1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn

92 561 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước, nên dịch LMLM gia súc trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn cũng hết sức phức tạp và kéo dài, phải mất gần 6 tháng dập động vậ

Trang 1

NÔNG QUANG HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ

CỦA VI RÚT GÂY BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN ĐÀN TRÂU, BÒ VÀ HIỆU LỰC CỦA VẮC XIN TRONG CÔNG TÁC PHÒNG BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG

TẠI TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

NÔNG QUANG HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ

CỦA VI RÚT GÂY BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN ĐÀN TRÂU, BÒ VÀ HIỆU LỰC CỦA VẮC XIN TRONG CÔNG TÁC PHÒNG BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nông Quang Hải xin cam đoan rằng:

- Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn do tôi trực tiếp nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Sửu và PGS.TS Tô Long Thành là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện nghiên cứu và viết Luận văn đã được cảm ơn Tất cả các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Bắc Kạn, ngày 20 tháng 9 năm 2015

Tác giả luận văn

Nông Quang Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gia học tập tại trường và làm đề tài nghiên cứu tại cơ sở tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, Khoa Chăn nuôi thú y và các thầy, cô giáo của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo và các cán bộ chuyên môn các phòng, ban của Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung ương, Chi cục Thú y tỉnh Bắc Kạn, Trạm thú y các huyện, thành phố tỉnh Bắc Kạn đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn nghiên cứu của mình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo và các giảng viên của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình giảng dậy, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường, đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của

thầy giáo TS Nguyễn Văn Sửu, PGS.TS Tô Long Thành đã trực tiếp giúp đỡ

tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban lãnh đạo Trung tâm chẩn đoán thú y Trung ương, Chi cục Thú y, tập thể trạm thú y các huyện, thành phố của tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên giúp đỡ, tạo điều kiện và dành cho tôi sự động viên quý báu trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu của mình

Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, lời cảm ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập

Bắc Kạn, ngày 20 tháng 9 năm 2015

Tác giả luận văn

Nông Quang Hải

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 3

3 Ý nghĩa thực tế và khoa học của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Giới thiệu chung về bệnh Lở mồm long móng 4

1.2 Lịch sử bệnh Lở mồm long móng 5

1.2.1 Diễn biến tình hình dịch LMLM trên thế giới 5

1.2.2 Diễn biến tình hình dịch bệnh LMLM tại Việt Nam 8

1.3 Vi rút gây bệnh LMLM 14

1.3.1 Hình thái và cấu trúc 15

1.3.2 Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên 16

1.3.3 Đặc tính kháng nguyên 18

1.3.4 Các điểm quyết định kháng nguyên 19

1.3.5 Tiến hóa của vi rút LMLM 19

1.3.6 Đặc tính gây nhiễm trong phòng thí nghiệm 20

1.3.7 Đặc tính nuôi cấy tổ chức tế bào 21

1.4 Một số đặc điểm dịch tễ học của vi rút LMLM 22

1.4.1 Nguồn dịch 22

1.4.2 Động vật cảm thụ 22

1.4.3 Đường xâm nhập 23

1.4.4 Cơ chế sinh bệnh 23

1.4.5 Chất chứa vi rút 24

Trang 6

1.4.6 Con đường và phương thức truyền lây 25

1.4.7 Lứa tuổi mắc bệnh 26

1.4.8 Tỷ lệ ốm và chết 26

1.5 Miễn dịch trong bệnh LMLM 27

1.6 Triệu chứng và bệnh tích ở trâu bò 28

1.6.1 Triệu chứng 28

1.6.2 Bệnh tích 31

1.7 Chẩn đoán 32

1.7.1 Chẩn đoán lâm sàng 32

1.7.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 32

1.8 Phòng bệnh LMLM 36

1.8.1 Vệ sinh phòng dịch 36

1.8.2 Vắc xin phòng bệnh 37

Chương 2: NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Nội dung và đối tượng nghiên cứu 39

2.1.1 Nội dung nghiên cứu 39

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 39

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 39

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 39

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 39

2.3 Nguyên liệu 39

2.3.1 Mẫu thí nghiệm 39

2.3.2 Kít xét nghiệm 40

2.3.3 Vắc xin dùng trong thí nghiệm 40

2.3.4 Tài liệu, số liệu 40

2.3.5 Máy móc, dụng cụ xét nghiệm 41

2.4 Phương pháp nghiên cứu 41

2.4.1 Điều tra một số chỉ tiêu liên quan đến chăn nuôi và dịch tễ bệnh LMLM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 41

2.4.2 Định type vi rút 41

Trang 7

2.4.3 Giám sát một số chỉ tiêu về huyết thanh học của đàn trâu, bò trên địa bàn 41

2.4.4 Phương pháp lấy mẫu 42

2.4.5 Phương pháp xét nghiệm 42

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 51

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52

3.1 Tình hình chăn nuôi một số loài móng guốc chẵn tại tỉnh Bắc Kạn 52

3.2 Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tỉnh Bắc Kạn từ năm 2010 đến năm 2014 54

3.2.1 Diễn biến dịch LMLM của trâu, bò trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ năm 2010 đến năm 2014 54

3.2.2 Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh theo mùa 58

3.2.3 Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh theo lứa tuổi 61

3.3 Giám sát tỷ lệ lưu hành của vi rút LMLM của trâu, bò trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và đánh giá tỷ lệ mang trùng do nhiễm vi rút LMLM tự nhiên ở trâu, bò 64

3.3.1 Sự lưu hành virut LMLM tự nhiên trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn 64

3.3.2 Tỷ lệ dương tính huyết thanh 3ABC tại một huyện 68

3.4 Định type vi rút gây bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn và nghiên cứu sự đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn 69

3.4.1 Định type vi rút LMLM trâu, bò bằng huyết thanh 69

3.4.2 Định type vi rút LMLM của trâu, bò bằng biểu mô 70

3.4.3 Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn 72

3.4.4 Một số khuyến cáo cho người chăn nuôi 75

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Đề nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

AND : Acid Deoxyribonucleic

APC : Antigen presenting cell (Tế bào trình diện kháng nguyên) ARN : Acid Ribonucleic

HBK-21 : Baby Hamster Kidney dòng 21

CFT : Complement Fixation Test

ĐC : Đối chứng

ELISA : Enzyme Linked Immunosorbent Assay

FMD : Foot and Mouth Disease

FMDV : Foot and Mouth Disease Virut

LPB-ELISA : Liqui Phase Blocking ELISA

MHC : Major histocompatibility comlex

OIE : Offce Internatinal Epizooties

OPD : Ortho Phennylenediamine (chất phát màu)

PCR : Polymerase Chain Reaction

PBS : Phosfate Buffer Saline

RT-PCR : Reverse Trancrption Polymerase Chain Reaction

TCI50 : 50% Tissue Culture Infection Dose

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình chăn nuôi một số loài gia súc móng guốc chẵn tại

Bắc Kạn từ năm 2010 đến 2014 52 Bảng 3.2: Diễn biến dịch LMLM của trâu, bò trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

từ năm 2010 đến năm 2014 (Tính chung trâu, bò) 55 Bảng 3.3: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm 56 Bảng 3.4: Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo mùa từ 2010 đến 2014 (Tách

riêng trâu) 58 Bảng 3.5: Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo mùa từ 2010 đến 2014 (Tách

riêng bò) 59 Bảng 3.6: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa từ 2010 đến 2014

(Tính chung trâu, bò) 60 Bảng 3.7: Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi từ năm 2010 đến

2014 (Tách riêng trâu) 61 Bảng 3.8: Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi từ năm 2010 đến

2014 (Tách riêng bò) 62 Bảng 3.9: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi từ năm 2010

đến 2014 (Tính chung trâu, bò) 63 Bảng 3.10: Tỷ lệ trâu, bò nhiễm virut LMLM tự nhiên tại tỉnh Bắc Kạn

năm 2014 65 Bảng 3.11: Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò của tỉnh

Bắc Kạn năm 2014 (cắt ngang 4/8 huyện) 66 Bảng 3.12: Tỷ lệ dương tính ABC-ELISA ở trâu, bò tại một huyện (Pác Nặm) 68 Bảng 3.13: Kết quả định type vi rut LMLM của trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn

bằng huyết thanh 70 Bảng 3.14: Kết quả thu thập bệnh phẩm LMLM ở trâu, bò trên địa bàn

tỉnh Bắc Kạn năm 2014 - 2015 70 Bảng 3.15: Kết quả xét nghiệm định type vi rut LMLM trên đàn trâu, bò

tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2014 - 2015 71 Bảng 3.16: Hiệu giá kháng thể trung bình của đàn trâu, bò khi được tiêm

vắc xin 72

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009 8

Hình 1.2: Cấu trúc của virion vi rút LMLM type O1BFS 15

Hình 1.3: Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM 16

Hình 1.4: Triệu chứng và bệnh tích ở miệng bò bị bệnh LMLM 29

Hình 1.5: Bệnh tích ở miệng và lưỡi bò bị bệnh LMLM 30

Hình 1.6: Bệnh tích ở vú bò bị bệnh LMLM 31

Hình 3.1: Biểu đồ về tần xuất dịch LMLM của trâu, bò trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ năm 2010 đến 2014 55

Hình 3.2: Biểu đồ diễn biến và tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM và chết vì bệnh LMLM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ năm 2010 đến 2014 57

Hình 3.3: Biểu đồ và tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo mùa 59

Hình 3.4: Biểu đồ và tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo mùa 60

Hình 3.5: Biểu đồ tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi 62

Hình 3.6: Biểu đồ tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi 63

Hình 3.7: Đồ thị biến động hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch của trâu, bò sau tiêm vắc xin LMLM 73

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan rất nhanh, rất mạnh gây thiệt hại nặng nề đối với động vật dễ nhiễm thuộc loài móng guốc chẵn như: Trâu, bò, dê, lợn Bệnh đã được Tổ chức Thú y thế giới (OIE: Office Internatinal Epizooties) xếp đầu bảng A (bảng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của động vật) và bắt buộc các nước thành viên phải khai báo Bệnh do vi

rút LMLM thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus gây ra, có 2 đặc tính đặc

biệt liên quan đến dịch tễ học, đó là tính đa type và tính dễ biến đổi kháng nguyên Các type vi rút tuy gây ra các triệu chứng giống nhau, nhưng lại không gây miễn dịch chéo với nhau

Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế thị trường của nước ta đã thúc đẩy quá trình giao lưu, buôn bán động vật và sản phẩm động vật giữa các tỉnh trong nước và với nước ngoài như Trung Quốc, Lào, Cam Pu Chia Từ đó bệnh LMLM càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội ở nước ta Trên thực tế, việc khống chế và thanh toán bệnh LMLM đã gặp không ít khó khăn, từ việc kiểm dịch vận chuyển cho đến chăn nuôi thiếu qui hoạch, trâu bò thả rông Tiêm phòng vắc xin được xác định là giải pháp quan trọng, tuy nhiên việc chọn vắc xin phù hợp cho từng vùng, từng tỉnh đòi hỏi cần phải nghiên cứu kỹ type

vi rút gây bệnh trên thực địa để tránh trường hợp tiêm phòng loại vắc xin không phù hợp, gây lãng phí và thiệt hại cho người chăn nuôi

Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, tỉnh có địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 485.721 ha, gồm 7 huyện, 1 thành phố với 122 xã, phường, thị trấn Trong những năm gần đây cùng với việc phát hiện nhiều ổ dịch trên đàn gia súc, gia cầm, dịch LMLM gia súc vẫn tái phát tại một số

xã trên địa bàn tỉnh

Năm 2006, tỉnh Bắc Kạn đã bùng phát dịch LMLM với diễn biến phức tạp, từ

ổ dịch nhỏ dịch đã xảy ra trên tất cả các huyện, thị xã của tỉnh Bắc Kạn, tổng số gia

súc bị mắc là 2.268 con, trong đó trâu, bò 2.159 con; lợn 46 con; dê 63 con

Sau 2 năm không tái phát dịch (năm 2007-2008), đến đầu năm 2009, ổ dịch LMLM lại bùng phát tại 3 thôn của xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, số trâu, bò mắc bệnh là 118 con, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thường trực tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự

