Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định các loại nguồn nước, chất lượng nước và các yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt nông thôn tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.
Trang 1KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN
VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ Ô NHIỄM ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN NƯỚC TẠI HUYỆN THẠNH HÓA, TỈNH LONG AN
Lê Hoàng Ninh*, Đỗ Khắc Cúc*, Đặng Ngọc Chánh*, Nguyễn Trần Bảo Thanh*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Cung cấp nước và sử dụng nước là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống con người,
tuy nhiên hoạt động này lại khác nhau ở từng vùng, khu vực và quốc gia. Nhằm mục đích đưa ra những cảnh báo về chất lượng nước và những nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước của người dân đang sử dụng, góp phần bảo vệ sức khỏe của người dân tại vùng đất còn nhiều khó khăn trong quá trình đổi mới đề tài
“Khảo sát chất lượng nước sinh hoạt nông thôn và các yếu tố nguy cơ ô nhiễm ảnh hưởng đến nguồn nước tại huyện Thạnh hóa, tỉnh Long An” được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định các loại nguồn nước, chất lượng nước và các yếu tố gây ô nhiễm nguồn
nước sinh hoạt nông thôn tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tầng.
Kết quả: Tỷ lệ sử dụng nước giếng khoan là cao nhất (chiếm tỷ lệ là 40,8%), kế đến là nước cấp theo đường
ống (20,8%), nguồn nước mưa và nước bề mặt (nước sông, ao, hồ) có tỷ lệ sử dụng tương đương nhau (19,2%).
Tỷ lệ mẫu nước đạt chất lượng theo QCVN 02:2009/BYT là 65%. Trong đó, tỷ lệ mẫu nước máy đạt chất lượng dao động từ 57,1 – 71,4%, nước giếng khoan là 75 – 80%, nước bề mặt là 40 – 42,9% và nước mưa là 50%. Chỉ
tiêu không đạt chất lượng là pH, độ đục, màu sắc, sắt tổng số, amoni, Coliforms tổng số và E.coli. Nguồn nước bề
mặt có nguy cơ ô nhiễm cao chiếm tỷ lệ cao nhất 96%.
Kết luận: Tỷ lệ mẫu nước đạt chất lượng theo QCVN 02:2009/BYT là 65%. Trong đó, tỷ lệ mẫu nước máy
đạt chất lượng dao động từ 57,1 – 71,4%, nước giếng khoan là 75 – 80%, nước bề mặt là 40 – 42,9% và nước mưa là 50%. Nguồn nước bề mặt có nguy cơ ô nhiễm cao chiếm tỷ lệ là 96%.
Từ khóa: Nước sạch, huyện Thạnh Hóa, ô nhiễm, nguồn nước.
ABSTRACT
SURVEY THE QUALITY OF DOMESTIC WATER AND ASSESSMENT POLLUTED RISK FACTORS
AFFECTING WATER SOURCE AT THANH HOA DISTRICT, LONG AN PROVINCE
Le Hoang Ninh, Do Khac Cuc, Dang Ngoc Chanh, Nguyen Tran Bao Thanh
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 35 – 40
Background: Supplying water and using water are indispensable activities in human life. However, the
quality of wateris different between areas, regions and countries. With the of providing warnings about the quality of water and factors directly impacting the quality of water, and improving people’s health,asurvey on the quality of water and risk factors contaminating water sources in Thanh Hoa district, Long An province was conducted.
Objectives: To identify the types of water sources, the quality of water and factors polluting rural water
sources in Thanh Hoa district, Long An province.
Methods: Cross‐sectional study with classification.
* Viện Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: CN. Đỗ Khắc Cúc ĐT: 0903937211 Email: dokhaccuc@gmail.com
Trang 2Result: The proportion of household using dipped water was highest (40.8%), followed by tap water
(20.8%), rain water and surface water (rivers, lakes) with the same proportion (19.2%). The percentage of samples meeting the standard QCVN 02:2009/MOH was 65%. In particular, the proportion of qualified tap water samples ranged from 57.1 to 71.4%, well water (75‐80%), the surface water (40 to 42.9%) and rain water (50%). Indicators including pH, turbidity, color, total iron, ammonium, total coliforms and E. Coli did not meet the standards. Most surface water was polluted accounting for 96%.
Conclusion: The percentage of standardised samples conforming to the QCVN 02:2009/MOH was 65%. In
particular, the proportion of standardised samples was ranged from 57.1 to 71.4% for tap water, 75‐80% for well water, 40 to 42.9% for the surface water and 50% for rain water. Surface water bore the highest risk of pollution,accounting for 96%.
