải là hiếmtrong lịch sử, nhng ngời đó là Nguyễn Huệ thì lại khiến cho ngời đọc cảm thấybức xúc, bị xúc phạm vì đã đụng chạm đến niềm tôn kính của họ Hình tợngVinh Hoa cùng với vết chàm trên ngón tay út của nàng cũng gây ra những tranhcãi
Nhà văn Trần Vũ dựa vào sự xuất thân của Nguyễn Huệ từ phong tràonông dân khởi nghĩa vùng miền núi Tây Sơn, đã tạo nên một Nguyễn Huệ dung
tục hơn bội phần Nguyễn Huệ của Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Huệ trong “Mùa
ma gai sắc” đợc Trần Vũ miêu tả chẳng khác gì một tay tớng cớp Nguyễn Huệ
hung bạo: “những khi giận hai tròng đỏ trong mắt Nguyễn Huệ lập loè lửa, tấtcả thần khí dữ dội đều hiện lên ở đồng tử, nên nhìn rất sợ” [69]; thô lỗ: “trongphủ Chúa chốn sang trọng, lộng lẫy nhất Thăng Long, từng mảng da beo lớn trảilàm thảm lót chân, Huệ đi lại trên đó và khạc nhổ cũng trên đó” [69]; bạo dâm:
“Huệ chụp lấy ngực áo cới của Ngọc Hân xé toạc” [69], “tháo dây da, quất xốixả lên tấm lng mảnh dẻ tởng nh dải lụa bạch đang oằn mình chịu đòn Huệ quất
nh thúc voi thúc ngựa, tiếng roi đánh chát chúa toé lửa vun vút cuồng nộ Dáng
đè của Huệ, hai đùi chống xuống giờng, mình trần phủ lên ngời Ngọc Hân nhdáng hổ đang ngoạm hoãng” [69] Hình ảnh Nguyễn Huệ nh một con ngời chứa
đầy chất hoang dã, tự nhiên, bản năng ở đây quả thật rất khác lạ với NguyễnHuệ truyền thống
Nhân vật Nguyễn Huệ trong tiểu thuyết “Gió lửa” của Nam Dao lại là sự
tổng hợp giữa một “phản Nguyễn Huệ” và Nguyễn Huệ lịch sử Nguyễn Huệ là
Trang 40một ngời có kiến thức, hiểu rõ thời thế, biết nhìn xa trông rộng, có những cách
c xử rất sáng suốt, tỏ ra là một vị minh quân Ông luôn lắng nghe, “thấu hiểu
đ-ợc niềm hạnh phúc của những kẻ bình thờng” [14], tự nhịn đói để biết đđ-ợc “thếnào là sợ chết đói ” [14] để "hiểu miếng ăn thực sự là gì ” [14] Nam Dao cho tabiết về một Nguyễn Huệ vừa là một nhà nho chân chính, vừa là một ông vuaquyền thế lại vừa là một triết gia Nhng còn có một con ngời khác bên trongNguyễn Huệ - minh quân, là con ngời đời thờng, hung bạo, bản năng NguyễnHuệ có ngoại hình xấu xí: “mặt nổi mụn, mũi s tử, một mắt to một mắt nhỏ Khi nói, miệng Huệ nhếch lên vẻ giễu cợt, nhng giọng oang oang nh trống trậnthúc vào tim gan khiến nhiều kẻ mất tự chủ, óc tê điếng đi, chân tay bủn rủn”[14]; đầy mặc cảm: “Huệ yêu An, nhng An chê Huệ xấu yêu ngời khác, ngày
An cới, Huệ tuyệt vọng hét lên “chỉ vì mặt ta có mụn, chỉ vì mặt ta có mụn”
[14] Chẳng khác gì Nguyễn Huệ trong “Mùa ma gai sắc”, Nguyễn Huệ của
Nam Dao cũng thô lỗ: “với tay lấy rợu, tu ừng ực”, cuồng dâm: “ Kéo chomông Hân chổng lên, Huệ thúc vào từ phía sau, vừa thúc vừa kêu: “Hạnh phúcnày, hạnh phúc! ”, mỗi lúc một mạnh hệt nh Huệ thúc voi vào cửa Ô Trờng Bảnthành Thăng Long cách đây vừa năm ngày”[14] Nguyễn Huệ mạnh mẽ là thếnhng cũng có lúc yếu đuối, nhiều suy t Những chiến công lẫy lừng của ôngkhiến bao ngời phải nể phục nhng cũng chính điều đó làm cho ông cảm thấy cô
đơn: “nhng tại sao khi diệt xong địch, chiếm xong thành, thu vào tay châu báu,quát gọi cho ngời ta vâng dạ, Huệ lại cảm thấy trống rỗng, để một nỗi cô đơnmênh mang vào làm tan đi tất cả những gì vừa tạo ra, biến chúng thành vô lí, vônghĩa” [14]
Nguyễn Mộng Giác cũng không viết về Nguyễn Huệ nh một vĩ nhân mà
đặt ông trong những sinh hoạt đời thờng để tìm hiểu những góc khuất trongcuộc đời ngời anh hùng Bên cạnh con ngời có sự nghiệp chính trị xán lạn,Nguyễn Huệ còn là ngời có đời t nhiều trắc trở, éo le, gặp nhiều bi kịch trongtình yêu, trong cuộc sống Nguyễn Huệ tài năng là thế, anh hùng là thế nhngngay cả cuộc đời mình ông cũng không đợc quyền định đoạt Ông yêu An nhngtình yêu đó bị ngăn cản bởi lợi ích chính trị Ông muốn đợc thực hiện hoài bãothống nhất ba miền Nam Bắc, thu giang sơn về một mối nhng vua anh lại muốnkìm giữ ông, muốn ông làm chỉ làm một quan thái thú nơi biên ải Để thực hiệnhoài bão của mình, ông đã phải kháng lệnh vua anh, lạnh lùng viết hịch tấn côngQui Nhơn nhng lòng thì rối bời, day dứt, xót xa: “cha bao giờ Nguyễn Huệ cảmthấy cô đơn nh vậy! Dù tự tin bao nhiêu đi nữa, ở vào giờ phút quyết định này