Trang 12

giúp đỡ và chỉ đạo của Cục Thú y, Cơ quan thú y Vùng 2, Chi cục Thú y Bắc Kạn

đã phối hợp với các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể chỉ đạo phòng, chống

dịch đạt hiệu quả, dập tắt không để dịch LMLM lây lan ra diện rộng

Đầu năm 2010 tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn cả nước diễn biến

phức tạp, một số dịch bệnh nguy hiểm như Cúm gia cầm (H5N1), Tai xanh lợn (PRRS), LMLM liên tiếp xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phố Các tỉnh giáp danh với tỉnh Bắc Kạn như Cao Bằng, Thái Nguyên cũng xảy ra dịch Cúm gia cầm và Tai xanh lợn, vì vậy tỉnh Bắc Kạn không tránh khỏi nguy cơ lây nhiễm nguồn dịch do việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Đến tháng 11 năm 2010 dịch LMLM xảy ra tại thôn Cảm Lẹng, xã Nông Thịnh, huyện Chợ Mới làm 51 con gia súc mắc bệnh ( trong đó 29 con trâu, 10 con bò và

12 con lợn) Sau khi phát hiện dịch Chi cục Thú y đã tiến hành khoang vùng, tổ chức phòng, chống dịch và dập tắt không để dịch lây lan

Năm 2011, dịch LMLM đã xảy ra tại 8/8 huyện, thị xã của tỉnh Bắc Kạn làm 5.193 con trâu, bò mắc bệnh, trong đó chết và tiêu hủy 507 con Do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước, nên dịch LMLM gia súc trên

địa bàn tỉnh Bắc Kạn cũng hết sức phức tạp và kéo dài, phải mất gần 6 tháng dập

động vật mắc bệnh xuất hiện vi rút LMLM với type A

Bước vào năm 2015, tình hình dịch LMLM gia súc lại xuất hiện ở các huyện Ngân Sơn, Ba Bể, từ ngày 03/01/2015 dịch xuất hiện tại các xã Bằng Vân, Đức Vân, Vân Tùng, Nà Phặc, huyện Ngân Sơn làm 185con mắc bệnh (trong đó trâu: 89 con, bò: 96 con); từ ngày 05/02/2015 tại xã Cao Thượng và Nam Mẫu của huyện Ba

Bể dịch LMLM cũng xảy ra tại 07 thôn làm 145 con gia súc mắc bệnh (trong đó trâu: 76 con, bò: 69 con) Đến ngày 22/5/2015 tại xã Nhạn Môn, huyện Pác Nặm xuất hiện trâu, bò, lợn mắc bệnh LMLM, tổng số con mắc là: 30 con (trong đó trâu:

17 con, bò: 6 con và lợn 7 con), khi phát hiện gia súc có triệu chứng của bệnh LMLM, Chi cục Thú y đã phối hợp với UBND huyện Pác Nặm chỉ đạo các phòng

Trang 13

liên quan và UBND xã Nhạn Môn triển khai các biện pháp khoang vùng, tiến hành tiêm phòng vắc xin đa giá (tuýp O, A và Asia-1) khống chế không để dịch lây lan, lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm để định type vi rút gây bệnh Kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô xuất hiện kháng nguyên dương tính với type A

Như vậy, kể từ năm 2006 đến ngày 30/5/2015, có 08 đợt tái phát dịch LMLM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, dịch xuất hiện cả ở 8/8 huyện, thị xã của tỉnh Bắc Kạn, vi rút gây bệnh LMLM xuất hiện ở cả type O và type A Các ổ dịch này đã làm 8.067 con gia súc, trong đó có: 7.923 con trâu, bò; 76 con lợn; 68 con dê mắc bệnh LMLM, số chết và tiêu hủy là: 519 con gia súc

Diễn biến phức tạp của dịch LMLM ở tỉnh Bắc Kạn đòi hỏi phải có những nghiên cứu về sự phân bố và lưu hành của vi rút LMLM, từ đó có cơ sở khoa học để lựa chọn vắc xin phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống dịch LMLM trên địa bàn tỉnh, đảm bảo an toàn dịch bệnh cho chăn nuôi và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có nguồn gốc động vật, đồng thời giúp ngành chăn nuôi của tỉnh

phát triển Để giải quyết vấn đề đó, tôi triển khai đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh Lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực

của vắc xin trong công tác phòng dịch Lở mồm long móng tại tỉnh Bắc Kạn"

2 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh LMLM tại Bắc Kạn

- Nghiên cứu sự phân bố của type vi rút LMLM tại tỉnh Bắc Kạn, làm cơ sở lựa chọn loại vắc xin phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống dịch bệnh LMLM cho gia súc

- Nghiên cứu khả năng đáp ứng miễn dịch của trâu, bò sau khi tiêm vắc xin LMLM

3 Ý nghĩa thực tế và khoa học của đề tài

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn

- Các kết quả điều tra, nghiên cứu tại tỉnh Bắc Kạn sẽ cung cấp, bổ sung và hoàn thiện thêm các thông tin về dịch tễ học bệnh LMLM tại Việt Nam

- Các kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ học, xác định sự phân bố của type vi rút LMLM gây bệnh trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn từ năm

2010 đến năm 2014 là cơ sở khoa học, giúp các cơ quan chức năng lựa chọn loại vắc xin LMLM phù hợp, từ đó có biện pháp quản lý, chỉ đạo công tác phòng, chống dịch bệnh đạt hiệu quả

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu chung về bệnh Lở mồm long móng

Bệnh Lở mồm long móng (tên tiếng Anh: Foot and Mouth Disease) là một

bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm của loài động vật móng guốc chẵn như trâu,

bò, lợn, dê, cừu, hươu, lai Bệnh do vi rút ARN họ Picornaviridae, một loài vi rút

hướng thượng bì gây ra Bệnh có những đặc điểm đặc trưng là sốt và hình thành mụn nước ở miệng, chân và vú của gia súc cảm thụ (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [6]; (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [16]; (Donalson A.I, 2000) [39]

Mặc dù bệnh xuất hiện như là một bệnh thể nhẹ, tỷ lệ chết ở gia súc trưởng thành không cao nhưng hậu quả là sự thiệt hại về kinh tế rất trầm trọng Theo số liệu của OIE bệnh LMLM gây sảy thai khoảng 25% động vật có chửa, làm giảm sản lượng thịt 25%, giảm sản lượng sữa 50% và giảm 25% năng suất lông ở cừu Vi rút LMLM có thể gây ra các ổ dịch rộng lớn, tỉ lệ mắc bệnh cao gần như 100% và bệnh

có thể lây lan trong phạm vi một hoặc nhiều nước (Văn Đăng Kỳ và cộng sự, 2001) [10]; (Donalson A.I, 2000) [40]

Do tính chất nguy hiểm nên bệnh LMLM được OIE xếp vị trí số một của bảng

A (bảng các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm ở động vật) và bắt buộc các thành viên phải khai báo Các nước đang có bệnh LMLM không được xuất khẩu

động vật mắc bệnh đó và sản phẩm của chúng sang các nước khác (trích dẫn từ sổ

tay dịch bệnh động vật, 2002) [20]

Từ lần ghi nhận đầu tiên đến năm 1897, các tài liệu ghi chép lại chủ yếu quan tâm đến mô tả triệu chứng (Trần Thanh Phong, 1996) [15] Năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được vi rút gây bệnh (Nguyễn Vĩnh Phước và cộng sự, 1978) [17] Cũng theo Trần Thanh Phong, 1996 [15], Wal dmann và Pape đãchứng minh

được tính cảm thụ của chuột lang đối với vi rút Năm 1922, Valleé và Carré tìm thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống vi rút (type O và type A) Năm

1926, Waldmann và Trauwein tìm ra vi rút type C Sau đó, Lawrence xác định sự có mặt của các type SAT-1, SAT-2 và SAT-3 từ những bệnh phẩm từ Châu Phi gửi

đến Phòng Thí nghiệm Tham chiếu Thế giới (Pirbright - Anh) và type Asia-1 từ

những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn Độ, Miến Điện

Trang 15

1.2 Lịch sử bệnh Lở mồm long móng

1.2.1 Diễn biến tình hình dịch LMLM trên thế giới

Diễn biến tình hình dịch trong những năm 60 thế kỷ 20 rất trầm trọng, trung bình mỗi năm có 4.000 ổ dịch Đến những năm 70, bệnh có xu thế giảm ở Châu Âu, Châu Mỹ nhưng vẫn phổ biến ở Châu Phi (Mauritania, Senegal, Liberia, Tanzannia, Nigeria ) và Châu Á (Indonesia, Malaisia, Thái Lan )

Vào những năm 80, 90 dịch LMLM có mặt ở nhiều châu lục Trong 5 năm (1981 - 1985), dịch đã xuất hiện ở khắp 80 nước Ở Châu Âu có 804 ổ dịch tại 12 quốc gia do vi rút thuộc các type O, A, và C gây ra Năm 1985, dịch LMLM do

vi rút thuộc type Asia-1 sảy ra ở Hy Lạp Cùng thời gian này, ở Châu Á, dịch đã

có mặt tại 11 nước và hầu hết các ổ dịch cũng do vi rút type Asia-1 Ở Châu Phi, dịch LMLM gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là Kenia và Ethiopia (1984-1985) Vi rút type C là căn bệnh chính của những ổ dịch ở 2 nước này Tại các nước còn lại của châu lục này, bệnh LMLM đều do vi rút thuộc 3 type SAT 1, SAT 2, SAT 3 gây ra (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)[6]

Năm 1989, theo thông báo của OIE, dịch LMLM đã sảy ra ở 53 nước ở khắp các châu lục: Á, Âu, Phi, và Nam Mỹ Cho đến nay, một số quốc gia đã đạt được thành quả tốt trong việc khống chế và thanh toán bệnh, như các nước thuộc khối cộng đồng Châu Âu, Bắc Mỹ, Argentina, Indonesia và gần đây là Cộng Hòa Séc Tuy nhiên, dịch LMLM vẫn là nguy cơ của nhiều quốc gia, uy hiếp nghiêm trọng nền chăn nuôi và thương mại quốc tế (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)[6]

Những năm 1990, ở châu Âu, các nước báo dịch gồm Italia, Bulgari, Nga và

Hy Lạp Năm 1993 có 55 ổ dịch xảy ra ở Italia, những ổ dịch đơn lẻ xảy ra ở Bulgari, Nga Giữa năm 1994, một ổ dịch xảy ra ở Hy Lạp trên đảo Lesbos và Thrace gần biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ Năm 1996, có 2 ổ dịch ở Thổ Nhĩ Kỳ và 1 ở

Hy Lạp Năm 1997, chỉ có Georgia và Armenia là có bệnh Trong năm 1998, một chủng type A mới được phát hiện tại Iran năm 1996 đã lan đến Thổ Nhĩ Kỳ sát Istanbul, dịch kéo dài đến cuối năm 1998

Ở Châu Phi, vào thập kỷ 90, vi rút LMLM type O lưu hành rộng rãi ở Tây Phi,

Gambia, Senegal, Uganda, Tanzania Malawi và Kenia Năm 1999, ổ dịch LMLM

Trang 16

type O bắt nguồn từ Mali (Tây Phi) theo đường vận chuyển bò xuyên qua Sahara lan đến Algeria, Marocco và Tunisia Vi rút LMLM type SAT 2 lưu hành ở Uganda, Zambia và Kenia; SAT 1 được xác định ở Kenia

