HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAMBÙI CÔNG CẢNH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ KIM LOẠI BÌNH YÊN, XÃ NAM THANH -NAM TRỰC - NAM ĐỊNH
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI CÔNG CẢNH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ KIM LOẠI BÌNH YÊN,
XÃ NAM THANH -NAM TRỰC - NAM ĐỊNH
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS Nguyễn Xuân Thành
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan
và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Bùi Công Cảnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Xuân Thành đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Ban Chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Bộ môn Vi sinh vật, Khoa Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, viên chức Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Nam Định, Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Nam Định, Trung tâm Quan trắc và Phân tích TNMT tỉnh Nam Định, Phòng Tài Nguyên & Môi trường huyện Nam Trực, Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Nam Trực, UBND xã Nam Thanh và các hộ dân trong làng nghề Bình Yên đã giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Bùi Công Cảnh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Khái quát về làng nghề 3
2.1.1 Đặc điểm của các làng nghề 3
2.1.2 Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội 5
2.1.3 Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất của làng nghề tới môi trường 7 2.2 Đôi nét về các làng nghề trên thế giới 10
2.3 Lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề tại Việt Nam 13
2.3.1 Lịch sử hình thành của các loại hình làng nghề tại Việt Nam 13
2.3.2 Đôi nét về các loại hình làng nghề tại Việt Nam 15
2.4 Tổng quan về làng nghề tái chế kim loại 17
2.4.1 Giới thiệu chung về làng nghề tái chế kim loại 17
2.4.2 Tác động đến môi trường của các làng nghề tái chế kim loại 20
2.5 Tổng quan về làng nghề tỉnh Nam Định 26
2.5.1 Sự phân bố của các làng nghề 27
2.5.2 Quy mô hoạt động của làng nghề 29
2.5.3 Sản phẩm của làng nghề 30
2.5.4 Thiết bị máy móc, công nghệ sản xuất 31
2.5.5 Môi trường làng nghề tại Nam Định 31
Trang 52.6 Giới thiệu về làng nghề tái chế kim loại thôn Bình Yên xã Nam Thanh,
huyện Nam Trực 33
2.6.1 Quá trình hình thành làng nghề Bình Yên 33
2.6.2 Đóng góp của làng nghề Bình Yên 33
Phần 3 Đối tượng - nội dung - phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 35
3.2 Nội dung nghiên cứu 35
3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định 35
3.2.2 Hoạt động tái chế kim loại tại làng nghề Bình Yên 35
3.2.3 Đánh giá hiện trạng và công tác quản lý môi trường làng nghề Bình Yên xã Nam Thanh, huyện Nam Trực 35
3.2.4 Ảnh hưởng từ hoạt động tái chế nhôm của làng nghề đến cảnh quan môi trường và sức khỏe con người. 35
3.2.5 Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề tái chế kim loại Bình Yên xã Nam Thanh 35
3.3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 35
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 35
3.3.3 Phương pháp khảo sát thực địa 36
3.3.4 Phương pháp lấy mẫu, phân tích 36
3.3.5 Phương pháp đánh giá 39
3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 39
Phần 4 Kết quả và thảo luận 40
4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định 40
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Nam Thanh 44
4.2 Hoạt động tái chế kim loại tại làng nghề Bình Yên 48
Trang 64.2.1 Tổng số hộ thôn Bình Yên (chia theo ngành nghề : Tái chế kim loại,
sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp ) và số hộ tham gia tái chế
kim loại chia theo loại hình 48
4.2.2 Nguyên, nhiên liệu, năng lượng hóa chất đầu vào và sản phẩm đầu ra (tấn/năm) năm 2017 49
4.2.3 Quy trình tái chế và sản xuất sản phẩm hàng hóa làng nghề Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực. 51
4.3 Đánh giá hiện trạng và công tác quản lý môi trường làng nghề Bình Yên 53 4.3.1 Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề Bình Yên 53
