- Kết quả đánh giá các yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan bệnh LMLM tại Huyện Na Lae: + Các hộ chăn nuôi trâu gần đường quốc lộ làm tăng nguy cơ làm lây lan và phát sinh dịch LMLM
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BOUNVANHPHIEN SISAKEUNG
ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI THÚ Y
VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ LÀM PHÁT SINH VÀ LÂY LAN DỊCH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN ĐÀN TRÂU NUÔI TẠI HUYỆN NALAE, TỈNH LUANG NAM THA, LÀO
GIAI ĐOẠN 2016-2017
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Lại Thị Lan Hương
2 TS Dương Văn Nhiệm
Trang 2
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Bounvanhphien SISAKEUNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS TS Lại Thị Lan Hương đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Giải phẫu – Tổ chức, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Phòng Nông nghiệp, Lâm nghiệp và phát triển nông thôn của huyện NaLae tỉnh Luang Nam Tha (Lào) đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Bounvanhphien SISAKEUNG
Trang 5
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục chữ viết tắt viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Khái niệm bệnh lở mồm long móng 3
2.2 Tình hình dịch bệnh LMLM 3
2.2.1 Tình hình bệnh LMLM trên thế giới 3
2.2.2 Tình hình dịch bệnh LMLM tại Lào 8
2.3 Virus gây bệnh lở mồm long móng 11
2.3.1 Hệ gen của virus 11
2.3.2 Quá trình nhân lên của virus 11
2.3.3 Hình thái, kích thước của virus 13
2.3.4 Phân loại virus LMLM 15
2.3.5 Đặc tính nuôi cấy của virus 16
2.3.6 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh 17
2.4 Đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM 18
2.4.1 Loài mắc bệnh 18
2.4.2 Chất chứa virus 18
2.4.3 Đường xâm nhập 19
2.4.4 Cách sinh bệnh 19
Trang 62.4.5 Cách truyền lây 20
2.4.6 Về mùa vụ 21
2.5 Triệu chứng - bệnh tích 21
2.5.1 Triệu chứng 21
2.5.2 Bệnh tích 22
2.6 Phòng và điều trị bệnh LMLM 23
2.6.1 Phòng bệnh LMLM 23
2.6.2 Chống dịch LMLM 24
2.6.3 Điều trị bệnh LMLM 24
2.7 Cơ sở phân loại virus LMLM, chẩn đoán bằng phản ứng elisa 25
2.7.1 Cơ sở phân loại vius LMLM 25
2.7.2 Phương pháp ELISA 25
2.8 Yếu tố nguy cơ 27
2.8.1 Khái niệm 27
2.8.2 Phương pháp xác định các yếu tố nguy cơ 27
2.8.3 Tỷ số chênh lệch OR (Odd Ratio) và nghiên cứu (điều tra) hồi cứu 28
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 29
3.1 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2 Thời gian nghiên cứu 29
3.3 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 29
3.3.1 Điều tra phỏng vấn thông qua câu hỏi và nội dung đã được soạn trước 29
3.3.2 Điều tra tình hình chăn nuôi, tình hình bệnh LMLM trên trâu trên địa bàn tỉnh Luang Nam Tha, Lào 29
3.3.3 Nghiên cứu hồi cứu để xác định một số yếu tố nguy cơ liên quan đến việc làm phát sinh và lây lan dịch bệnh 29
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 29
Phần 4 Kết quả và thảo luận 32
4.1 Điều kiện kinh tế và tình hình chăn nuôi thú y tại tỉnh Luang Nam THa 32
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
4.1.2 Tình hình chăn nuôi 35
4.1.3 Cơ cấu chăn nuôi tại các hộ điều tra 36
4.1.4 Hình thức chăn nuôi 36
Trang 74.1.5 Tình hình sử dụng thức ăn chăn nuôi tại các hộ điều tra 37
4.1.6 Nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi 38
4.1.7 Vệ sinh và khử trùng trong chăn nuôi của các hộ được điều tra 39
4.1.8 Tình trạng xử lý chất thải trong chăn nuôi tại các hộ được điều tra 39
4.2 Phân tích một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch LMLM ở trâu tại Luang Nam Tha 40
4.2.1 Gần đường giao thông chính (500 m) 41
4.2.2 Chăn nuôi gần chợ buôn bán gia súc gia cầm 42
4.2.3 Sử dụng nước ao, hồ để chăn nuôi 42
4.2.4 Nguồn gốc con giống không rõ ràng 43
4.2.5 Xử lý chất thải xả thẳng ra ngoài môi trường 44
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Kiến nghị 46
Tài liệu tham khảo 47
Phụ lục 50
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng tương liên 30
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của tỉnh Luang Nam Tha năm 2016 35
Bảng 4.2 Tình hình chăn nuôi của tỉnh Luang Nam Tha năm 2017 35
Bảng 4.3 Cơ cấu chăn nuôi trong tỉnh giai đoạn 2016 – 2017 36
Bảng 4.4 Cơ cấu đàn trâu tại các hộ điều tra (n = 4064) 36
Bảng 4.5 Hình thức chăn nuôi trâu tại các hộ điều tra (n = 240) 37
Bảng 4.6 Tình hình sử dụng thức ăn trong chăn nuôi trâu tại các hộ điều tra 37
Bảng 4.7 Nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi trâu, bò tại các hộ điều tra (n = 240) 38 Bảng 4.8 Vệ sinh và khử trùng trong chăn nuôi trâu tại các hộ điều tra (n = 240) 39
Bảng 4.9 Tình trạng xử lý chất thải tại các hộ chăn nuôi trâu 40
Bảng 4.10 Kết quả phân tích yếu tố đường giao thông chính 41
Bảng 4.11 Kết quả phân tích yếu tố gần chợ buôn bán gia súc gia cầm sống 42
Bảng 4.12 Kết quả phân tích yếu tố hộ chăn nuôi sử dụng nước ao hồ 42
Bảng 4.13 Kết quả phân tích yếu tố nguồn gốc con giống không rõ ràng 43
Bảng 4.14 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ xả thẳng chất thải ra ngoài môi trường 44
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ lưu hành của virus LMLM trên thế giới giai đoạn 2013 – 2017 5
Hı̀nh 2.2 Bản đồ giám sát sự lưu hành của bệnh LMLM tại Lào năm 1997 10
Hı̀nh 2.3 Bản đồ giám sát sự lưu hành của bệnh LMLM tại Lào năm 1998 11
Hình 2.4 Vius LMLM dưới kính hiển vi điện tử 13
Hình 2.5 Mô hình cấu trúc hạt virion 13
Hình 2.6 Cấu tạo kháng nguyên 14
Hình 2.7 Cấu trúc kháng nguyên virus LMLM 14
Hình 2.8 Hạt Virion của virus LMLM 14
Hình 2.9 Hình ảnh trâu mắc bệnh LMLM 21
Hình 4.1 Bản đồ hành chính nước Lào 33
Hình 4.2 Bản đồ hành chính tỉnh Luang Nam Tha 34