Ở Châu Á, dịch LMLM do vi rút type O và Asia-1 xảy ra ở Pakistan và

Myanmar; type O và A tại Nepal, Buhtan; type A ở Thái Lan Tại Malaysia, không công bố dịch từ năm 1998, nhưng trong thự tế 2 type vi rút O và Asia-1 vẫn lưu hành tại bán đảo Malay này (không gửi bệnh phẩm đến WRL) Hai ổ dịch địa phương tại Đài Loan và Philippines (đảo Luzon) đều do vi rút type O gây ra Tại Trung Quốc, dịch tại xảy ra tại Vân Nam nhưng không có thông tin về type vi rút (Bùi Quang Anh và Hoàng Vă Năm, 2001)[1]

Ở Tây Á, chủng Iran 98 type A gây bệnh tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và lan đến

Akmenia Vi rút type O đã gây dịch tại Lebanon, Kuwait, Iran, Iraq, Israel, Qatar, Bahrain, Yemen và Saudi Arabia; Kazakstan và Kyrgyzstan (riêng Kazakhstan có vi rút type A) Ở Nam Mỹ, tình hình khống chế dịch LMLM có nhiều thuận lợi, Paraguay được công nhận là nước an toàn dịch (có tiêm phòng) Argentina cũng

được OIE công nhận là nước có vùng không bệnh LMLM không tiêm phòng

(Collen T và cs, 1998) [38]

Năm 2001, dịch LMLM do type O tái bùng phát khắp châu Âu (Anh, Hà Lan, Pháp và Ireland); Nam Mỹ (Uruguay, Brazil và Colombia); ở châu Á (Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Afghanistan, Georgia, Azerbaijan, Mông Cổ, Kuwait, Bahrain, Yemen, Qatar, Ả Rập, Oman, Iran, Butan, Nepal, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Đài Loan) Tính đến cuối tháng 4/2001, Chính phủ Anh đã phải chi phí cho việc tiêu hủy gia súc bệnh, dập dịch, cộng với những thiệt hại do dịch gây ra lên đến trên 14 tỷ đô la Mỹ Sau đó, dịch xảy ra ở một loạt các nước châu Âu, châu Mỹ, Phi và châu Á Tính đến tháng 7/2001, có trên 20 nước xảy ra dịch LMLM (Nguyễn Vĩnh Phước và cộng sự, 1978) [16]

Từ năm 2000-2004 có 23 nước ở Châu Á và Châu Phi gửi mẫu đến WRL Kết quả type O vẫn là type phổ biến nhất; các type A, SAT 1 và SAT 2 có trình tự nucleotide (di truyền) biến đổi nhiều so với các chủng trước đây cùng serotype Tại Đông Nam Á và vùng Viễn Đông, dịch bệnh do vi rút type O được ghi nhận ở Hồng Kông và tất cả các quốc gia thành viên SEAFMD, ngoại trừ Indonesia

Trang 17

là nước không có bệnh LMLM Type A được tìm thấy ở Malaysia, Thái Lan, Lào

và Việt Nam (2004) Các chủng vi rút type O phân lập được đều thuộc topotype ME-SA và Cathay Các vi rút phân lập từ Hồng Kông và Philippines nằm trong topotype Cathay nhưng lại thuộc dòng phụ khác Vi rút nhận được từ Việt Nam thuộc topotype Cathay hoặc ME-SA (chủng Pan - Asia) Vi rút type A ở Việt Nam thuộc topotype Asia, có quan hệ rất gần với các chủng gây dịch bệnh ở Thái Lan năm 2003, 2004 [37]

Trong năm 2005, bệnh LMLM đã xảy ra ở Brazil (serotype O), Colombia (serotype A), ở Nga (serotype Asia 1); ở Trung Quốc (serotype Asia-1), Hồng Kông (serotype Asia-1), Mông Cổ (serotype Asia-1); ở Botswana (serotype SAT 2), Congo (SAT 1, 2, 3 và A) Sự xuất hiện gần đây của serotype Asia-1 ở Trung Quốc, Hồng Kông, Mông Cổ, Myanmar, Nga, Tajikistan cùng với sự có mặt của serotype này ở Ấn Độ, Iran và Pakistan cho thấy rằng một chủng của Asia-1 có thể đang lây lan khắp châu Á Trong báo cáo của OIE năm 2005, không có dịch LMLM ở các nước trong vùng được coi là an toàn và không tiêm phòng vắc xin LMLM Cũng trong năm này, FAO/WRLFMD đã nhận 266 mẫu bệnh phẩm LMLM từ 21 nước châu Âu, châu Á, châu Phi và kết quả phân lập và định type cho biết type O vẫn chiếm tỷ lệ lưu hành cao nhất (Chinsangaram J , Koster M , 2001) [37]

Theo kết quả xét nghiệm của Phòng thí nghiệm giám định vi rút LMLM (Pirbright, UK) những năm gần đây, sự phân bố của các type và serotype vi rút LMLM trên thế giới vẫn như phân bố năm 2002 (hình 1.1)

- Châu Âu: những ổ dịch do vi rút type O và A có serotype A Iran/96 ở Iran và Thổ Nhĩ Kỳ

- Châu Phi: những ổ dịch do type O gây ra ở vùng Đông Bắc của lục địa (Algeria, Tunisia, Guinea, Burundi, Kenya, Tanzania và Zimbabue); type A phân bố

ở Tây, Trung và Đông Phi; type C không phổ biến, các type SAT lưu hành rộng rãi,

SAT 1 và SAT 2 xảy ra rộng khắp trừ phía Bắc Phi, nhưng SAT 3 chỉ xảy ra ở vùng hẹp của phía Nam

Trang 18

Hình 1.1: Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009

1.2.2 Diễn biến tình hình dịch bệnh LMLM tại Việt Nam

1.2.2.1 Lịch sử bệnh

Theo Chương trình Quốc gia khống chế bệnh LMLM giai đoạn 2011 - 2015 thì ở Việt Nam, bệnh được phát hiện đầu tiên vào năm 1898 tại Nha Trang và sau

Trang 19

đó dịch đã lan rộng ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, cùng thời kỳ này bệnh cũng được

phát hiện ở cả Lào, Campuchia và Thái Lan (Văn Đăng Kỳ và cộng sự, 2001) [10] Trong 2 năm 1921-1922, ở các tỉnh phía bắc có 690 ổ dịch xảy ra làm 13.018 con trâu, bò và lợn bị bệnh, trong đó 446 con chết Ở Miền Đông Nam Bộ, thể bệnh rất nhẹ và bệnh tích chủ yếu ở miệng (Văn Đăng Kỳ và cộng sự, 2001) [10] Ở Trung Bộ và Bắc Trung Bộ, dịch đã gây nhiều thiệt hại Năm 1921-1922, có 213 ổ dịch LMLM, làm chết 52 con

Vào những năm 1937, 1940 và 1948 dịch lại nổ ra liên tiếp ở Trung Bộ và Nam Bộ, một ổ dịch lớn lan tràn khắp tỉnh Quảng Ngãi và ở Miền Bắc bệnh có rải rác ở Sơn Tây, Thanh Hóa (Tô Long Thành và cộng sự, 2004) [28]

Năm 1948-1949, dịch xảy ra ở Lai Hòa - Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh làm chết 3 trâu; ở Nam Bộ, Tây Nguyên có một ổ dịch Theo tổ chức Quốc tế về bệnh truyền nhiễm họp tại Sài Gòn tháng 3 năm 1953, bệnh có xu hướng định vị tại Việt Nam và Campuchia (Tô Long Thành và cộng sự, 2004) [28]

Năm 1952-1953, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bệnh liên tiếp nổ ra ở Trung Bộ và lan ra Bắc Bộ Đến năm 1954, bệnh đã có mặt ở hầu khắp Bắc Bộ với

179 ổ dịch Đến tháng 4 năm 1955, bệnh xảy ra ở Liên khu III rồi lan sang khu tả ngạn, Liên khu Việt Bắc, Liên khu IV, Thành phố Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng Trong khoảng tháng 5 đến tháng 7 năm 1955, bệnh lan ra 11 tỉnh, 3 thành phố và tạm ngưng vào cuối năm 1955 (Tô Long Thành và cộng sự, 2004) [28]

Năm 1960, dịch phát ra ở 9 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An, sau đó không thấy xuất hiện lại qua nhiều năm ở các tỉnh phía Bắc Từ năm 1961-1991, không có dịch LMLM ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam

Trước năm 1969, cứ khoảng 2 đến 3 năm dịch LMLM tái phát 1 lần ở các tỉnh phía Nam Năm 1969, dịch phát nặng cho cả trâu, bò và lợn Dịch xuất phát từ Sài Gòn, Chợ Lớn, rồi lan ra các tỉnh và 5 trại lợn công nghiệp ở Nam Bộ (Tô Long Thành, 2000) [24]

Từ năm 1975, tình hình dịch LMLM được ghi nhận đầy đủ hơn Năm 1975, dịch LMLM xảy ra liên tiếp ở 17 tỉnh phía Nam từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào

Trang 20

các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Từ năm 1976 - 1983, theo số liệu của Cục Thú y, đã có 98 ổ dịch ở các tỉnh phía Nam làm 26.648 trâu, bò và 2.919 lợn bị bệnh Riêng trong năm 1983, các ổ dịch từ trâu, bò đã lan sang một trại lợn công nghiệp ở huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai làm hơn 2.200 con lợn bị mắc bệnh (Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2011)[10]

Trong những năm cuối thập kỷ 80, một số tỉnh phía Nam như An Giang, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Tháp thường xuyên bị dịch LMLM do lây lan từ Campuchia sang Năm

1989, riêng tỉnh Đồng Nai có 3 huyện là Long An, Long Thành và Mộc Xuyên bị dịch kéo dài từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 10 làm 3.514 trâu, bò bị bệnh (Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2011)[10]

Năm 1990, dịch cũng xuất hiện ở 4 huyện thuộc tỉnh Thuận Hải làm hơn 7.500 trâu, bò bị bệnh Dịch cũng xảy ra ở huyện Lộc Ninh tỉnh Sông Bé làm 100 trâu, bò

bị ốm, không cày kéo được Năm 1992, dịch phát tại Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh và những năm sau đó, bệnh có mặt ở cả 3 miền của đất nước Năm 1993, dịch

đã lan rộng ra trên địa bàn 122 xã của 18 huyện thuộc 8 tỉnh bao gồm Quảng Ninh,

Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu, với tổng số 32.260 trâu, bò và 1.612 lợn bị bệnh (Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2011)[10]

Năm 1995 là năm dịch phát ra ở nhiều tỉnh trong cả nước (107 huyện của 26 tỉnh thành, với tổng số 236.000 trâu, bò và 11.021 lợn bị bệnh (Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2011)[10], tác động đến hầu hết các tỉnh Nam Bộ đặc biệt là

Đồng bằng Sông Cửu Long Dịch phát ra đầu tiên tại thị xã Sa Đéc của tỉnh Đồng

Tháp (20/4/1995), chỉ trong một thời gian rất ngắn, bệnh dịch đã lan rộng ra 10 huyện trong tổng số 11 huyện của tỉnh, làm cho 5.135 trâu, bò và lợn bị bệnh Theo

đường buôn bán, vận chuyển lợn bệnh của các tư thương, dịch đã lan sang các

huyện, thị trong tỉnh và sau đó lan sang các tỉnh lân cận như Vĩnh Long (24/4/1995), An Giang (28/4/1995), Cần Thơ (20/11/1995) rồi lan ra khắp các tỉnh

Đồng bằng Sông Cửu Long, đến Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bà

Rịa - Vũng Tàu (Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2011)[10]

Trang 21

Ngay từ ổ dịch đầu tiên trên lợn tại Đồng Tháp, phòng thí nghiệm của Trung tâm Thú y vùng Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định được bệnh do vi rút type O gây ra Theo điều tra, nguyên nhân là do mua lợn giống từ Miền Bắc vào