4.3.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại làng nghề Bình Yên xã Nam Thanh 62
4.4 Ảnh hưởng từ hoạt động tái chế nhôm của làng nghề đến cảnh quan môi trường và sức khỏe của con người 66
4.4.1 Ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường 66
4.4.2 Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng 67
4.5 Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề tái chế kim loại Bình Yên xã Nam Thanh 68
4.5.1 Giải pháp cơ chế, chính sách 68
4.5.2 Giải pháp quy hoạch 69
4.5.3 Giải pháp tuyên truyền giáo dục cộng đồng 70
Phần 5 Kết luận và đề nghị 72
5.1 Kết luận 72
5.2 Kiến nghị 73
Tài liệu tham khảo 74
Phụ lục 76
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Dự báo phát triển của làng nghề Việt Nam đến năm 2015
Bảng 2.2 Số lượng các ngành nghề phân theo ngành sản xuất chính
Bảng 2.3 Thực trạng làng nghề truyền thống tại một số tỉnh
Bảng 2.4 Lượng sản phẩm tại một số làng nghề tái chế kim loại
Bảng 2.5 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại trong nước thải làng nghề Đồng Xâm
Bảng 2.6 Thải lượng ô nhiễm do đốt than tại làng nghề tái chế
Bảng 2.7 Chất lượng môi trường không khí tại một số làng nghề tái chế kim loại
Bảng 2.8 Tổng hợp số lượng làng nghề trên địa bàn tỉnh Nam Định
Bảng 2.9 Tổng hợp sự phân bố làng nghề theo nhóm ngành nghề hoạt động
Bảng 2.10 Tổng hợp số hộ và lao động sản xuất nghề
Bảng 2.11 Tổng hợp các sản phẩm của làng nghề trên địa bàn tỉnh Nam Định
Bảng 3.1 Vị trí (điểm) quan trắc không khí xung quanh tháng 11 năm 2017 -thời điểm lấy mẫu hướng gió Tây Bắc
Bảng 3.2 Vị trí điểm quan trắc không khí xung quanh tháng 03 năm 2018 hướng gió Đông Nam
Bảng 3.3 Thông số và phương pháp phân tích không khí xung quanh
Bảng 4.1 Khí hậu thời tiết huyện Nam Trực (trị số trung bình chung 5 năm: 2012-2016)
Bảng 4.2 Tổng số hộ chia theo ngành nghề của thôn Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực
Bảng 4.3 Số hộ tham gia hoạt động tái chế chia theo loại hình sản xuất tại làng nghề Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực
Bảng 4.4 Nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra của làng nghề Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, năm 2017
Bảng 4.5 Nhiên liệu, năng lượng, hóa chất sử dụng trong sản xuất làng nghề (trung bình của 1 hộ theo loại hình sản xuất)
Bảng 4.6 Kết quả quan trắc môi trường không khí xung quanh tại làng nghề tái chế kim loại Bình Yên
Bảng 4.7 Kết quả điều tra về thực hiện biện pháp giảm thiểu tiếng ồn của các hộ sản xuất tại làng nghề Bình Yên
Trang 9Bảng 4.8 Kết quả điều tra về tình hình phát sinh, thu gom, phân loại và xử lý
RTSH tại làng nghề Bình Yên 58 Bảng 4.9 Thống kê tải lượng chất thải nguy hại phát sinh của làng nghề cơ
khí, tái chế kim loại nhôm Bình Yên trong năm 2017 60 Bảng 4.10 Ý kiến của người dân về việc quy hoạch khu cụm làng nghề Bình Yên
xã Nam Thanh 65 Bảng 4.11 Đánh giá của người dân về môi trường làng nghề Bình Yên 66 Bảng 4.12 Kết quả điều tra về một số loại bệnh thường gặp ở làng nghề Bình
Yên 67
Trang 10Hình 4.4 Diễn biến hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí xung quanh của làng
nghề tái chế kim loại Bình Yên 55 Hình 4.5 Diễn biến chất lượng thông số NO 2 trong không khí xung quanh tại làng
nghề tái chế kim loại Bình Yên 56 Hình 4.6 Tiếng ồn trong không khí xung quanh tại làng nghề tái chế kim loại
Bình Yên 56
Trang 11ix
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Bùi Công Cảnh
Tên luận văn: “Đánh giá thực trạng chất thải rắn và chất lượng môi trường không khí tại làng nghề tái chế kim loại Bình Yên, xã Nam Thanh - Nam Trực - Nam Định”. Ngành: Khoa học môi trường Mã số: 8440301
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là đánh giá thực trạng chất thải rắn và chất lượng môi trường không khí tại làng nghề tái chế kim loại Bình Yên Từ đó đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ hoạt động của làng nghề tái chế kim loại Bình Yên, xã Nam Thanh – Nam Trực – Nam Định.
Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá thực trạng chất thải rắn và môi trường không khí tại làng nghề tái chế kim loại Bình Yên, các phương pháp nghiên cứu được áp dụng như: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, phương pháp lấy mẫu vào mùa mưa và mùa khô năm 2017-2018, phương pháp xử lý và thống kê sô liệu, phương pháp
so sánh đánh giá theo các quy chuẩn Việt Nam Qua những nội dung đã tìm hiểu, nghiên cứu có cơ sở để đưa ra những giải pháp có thể áp dụng vào thực tiễn.
Kết quả chính và kết luận
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, làng nghề Bình Yên có khoảng 51,7% trên tổng
số hộ toàn xã tham gia sản xuất tái chế kim loại Trong đó các hộ chủ yếu làm cô đúc chiếm tỷ lệ 38,75 % và các hộ tạo hình, nhúng rửa chiếm tỷ lệ 43,5 % Với tổng nguyên liệu đầu vào năm 2017 là 6554,6 tấn, phát sinh ra 647 tấn xỉ thải là CTNH Với khối lượng CTNH lớn như vậy, UBND xã đã đưa ra được phương pháp quản lý và xử
lý triệt để nguồn chất thải phát sinh này Bên cạnh đó, hoạt động đốt nhiên liệu: than, củi; sử dụng các nguyên vật liệu, hóa chất trong quá trình sản xuất và hoạt động giao thông vận tải trong đời sống hàng ngày và giao lưu buôn bán của làng nghề Bình Yên đã gây ảnh hưởng đến môi trường không khí.
Từ kết quả phân tích không khí xung quanh làng nghề Bình Yên cho thấy: đã có một số thông số như bụi lơ lửng, NO 2 , tiếng ồn của một số điểm phân tích vượt quá quy chuẩn cho phép từ 1,01 lần đến 1,34 lần Kết quả từ phiếu điều tra các hộ dân trong làng nghề Bình Yên cho thấy, người dân tại làng đang mắc phải một số về hô hấp, ngoài da (chiếm khoảng trên 80%) Hiện trang môi trường không khí đang bị ô nhiễm gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân tại làng Bình Yên Từ thực tế trên, đưa ra một số giải pháp phù hợp để phát triển và bảo vệ môi trường không khí của làng nghề Bình Yên.
Trang 13THESIS ABSTRACT
Author's name: Mr Bui Cong Canh
Name of thesis: “Assessment of the status of solid waste and quality of air environment in Binh Yen metal recycling village, Nam Thanh commune, Nam Truc district, Nam Dinh province”.
Major: Environmental Science Code: 8440301
Education oganization: Vietnam National University of
Agriculture Reseach Objectives
The purpose of the study was to evaluate the status of solid waste and air pollution in Binh Yen metal recycling village From there, the solution proposed to reduce environmental pollution from Binh Yen metal recycling craft village Nam Thanh commune, Nam Truc district, Nam Dinh province Research Methods
To assess the status of solid waste and air environment in the Binh Yen metal recycling village, the research methods were applied as secondary data collection method, sampling method in rainy season and dry season from 2017
to 2018, method of processing and statistical data, comparison method according to Vietnamese standards Based on the contents studied, the research has the basis to come up with solutions that can be applied in practice.