Keywords: Pure water in Thanh Hoa, contaminated, water sources.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước đóng vai trò quan trọng trong quá
trình tự nhiên cũng như trong cuộc sống con
người. Nước dùng để ăn uống, tắm giặt, vệ sinh
cá nhân… và rất quan trọng đối với sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ,
giao thông vận tải…(2). Tuy vậy, nước đồng thời
cũng là môi trường lan truyền bệnh tật, ảnh
hưởng đến sức khỏe con người.
Kết quả điều tra diện rộng về y tế Quốc gia
Bộ Y tế phối hợp với Tổng cục thống kê thực
hiện trên 36.000 hộ gia đình trong phạm vi 1.200
phường, xã trên toàn quốc đã được công bố
ngày 25 tháng 9 năm 2003 cho thấy tỷ lệ hộ sử
dụng nước máy là 15,7%; tỷ lệ hộ có nhà tiêu
hợp vệ sinh là 21%. Như vậy, còn một phần lớn
các hộ gia đình vẫn đang sử dụng các loại nhà
tiêu khác không hợp vệ sinh như nhà tiêu cầu,
nhà tiêu đào, nhà tiêu ao cá… Đó là những nguy
cơ cao gây nhiễm bẩn các nguồn nước bề mặt
trong đó các nguồn nước sinh hoạt ở cộng đồng,
hiện đang là một vấn đề môi trường và sức khỏe
ở vùng nông thôn Việt Nam(3). Theo báo cáo kết
quả điều tra nước sạch và vệ sinh môi trường
của huyện Thạnh Hóa cho thấy, tỷ lệ người dân
tiếp cận với cấp nước tập trung thấp khoảng
54%, người dân sử dụng nước tự phát từ các
nguồn nước bề mặt, nước mưa, nước ngầm tự
khai khác còn phổ biến. Nhằm mục đích đưa ra
những cảnh báo về chất lượng nước và những
nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
nước của người dân đang sử dụng, góp phần
bảo vệ sức khỏe của người dân tại vùng đất còn nhiều khó khăn trong quá trình đổi mới đề tài
“Khảo sát chất lượng nước sinh hoạt nông thôn
và các yếu tố nguy cơ ô nhiễm ảnh hưởng đến nguồn nước tại huyện Thạnh hóa, tỉnh Long
An” được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định tỷ lệ các loại nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt tại các hộ gia đình nông thôn của huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An.
Xác định tỷ lệ các nguồn nước sinh hoạt tại
hộ gia đình nông thôn huyện Thạnh hóa đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của Bộ Y tế. Xác định các yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt tại hộ gia đình nông thôn của huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Nguồn nước thường xuyên được các hộ gia đình sử dụng cho sinh hoạt (nước giếng khoan, nước máy, nước mưa, nước bề mặt) trên địa bàn huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Địa điểm nghiên cứu: xã Tân Đông, xã Tân
Tây, xã Thạnh Phú và xã Thạnh Phước thuộc huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Phương pháp nghiên cứu
Cắt ngang mô tả. Chất lượng mẫu nước sau xét nghiệm được đánh giá dựa trên QCVN 02:2009/BYT(1).
Trang 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hình 1:Cơ cấu các nguồn nước sử dụng tại huyện
Thạnh Hóa, tỉnh Long An
Tại huyện Thạnh Hóa, các nguồn nước sử
dụng phổ biến tại các hộ gia đình nông thôn như
sau: tỷ lệ sử dụng nước giếng khoan là cao nhất
(chiếm tỷ lệ là 40,8%), kế đến là nước cấp theo
đường ống (20,8%), nguồn nước mưa và nước bề
mặt (nước sông, ao, hồ) có tỷ lệ sử dụng tương
đương nhau (19,2%).
Bảng 1: Đánh giá chất lượng nước về lý hóa, vi sinh
STT Chỉ tiêu đánh giá Kết quả đánh giá (n=120)
1 Lý hóa 84 (70%) 36 (30%)
2 Vi sinh 94 (78,3%) 26 (21,7%)
3
Đạt chất lượng
theo QCVN
02:2009/BYT 78 (65%) 42 (35%)
Trong tổng số 120 mẫu nước nghiên cứu, có
78 mẫu (chiếm tỷ lệ là 65%) đạt chất lượng theo
QCVN 02: 2009/BYT và 42 mẫu (tỷ lệ là 35%)
không đạt chất lượng. Nhóm chỉ tiêu lý hóa
không đạt chất lượng nhiều nhất là pH, độ đục,
màu sắc, sắt tổng số, amoni. Đối với chỉ tiêu vi
sinh vật là Coliforms tổng số và E.coli.