Dịch LMLM đã xảy ra trên trâu, bò liên tục suốt thời gian từ 1975-2005, trên lợn từ 1992-2005 và gây thiệt hại nặng nề nhất vào các năm 1993, 1995, 1999, 2000 Ngoài type O lưu hành trong nhiều năm qua, type A cũng đã được phát hiện năm 2004 trên trâu, bò (Kihm U, 1993) [9] và type Asia-1 trên trâu, bò và lợn năm 2005 ở Việt Nam (Nguyễn Vĩnh Phước và cộng sự 1978) [17]

1.2.2.2 Tình hình dịch bệnh LMLM những năm gần đây

Theo số liệu của Cục Thú y, năm 1999, trong khi vẫn chưa chấm dứt các đợt dịch từ các tỉnh miền Trung và miền Nam thì ở miền Bắc, đợt dịch mới từ Trung Quốc tràn sang tấn công hàng loạt các tỉnh giáp biên Cao Bằng là điểm dịch đầu tiên, từ đó dịch lan sang các tỉnh khác Tính đến ngày 10/3/2000 cả nước có 58/61 tỉnh, thành phố bị dịch với 297.808 trâu, bò và 36.530 lợn mắc bệnh (Văn Đăng Kỳ

và cộng sự, 2011)[10]

Năm 2000, bệnh xảy ra ở 16 tỉnh thành với 3.976 trâu, bò mắc bệnh (Lê Minh Chí, 2001) [5]

Năm 2003, 38 tỉnh thành có dịch, trong đó 28 tỉnh thành có dịch ở trâu, bò và

28 tỉnh có dịch ở lợn, với tổng số 20.303 trâu, bò; 1.178 dê và 3.533 lợn mắc bệnh, chủ yếu ở các tỉnh: Quảng Trị, Phú Yên, Khánh Hoà, Gia Lai, Hà Giang

Năm 2004, số tỉnh có dịch LMLM là 45 tỉnh, với 577 xã thuộc 169 huyện

có dịch Tổng số gia súc mắc bệnh là: 25.658 trâu bò, 127 dê và 1.555 lợn, trong đó có 9 tỉnh do virus LMLM serotype A (phát hiện lần đầu tiên tại Ninh Thuận và Bình Định vào 8/2004), 3 tỉnh do cả 2 virus LMLM serotype O và A Nguyên nhân của việc xuất hiện virus LMLM type A có thể là do việc nhập lậu

bò từ Camphuchia (Tô Long Thành, 2004)[27]

Năm 2005, số tỉnh có dịch LMLM là 37 tỉnh, với 408 xã của 160 huyện Số gia súc mắc bệnh là: 28.241 trâu, bò, 3.976 lợn và 81 dê, trong đó có 3 tỉnh do virus LMLM serotype A, 13 tỉnh do virus LMLM serotype O, 3 tỉnh do cả 2 virus LMLM serotype O và A, 2 tỉnh do virus LMLM serotype Asia-1 (Lào Cai và Khánh Hoà vào tháng 10/2005) (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

Trang 22

Năm 2006, dịch LMLM trên trâu bò đã sẩy ra tại 1410 xã của 283 huyện thuộc

47 tỉnh, với số gia súc mắc bệnh là 114.015 con Dịch LMLM trên lợn cũng sẩy ra ở

516 xã của 191 huyện thuộc 54 tỉnh làm 44.450 lợn mắc bệnh Trong đó type Asia 1

có ở Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn và Thái Bình (phát hiện bằng kít 3ABC và giám định bằng phương pháp RT-PCR) với tổng số 9.271 trâu,

bò và 12.461 lợn bị bệnh Trong năm 2006 cả nước đã xử lý tiêu huỷ 4.906 trâu bò, 31.087 lợn (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

Năm 2007 có 37 tỉnh có dịch, trong đó 294 xã, 225 huyện thuộc 25 tỉnh dịch sảy ra trên trâu bò và 172 xã, 71 huyện thuộc 26 tỉnh có dịch LMLM trên lợn với tổng số 11.355 trâu bò, 12.386 lợn mắc bệnh Số phải xử lý tiêu huỷ và chết là 3.765 trâu bò và 11.122 lợn Type virus lưu hành chủ yếu là type O, type A chỉ có ở Phú Yên và type Asia1 có ở Quảng Trị và Thanh Hoá (Bộ NN&PTNT, 2011) [2] Năm 2008, dịch có giảm so với các năm trước, có 122 xã của 43 huyện thuộc

14 tỉnh có dịch làm 2.408 trâu bò và 67 lợn mắc bệnh Số chết, tiêu hủy là 218 trâu

bò và 39 lợn Type O vẫn là type virus xuất hiện nhiều nhất trong các ổ dịch, Tháng 12/2008 phát hiện type A tại Nghệ An (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

Năm 2009, dịch đã xảy ra ở 229 xã thuộc 87 huyện của 27 tỉnh, thành phố với tổng số 7.861 con trâu, bò mắc bệnh, 432 con phải tiêu hủy Trên lợn, dịch sảy ra ở

35 xã thuộc 23 huyện của 16 tỉnh, thành phố có lợn bị mắc bệnh LMLM, với tổng

số 499 lợn mắc bệnh, 429 con phải tiêu hủy (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

Dịch LMLM xảy ra trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung

và Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 9/2009, cao điểm nhất có tới trên 90 ổ dịch xuất hiện trong tháng, các tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương Dịch LMLM type A xuất hiện tại vùng miền núi phía Bắc (Sơn La, Bắc Giang và Hà Giang), Tây Nguyên (Kon Tum), Đồng bằng sông Cửu Long (Long An) - là những vùng đã lâu không có tuyp vi rút này (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

Năm 2010: dịch đã xảy ra ở 297 xã thuộc 103 huyện của 28 tỉnh, thành phố là Bắc Ninh, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,

Trang 23

Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Phú Thọ và Thái Nguyên với tổng

số 16.333 con trâu, bò mắc bệnh, 419 con trâu bò tiêu hủy, trong đó có 16 tỉnh, thành phố có lợn bị mắc bệnh LMLM, với tổng số 1.675 con lợn mắc bệnh, 848 con phải tiêu hủy (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 12/2010 với trên 98 ổ dịch và tháng 11/2010 là 56 ổ dịch xuất hiện trong tháng, các tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

1.2.2.3 Tình hình dịch LMLM tại Bắc Kạn từ năm 2006 đến nay

Cùng chịu ảnh hưởng chung của dịch LMLM trên địa bàn cả nước, năm 2006, tỉnh Bắc Kạn đã bùng phát dịch LMLM với diễn biến phức tạp, từ ổ dịch nhỏ dịch

đã xảy ra trên tất cả các huyện, thị xã của tỉnh Bắc Kạn, tổng số gia súc bị mắc là

2.268 con, trong đó trâu, bò 2.159 con; lợn 46 con; dê 63 con Dịch đã được dập tắt cuối năm 2006

Sau 2 năm không tái phát dịch (năm 2007-2008), đến đầu năm 2009, ổ dịch LMLM lại bùng phát tại 3 thôn của xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, số trâu, bò mắc bệnh là 118 con, sau khi dịch LMLM xảy ra tại xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, với

sự chỉ đạo quyết liệt của Thường trực tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự quan tâm, giúp đỡ và chỉ đạo của Cục Thú y, Cơ quan thú y Vùng 2, Chi cục Thú y đã phối hợp với các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể chỉ đạo phòng, chống dịch đạt hiệu quả

Đầu năm 2010 tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn cả nước diễn

biến phức tạp, một số dịch bệnh nguy hiểm như Cúm gia cầm (H5N1), Tai xanh lợn (PRRS), Lở mồm long móng (LMLM) liên tiếp xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phố Các tỉnh giáp danh với tỉnh Bắc Kạn như Cao Bằng, Thái Nguyên cũng xảy ra dịch Cúm gia cầm và Tai xanh lợn, vì vậy tỉnh Bắc Kạn không tránh khỏi nguy cơ lây nhiễm nguồn dịch do việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Đến tháng 11 năm

2010 dịch LMLM xảy ra tại thôn Cảm Lẹng, xã Nông Thịnh, huyện Chợ Mới làm

51 con gia súc mắc bệnh (trong đó 29 con trâu, 10 con bò và 12 con lợn)

Năm 2011, dịch LMLM đã xảy ra tại 8/8 huyện, thị xã của tỉnh Bắc Kạn làm 5.193 con trâu, bò mắc bệnh, trong đó chết và tiêu hủy 507 con

Trang 24

Từ ngày 12/8/2013 đến ngày 05/10/2013 dịch LMLM gia súc xảy ra tại 78 hộ dân thuộc 7 xã trên địa bàn các huyện Pác Nặm, huyện Ba Bể và huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn, tổng số gia súc ốm, mắc bệnh là 199 con ( trong đó trâu: 135 con, bò:

54 con, dê: 05 con và lợn: 05 con) số chết, tiêu hủy là: 07 con (02 trâu, 05 bò)

Từ ngày 24/01/2014 đến ngày 30/3/2014 dịch LMLM lại xuất hiện trên 05 xã của hai huyện Ba Bể và Pác Nặm, tổng số gia súc mắc bệnh là: 238 con, trong đó trâu: 134 con, bò: 91 con và lợn: 13 con Theo kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô

động vật mắc bệnh xuất hiện vi rút LMLM với type A

Bước vào năm 2015, tình hình dịch LMLM gia súc lại xuất hiện ở các huyện Ngân Sơn, Ba Bể, ngày 03/01/2015 dịch xuất hiện tại các xã Bằng Vân, Đức Vân, Vân Tùng, Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn làm 185con mắc bệnh (trong

đó trâu: 89 con, bò: 96 con); từ ngày 05/02/2015 tại xã Cao Thượng và xã Nam

Mẫu của huyện Ba Bể dịch LMLM cũng xảy ra tại 07 thôn làm 145 con gia súc mắc bệnh (trong đó trâu: 76 con, bò: 69 con) Kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô xuất hiện kháng nguyên dương tính với type A vi rút LMLM, trong các ổ dịch LMLM gia súc xảy ra tại Ngân Sơn, Ba Bể đều không gây chết động vật, Chi cục Thú y đã phối hợp với UBND huyện Ngân Sơn, Ba Bể và các ngành chức năng khẩn trương khoanh vùng, tiêm phòng bao vây ổ dịch bằng vắc xin nhị giá (type A và O)

Đến ngày 22/5/2015 tại xã Nhạn Môn, huyện Pác Nặm xuất hiện trâu, bò, lợn

mắc bệnh LMLM, tổng số con mắc là: 30 con (trong đó trâu: 17 con, bò: 6 con và lợn 7 con), khi phát hiện gia súc có triệu chứng của bệnh LMLM, Chi cục Thú y đã phối hợp với UBND huyện Pác Nặm chỉ đạo các phòng liên quan và UBND xã Nhạn Môn triển khai các biện pháp khoang vùng, tiến hành tiêm phòng vắc xin đa giá (tuýp O, A và Asia-1) khống chế không để dịch lây lan, lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm để định tuýp vi rút gây bệnh Kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô xuất hiện kháng nguyên dương tính với type A, vi rút LMLM, trong các ổ dịch LMLM gia súc xảy ra tại Ngân Sơn, Ba Bể và Pác Nặm đều không gây chết động vật

1.3 Vi rút gây bệnh LMLM

Vi rút LMLM thuộc họ Piconarviridae, chi Aphthovirus

Trang 25

Hình 1.2: Cấu trúc của virion vi rút LMLM type O1BFS [35]