Main results and conclusions
Research results show that indicate that Binh Yen trade village has about 51.7% of the total households in the commune involved in metal recycling In which, the households mainly make castings account for 38.75% and the households shaping, the dipping, accounting for 43.5% With total raw material input in 2017 is 6554.6 tons, generated 646.3 tons of slag (hazardous waste) With such large volume of hazardous wastes, the Commune People's Committee also introduced methods of managing and thoroughly treating this waste source In addition, burning fuel: coal, firewood; using raw materials, chemicals in production process and transportation activities in everyday life and trade exchange of Binh Yen trade village has affected the air environment.
From the results of air analysis around the Binh Yen trade village, there are some parameters such as suspended dust, NO 2 , the noise of some analysis points beyond the standard allowed from 1.01 times to 1.34 times Results from the
Trang 14questionnaire survey of households in Binh Yen trade village show that people in the village are suffering from some respiratory, skin (accounting for over 80%) Current environmental pollution is affecting the health of people in Binh Yen village From the above, to propose some suitable solutions to develop and protect the air environment of Binh Yen trade village.
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Để phát triển kinh tế xã hội của một lãnh thổ lâu dài và bền vững thì vấn đề khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường là những vấn đề hết sức quan trọng Sau công cuộc cách mạng công nghiệp, nền kinh tế thế giới như được thay da đổi thịt với tốc độ tăng trưởng kinh tế thần kì của nhiều nước Nhưng mọi vấn đề đều luôn có mặt trái của
nó, con người chúng ta đã và đang phá hỏng sự cân bằng của trái đất.
Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường là vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của thế hệ hiện tại và tương lai.Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, sinh hoạt tại các đô thị lớn, giao thông và đặc biệt là các hoạt động của làng nghề.
Phát triển làng nghề có vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, góp phần tạo công ăn việc làm,chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.Tuy nhiên, sự phát triển phức tạp của làng nghề trong thời gian gần đây đã khiến môi trường ở những làng nghề trong cả nước bị ô nhiễm nghiêm trọng và người dân làng nghề đang
là những người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả của sự ô nhiễm này.
Làng nghề Bình Yên, xã Nam Thanh - Nam Trực - Nam Định cũng không nằm ngoài tình trạng trên Là một làng chuyên sản xuất hàng cơ khí từ lâu đời, công nghệ sản xuất lạc hậu cũ kĩ, sản xuất nhỏ lẻ manh mún, ý thức của người dân trong công tác bảo vệ môi trường sống và bảo vệ sức khỏe chưa được nâng cao Do đó môi trường tại khu vực làng nghề đã và đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng Vì vậy việc tìm hiểu nghiên cứu và đánh giá ảnh hưởng từ các hoạt động tái chế kim loại nhôm tới môi trường tại làng nghề Bình Yên là rất cần thiết Với mục tiêu góp phần bảo vệ môi trường làng nghề, đảm bảo cho sức khỏe của người dân được nâng cao Xuất phát từ thực tiễn đó tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng chất thải rắn và chất lượng môi trường không khí tại làng nghề tái chế kim loại Bình Yên, xã Nam Thanh - Nam Trực - Nam Định” với mong
Trang 16muốn được đóng góp một phần công sức của mình trong việc bảo
vệ môi trường của làng nghề.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
làng nghề tái chế kim loại Bình Yên - xã Nam Thanh - Nam Trực - Nam Định;
- Đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất của làng nghề tái chế kim loại Bình Yên - xã Nam Thanh - Nam Trực
1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Chỉ ra thực trạng chất thải rắn phát sinh tại làng nghề Bình Yên bao gồm: Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ làng nghề và chất thải rắn công nghiệp phát sinh từ hoạt động sản xuất của làng nghề (chất thải thông thường và chất thải nguy hại).
- Chỉ ra các hoạt động phát sinh khí thải, tiếng ồn từ đó lấy mẫu, phân tích đánh giá chất lượng môi trường không khí.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn và môi trường không khí tại làng nghề Bình Yên.
- Đề xuất giải pháp giảm thiểu các tác động xấu của hoạt động sản xuất đến môi trường làng nghề.