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
AND Deoxyribonucleic axit ARN Axit ribonucleic WTO World Trade Orgranization OIE Office Internationale des Epizooties FAO Food and Agriculture Orgranization
LMLM Lở mồm long móng ELISA Enzyme linkid immuno-sorbent asay
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Bounvanhphien SYSAKEUNG
Tên Luận văn: Điều tra thực trạng chăn nuôi thú y và đánh giá các yếu tố nguy cơ làm
phát sinh và lây lan dịch lở mồm long móng đàn trâu nuôi tại huyện NaLae, tỉnh Luang Nam Tha, Lào giai đoạn 2016 - 2017
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục đích của đề tài
- Khảo sát điều kiện kinh tế - tự nhiên của tỉnh Luông Nam Tha - Lào
- Đánh giá tình hình chăn nuôi, cơ cấu đàn gia súc tại tỉnh Luông Nam Thả giai đoạn 2016 – 2017
- Đánh giá thực trạng chăn nuôi trâu tại 240 hộ theo các chỉ tiêu bao gồm: cơ cấu đàn trâu, nguồn thức ăn, nguồn nước, vệ sinh và xử lý chất thải chăn nuôi
- Đánh giá một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỷ lệ xuất hiện dịch LMLM tại địa bàn nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng phương pháp điều tra hồi cứu về tình hình chăn nuôi thông qua các cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp tại Tỉnh Luông Nam Tha
Phỏng vấn trực tiếp các hộ chăn nuôi trâu theo bảng hỏi được thiết kế sẵn (Phụ lục)
Phương pháp xác định các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ được đánh giá bao gồm: Khoảng cách nhất định với đường giao thông chính; khoảng cách tương đối với các chợ buôn bán gia súc, gia cầm sống;
Sử dụng nước ao, hồ là nguồn nước chính trong chăn nuôi trâu; Yếu tố nguồn gốc con giống và xử lý nước thải bằng cách xả thẳng ra môi trường
Nhóm bệnh là nhóm những hộ được xác định là có sự xuất hiện của dịch LMLM thông qua kiểm tra lâm sàng Nhóm đối chứng là nhóm không có biểu hiện lâm sàng của bệnh LMLM trên đàn trâu
Kết quả chính và kết luận
- Trong giai đoạn 2016 – 2017, số lượng đàn trâu giảm nhẹ Ngược lại, số lượng đàn lợn tăng trên 2 nghìn con và đàn gia cầm tăng trên 20 nghìn con
Trang 12- Số lượng hộ chăn nuôi trâu, bò không có sự thay đổi nhưng số lượng hộ chăn nuôi gia cầm tăng lên một cách rõ rệt
- Trong cơ cấu đàn trâu thì trâu thịt chiếm tỷ lệ cao nhất (61,66 %) so với trâu cày (33,34 %) và thấp nhất là nghé (5 %)
- Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi cho thấy: Bán chăn thả là phương thức phổ biến được 53,3 % hộ chăn nuôi sử dụng; Cỏ tươi, khô và rơm là nguồn thức ăn chủ yếu, 151/240 hộ sử dụng nguồn thức ăn này chiếm 62,9 %; Nguồn nước được sử dụng phổ biến là nước giếng (78,8 %) và có 38/240 hộ sử dụng nước ao hồ làm nguồn nước chính trong chăn nuôi trâu chiếm 15,8 %; Hầu hết các hộ chăn nuôi tiến hành vệ sinh hàng ngày (73,3 %); Bốn phương pháp xử lý chất thải bao gồm ủ Bio-gas, trực tiếp bón cây, nuôi cá hoặc xả thảng ra ngoài môi trường có tỷ lệ xấp xỉ dao động từ 22,1 – 30,4 %
- Kết quả đánh giá các yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan bệnh LMLM tại Huyện Na Lae:
+ Các hộ chăn nuôi trâu gần đường quốc lộ làm tăng nguy cơ làm lây lan và phát sinh dịch LMLM cao gấp 2,4 lần so với những hộ không gần đường quốc lộ đi qua (>500m)
+ Các hộ chăn nuôi trâu gần chợ buôn bán gia súc, gia cầm có nguy cơ bị dịch LMLM cao gấp 2,29 lần so với những hộ không gần chợ buôn bán gia súc gia
+ Các hộ chăn nuôi trâu sử dụng nước ao, hồ trong chăn nuôi có nguy cơ bị dịch LMLM cao gấp 8,5 lần so với những hộ chăn nuôi trâu không sử dụng nước ao, hồ trong chăn nuôi
+ Các hộ chăn nuôi trâu sử dụng nguồn gốc con giống không rõ ràng có nguy cơ
bị dịch LMLM cao gấp 3,5 lần so với những hộ chăn nuôi trâu sử dụng nguồn gốc con giống rõ ràng
+ Các hộ chăn nuôi trâu xả thẳng chất thải ra ngoài môi trường có nguy cơ phơi nhiễm dịch LMLM cao gấp 4 lần so với những hộ chăn nuôi không xả thẳng ra ngoài môi trường
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Bounvanhphien SYSAKEUNG
Thesis title: Retrospective study on the husbandry status and evaluation of risk factors
for the circulation of foot and mouth disease in buffalo in NaLae district, Luang Nam Tha, Lao from 2016 to 2017
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
- Survey on socio-economic conditions of Luong Nam Tha province, Lao
- Retrospective investigation on livestock situation and structure in Luong Nam Tha province in period of 2 years (2016 – 2017)
- Evaluate factors of husbandry affairs including structure of the buffalo herd; food source; water supplies; frequency of sanitation and waste disposal
- Analysis risk factors related to the prevalence of Foot and mouth disease in Na Lea district, Luong Nam Tha province, Lao
Materials and Methods
- Accessing distance to main traffic (500 meters);
- Approximate distance to live animal markets;
- Using lake or pond as main water supply;
- Definable of animal source;
- Direct discharge of waste into the environment
Trang 14Main findings and conclusions
- From 2016 – 2017, total number of buffalo was slightly decreased but the number of pigs was increased more than 2 thousand heads and greatest rise was 20 thousand heads of poultry
- The stabilization in number of household raising buffalo and cattle was observed but on the other hand, the flying trend presented in poultry sector
- Majority was meat producing buffalo (61,66 %) in comparison to working (33,34 %) and calf (5 %)
- Analysis results of breeding conditions showed that: Freely grazing are the main choose method (53,3 %); raw/dry grass and rice traw are primary food sources (62,9 %); 78,8 % of questioned household using well-water and 15,8 % of them using pond/lake