Chú thích: (a) Một đơn vị cấu trúc (protomer) của vi rút LMLM với cấu trúc

“mạch lá β - vòng uốn -mạch lá β” có tiếp nối nhau từ các protein VP1 - VP2 - VP3 (b) Một pentamer nằm trên virion, tạo nên hình đối xứng 5 cạnh, do 5 protomer hợp thành (c) Cấu trúc của một virion hoàn chỉnh, gồm có vòm G - H (màu vàng) cấu tạo bởi 2 chuỗi βG và βH (βG - βH), trong đó định vị chuỗi tripeptide RGD (Arg - Gly - Asp) (màu trắng) là vị trí đặc hiệu nhận biết và tiếp xúc với thụ thể tế bào cảm nhiễm (d) Cấu trúc không gian của protomer (sử dụng phần mềm mô phỏng RasMole): Màu tím chỉ các phần gồ lên trên bề mặt (G - H); Màu vàng chỉ vị trí chuỗi tripeptide với 3 amino acid RGD Mỗi virion đều: VP1 (màu xanh da trời), VP2 (xanh lá cây), và VP3 (đỏ) VP4 là polypeptide nằm sâu trong hạt vi rút (bị che khuất)

1.3.1 Hình thái và cấu trúc

Hình thái: Vi rút LMLM là loại vi rút nhỏ nhất trong các vi rút qua lọc Dạng

vi rút thành thục có đường kính là 23nm Dưới kính hiển vi điện tử, vi rút thường có hình cầu, đường kính 20-28nm, gồm 20 mặt đối xứng, 30 cạnh và 12 đỉnh

Cấu trúc: Cấu trúc vi rút gồm phần trung tâm là axit nucleic chiếm 31%, được bao bọc bởi một capsid là protein, gồm 60 capsome, không vỏ bọc Hạt vi rút là phân tử ARN là đơn vị gây nhiễm, đóng vai trò như một ARN thông tin

Trang 26

Dưới ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, hạt vi rút có thể phân ly thành những phần tử nhỏ ARN và những tiểu phần protein của capsome (thường gọi là tiểu phần 12S) dài 7-8nm (Nguyễn Như Thanh,2001) [23], (Tô Long Thành, 2000) [24], (Becker Y,1994) [35], (Donaldson A.I, 2000) [40]

1.3.2 Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên

Hệ gen của vi rút LMLM bao gồm phần không mã hóa cho protein đầu 5’ (5’UTR) và đầu 3’ (3’UTR), phần mã hóa cho protein cấu trúc (1 ABCD) và phần

mã hóa protein không cấu trúc (2 ABCD và 3 ABCD) Chỉ thị phân tử sử dụng nhiều nhất trong định type và nghiên cứu phả hệ vi rút LMLM là 5’ UTR và VP1 Cấu trúc của gen mã hóa cho các protein được trình bày ở hình 1.3

Hệ gen của vi rút LMLM với chiều dài 8.000-8.500 base (Tô Long Thành, 2000) [24], (Anonymous, 2000) [34] Do đặc điểm của các vi rút RNA sợi đơn dương, có tính biến dị rất mạnh

Bộ gen chứa một khung đọc mở duy nhất ORF, với 2 vị trí khởi đầu giải mã cho một protein chung (polyprotein) Polyprotein được chia thành hơn 12 polypeptide chức năng và trung gian của các phần sẽ bị cắt (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [16] Hầu hết các quá trình phân cắt tạo các protein trưởng thành được xúc tác bởi 3 proteinase của vi rút là Lpro, 2 A và 3 Cpro Hai đầu của bộ gen có thể

được thay đổi, đầu 5’ tận cùng bởi VPg (khoảng 23 axit amin), đầu 3’ bởi chuỗi

Adenyl Lpro là nhân tố quan trọng quyết định độc tính của vi rút

Hình 1.3: Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM [35]

Trang 27

Những protein tạo nên capsid có tính chất kháng nguyên và khả năng sinh kháng thể, gồm 4 loại: VP1 , VP2, VP3, VP4 (VP: viral protein) VP1 ở ngoài cùng tham gia vào việc cố định vi rút trên những tế bào và là một trong những loại kháng nguyên chính kích thích tạo ra kháng thể chống lại bệnh LMLM Do đó, có thể nói VP1 đóng vai trò quan trọng nhất trong sinh bệnh học vì nó là yếu tố sinh miễn dịch căn bản Protein VP1 kích thích tạo ra các kháng thể trung hoà ở trâu, bò và lợn, ba vùng kháng nguyên tương ứng đã được mô tả trên bề mặt của suptype A12 Hai trong những kháng nguyên đó đã được phát hiện trên chuỗi polypeptide của VP1 và trong các tiểu phần có hằng số sa lắng 12S Các vùng kháng nguyên này tham gia trong phản ứng trung hoà vi rút thông qua:

Sự kết hợp của các tiểu phần vi rút với kháng thể, qua đó vi rút mất khả năng xâm nhập (gây nhiễm); Phong tỏa các vị trí hấp phụ đặc hiệu; Hạn chế khả năng xâm nhập và khả năng tái tạo vi rút

Về chức năng và cấu tạo của vi rút LMLM, các thành phần kháng nguyên của

vi rút LMLM có thể được phân biệt như sau:

- Hạt vi rút có hằng số sa lắng 140 S với 60 bản sao của 4 loại protein (VP1, VP2, VP3, VP4); Vỏ capsid trần có hằng số sa lắng 75 S với 60 bản sao của VP0 - VP3; Các capsome có hằng số sa lắng 12 S, được cấu tạo bằng các VP1 - VP3

- Kháng nguyên VIA có hằng số sa lắng 3,8 S; chuỗi RNA polymerase theo Schuel và Sadir, 1986

- Ngoại trừ phân tử RNA, các đơn vị cấu trúc cũng xuất hiện trong quá trình vi rút nhân lên trong mô bị nhiễm và có đặc tính kháng nguyên hoặc dị ứng nguyên Thành phần miễn dịch của một hạt vi rút hoàn chỉnh có khả năng kích thích con vật tạo ra các kháng thể đặc hiệu Đặc tính này cũng được giữ nguyên trong quá trình bất hoạt và ức chế sự nhân lên của vi rút

Ngoài đặc tính kháng nguyên gây miễn dịch dịch thể đặc hiệu, hạt vi rút hoàn chỉnh còn có khả năng gây dị ứng là do các kháng nguyên vỏ Phân tử RNA của vi rút LMLM không quan trọng về mặt kháng nguyên

Sự sai khác về bộ gen là nguyên nhân tạo ra các biến chủng, đặc biệt thông qua sự đa dạng của phân tử VP1 Những khác biệt này dẫn đến tính kháng nguyên

Trang 28

và hệ quả là đặc tính huyết thanh học khác nhau giữa các serotype các phân type và các biến chủng

1.3.3 Đặc tính kháng nguyên

Trên thế giới, người ta xác định được 7 type vi rút LMLM là: A, O, C, SAT1, SAT2, SAT3 và Asia1 (Tô Long Thành, 2000) [24], (Becker Y, 1994) [35], (Donaldson A.I, 1984) [39]

Về mặt kháng nguyên, vi rút LMLM không đồng nhất, điều này xảy ra trong các serotype, mà mỗi serotype đó có thể có dưới type và các biến chủng hoặc các biến chủng này lại khác nhau về mặt huyết thanh học Sự sai khác về bộ gen là nguyên nhân tạo ra các biến chủng, đặc biệt thông qua sự đa dạng của phân tử VP1 Cấu trúc VP1 cũng là điểm xuất phát của những công nghệ di truyền và công nghệ hóa hiện nay Mặc dù những protein khác như L, 2AC và 3AD không phải là phần cấu trúc casid, nhưng chúng cũng tạo ra những đáp ứng kháng thể ở động vật nhiễm bệnh (Tô Cẩm Tú và cộng sự, 1992) [33], (Childerstone, 1999) [36], (Eugui E.M., Emery D.L, 1981) [42]

Các phương pháp huyết thanh học dùng để xác định serotype đã mang lại nhiều kết quả quan trọng trong quá trình nghiên cứu vi rút LMLM Tuy nhiên, các phản ứng huyết thanh học được sử dụng đều phát hiện kháng thể kháng protein cấu trúc, protein vỏ của vi rút nhưng không phân biệt được đó là kháng thể của động vật

đã được tiêm vắc xin phòng bệnh hay do nhiễm vi rút

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các kỹ thuật chẩn đoán cũng có nhiều phát triển vượt bậc Ngày nay, công nghệ phân tích gen đã được áp dụng nhiều trong công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong sản xuất vắc xin phòng bệnh Phương pháp PCR do Millis và cộng sự phát minh năm 1985 được sử dụng rộng rãi đã

đem lại cuộc cách mạng di truyền học phân tử Đây là kỹ thuật hoàn toàn mới trong

việc nghiên cứu và phân tích gen và hệ gen, có thể tạo ra số lượng lớn các bản sao của

đoạn AND mong muốn Phương pháp phân tích gen đã được áp dụng trong nhiều

nghiên cứu về vắc xin AND phòng bệnh LMLM Người ta đã xác định được các đoạn axit amin có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch nhanh, mạnh, tái tổ hợp vào ARN của vi rút dùng trong sản xuất vắc xin Khi các loại vắc xin AND này được tiêm cho

Trang 29

gia súc thì các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu sẽ hình thành không chỉ chống lại các protein cấu trúc mà còn cả protein phi cấu trúc của vi rút

1.3.4 Các điểm quyết định kháng nguyên

Một số protein phi cấu trúc của vi rút LMLM gây đáp ứng miễn dịch là 3D, 3A, 3AB, 3ABC, 2C, 2B, 3C và Lpro Trong thời gian gần đây, một số protein phi cấu trúc 2C, 3B, 3AB, và 3ABC đã được nghiên cứu và nhiều phương pháp có độ nhạy cao đã

được phát triển Tuy nhiên có lẽ phương pháp căn bản ELISA vẫn là sự lựa chọn tốt

hơn do có nhiều thuận lợi về tính khách quan, độ nhạy cao, an toàn, rẻ, dễ giải thích và

sử dụng phù hợp cho số lượng mẫu lớn ở thực địa (Tô Cẩm Tú và cộng sự, 1992, [33]) Childerstone và cộng sự [36] đã tiến hành thí nghiệm dùng kháng thể đơn dòng kháng protein phi cấu trúc 3ABC với kỹ thuật ELISA ngăn trở Marquardt và cộng sự (1991) [50] cũng đã tìm kiếm kháng thể kháng kháng nguyên 3D, 3AB và 3ABC bằng phương pháp DNA tái tổ hợp Kết quả là ở những gia súc được bảo vệ bằng văc xin đã không tạo kháng thể kháng protein phi cấu trúc đặc biệt là 3ABC

1.3.5 Tiến hóa của vi rút LMLM

Thành phần hệ gen của vi rút LMLM luôn luôn biến đổi, ngay cả trong cùng một serotyp, các chủng phân lập ở các vùng địa lý khác nhau có mức độ tương đồng

về thành phần nucleotide và axit amin cũng khác nhau

Mầm bệnh của bệnh LMLM là loại vi rút RNA nhỏ nhất trong các vi rút qua lọc (Tô Long Thành, 2000) [24], vi rút LMLM có hai đặc tính liên quan đến dịch tễ học, đó

là tính đa type và tính dễ biến đổi kháng nguyên Các type gây ra những triệu chứng bệnh tích giống nhau nhưng lại không gây ra miễn dịch chéo (Tô Long Thành, 2000) [25]

Vi rút LMLM gây những triệu chứng lâm sàng giống nhau nhưng được phân loại dựa vào kiểu gene xác định dựa trên so sánh trình tự VP1 Hiện có 7 type vi rút LMLM, trong đó mỗi type này lại phân chia thành nhiều type phụ (serotype) khác nhau bởi những đặc tính miễn dịch học (cấu trúc kháng nguyên, độc lực…) Hiện nay, người ta thừa nhận có 64 type phụ vi rút LMLM (O=11, A=32, C=5, Asia 1=3, SAT1=6, SAT2=3, SAT3=4) Không có sự đồng nhất rõ rệt về đặc tính kháng nguyên trong các type, không có sự miễn dịch chéo giữa các type, chỉ có miễn dịch chéo giữa một số type phụ trong phạm vi một type (Tô Cẩm Tú và cộng sự, 1992)