Bảng 2:Đánh giá chất lượng các nguồn nước sinh
hoạt tại hộ gia đình nông thôn (n=120)
STT Tên nguồn nước Kết quả đánh giá (n=120)
Đạt Khôngđạt
1 Nước cấp theo đường ống (nước máy) 18 (72%) 7 (28%)
2 Nước giếng khoan 39 (79,6%) 10 (20,4%)
3 Nước bề mặt 10 (43,5%) 13 (56,5%)
4 Nước mưa 11 (47,8%) 12 (52,2%)
Tổng cộng 78 (65%) 42 (35%) Trong các nguồn nước đạt chất lượng sử dụng theo QCVN 02: 2009/BYT, nguồn nước giếng khoan có tỷ lệ mẫu đạt chất lượng là cao nhất (79,6%), nguồn nước cấp theo đường ống là 72%, nguồn nước mưa và nước bề mặt (nước sông, ao) có tỷ lệ đạt chất lượng lần lượt là 47,8%
và 43,5%.
Hình 2:Biểu đồ đánh giá chất lượng nước tại 4 xã
nghiên cứu
Tại 4 xã tiến hành nghiên cứu, xã Tân Tây và
xã Thạnh Phú có số mẫu nước khảo sát đạt chất lượng sử dụng là nhiều nhất 21 mẫu, chiếm tỷ lệ 17,5%. Xã Tân Đông và xã Thạnh Phước có tỷ lệ mẫu nước đạt chất lượng sử dụng 15%. Bên cạnh đó, tỷ lệ mẫu nước máy đạt chất lượng dao động từ 57,1 – 71,4%, nước giếng khoan là 75 – 80%, nước bề mặt là 40 – 42,9% và nước mưa là 50%.
Bảng 3: Đánh giá các yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước cấp theo đường ống tại các hộ gia đình (n=25)
Yếu tố nguy cơ
XãTân Đông (n=7)
XãTân Tây (n=5)
XãThạnh Phú (n=6)
XãThạnh Phước (n=7)
Tổng cộng (n=25)
Rong rêu, rác hoặc xác súc vật chết trong dụng cụ chứa nước 3 1 0 2 6 (24%) Dụng cụ lấy nước bị bẩn hoặc được đặt trên nền đất 2 1 0 2 5 (20%)
20.8
40.8
19.2 19.2
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
Nước cấp theo
đường ống
(Nước máy)
Nước giếng khoan Nước mưa Nước bề mặt
18
12
21 9
21 9
18 12
0 5 10 15 20 25 30
Số mẫu
Không đạt Đạt
Trang 4Yếu tố nguy cơ
XãTân Đông (n=7)
XãTân Tây (n=5)
XãThạnh Phú (n=6)
XãThạnh Phước (n=7)
Tổng cộng (n=25)
Không có rãnh thoát nước xung quanh khu vực sử dụng nước 4 3 4 1 12 (48%)
Có xà phòng rửa tay tại khu vực sử dụng nước 2 1 3 2 8 (32%)
Kết quả bảng 3 cho thấy, 100% dụng cụ chứa
nước cấp theo đường ống tại các hộ gia đình của
4 xã nghiên cứu đều có nguy cơ ô nhiễm. Về
nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do dụng cụ chứa
nước bị nhiễm bẩn, chiếm tỷ lệ cao nhất là xã
Tân Tây và xã Thạnh Phước (28,6%), xã Tân Tây
là 20% và xã Thạnh Phú là 0%. Tuy nhiên, dụng
cụ chứa nước của 3 hộ gia đình tại xã Thạnh Phú
có lăng quăng sinh sống chiếm tỷ lệ là 50%.