as their water supply; 73,3 % of interviewing famer doing cleaning everyday; Equal result of waste treatment methods including bio-gas, fertilizer, fish feeding and direct dispose into environment were revealed (22,1 – 30,4 %)
According to study analysising risk factors for foot and mouth outbreaks indicate: no periodic sterilization, near inter-village, inter-commune and national roads; using pond/lake water; livestock near the live animal market increased risk of disease outbreak
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành chăn nuôi của Lào cũng phát triển một cách mạnh mẽ ngày càng bền vững, đạt nhiều thành tựu to lớn đáng khích lệ và dần trở thành một trong những ngành chính của nông dân Lào Đặc biệt, khi trở thành thành viên thứ 158 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Lào đã có những chính sách điều chỉnh phù hợp như kinh tế trang trại, vốn tín dụng, chính sách đất đai, chính sách đầu tư nước ngoài Tất cả các chính sách
đó đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có ngành chăn nuôi Bước đầu đã có sự hình thành các khu vực, các cụm chăn nuôi mang tính hàng hoá phù hợp với phát triển của từng loại gia súc, gia cầm và đặc biệt có thể cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao
Gần đây, do hội nhập kinh tế quốc tế, việc giao lưu buôn bán động vật, sản phẩm động vật giữa các nước trên thế giới ngày càng mở rộng, đặt ra những thách thức cho ngành Chăn nuôi – Thú y khi tình hình dịch bệnh động vật có nguy cơ lây lan và bùng phát cao hơn Đặc biệt là bệnh lở mồm long móng (LMLM - Foot and Mouth Disease, FMD) xảy ra tràn lan ở nhiều khu vực, nhiều nước trên thế giới Trong những năm gần đây, dịch LMLM đã liên tiếp nổ ra gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi gia súc tại Lào
Mặc dù bệnh LMLM gây chết gia súc trưởng thành với tỷ lệ không cao nhưng hậu quả là sự thiệt hại về kinh tế rất trầm trọng Theo số liệu của Tổ chức Dịch tễ Thế giới (OIE - Office Internationale des Epizooties), bệnh LMLM gây sảy thai khoảng 25% động vật có chửa, làm giảm sản lượng thịt 25%, giảm sản lượng sữa 50% và ở cừu giảm năng suất lông 25% Thiệt hại kinh tế do LMLM gây ra là rất lớn: chi phí tiêu hủy gia súc bệnh bình quân một năm ước tính khoảng 10 tỷ đồng (khoảng 10.000 con gia súc/năm) Hàng năm chi phí cho Chương trình quốc gia phòng chống LMLM khoảng 120 tỷ Các địa phương phải chi hàng chục tỷ đồng/năm cho các hoạt động phòng chống dịch Ngoài ra, bệnh LMLM còn làm ảnh hưởng tới một số hợp đồng xuất khẩu của Lào (Cục Thú y Lào, 2013)
Luang Nam Tha là một tỉnh miền núi ở vùng tây bắc của nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Luang Nam Tha có thời tiết nóng ẩm, đây cũng chính là
Trang 16các yếu tố bất lợi, làm dịch bệnh phát sinh và lây lan mạnh, đặc biệt là bệnh LMLM trong chăn nuôi trâu
Xuất phát từ tình hình nói trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Điều tra thực trạng chăn nuôi thú y và đánh giá các yếu tố nguy cơ phát sinh và lây lan dịch lở mồm long móng trên đàn trâu nuôi tại huyện NaLae, tỉnh Luang Nam Tha, Lào giai đoạn 2016 – 2017”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng chăn nuôi trâu, của các hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Luang Nam Tha trong 2 năm 2016 - 2017
- Xác định các yếu tố nguy cơ làm lây lan và phát sinh dịch LMLM trên trâu
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Lở mồm long móng ở huyện NaLae, tỉnh Luang Nam Tha, Lào từ năm
2016 – 2017
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN
Cung cấp thông tin và số liệu cụ thể, cùng những luận chứng về tình hình mắc bệnh LMLM và các yếu tố nguy cơ trên địa bàn tỉnh Luang Nam Tha Từ kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể sử dụng để định hướng cho các nghiên cứu sau này và giúp cho việc xây dựng các chương trình khống chế bệnh LMLM
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI NIỆM BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
- Bệnh lở mồm long móng (LMLM) Foot and Mouth Disease (FMD) and Aphaetae Epizooticae (tên La Tinh), là bệnh truyền nhiễm cấp tính của các loài động vật có móng guốc chẵn bao gồm cả gia súc và động vật hoang dã như trâu,
bò, lợn, dê, cừu, loài linh dương, hươu, nai Bệnh do một loài vi rút thuộc họ
Picornaviridae, giống Aphthovirus gây ra Đây là loài virus có tính hướng
thượng bì, thường làm thủy hóa các tế bào thượng bì
Đặc trưng của bệnh là làm xuất hiện những mụn nước với các kích cỡ không đồng đều ở niêm mạc miệng, kẽ móng, gờ móng, trên bầu vú, đầu vú con cái và cuống của dạ cỏ Khi mụn nước vỡ sẽ tạo ra các vết loét Bệnh LMLM khi xuất hiện thường lây lan rất nhanh, rất mạnh và thường trên phạm
vi rộng, có thể lây lan trong phạm vi một hoặc nhiều nước, gây ra các ổ dịch lớn trong thời gian ngắn, tỷ lệ mắc bệnh cao, có thể tới 100% Bệnh LMLM có nhiều tên gọi khác nhau
2.2 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH LMLM
2.2.1 Tình hình bệnh LMLM trên thế giới
Bệnh LMLM được Frascastorius phát hiện lần đầu tiên và mô tả vào năm
1514 ở Ý, sau đó bệnh được phát hiện ở Bắc Ý, Pháp, Anh và nhiều nước châu
Âu khác (Hyattsville, 1991) Năm 1897, tác nhân gây bệnh được hai nhà khoa học người Đức có tên là Loeffler và Frosch tìm ra, tác nhân này được chứng minh là có thể qua được màng lọc (Đào Trọng Đạt, 2000) Những năm đầu thế
kỷ 20 (1920), nhiều công trình nghiên cứu chi tiết về bệnh này mới được thực hiện (Andersen, 1980) Năm 1922, Valée và Carré phát hiện ra tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống virus (type O và A) Năm 1926, Waldman và Trautwein tìm ra virus type C Lawrence cũng phát hiện ra type SAT1, SAT2, SAT3 từ các mẫu bệnh phẩm gửi đến từ châu Phi, type Asia1 từ Ấn Độ, Miến Điện và Hồng Kông