Trang 30

[31], (Donaldson A.I, 2000) [40] Đối với 3 type O, A, C trong một ổ dịch có thể có

sự kết hợp của các type này, nhưng thông thường chỉ một type chiếm ưu thế

1.3.6 Đặc tính gây nhiễm trong phòng thí nghiệm

Ngay sau khi phát hiện vi rút LMLM đầu tiên, Loeffler và Frosch (1897) đã nghiên cứu nuôi cấy vi rút trong phòng thí nghiệm tìm hiểu đặc tính của nó và tạo ra những chủng vi rút có tính kháng nguyên dùng để chế tạo vắcxin

Gây nhiễm bê trong phòng thí nghiệm: Theo Waldmann (1937), khi tiêm vi rút LMLM cho bê mới đẻ chưa bú sữa mẹ sẽ gây bệnh làm chết bê trong vòng 38 giờ; phủ tạng bê (đặc biệt là cơ tim, phổi), xương chứa nhiều vi rút Có thể gây bệnh bằng cách tiêm tĩnh mạch vi rút cho bê mới đẻ chưa bú mẹ, con vật chết trong khoảng 38 giờ với rất nhiều vi rút trong phủ tạng

Kết quả gây bệnh thực nghiệm cho bê trong phòng thí nghiệm phụ thuộc vào liều tiêm và đường tiêm truyền Kết quả gây bệnh thực nghiệm bằng phương pháp tiêm truyền dưới da không ổn định, tùy thuộc vào liều sử dụng và cần ít nhất 1 ml máu độc mới có kết quả Tiêm vi rút vào tĩnh mạch bê cũng cho kết quả không ổn

định, bệnh phát có thể diễn biến trầm trọng nhưng cũng có thể chỉ ở thể nhẹ, thoáng

qua Tiêm bắp vi rút cho bê có thể gây bệnh trầm trọng Tiêm truyền đường phúc mạc bao giờ cũng gây bệnh và kết quả có thể cao hơn ở bê mới đẻ và nhịn đói Khi tiêm truyền bằng đường trên không có kết quả, có thể gây bệnh ở liều thấp vi rút bằng phương pháp tiêm nội bì Ở bò và lợn thường tiêm vào nội bì niêm mạc lưỡi (ở chuột lang tiêm vào nội bì gan bàn chân) Trong số các phương pháp tiêm truyền, tiêm nội bì có hiệu quả nhất; những đường tiêm khác như bắp thịt, dưới da, tĩnh mạch… cho kết quả không chắc chắn và đòi hỏi liều vi rút cao hơn [31] Bệnh LMLM tái tạo trong phòng thí nghiệm bằng tất cả các đường tiêm truyền đều diễn biến nhẹ hơn so với thể bệnh lây tự nhiên

Động vật thí nghiệm: Trong phòng thí nghiệm, có thể gây bệnh bằng cách

tiêm phúc mạc cho chuột lang, chuột đồng, chuột trắng, chuột nhắt xám, chuột nhắt trắng sơ sinh (12-14 giờ), chuột đất, chuột còn bú hoặc thỏ nhà, thỏ rừng, gà, trong

đó chuột lang là động vật cảm thụ nhất

Chuột lang là động vật cảm thụ trong phòng thí nghiệm Waldmann và Page (1920) đã chỉ ra rằng, động vật thí nghiệm tốt nhất là chuột lang Khía da chuột lang

Trang 31

có thể tái tạo mụn nước Độc lực của vi rút trên chuột lang được gia tăng bằng nhiều lần tiếp đời Trước đây, chuột lang là động vật thí nghiệm được dùng trong chẩn

đoán, nhân vi rút và kiểm tra hiệu lực, an toàn của văcxin

Tiếp đời trên chuột nhắt, nhược độc hóa: trong phòng thí nghiệm, tiếp đời vi rút trên chuột nhắt trắng sau nhiều đời làm giảm độc lực của vi rút trên bò Sau 20 lần tiếp đời qua chuột nhắt vi rút nhân lên ở chuột không còn khả năng gây bệnh cho bò nhưng vẫn còn khả năng gây miễn dịch Người ta dùng phương pháp này để chế văc xin nhược độc

1.3.7 Đặc tính nuôi cấy tổ chức tế bào

Nhiều tác giả đã nuôi cấy vi rút LMLM trên da của thai lợn, thai bò còn sống (giữ thai sống bằng phương pháp nhân tạo) hoặc tiêm vi rút LMLM vào phúc xoang chuột nhắt con, tính kháng nguyên của vi rút không thay đổi

Mô động vật nuôi cấy thích hợp nhất với vi rút LMLM là thượng bì lưỡi bò trưởng thành Lưỡi bò tươi, thu thập ngay sau khi giết mổ bò, bảo quản ngay trong bình lạnh 2-3OC không quá 8 ngày Vi rút LMLM phát triển ở thượng bì gây nhiễm hình thành mụn nước; Các mảnh thượng bì lưỡi có mụn nước là vật liệu chứa vi rút

được dùng để tiếp đời hoặc thu vi rút chế văc xin Vi rút LMLM có thể giữ nguyên độc lực sau khi tiếp đời vi rút trên mô thượng bì lưỡi bò sau vài chục lần, phương

pháp thường được dùng để nhân vi rút chế văc xin vô hoạt Môi trường tế bào tốt nhất là lấy từ tuyến yên của bò hoặc lợn, thận bê hoặc cừu non, hoặc các dòng tế bào có độ mẫn cảm Viện Pirbright trong năm 1973 đã nuôi cấy 140 chủng vi rút LMLM, gần 120 chủng này đã sinh trưởng phù hợp trong môi trường BHK 21

Chế kháng nguyên: Dùng chuột lang từ 2-7 ngày tuổi để gây bệnh, sau 24 giờ

có thủy thũng hoặc mọc mụn nước Thu dịch thủy thũng hoặc mụn nước cấy vào môi trường tế bào, sau 24 giờ xuất hiện bệnh tích và tế bào chết Thu dịch (trong môi trường có chứa vi rút được giải phóng từ tế bào) để làm kháng nguyên trong phản ứng ELISA Nếu tế bào không biến đổi hoặc chuột bị chết, phải cấy truyền hai lần liên tiếp cách nhau 48 giờ với huyễn dịch vi rút - tế bào đông tan

Trang 32

1.4 Một số đặc điểm dịch tễ học của vi rút LMLM

1.4.1 Nguồn dịch

1.4.1.1 Nguồn dịch thiên nhiên

Trong tự nhiên, nhiều loài động vật hoang dã cảm thụ bệnh và có thể trở thành

nguồn bệnh cho vật nuôi Các loài nhai lại hoang dã như bò rừng (Bison bonasus), trâu rừng (yak), lạc đà, nhiều loài sơn dương, hoẵng, những loài hươu khác nhau (như hươu

Dama, hươu đỏ), nai, đều nhiễm vi rút LMLM Hoẵng nhiễm LMLM có biểu hiện triệu

chứng điển hình, hươu Sira biểu hiện ít trầm trọng hơn, hươu hoang dã (Fallowdeer) và hươu ved chỉ biểu hiện dưới dạng ẩn tính Các loài nhai lại cảm thụ này đóng vai trò

quan trọng trong dịch tễ học của bệnh (Nguyễn Như Thanh, 1974) [22]

1.4.1.2 Nguồn dịch gia súc mang trùng

Thú mang trùng được coi là vấn đề quan trọng nhất trong dịch tễ học của bệnh LMLM hiện tại “Thú mang trùng” được định nghĩa là thú mà ở đó vi rút sống có thể phân lập được 28 ngày sau khi nhiễm bệnh “Thú mang trùng” không chỉ có nghĩa là hoang thú mà cả động vật nuôi; trong thực tế có khoảng trên 50% bò, dê, cừu phơi nhiễm với vi rút LMLM trở thành “thú mang trùng”, bất luận chúng đã hoặc chưa được “bảo vệ” bằng văc xin hay chưa Sự hình thành trạng thái mang trùng phụ thuộc vào chủng và type huyết thanh của vi rút LMLM Thời gian mang trùng phụ thuộc vào loài nhiễm bệnh và có tính cá thể

1.4.2 Động vật cảm thụ

Bệnh LMLM chủ yếu là của loài nhai lại và lợn Loài vật ăn thịt và người ít mắc bệnh hơn Ngựa và loài một móng là động vật không cảm nhiễm (Tô Long Thành và Trương Văn Dung, 2004) [28]

Trâu và bò là những loài dễ mắc bệnh nhất, trong đó bò có tỷ lệ nhiễm và mức

độ trầm trọng cao hơn trâu, sau đó đến lợn, cừu, dê Trong số các giống bò, bò lai được nuôi dưỡng tốt khoẻ mạnh thường dễ nhiễm bệnh hơn Bệnh thường xảy ra ở

trâu bò rồi lây sang lợn (trừ chủng vi rút chỉ nhiễm cho lợn) (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [6], vi rút LMLM chủng Cathay chỉ gây bệnh cho lợn

Động vật nhỏ (tiểu gia súc) như cừu có mức cảm nhiễm thấp và giữ vai trò

quan trọng trong việc mang trùng Cừu có thể mang trùng tới năm tháng và duy trì

sự nhân lên với mức độ thấp của vi rút Vi rút thường cư trú ở vùng hầu của gia súc

Trang 33

1.4.3 Đường xâm nhập

Vi rút LMLM xâm nhập vào cơ thể gia súc bằng nhiều đường

Đường hô hấp: Đường xâm nhập chính của vi rút là đường hô hấp, vi rút vào

vùng hầu trong các tế bào của màng nhầy họng rồi lan sang các tế bào lân cận, các

hệ thống lưu thông và hệ lâm ba dẫn tới các tế bào, cơ quan khắp cơ thể

Đường tiêu hóa: Khi mầm bệnh theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thể

qua đường tiêu hóa, chúng nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa làm thành mụn nước sơ phát, sau đó theo hệ thống máu và lâm ba đến khắp cơ thể

Da: Da nguyên lành không để vi rút đi qua, khi có vết xây xát gia súc có thể

nhiễm vi rút Tại những xây xát hoặc vết thương ở da, nhất là vùng vú thường xuất hiện mụn nước sơ phát trong bệnh tự nhiên; vùng da tổn thương cũng là nơi vi rút xâm nhập vào cơ thể

1.4.4 Cơ chế sinh bệnh

Vi rút LMLM phổ biến lây lan theo đường hô hấp, vi rút sinh sôi qua vùng hầu Ngoài đường hô hấp ra, bệnh có thể nhiễm qua da, vết thương da và niêm mạc Khi vi rút theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thể hoặc qua các tổn thương ở

da, trước tiên nó nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa hoặc của da, gây thủy thũng một số tế bào thượng bì, làm thành mụn nước sơ phát nhưng khó nhận biết vì con vật vẫn khỏe mạnh (Nguyễn Lương, 1997) [13]

Tổn thương do vi rút gây ra tại cửa vào không gây triệu chứng bệnh (thời kỳ nung bệnh); thời gian nung bệnh rất khác nhau phụ thuộc vào độc lực của vi rút, số lượng vi rút và đường xâm nhập, thời gian nung bệnh ngắn 2-3 ngày, có khi lên tới 10-14 ngày, những trường hợp liều gây nhiễm thấp thời gian nung bệnh đối với chu

kỳ đầu tiên có thể dài hơn (Tô Long Thành, 2000) [24]