Bảng 4: Đánh giá các yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước giếng khoan (n=49)
Yếu tố nguy cơ
Xã Tân Đông (n=8)
Xã Tân Tây (n=13)
Xã Thạnh Phú (n=15)
Xã Thạnh Phước (n=13)
Tổng cộng (n=49)
Cổ giếng bị nứt, hở hoặc rò rỉ nước 2 2 3 3 10 (20,4%) Thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt, vỡ 3 3 3 4 13 (26,5%) Dụng cụ bơm nước bị bẩn hoặc hư hỏng 3 3 4 4 14 (28,6%) Khoảng cách từ giếng tới nhà tiêu gần nhất <10m 2 3 2 3 10 (20,4%) Khoảng cách từ giếng tới bãi rác gần nhất <10m 0 0 0 0 0
Khoảng cách từ giếng tới chuồng gia súc gần nhất
Thiếu rãnh thoát nước thải hoặc điểm đổ nước thải
Kết luận
Tổng hợp các yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm
nguồn nước giếng khoan tại các địa phương, có
27 giếng (chiếm tỷ lệ là 55,1%) có nguy cơ bị ô
nhiễm và 22 giếng (chiếm tỷ lệ là 44,9%) có nguy
cơ ô nhiễm cao. Trong đó, xã Tân Đông có 3
giếng có nguy cơ ô nhiễm, 5 giếng có nguy cơ
cao; xã Tân Tây 9 giếng có nguy cơ ô nhiễm, 4 giếng có nguy cơ cao; xã Thạnh Phú 10 giếng có nguy cơ ô nhiễm, 5 giếng có nguy cơ cao; xã Thạnh Phước 5 giếng có nguy cơ ô nhiễm và 8 giếng có nguy cơ cao.
Bảng 5: Đánh giá các yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước bề mặt (n=23)
Yếu tố nguy cơ
XãTân Đông (n=7)
XãTân Tây (n=6)
XãThạnh Phú (n=5)
XãThạnh Phước (n=5)
Tổng cộng (n=23)
Các hoạt động tắm giặt hoặc sản xuất hoặc khai thác tài
Các đường ống cống hoặc kênh mương hoặc rãnh
Gia súc hoặc gia cầm hoặc loại vật nuôi khác đến tắm,
11 (47,8%)
Trang 5Yếu tố nguy cơ
XãTân Đông (n=7)
XãTân Tây (n=6)
XãThạnh Phú (n=5)
XãThạnh Phước (n=5)
Tổng cộng (n=23)
Rác thải hoặc phân người hoặc phân gia súc hoặc xác
Dụng cụ dẫn nước từ nguồn nước tới hộ gia đình bị bẩn 1 0 2 0 3 (13%)
Dụng cụ chứa nước, múc nước bị bẩn, ô nhiễm 0 1 1 2 4 (17,4%)
Kết luận
Trong số 23 nguồn nước bề mặt được khảo
sát, 20 vị trí thu nước có nguy cơ ô nhiễm cao
(chiếm tỷ lệ là 86,9%) và 3 vị trí thu nước có
nguy cơ ô nhiễm (chiếm tỷ lệ là 13,1%). Theo kết
quả bảng 5, tỷ lệ nguồn nước bị ô nhiễm do gia
súc, gia cầm hoặc vật nuôi tắm tại khu vực lấy
nước là cao nhất (chiếm tỷ lệ là 47,8%); kế đến là
tại khu vực lấy nước có hoạt động tắm giặt của người dân (30,4%); nhiễm bẩn do phân người/gia súc là 26,1%; khu vực lấy nước có ống cống nước thải đổ vào là 21,7%; tỷ lệ nhiễm bẩn
do dụng cụ chứa nước bị dơ và dụng cụ dẫn nước đến hộ gia đình bị bẩn lần lượt là 17,4% và 13%.
Bảng 6: Đánh giá các yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước mưa (n=23)
Yếu tố nguy cơ
Xã Tân Đông (n=8)
Xã Tân Tây (n=6)
Xã Thạnh Phú (n=4)
Xã Thạnh Phước (n=5)
Tổng cộng (n=23)
Mái hứng nước mưa (nếu có) có làm bằng fibro xi măng 2 2 2 2 8 (34,8%)
Mái hứng nước mưa và máng dẫn nước mưa bị bẩn
hoặc bị tắc nghẽn, đọng rác hoặc có các chất gây ô
nhiễm khác
(47,8%)
Rong rêu, rác, xác súc vật chết trong bể chứa nước 2 2 2 1 7 (30,4%)
Dụng cụ lấy nước bị bẩn hoặc được đặt trên nền đất 1 2 0 0 3 (13%)
Kết quả bảng 6 cho thấy, hầu hết các hộ gia
đình sử dụng nước mưa đều có dấu hiệu ô
nhiễm, tỷ lệ nguồn nước mưa có nguy cơ ô
nhiễm là 56,5% và có nguy cơ ô nhiễm cao là
43,5%. Trong đó, xã Tân Đông có 4 hộ gia đình
vị trí thu và chứa nước mưa có nguy cơ ô nhiễm,
3 hộ gia đình có nguy cơ ô nhiễm cao. Xã Tân
Tây có 3 hộ gia đình vị trí thu và chứa nước mưa
có nguy cơ ô nhiễm, 3 hộ gia đình có nguy cơ ô
nhiễm cao. Xã Thạnh Phú có 3 hộ gia đình vị trí
thu và chứa nước mưa có nguy cơ ô nhiễm, 2 hộ
gia đình có nguy cơ ô nhiễm cao. Xã Thạnh
Phước có 3 hộ gia đình vị trí thu và chứa nước
mưa có nguy cơ ô nhiễm và 2 hộ gia đình có nguy cơ ô nhiễm cao.