Ở châu Âu: Cuối thế kỷ 19, bệnh xuất hiện ở Nga sau đó lây lan nhanh sang nhiều nước châu Âu khác như Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ, Bỉ, Hung-ga-ri, Áo, Đan Mạch, Pháp, Ý làm cho hàng chục triệu trâu bò mắc bệnh (Nguyễn Vĩnh Phước,
Trang 181978) Từ 1951 đến 1954, dịch LMLM phát sinh ở Tây Đức, sau đó lây sang nhiều nước như Hà Lan, Bỉ, Luých-xăm-bua, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển,
Na Uy, Ba Lan Năm 2000, Hy Lạp xảy ra 14 ổ dịch LMLM type Asia1, theo kết quả điều tra từ Thổ Nhĩ Kỳ (Văn Đăng Kỳ, 2002) Năm 2001, dịch nổ ra ở vùng Đông Nam nước Anh, sau đó dịch lây lan ra khắp nước Anh, Scốt-len, xứ Uên, Bắc Ai-len, Cộng hoà Ai-len, Hà Lan và Pháp
Ở châu Mỹ: Từ 1870 Đến 1929, xuất hiện 9 ổ dịch tại các bang của Mỹ như New England, Porland, Maine (1880), Boston, New England (1884), chủ yếu là
do nhập khẩu gia súc mang trùng từ nước khác Năm 1870, bệnh cũng phát ra ở Canada Tại Mexico, dịch phát ra trong các năm 1946-1954, tại Canada năm 1951-1952 và Argentina năm 1953 (Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh, 1958) Năm 2000 dịch LMLM xảy ra ở Nam Bra-xin (type O), Áchen-ti-na (type A), U-ru-guay (type O), Bo-li-via (type O và A), Co-lum-bia (type O và A), Peru (type A), Ecuado (type O)
Ở châu Phi: Dịch LMLM xảy ra tại nhiều nước, cả ở Bắc Phi và Nam Phi (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) Năm 2001, dịch LMLM type O xảy ra ở Uganda, tại Malawi type SAT1, tại Zimbawe type SAT2
Ở châu Á: Dịch LMLM xảy ra khá trầm trọng Bệnh phát sinh ở Ấn Độ (1929, 1952 ), In-đô-nê-xia (1952), Phi-lip-pin (1902), My-an-ma (1936, 1948), Ma-lay-xia (1939), Thái Lan (1952), Cam-pu-chia (1931, 1946, 1952), Trung Quốc (1951) (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) Nhìn chung có 3 type thường xuyên gây bệnh LMLM ở khu vực các nước Đông Nam Á đó là type O, A và Asia1 (Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2001)
Năm 2000, tại châu Á có trên 30 quốc gia có bệnh LMLM Các type huyết thanh lưu hành chủ yếu là type O (24 quốc gia, trong đó có Việt Nam), type A (6 quốc gia), Asia1 (Thái Lan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Grudia), SAT2 (ở Ảrập Xê-út, Ku-uết), một số quốc gia khác (Ác-men-nia, Azer-bai-jan, Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất, Ấn độ) chưa xác định được type virus (Thomson, 2002)
Trong những năm gần đây, các nước như Trung Quốc, Lào, Căm-puchia, Thái Lan, Ma-lay-xia, Miến Điện đều báo cáo các ổ dịch LMLM trên gia súc: Virus LMLM thu thập vào tháng 10 năm 2012 tại miền nam Thái Lan tất cả đều cùng loại A/ASIA Sea-97 Dịch LMLM mới đã được báo cáo trong tháng 7 năm 2013 ở bayan – ULGII, Tây Mông Cổ (gần biên giới Trung Quốc và nằm
Trang 19trong phạm vi 25 – 30 km từ biên giới Nga và từ Đông Kazakhstan) gây ra bởi loại virus LMLM type A Các sublineage chưa rõ
Theo báo cáo của Ngô Thành Long trong hội nghị phòng chống dịch LMLM ở gia súc tại Nghệ An, 22/11/2013:
Ở Trung Quốc: trong năm 2013 số ca bệnh do serotype A gấp 3 lần số ca
bệnh serotype O (EUFMN, 2013)
Thái Lan: trong 3 năm liên tục từ 2011 - 2013 số ca bệnh do serotye A gấp
2 lần số ca bệnh do serotype O Trong hai năm 2012- 2013 đã có 7 mẫu được thu thập và gửi đến WRL để giải trình tự Tất cả đều là type A SEA-97 Có sự liên quan rất chặt chẽ (giống 99.06% cấu trúc protein VP1) A SEA-97 phân lập từ Nga và Trung Quốc Điều này cho thấy virus LMLM đã lưu hành phổ biến trên một phạm vi rộng lớn trong một thời gian tương đối ngắn, mối đe dọa nguy cơ nhiễm bệnh của gia súc trong khu vực, trong vùng lân cận và sự lây lan nhanh chóng của các subtype mới
Tại Campuchia: dịch LMLM từ năm 2011 - 2013 chỉ phát hiện được
Trang 20Gần đây, trong giai đoạn 2014 - 2015 dịch LMLM xảy ra tại một số nước như sau (theo OIE ):
SAT1: Xảy ra tại Botswana với số ổ bệnh là 3, số nghi mắc là 19.423 SAT2: Xảy ra tại Botswana với số ổ bệnh là 14, số nghi mắc 14.552, số
mắc là 218 Angola số ổ bênh là 2, số nghi mắc 7.650, số mắc là 11 Mauritania
số ổ bệnh 1, số nghi mắc 1.200 và số mắc là 5 Mozambique số ổ bệnh 3, số nghi mắc 1.1700 và số mắc là 760 Namibia số ổ bệnh 28, số nghi mắc 13.011 và số mắc là 225 South Africa số ổ bệnh 13, số nghi mắc 87.744 và số mắc là 134 Zimbabwensoos ổ bệnh là 114, số nghi mắc 157.487 và số mắc là 9.550
Type A: Xảy ra tại Trung Quốc với số ổ bệnh 10, số nghi mắc 7.796, số
mắc 1.276, số chết 314 và số tiêu hủy là 7.474 Russia số ổ bệnh là 3, số nghi mắc là 19.517, số mắc 221, số chết 221 Taiwan số ổ bệnh là 2, số nghi mắc là
177, số mắc 2 và số tiêu hủy là 2
Type O: Xảy ra tại Algeria với số ổ bệnh là 12, số nghi mắc 5.500, số mắc
159 China số ổ bệnh là 1, số nghi mắc 35, số mắc 4 và số tiêu hủy là 35 Korea
số ổ bệnh 185, số nghi mắc 467.032, số mắc 155.767 và số tiêu hủy là 160.350 Mongolia số ổ bệnh 5, số nghi mắc 44, số mắc 934 và số chết là 1 Russia số ổ bệnh 1, số nghi mắc là 8377, số mắc 34 và số tiêu hủy là 34
Tại Việt Nam: bệnh LMLM được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1898 tại
Nha Trang và sau đó là vào năm 1920 ở Nam Bộ Tiếp theo đó, các năm
1937-1940 bệnh được phát hiện ở Quảng Ngãi và năm 1952 bệnh phát ra tại tỉnh Thừa Thiên Huế, đến năm 1953-1954 bệnh lây lan vào các tỉnh Nam Trung bộ, Bắc Trung bộ (Khu 4), Khu 3, Khu tả ngạn, trung và thượng du Bắc bộ, Tây Bắc (Điện Biên) và Việt Bắc Tháng 4/1955, bệnh tái phát ở Khu 3 và lan vào Khu 4
và Khu tả ngạn Việt Bắc (Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh, 1958) Năm 1960 -
1970, ở miền Nam dịch xảy ra lại nghiêm trọng hơn trên đàn trâu khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn, từ đó lây ra các tỉnh lân cận và tấn công 5 trại lợn công nghiệp ở Nam bộ (Hồ Đình Chúc và cs., 1978)