Sau khi nhân lên ở vùng cửa vào và những hạch lâm ba lân cận, vi rút vào máu

và được đưa đến các vị trí thứ cấp (Nguyễn Lương, 1997) [13] Do tính hướng thượng bì, vi rút hầu như rất ít nhân lên ở các phủ tạng; vi rút phát triển chủ yếu trong những tế bào thượng bì của niêm mạc và da, chủ yếu là những tế bào thượng

bì non, gây sưng hạch, tổn thương (mụn nước) các biểu mô quanh miệng (mõm lợn), chân, vú và gốc sừng Ngoài ra mụn nước cũng phát triển ở những nơi ít nhìn

Trang 34

thấy như, trên trụ dạ cỏ, âm hộ, vùng bẹn… vi rút có thể qua đường tuần hoàn của con mẹ xâm nhập vào phôi thai và có thể gây sảy thai Vào giai đoạn cuối bệnh (cuối giai đoạn sốt), vi rút có thể tiếp tục nhân lên ở những tế bào đang phân chia vùng mô lân cận, và gây nên các mụn nước thứ phát

Mụn nước xuất hiện ở cả chiều sâu của thượng bì Do áp lực của nước ở trong mụn, mụn nước phát triển to ra, nhô lên Cùng với phản ứng viêm, bạch cầu di động

đến làm cho dịch lâm ba của mụn nước màu trong trở nên đục và không bao giờ

sinh mủ khi không có vi trùng kế phát Khi mụn vỡ, những vết tích ở thượng bì

được lấp đầy nhanh chóng Mụn nước chỉ lở loét khi mồm, chân bị nhiễm vi khuẩn

sinh mủ, gây hoại tử, xây xát gây nên bệnh lý cục bộ, ăn sâu vào trong, có khi gây bại huyết làm con vật suy yếu hoặc chết

1.4.5 Chất chứa vi rút

Nước dãi: Độc lực của vi rút xuất hiện rất sớm trong nước dãi (10 giờ sau khi

nhiễm vi rút) Sự xuất hiện vi rút trước khi sốt trong nước dãi có thể do sự nhân lên của vi rút ở cửa vào Số lượng vi rút cường độc trong nước dãi đạt cao nhất khi các mụn nước ở miệng vỡ, kéo dài đến ngày thứ 10-14 sau khi có triệu chứng và biến mất sau 5 tuần (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [16] Vi rút được thải ra ngoài qua nước dãi lẫn nước mụn và mảnh thượng bì của mụn bị vỡ ra trên niêm mạc lưỡi và miệng Vi rút trong nước dãi tồn tại đến 2 ngày ở 37°C, 3 tuần ở 20°C, 5 tuần ở 4°C

Mụn nước: Vi rút có nhiều nhất trong nước của mụn tiên phát dưới 5 ngày, mụn

không còn vi rút sau khi hình thành mụn thứ phát Hàm lượng vi rút cao nhất là trong nước mụn và thành mụn, 1ml dịch mụn nước có chứa 108 TCID50 ở ngày thứ 2-3 sau khi

có triệu chứng và giảm rõ rệt sau 4-5 ngày (Thái Thị Thủy Phượng, 2008) [18]

Máu: Vi rút LMLM xuất hiện trong máu của động vật cảm thụ vào thời kỳ

sốt, thường từ giờ thứ 18 sau nhiễm vi rút và có thể kéo dài 3-5 ngày Máu chứa ít

vi rút hơn ở mụn nước, khoảng 105TCID50/ml máu tại thời điểm cao nhất (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [16]

Các chất thải tiết khác: Vi rút LMLM cũng được thải ra môi trường ngoài

trong các chất hoặc dịch bài tiết như nước tiểu, phân, sữa, nước mũi, nước mắt và

Trang 35

tinh dịch Số lượng vi rút cường độc trong các chất bài tiết này thấp hơn ở nước dãi

Độc lực của vi rút có trong chúng cùng một lúc với độc lực của vi rút có trong máu,

cao nhất vào ngày thứ 2 và thứ 3 sau khi thú nhiễm vi rút và mất đi vào ngày thứ 4 hoặc thứ 5, ngoại trừ ở nước tiểu

Mô, tổ chức khác như: tim, da, tuyến tuỵ, tuyến giáp, trong mật và các hạch lâm ba cũng chứa một lượng lớn vi rút trong suốt giai đoạn bệnh cấp tính (Nguyễn

cơ giới truyền lây vi rút

1.4.6 Con đường và phương thức truyền lây

Phương thức truyền bệnh LMLM rất đa dạng Vi rút gây bệnh LMLM có thể lây truyền trực tiếp giữa con mắc bệnh và con khoẻ khi nhốt chung hoặc chăn thả chung trên đồng cỏ Vi rút từ nước bọt, dịch mụn nước, các chất bài xuất, bài tiết của con vật mắc bệnh xâm nhập vào con khoẻ Bệnh cũng có thể truyền lây gián tiếp thông qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, thú y, sản phẩm chăn nuôi; phương tiện vận chuyển, tay chân, quần áo người chăn nuôi bị nhiễm vi rút

Bệnh lây truyền trực tiếp từ đàn này sang đàn khác, từ địa phương này sang

địa phương khác do sự di chuyển của con vật nhiễm bệnh đến đàn chưa có bệnh là

hình thức lây truyền chủ yếu Do nhu cầu giao lưu, buôn bán động vật, sản phẩm

động vật của các tỉnh, các vùng và các nước ngày càng phát triển, cùng với sự

chênh lệch về giá cả đã thúc đẩy sự vận chuyển bất hợp pháp, tư thương đã tìm mọi cách để vận chuyển gia súc ra khỏi vùng dịch để kiếm lời Người chăn nuôi vì không rõ nguồn gốc hoặc tham giá rẻ đã mua về nuôi, từ đó mầm bệnh phát tán khắp nơi (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [16]

Trang 36

Chó, mèo, gà, chim muông, hoang thú, côn trùng không mắc bệnh nhưng có thể truyền bệnh theo con đường cơ học từ nơi này đến nơi khác Những con vật đó khỏi bệnh nhưng vẫn mang vi rút trong móng chân, máu, nước tiểu là nguồn gốc gây ra các ổ dịch mới Gió cũng là một yếu tố quan trọng trong việc làm lây lan bệnh qua không khí

Ngoài ra, vi rút có thể truyền từ mẹ sang bào thai Bê sinh ra mắc bệnh thường chết nhanh (R.P kitching, 2000) [19]

Thời điểm lây lan: vi rút xuất hiện trong nước bọt trước khi xuất hiện các

triệu chứng và tăng cao khi vỡ các mụn nước ở miệng; vi rút có mặt trong các chất thải tiết khác như nước tiểu, phân cũng đồng thời với sự xuất hiện mụn nước Mọi chất thải tiết và không khí đều mang vi rút Như vậy, vi rút được lan truyền ngay khi động vật chưa có triệu chứng và khả năng lây truyền tăng cao khi mụn nước vỡ Sau 4 ngày kể từ lúc mụn nước vỡ ra, khả năng lây nhiễm giảm hoặc không còn, trừ khi vi rút còn tồn tại trên da, lông, một vài con vật giữ được mầm bệnh như một vật mang trùng trong thời gian dài (Nguyễn Như Thanh, 2001) [19]

Phạm vi lây lan: Tốc độ gió, hướng gió là những yếu tố quan trọng trong việc lây

lan qua không khí Trong hoàn cảnh thuận lợi, vi rút có thể lan xa 100 km nhờ gió Truyền lây vi rút trong không khí là kiểu truyền lây “không kiểm soát được”, đáng sợ hơn nhiều lần so với các phương thức truyền lây “kiểm soát được” như sự tiếp xúc trực tiếp với gia súc mắc bệnh hoặc gián tiếp qua con người hay các vật dụng khác

Mùa truyền lây: Ở vùng nhiệt đới, bệnh LMLM thường ở thể nhẹ, ít chết

Đặc điểm bệnh này có thể do ảnh hưởng của khí hậu Trong sức nóng nhiệt đới,

những chất, những bộ phận chứa vi rút bị tiêu diệt nhanh, làm giảm mức độ truyền lây Cũng có thể chính vì lý do nhiệt độ này, bệnh LMLM ở Việt Nam và các nước nhiệt đới khác bệnh lây lan quanh năm, nhưng thường phổ biến hơn vào mùa xuân, mùa mưa phùn, đất ẩm ướt, ánh nắng dịu của mùa đông

Trang 37

yếu do viêm cơ tim nặng dẫn đến suy tim và chết, nguyên nhân khác là do gia súc non, sức đề kháng kém nên dễ bị nhiễm kế phát các bệnh khác khi mắc bệnh LMLM

1.5 Miễn dịch trong bệnh LMLM

Sau khi vi rút LMLM xâm nhập vào cơ thể động vật, chúng nhân lên, phá huỷ

tế bào vật chủ gây sốt và tạo miễn dịch Cả miễn dịch dịch thể và miễn dịch trung gian tế bào đều xuất hiện trong bệnh lở mồm long móng, trong đó vai trò của miễn dịch trung gian tế bào đặc biệt quan trọng (Tô Long Thành, 2004) [26]

Ở những con vật tiếp xúc với kháng nguyên lần đầu, đáp ứng miễn dịch

thường chậm và ở mức thấp Khi tiếp xúc kháng nguyên lần thứ hai và những lần sau đó, đáp ứng miễn dịch xảy ra sớm hơn và ở mức cao hơn (miễn dịch thứ phát)

Đặc điểm về thời gian và mức độ đáp ứng miễn dịch chính là cơ sở khoa học của

việc tiêm phòng nhắc lại nhằm tạo miễn dịch chắc chắn cao và kéo dài

Trong tiêm phòng, kháng thể đặc hiệu tồn tại ở mức cao, kéo dài 4-6 tháng

ở bò (đối với lợn, thời độ dài miễn dịch ngắn hơn), sau đó giảm dần, con vật lại

mẫn cảm với căn bệnh Tác dụng bảo hộ kháng vi rút LMLM chủ yếu dựa vào kháng thể trung hòa Tuy nhiên kháng thể trung hòa đơn độc không phải lúc nào cũng có khả năng khống chế sự lây nhiễm bệnh LMLM; một số con vật đã

được tiêm vắc xin có rất ít hoặc không có kháng thể trung hòa nhưng vẫn có

Hiện tại, có 7 type vi rút LMLM (O, A, C, Asia1, SAT1, SAT2 và SAT3) Các

vi rút này khác nhau về kiểu gene (dựa trên so sánh trình tự VP1) và đặc tính huyết thanh học serotype Những type này lại phân chia thành nhiều type phụ (serotype) khác nhau bởi những đặc tính miễn dịch học (cấu trúc kháng nguyên, độc lực…), cụ thể là: Serotype = 64: O = 11, A = 32, C = 5, Asia1 = 3, SAT1 = 6, SAT2 = 3, SAT3 = 4 Các type/serotype vi rút này đều gây bệnh LMLM với những triệu chứng lâm sàng giống nhau, nhưng không tạo đáp ứng miễn dịch chéo cho nhau (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [16]

Trang 38

Giữa các type, do không có sự đồng nhất về đặc tính kháng nguyên, chúng không có miễn dịch chéo Gia súc đã mắc bệnh do 1 serotype không có miễn dịch bảo hộ với type khác Miễn dịch bảo hộ chéo chỉ tồn tại giữa một số serotype của cùng 1 type (Tô Cẩm Tú và cộng sự, 1992) [31], (Donaldson A I, 2000) [40] Trong thực tế có những trường hợp con vật đã bị bệnh lại có thể “tái phát”, hiện tượng này do vi rút các type khác nhau có mặt ở cùng một ổ dịch Con vật lành bệnh với 1 type nhưng mắc bệnh lại do type khác Đối với 3 type O, A, C trong một

ổ dịch có thể có sự kết hợp của các type này, nhưng thông thường chỉ một type

chiếm ưu thế Đây chính là cơ sở khoa học cho việc lựa chọn vắc xin phù hợp chủng nhằm tránh trường hợp gia súc đã được tiêm phòng nhưng vẫn mắc bệnh do không

có miễn dịch đặc hiệu với chủng lưu hành, đồng thời hạn chế kinh phí dành cho việc sử dụng vắc xin không phù hợp chủng Để có thể sử dụng vắc xin một cách có hiệu quả, cần phải thường xuyên giám sát dịch tễ, tăng cường khả năng chẩn đoán