BÀN LUẬN
Trong tổng số 120 mẫu nước được khảo sát
để đánh giá chất lượng nguồn nước, có 78 mẫu đạt chất lượng theo QCVN 02: 2009/BYT (chiếm
tỷ lệ 65%) và 42 mẫu không đạt chất lượng chiếm tỷ lệ 35%. Trong đó nguồn nước đạt chất lượng chiếm đa số thuộc về nước cấp theo đường ống (nước máy) 72% và nước giếng khoan 79,6%. Kết quả trên cho thấy, hai nguồn nước này có chất lượng ổn định, sử dụng tốt trong sinh hoạt và ăn uống. Tỷ lệ nguồn nước
Trang 6không đạt chất lượng chủ yếu là nước mưa và
nước bề mặt, điều này cho thấy các yếu tố về
điều kiện địa chất, khí hậu, môi trường sản xuất
trên địa bàn ảnh hưởng đến tính chất của nguồn
nước, đây là vấn đề cần quan tâm nhằm tạo
nguồn nước thay thế hợp vệ sinh để phục vụ
nhu cầu sinh hoạt của người dân.
Đánh giá các yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm
nguồn nước sinh hoạt nông thôn tại 4 xã thuộc
huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An trong đó nguy
cơ ô nhiễm cao là ở nước bề mặt (chiếm tỷ lệ
86,9%), nước mưa là 76,9%, kế đến là nước giếng
khoan 44,9% và nước cấp theo đường ống là 0%.
Trong đó, yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước là do
dụng cụ chứa nước gần khu vực kênh mương,
rãnh đổ nước thải, khu vực có phân gia súc/ gia
cầm hay dụng cụ chứa nước có rong rêu, cặn
bẩn,… Ngoài ra, việc người dân vẫn còn tập
quán sử dụng nước bề mặt trong tắm giặt, vệ
sinh tạo điều kiện cho việc xâm nhập của các loại
bệnh qua đường da, niêm mạc, bệnh phụ khoa.
Đối với nguồn nước cấp theo đường ống, tuy
không có yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm nhưng cần
tuân thủ các yêu cầu về vệ sinh nguồn nước để
có được nguồn nước hợp vệ sinh, đây cũng là
nguồn nước an toàn trong quá trình sử dụng cho
sinh hoạt, ăn uống.
KẾT LUẬN
Nguồn nước được sử dụng trong sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất là nước giếng khoan (40,8%), kế đến là nước cấp theo đường ống (20,8%), tỷ lệ sử dụng nước mưa và nước bề mặt
là 19,2%.
Tỷ lệ mẫu nước đạt chất lượng về chỉ tiêu lý hóa là 70%, chỉ tiêu không đạt đó là pH, màu sắc, độ đục, hàm lượng sắt, amoni. Tỷ lệ mẫu nước vi khuẩn Coliform tổng số là 21,7% và vi
khuẩn E.colilà 15,8%.
Trong số các nguồn nước khảo sát, nguồn nước bề mặt có nguy cơ ô nhiễm cao chiếm tỷ lệ cao nhất (96%) do nhiễm bẩn phân gia súc/gia cầm và hoạt động tắm giặt của con người trong khu vực thu nước, kế đến là nước giếng khoan
và nước mưa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2009). Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN 02: 2009/BYT. Hà Nội. Tr. 12‐13.
2 Cục Y Tế Dự phòng Việt Nam (2007). Chất lượng nước sinh hoạt nông thôn Việt Nam. Nhà xuất bản Y học. Tr. 2.
3 Tổng Cục thống kê ‐ Bộ Y tế (2002). Khảo sát sức khỏe quốc gia.
Hà Nội. Tr. 20.
Ngày nhận bài báo: 15/5/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/6/2014 Ngày bài báo được đăng: 14/11/2014