Theo Trần Hữu Cổn (1996) trong vòng 20 năm từ 1975 - 1995 dịch liên tục phát ra trên đàn trâu bò Năm 1995 là giai đoạn đỉnh điểm của dịch với 26 tỉnh thành có dịch làm nhiều gia súc mắc bệnh, tại khu vực phía Nam đã có 10.293 lợn mắc bệnh
Năm 1996, 1997 dịch xảy ra nặng một số tỉnh Duyên hải miền Trung và
Trang 21Tây Nguyên Năm 1998 và đầu năm 1999, dịch LMLM bùng phát tại Bình Thuận làm 2.449 bò ở 20 xã của 3 huyện, thị mắc bệnh Đầu năm 1999, nguồn bệnh từ Trung Quốc theo con đường trao đổi, buôn bán gia súc xâm nhập vào Việt Nam và làm dịch phát ra ở huyện Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng, sau đó nhanh chóng lây lan sang các địa phương khác như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam,… Tính đến cuối năm
1999 có 55 tỉnh thành phố có gia súc bệnh, số trâu bò mắc bệnh lên đến 120.989 con, số lợn mắc bệnh là 31.801 con
Năm 2010: Trong 6 tháng đầu năm 2010, dịch xảy ra ở 85 xã, phường thuộc
32 huyện của 12 tỉnh Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nghệ An, Phú Yên, Quảng Ngãi, Sơn La, Tiền Giang và Tuyên Quang Tổng số gia súc mắc bệnh là 4.290 con trâu, 1.171 con bò và 684 lợn trong đó 67 con trâu bò và 52 con lợn tiêu hủy Các ổ dịch LMLM phân bố chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc (nguồn Cục Thú y)
Năm 2006 - 2012, dịch LMLM tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, Nam trung bộ, Tây Nguyên và Đông năm bộ, nhất là các địa phương giáp Trung Quốc
và Lào và có xu hường giảm dần về phạm vi không gian (Nguyễn Thu Thủy và cs., 2013)
Năm 2013: Dịch bệnh LMLM xảy ra tại 221 xã, phường của 68 huyện, quận thuộc 18 tỉnh là Bắc Cạn, Bắc Ninh, Bình Dương, Cà Mau, Cao Bằng, Đăk Lăk, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Long An, Vĩnh Long, Nghệ An và Phú Yên làm 8573 con gia súc mắc bệnh (trong đó trâu chiếm 14,6 %, bò chiếm 57 % và lợn chiếm 28,3 %) Số gia súc tiêu hủy là 1155 con, gồm 38 con trâu, 162 con bò và 955 con lợn Năm 2013 dịch LMLM xuất hiện rải rác trên địa bàn cả nước, chủ yếu là các tỉnh miền trung, riêng miền Bắc Trung Bộ 4/6 Tỉnh có dịch
Năm 2014 - 2015 dịch LMLM xảy ra tại một số tỉnh sau (nguồn cục thú y):
Hà Tĩnh: Dịch lở mồm long móng type O xảy ra tại phường Đậu Liêu,
thuộc thị xã Hồng Lĩnh và xã Mỹ Lộc thuộc huyện Can Lộc có tổng số gia súc, mắc bệnh 111 con gia súc (trong đó có 04 trâu, 75 con bò, 32 lợn) tại 40 hộ, 11 thôn, 2 huyện (Can Lộc, thị xã Hồ) Đã phát hiện dịch LMLM ở 16 hộ chăn nuôi với tổng số gia súc mắc bệnh là 29 con (18 con trâu, 7 con bò và 4 con lợn)
Lạng Sơn: Dịch LMLM type O xuất hiện tại huyện Lộc Bình và Đình Lập,
tỉnh Lạng Sơn làm 125 con bò bị bệnh, số bò chết là 08 con
Trang 22Sơn La: type O xuất hiện 06 xã thuộc 04 huyện Mộc Châu, Vân Hồ, Bắc
Yên, Phù Yên của tỉnh Sơn La, có ổ dịch LMLM type A tại xã Song Khủa, huyện Vân Hồ làm 68 con gia súc mắc bệnh (17 con trâu và 51 con bò)
Thanh Hóa: Type O tại 08 xã thuộc huyện Lang Chánh của tỉnh Thanh Hoá Lào Cai: Xuất hiện Type O 2 xã thuộc huyện Mường Khương Sau đó phát
hiện thêm ổ dịch LMLM trên đàn lợn của 04 hộ chăn nuôi tại 02 thôn của xã Trịnh Tường thuộc huyện Bát Xát Toàn bộ 62 con lợn mắc bệnh đã được tiêu huỷ Có 111 con bò mắc bệnh type O trong tổng số 289 con và trong đó có 4 con
Nghệ An: Phát hiện ổ dịch LMLM type O tại 10 hộ chăn nuôi thuộc xã
Thanh Chi, huyện Thanh Chương và xã Trung Sơn, huyện Đô Lương làm 13 con gia súc mắc bệnh (gồm 08 con bò, 04 con trâu và 01 con nghé)
Quảng Nam: Dịch LMLM type O xảy ra ở 32 hộ của 05 thôn thuộc địa bàn
xã Hương An, huyện Quế Sơn và xã Ba, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
Đăk lăk: Có phát sinh 2 ổ dịch LMLM type O ở 22 hộ chăn nuôi của
phường Thành Nhất (01 hộ chăn nuôi lợn) và xã Cưe Bur (21 hộ chăn nuôi bò), thành phố Buôn Ma Thuột làm 101 con gia súc mắc bệnh (50 con lợn và 51 con bò), trong đó có 07 con lợn bị chết và 26 con lợn bị tiêu hủy
Phú Yên: Địa phương đã phát hiê ̣n 75 con bò của 31 hô ̣ chăn nuôi ở các xã
Đa Lô ̣c và Xuân Sơn Bắc thuộc huyện Đồng Xuân bi ̣ mắc bê ̣nh LMLM type A
2.2.2 Tình hình dịch bệnh LMLM tại Lào
Ở Lào, dịch lây lan rộng từ năm 1980 Tỷ lệ mắc bệnh LMLM ở Lào bị ảnh hưởng bởi nhu cầu buôn bán động vật quốc tế bất hợp pháp với các quốc gia Các mẫu từ các ổ dịch nghi ngờ LMLM tại thành phố Viêng Chăn đã đệ trình lên Cục Chăn nuôi và Thủy sản (Department of Livestock and Fisheries, DLF) vào năm 1996 trước khi thành lập phòng thí nghiệm dự án được đánh giá theo kiểu O type Asia1
Trang 23Năm 1997 ta ̣i tı̉nh Luông Pha Bang, Chăm Pa Sắc và Sa Văn Na Khêt với tổng số 1204 bò, trâu được thu thập từ 58 thôn của 13 huyện Kết quả từ các mẫu thu thập cho thấy dương tính type O với tỷ lệ 16,4 % ở Luông Pha Bang và 23,4
% ở tỉnh Chăm Pa Sắc Loại O - type A và Asia1 cũng phát hiện nhưng ở mức độ thấp Nhìn chung, tổng số 26 mẫu được đưa ra để chẩn đoán từ tháng 12/1997 đến tháng 12 năm 1998, trong đó 10 mẫu là type O, 3 mẫu là type Asia I và 13 mẫu âm tính với virus LMLM
Vào năm 1998, dịch LMLM đã được báo cáo vào đầu năm tại huyện Vangvieng của tỉnh Viêng Chăn, đã được xác định là type Asia1 Vào tháng 9, một vụ dịch LMLM lớn hơn đã được báo cáo ở huyện Sa Ma Khy Xay tỉnh Ắt Ta ̣
Pư sau đó lan sang bốn huyện khác của tỉnh và huyện Pac Song của tỉnh Chăm
Pa Sắc Sau đó, dịch LMLM lan truyền từ Ắt Ta ̣ Pư đến Chăm Pa Sắc do sự di chuyển của các động vật bị ảnh hưởng dọc theo Quốc lộ 10 nối hai tỉnh Số lượng động vật trong vụ dịch Ắt Ta ̣ Pư và Chăm Pa Sắc được ước tính bị ảnh hưởng bởi dịch LMLM là 5810 con trong tổng số 27.600 con vật (21 %) Các mẫu được thu thập từ các loài động vật bị ảnh hưởng nghiêm trọng và gửi đến Phòng thí nghiệm LMLM thế giới, Purbright, Vương quốc Anh, nơi mô tả chi tiết các mẫu hiện đang được tiến hành Nguồn gốc của sự bùng phát ở các tỉnh Ắt Ta ̣ Pư và