đầu mũi khô, sản lượng sữa giảm, dáng điệu mệt mỏi, lừ đừ, kém ăn, thỉnh thoảng

nằm gục đầu xuống, tai và đuôi không phe phẩy, nằm xuống đứng lên có vẻ khó khăn, nặng nề, chậm chạp (Phạm Sỹ Lăng và cộng sự, 2002) [12], (Phạm Gia Ninh

và cộng sự, 1993) [14]

- Ở miệng: Lúc sốt thì miệng nóng, niêm mạc miệng, môi, lợi, chân răng nóng, khô, đỏ ửng lưỡi dày lên và khó cử động, có con không liếm mũi được Mụn nước bắt đầu mọc ở mép, ở môi, lợi, lưỡi, phía trong má và chân răng Những mụn nước này có thể nhỏ bằng hạt kê, hạt ngô hoặc to hơn Ở những nơi có mụn nước xuất hiện, tổ chức liên kết phồng lên, có màng bọc mỏng, bên trong có nước, lúc đầu nước trong vàng, về sau nước vẩn đục dần, sờ vào mụn có cảm giác mềm Mụn có màu trắng hoặc hơi hồng Sau một hai ngày thì mụn vỡ, lớp bọc mụn rách ra xơ xác,

để lộ mặt dưới có màu đỏ hoặc mụn thủng một lỗ nhỏ có viền bị rách Nước đục

chảy ra hoà lẫn với nước bọt thành chất bọt đặc dính có từng mảng màng Mụn nước vỡ, các màng niêm mạc mất đi để lại vết lét sâu, rộng, màu hồng trắng, có phủ

Trang 39

một lớp chất màu vàng, sau vài ngày thì bắt đầu hình thành sẹo Mụn ở lưỡi không

rõ như ở hàm, đến khi loét mới thấy rõ Nếu mụn nước mọc nhiều làm mặt lưỡi rộp lên, chỗ lồi chỗ lõm, có khi liền nhau tạo thành mảng to, màu trắng nhạt Mụn nước

vỡ thì lưỡi bị loét đỏ, màng lưỡi tróc theo mụn nước, lớp niêm mạc có gai tróc ra Thường thấy loét ở đầu hoặc giữa lưỡi, ít thấy ở gốc lưỡi Những con bị nặng, khi dùng tay kéo lưỡi ra kiểm tra thì lớp niêm mạc lưỡi bong ra từng mảng, tạo thành những mảng loét lớn màu đỏ trên mặt lưỡi

Nước bọt lúc đầu chảy ra ít và trong, khi mụn vỡ thì nước bọt chảy ra nhiều, mồm hôi, trong nước bọt đôi khi có máu hoặc dịch lâm ba màu vàng, tiếng chép miệng đặc trưng (Phạm Sỹ Lăng và cộng sự, 2002)[12]

Trang 40

- Ở chân: Khi con vật có biểu hiện kém ăn, móng chân bắt đầu nóng, đau, vành móng hơi sưng, da mỏng có màu trắng hồng, tụ máu phồng lên Con vật đứng không yên, chân đau, bước đi khó khăn, dò dẫm, không dám bước mạnh Có khi què nặng, con vật nằm một chỗ, vành móng mưng mủ, phồng lên Sau 1-2 hôm thì mụn nước bắt đầu thấy rõ ở kẽ chân, mụn trắng dài lấp cả kẽ chân Mụn nước vỡ, làm rách lớp da kẽ chân, phần da sau gót cũng bị loét làm hở móng, có khi long móng ở những con bị nặng Mụn vỡ chảy nước mùi hôi thối và để lộ lớp bì bên trong màu đỏ Nếu giữ gìn vệ sinh tốt, không để bị nhiễm trùng thì sau 10-15 ngày lớp bì màu đỏ biến thành da non, chân lành, con vật đi lại bình thường (Phạm Gia Ninh và cộng sự, 1993) [14]

- Ở vú: Bầu vú bị sưng, mụn nước mọc ở đầu núm vú, mụn có thể to bằng quả mận, da xung quanh mụn màu đỏ và đau, sau 2-6 ngày thì vỡ để lại vết xước bằng phẳng dưới dạng vảy Bầu vú bị tổn thương, việc vắt sữa khó khăn, sữa thay đổi tính chất: lỏng, màu vàng, mùi hôi và sản lượng sữa giảm nhiều Nếu không vắt sữa thì mụn lâu vỡ nhưng khi vỡ thì mau lành Sau khi khỏi bệnh, sản lượng sữa thấp hơn trước, có trường hợp cạn sữa hẳn

Ngày đăng: 31/10/2016, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Anh và Hoàng Văn Năm (2001), "Tình hình bệnh Lở mồm long móng tại Đông Nam Á và thế giới năm 2000", Tạp Chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 8, tr. 90-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh Lở mồm long móng tại Đông Nam Á và thế giới năm 2000
Tác giả: Bùi Quang Anh và Hoàng Văn Năm
Năm: 2001
2. Bộ NN & PTNT (2011), Chương trình quốc gia khống chế bệnh Lở mồm long móng giai đoạn 2011-2015, tr. 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình quốc gia khống chế bệnh Lở mồm long móng giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Bộ NN & PTNT
Năm: 2011
5. Lê Minh Chí (2000), Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch Lở mồm long móng năm 1999 - 2000, Cục Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch Lở mồm long móng năm 1999 - 2000
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 2000
6. Nguyễn Tiến Dũng (2000), "Bệnh LMLM (Bài tổng hợp)", Tạp Chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 7(1), tr. 8 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh LMLM (Bài tổng hợp)
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2000
7. Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958) , Bệnh truyền nhiễm gia súc, Nxb Nông thôn I, Tr.117-179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm gia súc
Nhà XB: Nxb Nông thôn I
8. Nguyễn Đăng Khải (2000), "Sử dụng kỹ thuật ELISA chẩn đoán bệnh LMLM", Tạp Chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 7 (3), tr. 100 - 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng kỹ thuật ELISA chẩn đoán bệnh LMLM
Tác giả: Nguyễn Đăng Khải
Năm: 2000
10. Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông (2001), "Một số kết quả trong phòng chống bệnh Lở mồm long móng tại các khu vực trên thế giới", Tạp Chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 8 (3), tr. 83 - 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả trong phòng chống bệnh Lở mồm long móng tại các khu vực trên thế giới
Tác giả: Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông
Năm: 2001
11. Văn Đăng Kỳ (2002), Nghiên cứu dịch tễ học bệnh LMLM ở lợn Tại Việt Nam và biện pháp phòng chống, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Thú y Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dịch tễ học bệnh LMLM ở lợn Tại Việt Nam và biện pháp phòng chống
Tác giả: Văn Đăng Kỳ
Năm: 2002
12. Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Thiện (2002), Một số bệnh mới do vi rút ở gia súc- gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh mới do vi rút ở gia súc-gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
13. Nguyễn Lương (1997), Dịch tễ học Thú y phần chuyên khoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học Thú y phần chuyên khoa
Tác giả: Nguyễn Lương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
14. Phạm Gia Ninh (1993), Bệnh Lở mồm long móng, Cục thú y xuất bản, lưu hành nội bộ, tr.1 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Lở mồm long móng
Tác giả: Phạm Gia Ninh
Năm: 1993
15. Trần Thanh Phong (1996), Bệnh LMLM, bệnh bọng nước ở heo, Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh LMLM, bệnh bọng nước ở heo
Tác giả: Trần Thanh Phong
Năm: 1996
16. Nguyễn Vĩnh Phước (1970), Giáo trình vi sinh vật thú y, Nxb Đại học, trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 2,3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: Nxb Đại học
Năm: 1970
17. Nguyễn Vĩnh Phước (1978), Bệnh truyền nhiễm gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 185-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm gia súc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1978
18. Thái Thị Thuỷ Phượng (2008), Khảo sát một số đặc điểm dịch tễ học và biện pháp khống chế bệnh Lở mồm long móng gia súc tại các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ, Đồng Tháp và Tiền Giang. Luận án tiến sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một số đặc điểm dịch tễ học và biện pháp khống chế bệnh Lở mồm long móng gia súc tại các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ, Đồng Tháp và Tiền Giang
Tác giả: Thái Thị Thuỷ Phượng
Năm: 2008
19. R.P.kitching (2000), "Diễn biến gần đây của bệnh LMLM" (tài liệu do Tô Long Thành dịch), Tạp Chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 7, tr. 48-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến gần đây của bệnh LMLM
Tác giả: R.P.kitching
Năm: 2000
20. Sổ tay dịch bệnh động vật (2002), Chương "Bệnh Lở mồm long móng" Phạm Gia Ninh và Nguyễn Đức Tâm dịch từ nguyên bản tiếng Anh: Handbook on Animal diseaser. Nxb Bản đồ, tr. 198 - 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Lở mồm long móng
Tác giả: Sổ tay dịch bệnh động vật
Nhà XB: Nxb Bản đồ
Năm: 2002
21. Sổ tay phòng chống bệnh bệnh Lở mồm long móng (2003), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng chống bệnh bệnh Lở mồm long móng
Tác giả: Sổ tay phòng chống bệnh bệnh Lở mồm long móng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
22. Nguyễn Như Thanh (1974), Giáo trình thực tập vi sinh vật học thú y. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thực tập vi sinh vật học thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1974
23. Nguyễn Như Thanh (2001), Giáo trình vi sinh vật đại cương. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vi sinh vật đại cương
Tác giả: Nguyễn Như Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 1.1 Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009 (Trang 18)
Hình 1.2: Cấu trúc của virion vi rút LMLM type O1BFS [35] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 1.2 Cấu trúc của virion vi rút LMLM type O1BFS [35] (Trang 25)
Hình 1.3: Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM [35] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 1.3 Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM [35] (Trang 26)
Hình 1.4: Triệu chứng và bệnh tích ở miệng bò bị bệnh LMLM - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 1.4 Triệu chứng và bệnh tích ở miệng bò bị bệnh LMLM (Trang 39)
Hình 1.5: Bệnh tích ở miệng và lưỡi bò bị bệnh LMLM - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 1.5 Bệnh tích ở miệng và lưỡi bò bị bệnh LMLM (Trang 40)
Hình 1.6: Bệnh tích ở vú bò bị bệnh LMLM - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 1.6 Bệnh tích ở vú bò bị bệnh LMLM (Trang 41)
Hình 3.2: Biểu đồ diễn biến và tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM trên địa bàn tỉnh - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 3.2 Biểu đồ diễn biến và tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM trên địa bàn tỉnh (Trang 67)
Hình 3.3: Biểu đồ và tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo mùa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 3.3 Biểu đồ và tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo mùa (Trang 69)
Hình 3.4: Biểu đồ và tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo mùa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 3.4 Biểu đồ và tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo mùa (Trang 70)
Bảng 3.7: Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi từ năm 2010 đến 2014 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 3.7 Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi từ năm 2010 đến 2014 (Trang 71)
Hình 3.5: Biểu đồ tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi (Trang 72)
Hình 3.6: Biểu đồ tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi (Trang 73)
Bảng 3.15: Kết quả xét nghiệm định type vi rut LMLM trên đàn trâu, bò tại - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 3.15 Kết quả xét nghiệm định type vi rut LMLM trên đàn trâu, bò tại (Trang 81)
Bảng 3.16: Hiệu giá kháng thể trung bình của đàn trâu, bò - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 3.16 Hiệu giá kháng thể trung bình của đàn trâu, bò (Trang 82)
Hình 3.7: Đồ thị biến động hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch của trâu, bò - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn
Hình 3.7 Đồ thị biến động hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch của trâu, bò (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w