Chăm Pa Sắc vẫn chưa được xác định (Vongthilath et al., 1998)
Năm 2003 ở mô ̣t số tı̉nh của Lào, bệnh phát ra nhiều tại các tỉnh giáp biên giới nhưng không có thông tin chi tiết
Năm 2008, bệnh LMLM xảy ra ở tı̉nh Ắt Ta ̣ Pư làm 285 con gia súc mắc bệnh trong đó có 76 con trâu, 13 con bị chết, 209 con bò, 4 con bị chết (Chi cục Thú y tı̉nh Ắt Ta ̣ Pư,2008) Tháng 2 năm 2008 bệnh LMLM xảy ra ở huyê ̣n Thu
La Khôm, tı̉nh Viêng Chăn làm 540 con bò mắc bệnh, 23 con bò bị chết (Manychan, 2008)
Năm 2010 dịch LMLM xảy ra ta ̣i huyê ̣n Viêng Xay, tı̉nh Hua Phăn làm 310 con gia súc mắc bệnh trong đó có 2 con trâu, 15 con bò bị chết (Chi cục Thú y tı̉nh Hua Phăn, 2010)
Từ năm 2012 - 2014 bệnh LMLM đã xảy ra ta ̣i mô ̣t số tı̉nh nhưng không có thông tin chi tiết Tháng 4 năm 2015 bê ̣nh xảy ra ở huyê ̣n Xăng Thong và huyê ̣n Pác Ngưm, thủ đô Viêng Chăn làm 3.108 con gia súc mắc bê ̣nh (Cục Thú y, 2015)
Trang 24Năm 2016 dịch LMLM xảy ra tại tı̉nh Chăm Pa Sắc làm 200 con gia súc mắc bệnh trâu bò 40 con bi ̣ chết (Chi cục Thú y tı̉nh Chăm Pa Sắc, 2016) Năm 2017 dịch phát ra mạnh ở tại các tı̉nh của nước Lào, chủ yếu là các tỉnh miền bắc, miền trung
Tỉnh Luang Nam Tha: Dịch xảy ra tại huyện Nalae, Sing, Long, Vieng
Phu Kha làm 2250 gia súc mắc bệnh với 215 con bị chết và dịch xảy ra ở trên cả trâu, bò, lợn và dê
Tı̉nh Hua Phăn: Di ̣ch xảy ra tại huyê ̣n Mương Ét, huyện Xăm Tay, huyện
Xiêng Kho và huyê ̣n Xăm Nưa làm 10.413 con gia súc mắc bê ̣nh, 349 con trâu bò, 262 con lợn và 119 con dê bi ̣ chết (chi cu ̣c Thú y tỉnh Hua Phăn, 2017) Cuối năm 2017 ta ̣i huyê ̣n Viêng Xay, bê ̣nh LMLM xảy ra làm 3.600 gia súc mắc bê ̣nh trong đó 2.994 con bò, 729 con trâu, 112 con bi ̣ chết do virus serotype O (Ngụd
Vi Lay Khăm, 2017)
Tı̉nh Luông Pha Bang: Bệnh LMLM phát ra tại các huyê ̣n làm 166 con
bò, 26 con trâu, 1.917 con dê mắc bệnh do virus serotype O (Chi cục Thú Y Luông Pha Bang, 2017)
Tı̉nh Xay Nha ̣ Bu Ly: Huyê ̣n Khóp, huyê ̣n Bo Ten Bệnh LMLM phát ra
tại các huyê ̣n giáp biên giới Thái Lan nhưng Không có thông tin chi tiết (Cục Thú y, 2017)
Hı̀nh 2.2 Bản đồ giám sát sự lưu hành của bệnh LMLM tại Lào năm 1997
Trang 25Hı̀nh 2.3 Bản đồ giám sát sự lưu hành của bệnh LMLM tại Lào năm 1998 2.3 VIRUS GÂY BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
2.3.1 Hệ gen của virus
Hệ gen của virus bao gồm ADN hoặc ARN, không bao giờ có cả hai Virus khác nhau về kích thước, số lượng và đặc tính acid nucleic Cả hai loại acid nucleic sợi đơn và sợi đôi đều được tìm thấy ở virus Ở virus có vỏ bọc, acid nucleic chiếm một phần nhỏ 1 – 2 % và ở virus trần là 25 – 50 % so với cơ chất
Ở một số virus, acid nucleic không tồn tại ở dạng phân tử riêng rẽ mà ở dạng liên kết nhiều phân tử Trong quá trình nhiễm vào vật chủ, hệ gen của virus thoát khỏi
vỏ protein và vào trong tế bào
2.3.2 Quá trình nhân lên của virus
Trong tế bào, virus được nhân lên và có thể được truyền sang tế bào khác,
vỏ virus được tổng hợp ở tế bào vật chủ Khi hệ gen của virus có mặt ở trong tế bào và được nhân lên thì gọi là quá trình nhiễm virus Tế bào nhiễm virus thì gọi
là tế bào vật chủ Khi virus xâm nhập vào tế bào thích ứng nó sẽ thực hiện quá trình nhân lên, từ một virus ban đầu thành hàng trăm hàng triệu virus mới Quá trình nhân lên gồm 5 giai đoạn:
Giai đoạn virus hấp thụ lên bề mặt tế bào: Virus có kích thước vô cùng
nhỏ bé nó nằm trong dịch bao quanh tế bào, luôn chuyển động tạo điều kiện cho virus va chạm với tế bào Khi có sự va chạm trên bề mặt tế bào, giữa thụ thể tế bào với thụ thể virus nếu đặc hiệu với nhau thì virus sẽ được hấp thụ lên bề mặt
Trang 26tế bào
Giai đoạn xâm nhập của virus vào tế bào: Ở giai đoạn này, hạt virus hoặc
acid nucleic của chúng được tiêm chích vào trong tế bào vật chủ Virus xâm nhập vào tế bào theo nhiều cách khác nhau
Theo cơ chế ẩm bào: Đây là cơ chế bị động, đa số virus gây bệnh ở
người, động vật, thực vật đều xâm nhập theo cơ chế này Tại điểm tiếp xúc giữa virus và tế bào, thành tế bào bị lõm xuống giống chân giả bao vây kín lấy virus rồi khép lại đẩy virus vào trong tế bào Theo cách này virus không tự lột
vỏ được mà nó phải nhờ men phân huỷ protein tiết ra để phân huỷ vỏ capsid, giải phóng acid nucleic
Theo cơ chế chủ động: Đây là phương thức xâm nhập đặc biệt chỉ xảy ra đối
với thực khuẩn thể Chỉ có thành phần acid nucleic được đẩy vào trong
Giai đoạn tổng hợp các thành phần của virus: Ngay sau khi nhiễm vào vật
chủ là quá trình tổng hợp nên các thành phần của virus Bước khởi đầu là sự nhân lên của acid nucleic virus Bộ máy sinh tổng hợp của tế bào vật chủ được sử dụng
để sinh tổng hợp nên acid nucleic virus Tuỳ từng loại acid nucleic khác nhau thì quá trình tổng hợp acid nucleic xảy ra ở các vị trí khác nhau và quá trình tổng hợp cũng khác nhau Đối với virus ARN thì quá trình tổng hợp xảy ra ở nguyên sinh chất còn virus ADN thì quá trình trên thường xảy ra ở nhân Sau khi acid nucleic
được nhân lên sẽ xảy ra quá trình tổng hợp protein cấu trúc của virus
Trong giai đoạn này, mọi sự tổng hợp acid nucleic và protein của tế bào đều
bị đình lại Tế bào vật chủ buộc phải cung cấp năng lượng, ribosom, các enzim
hoạt hoá acid amin, t-ARN và các yếu tố khác cho quá trình trên
Giai đoạn lắp ráp virus: Quá trình lắp ráp virus thường xảy ra ở gần màng
tế bào Các thành phần của virus (acid nucleic và protein vỏ) được dịch chuyển
lại gần nhau rồi chúng kết hợp với nhau tạo thành virus mới hoàn chỉnh
Giai đoạn giải phóng virus ra khỏi tế bào: Quá trình giải phóng virus ra
khỏi tế bào có thể theo cơ chế nổ tung hoặc từ từ Virus có thể phá tung màng tế bào và chui ra ngoài đồng loạt hoặc dùng men đục thủng màng tế bào rồi chui ra
từ từ
Thời gian kể từ khi virus hấp thụ lên màng tế bào cho tới khi có hạt virus
đầu tiên chui ra gọi là thời gian nhân lên của virus
Trang 272.3.3 Hình thái, kích thước của virus
Virus gây bệnh LMLM thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus, có cấu trúc hình đa diện gồm 30 mặt đều Virus LMLM thuộc loại virus nhỏ nhất, kích thước từ 20 - 30 nm và có thể qua được các máy lọc Berkefeld, Chamberland, màng lọc Seizt (Nguyễn Như Thanh, 2001) Trọng lượng phân tử của một virus hoàn chỉnh khoảng 6,9 KDa, 69 % là protein và 31 % là ARN
Hạt virus chứa 30 % acid nucleic, đó là một đoạn ARN chuỗi đơn, hợp thành bởi 8000 bazơ và có hệ số sa lắng là 35S, không có tính sinh kháng thể và đặc tính kháng nguyên nhưng có vai trò trong quá trình gây nhiễm Vỏ capxit của virus có hơn 60 đơn vị (capsome) Mỗi capsome có 4 loại protein cấu trúc giống nhau là VP1, VP2, VP3 và VP4 VP1, VP2 và VP3 tạo nên một bề mặt của khối
20 mặt đối xứng còn VP4 là protein ở bên trong capxit, kết dính ARN virus với mặt trong của capxit VP1 ở ngoài cùng tham gia vào việc cố định virus trên những tế bào, đóng vai trò quan trọng nhất trong việc gây bệnh, đồng thời là loại kháng nguyên chính tạo ra kháng thể chống lại bệnh LMLM Virus LMLM thuộc loại không có vỏ bọc, lớp ngoài cùng cấu tạo bởi một lớp lipit do đó chúng có sức đề kháng cao với các dung môi hữu cơ (cồn, este )
Trang 292.3.4 Phân loại virus LMLM
Virus LMLM có 2 đặc tính đặc biệt liên quan đến dịch tễ học, đó là tính có
đa type và tính dễ biến đổi kháng nguyên
Cho đến hiện nay Virus LMLM được phát hiện gồm 7 type khác nhau đó là: O; A; C; SAT1; SAT2; SAT3 và Asia1 Người ta phân biệt các type, subtype, các biến chủng và theo mức độ sinh miễn dịch chéo Hiện nay có trên 70 subtype
đã biết Các type này có tính kháng nguyên không giống nhau và giữa các type không gây miễn dịch chéo nhưng chúng gây các triệu chứng, bệnh tích ở động vật rất giống nhau Các subtype được ký hiệu gồm tên của type mẹ và đánh dấu theo thứ tự ngày tháng phát hiện ra chúng, thí dụ: A22, O11 Gần đây nhất, xuất hiện subtype O từ Trung Quốc và được gọi là subtype O thích nghi trên lợn Hiện nay subtype này vẫn đang lưu hành tại Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Việt Nam
Theo hệ thống phân loại mới nhất do hội nghị Quốc tế về virus học lần thứ
11 tại Sydney, Australia năm 1999 quy định thì virus được phân loại như sau:
Virus thuộc hộ Picornaviridae, giống Aphthovirus, virus LMLM gồm 7
type khác nhau: O; A; C; SAT1; SAT2; SAT3 và Asia1
Người ta phân biệt các type, subtype, các biến chủng và theo mức độ sinh miễn dịch chéo Hiện nay có trên 70 subtype đã biết
- Type A có 32 subtype: Từ A1 đến A32 và có các chủng: A1Babaria, A2Spain, A3Purlenberg, A4Hansen, A5Westerwald, GreeceA5, A8Parma, A Belem, AGuarruhos, AZulia (Venezuela), ASuipacha, (Argentine), USR1/64, Kenya3/64, Iraq24/64, Kenya46/64, Acruizairo, A Argentine59, A Argentine 66,
A Colombia67, Folatli, A peru69, Columbia69, A venezuela
- Type O có 11 subtype: O1 đến O11 và các chủng virus bao gồm: Lombardy, O2 Bresia , Venezuela, India1/62, OVI, Polan, Brasil1/60, Kenya 102/60, Philipines2/58, Indonesia
Trang 30- SAT3 có 4 subtype: SAT3/1 đến SAT3/4 và có các chủng: RV7/34, SA57/59, Bech1/65
- Asia1 có 3 subtype từ Asia1/1 đến Asia1/3, gồm các chủng: Park1/54, Israel3/63, Kemron, Asia Asia1
Về khả năng nảy sinh các biến dị của virus LMLM, Ramon (1952) giả định nguyên nhân của sự biến dị là kết quả của việc dùng vacxin không gây được miễn dịch đầy đủ cho con vật, đã thúc đẩy quá trình đột biến ở các chủng thực địa (Tô Long Thành, 2000)
Tầm quan trọng của một subtype ở chỗ là một vacxin chỉ có thể sản xuất sử dụng cho một vùng do subtype cụ thể xuất hiện tại nơi đó Người ta đã chứng minh trong một ổ dịch phát ra, lúc đầu là do một chủng (type) virus hoặc dưới chủng (subtype) virus gây nên, sau đó cũng trong ổ dịch đó người ta lại phân lập được chủng virus hoặc dưới chủng virus LMLM khác Điều này được giải thích
do virus LMLM rất dễ biến đổi để thích nghi, tồn tại và phát triển thông qua động vật cảm thụ (Tô Thành Long và cs., 2006)
Một ổ dịch xảy ra do các type hoặc các dưới type và cũng có thể là do cả hai hoặc đơn lẻ từng type hoặc dưới type
Virus LMLM thường vẫn giữ được đặc tính của nó khi sinh sản Nhưng cũng có thể trong quá trình nhân lên cao độ trong một ổ dịch, một sự biến dị làm nảy sinh một biến chủng mới Một số tác giả đã quan sát sự biến đổi từ một type này sang type khác Malig và Lazlo thấy type A, C biến thành type O; Dimmit thấy type O biến thành type C; Malzolot thấy type O biến thành type A5 Do tính chất đa loại này mà có những con vật đã lành bệnh rồi lại tái nhiễm sau thời gian ngắn Người ta thấy những con trâu, bò mắc bệnh lại sau 10 ngày, có khi mắc 3 lần trong một tuần (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)
2.3.5 Đặc tính nuôi cấy của virus
Virus LMLM có thể được nuôi cấy: Trên tổ chức da sống, như tổ chức da
của thai lợn, thai bò, chuột con còn sống (giữ thai sống bằng phương pháp nhân tạo); Trên các động vật thí nghiệm như thỏ, chuột lang, chuột nhắt đã trưởng thành (tuy nhiên vi rút thường bị biến đổi và mất đặc tính gây bệnh); Trên màng niệu nang của phôi trứng (không ổn định, có khi được có khi không); Trên tổ chức thượng bì lưỡi bò trưởng thành, đây là tổ chức thích hợp nhất để nuôi cấy virus LMLM Lưỡi bò phải được lấy ngay khi vừa mới mổ bò, giữ lạnh ở nhiệt
Trang 31độ 2-30 C và chỉ sử dụng được trong vòng 8 ngày Phương pháp này là phương pháp cho kết quả tốt, độc lực của virus vẫn cao đối với bò và động vật thí nghiệm sau nhiều lần tiếp đời Do đó phương pháp này thường được dùng để chế vacxin
vô hoạt
Ngoài các phương pháp trên, có thể nuôi cấy trên môi trường tế bào Tốt nhất là tế bào thận bê hoặc cừu non, tuyến yên của bò hoặc của lợn, hoặc các dòng tế bào mẫn cảm như tế bào BHK (Baby Hamster Kidney) Sau khi cấy virus LMLM vào các môi trường tế bào nói trên, để tủ ấm 37o C khoảng 24 - 72 giờ, virus sẽ làm huỷ hoại tế bào nuôi Phòng thí nghiệm tham chiếu LMLM Pirbright năm 1973 đã nuôi cấy 140 chủng virus LMLM, khoảng 120 chủng đã sinh trưởng trong môi trường BHK21 Hiện nay môi trường này thường được sử dụng để
phân lập virus (Geoffrey et al., 1989)
2.3.6 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh
Virus LMLM không có vỏ bọc ngoài, do vậy chúng có sức đề kháng cao đối với các dung môi hữu cơ (cồn, ê-te…) nhưng lại mẫn cảm với ánh sáng mặt trời, axit, formon
Virus LMLM có sức đề kháng tương đối cao đối với ngoại cảnh (Phan Đình
Đỗ và Trịnh Văn Thịnh, 1958; Nguyễn Vĩnh Phước, 1978; Merchant and Barner, 1981; Swan, 1994; Geering, 1984; Kihm, 1992) Ở điều kiện nhiệt độ cao, virus
dễ bị tiêu diệt 60 - 700C virus chết sau 5 - 15 phút; đun sôi 1000C giết chết virus ngay lập tức Ở nhiệt độ lạnh, virus tồn tại được lâu hơn: trong tủ lạnh, virus sống được 425 ngày
Virus có thể tồn tại được khoảng 5 - 10 tuần ở những nơi thời tiết mát, đặc biệt là ở các mô bào hoặc ở các tổ chức ngoài cơ thể với điều kiện pH không thấp hơn 6,5 Tại chuồng của trâu bò virus có thể duy trì khoảng 14 ngày, ở trong đồ phế thải của động vật được khoảng 39 ngày, trên bề mặt của phân ở mùa thu được 28 ngày và ở mùa đông được 67 ngày Virus có thể sống lâu hơn ở trong thức ăn, ở lông trâu bò được 4 tuần, trong nước thải được trên 130 ngày Trong các sản phẩm của động vật, virus bị bất hoạt khi có sự acid hoá của sữa và thịt Đối với ánh sáng tác động yếu: Trên mặt đồng cỏ, virus sống ít nhất 2 tháng về mùa đông, 3 ngày về mùa thu, virus còn hoạt lực 4 tuần lễ trên lông bò Trong đất ẩm ướt virus có thể sống hàng năm Theo Nguyễn Lương (1997), sức đề kháng của virus phụ thuộc phần lớn vào chất chứa nó Virus có sức đề kháng
Trang 32tương đối mạnh khi nó dính vào những chất khô hay những chất protein, ví dụ trong cỏ khô virus sống được 8 - 15 tuần, trong tuỷ xương dài, phủ tạng virus có thể sống 40 ngày Ở trong tổ chức và mô bào, virus có sức đề kháng mạnh cả với những chất sát trùng mà có thể giết được vi khuẩn khác
Đối với hoá chất, chất sát trùng: Do virus không có lớp vỏ bọc ngoài là lipit nên nó có khả năng đề kháng với các chất hữu cơ như cồn, ete… Tuy nhiên, virus lại mẫn cảm với axít, formol, có thể dùng các loại axit nhẹ để tiêu diệt virus trên cơ thể con vật như: Dấm ăn, phèn chua, chanh, khế, axit citric, axit acetic 5
% Nhưng để tiêu độc chuồng trại nên dùng NaOH 0,8 % Trong thực tiễn, người ta thường dùng NaOH 0,5 % để sát trùng thân thể gia súc và cho người, còn dung dịch 1 % để sát trùng dụng cụ, khi dùng nên cho thêm dung dịch nước vôi 5 %
2.4 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH LMLM
2.4.1 Loài mắc bệnh
Vật nuôi: Tất cả các động vật móng guốc chẵn bao gồm trâu, bò, dê, cừu, lợn và hươu là những động vật cảm nhiễm tự nhiên với virus LMLM Ngựa và các động vật thuộc loài một móng khác không cảm nhiễm với bệnh Động vật non mẫn cảm hơn động vật trưởng thành
Động vật hoang dã: Voi, lạc đà, lợn rừng, bò rừng, sơn dương, nhiều loại gậm nhấm và loài nhai lại hoang dã mẫn cảm với bệnh là nguồn bệnh trong thiên nhiên
Trong thí nghiệm: Có thể gây bệnh cho bê, chuột nhắt trắng, chuột xám, thỏ, chuột lang
2.4.2 Chất chứa virus
Khi gia súc mắc bệnh, virus được phân bố:
- Trong các bệnh tích đặc hiệu, các mụn nước, trong dịch lâm ba và trong các màng bọc mụn nước Virus có nhiều nhất trong dịch của mụn nước sơ phát
và mới (tối đa 2 ngày)
- Trong máu, nội tạng và bệnh tích ở bắp thịt Máu có độc lực từ giờ thứ 18 (Vanman) và có thể tìm thấy trong 3 - 5 ngày sau khi mắc bệnh Máu mất độc lực khi hình thành mụn nước thứ phát Độc lực của các bệnh tích ở bắp thịt cao hơn của máu nhiều và kéo dài đến ngày thứ 7 sau khi mắc bệnh
Trang 33- Trong các chất bài tiết và bài xuất: nước bọt, nước tiểu, phân, sữa, nước mũi, nước mắt Độc lực của chúng cao hay thấp tuỳ theo độc lực của máu, cao nhất vào ngày thứ 2 và thứ 3 sau khi nhiễm virus và mất đi (trừ trường hợp nước tiểu) vào ngày thứ 4 hoặc thứ 5 Độc lực của nước dãi xuất hiện rất sớm (khoảng sau 10 giờ) đặc biệt cao khi mụn nước ở mồm xuất hiện và vỡ Độc lực của nước dãi mất đi trung bình từ ngày thứ 11 sau khi nhiễm virus và chậm nhất là ngày thứ 13 Virus có thể xuất hiện ở chất bài tiết, bài xuất trước khi con vật có triệu chứng lâm sàng
2.4.3 Đường xâm nhập
Trong thiên nhiên, virus xâm nhập qua đường hô hấp là phổ biến hơn cả, ngoài ra virus LMLM có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá, các vết thương Đường sinh dục cũng có thể là nơi xâm nhập nhưng ít xảy ra
Trong phòng thí nghiệm, đường tiêm nội bì có hiệu quả nhất Đối với bò và lợn, người ta hay tiêm virus vào nội bì niêm mạc lưỡi Ở chuột lang, tiêm vào nội
bì gan bàn chân Những đường tiêm khác như bắp thịt, dưới da, tĩnh mạch… cho kết quả không chắc chắn và đòi hỏi liều virus cao hơn
bò sữa, mõm lợn Mụn nước phát triển to dần ra, nhô lên nhưng không bao giờ sinh mủ khi không có vi trùng kế phát Sau khi mụn vỡ, những vết tích trên thượng bì được lấp bằng nhanh chóng, không để lại sẹo do tế bào của lớp Malpighi vẫn nguyên vẹn Mụn nước chỉ loét khi nhiễm khuẩn kế phát, vi khuẩn sinh mủ, gây hoại tử xâm nhập gây bệnh lý cục bộ ăn sâu vào trong, có khi gây bại huyết, con vật có thể chết Thời kỳ nung bệnh phụ thuộc vào loài động vật, số