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ
Làng nghề truyền thống đã hình thành lâu đời với tuổi thọ hơn 100 năm tồn tại cho đến nay và các làng nghề này thu hút được một lượng lao động lớn từ trong làng (35% - 40% số hộ) có thu nhập từ làng nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ, giá trị sản lượng của ngành nghề chiếm đến hơn 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương Các làng nghề truyền thống đã
và đang đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế nông thôn Ở nước ta có rất nhiều làng nghề tryền thống hoạt động hiệu quả và tồn tại cho đến ngày nay như làng lụa Vạn Phúc, làng gốm Bát Tràng, v.v Tuy nhiên trước những thay đổi của nền kinh
tế thị trường, một số lượng lớn làng nghề truyền thống đã mai một và rơi vào
dĩ vãng Do đó, đối với làng nghề đã từng có 50 hộ hoặc có 1/3 tổng số hộ cùng làm một nghề truyền thống cũng coi là làng nghề truyền thống.
Đi cùng với đó là những “làng nghề mới” được hình thành do phát triển từ những làng nghề truyền thống hoặc tiếp thu những nghề mới phục vụ sản xuất sinh hoạt trong khu vực Sự xuất hiện và phát triển của làng nghề này cũng mang những ý nghĩa tích cực đối với đời sống khu vực kinh tế nông thôn nói riêng và nên kinh tế thành phố nói chung.
Hiện nay, nước ta có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát triển, đã có nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc đẩy sự phát triển làng nghề trên địa bàn cả nước Tuy nhiên, nhiều làng nghề đã và đang có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau như bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn
để cải tiến sản xuất, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng…
2.1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC LÀNG NGHỀ
- Đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp Các làng nghề xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất- kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân.
Trang 18- Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc nhiều loại sản phẩm có công nghệ- kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm.
- Đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn
có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương cũng
có thể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm song không nhiều.
thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ, việc ứng dụng khoa học- công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn tuy nhiên, một
số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng sau hoà bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho phương thức truyền nghề
và dậy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn.
- Sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục
vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở nhà nước các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân biệt được đâu
là gốm sứ bát tràng (hà nội), thổ hà (bắc ninh), đông triều (quảng ninh) từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên các trống đồng
Trang 19và các hoạ tiết trên đồ gốm sứ đến những nét chấm phá trên các bức thêu tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề cho đến nay, thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là các thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh và một phần cho xuất khẩu.
Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân.
2.1.2 Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Tạo việc làm cho người lao động và giảm thời gian nông nhàn ở nông thôn
Theo số liệu điều tra của Báo cáo kết quả thực hiện Đề án: ''Điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nam
nghề với 18.524 hộ làm nghề đã tạo việc làm, tăng thu nhập cho khoảng 51.104 lao động, giảm thời gian nông nhàn của người nông dân ở nông thôn.
Đặc điểm chủ yếu của làng nghề là sản xuất thủ công và sử dụng nhiều sức lao động, số lượng lao động của các cơ sở sản xuất rất đa dạng, tùy theo quy mô của các cơ sở sản xuất và ngành nghề của làng nghề Các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ sử dụng lao động thường xuyên từ 2 đến 4 người Tuy nhiên có cơ sở sản xuất quy mô lớn sử dụng lao động hàng chục người như các làng nghề cơ khí đúc, làng nghề thủ công mỹ nghệ Có nhiều làng nghề tạo việc làm cho người lao động lớn tuổi hoặc tạo việc làm cho lao động nông nhàn ở nông thôn như làng làm nón, nuôi tằm, thêu ren, trồng cây cảnh, Người dân có thể làm nghề tại nhà, tranh thủ được thời gian để kết hợp làm những công việc khác.
Một số làng nghề phát triển các cơ sở sản xuất có quy mô lớn như làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên, làng nghề Bình Minh, Tống Xá…không chỉ tạo việc làm cho lao động ở làng nghề mà còn tạo việc làm cho lao động đến từ địa phương khác.
Trang 202.1.2.2 Tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động
Cùng với vai trò tạo việc làm cho người lao động, các làng nghề còn góp phần tăng thu nhập cho nhiều loại lao động khác nhau Nhìn chung thu nhập của các hộ làm nghề cao hơn thu nhập của các hộ thuần nông Qua số liệu điều tra cho thấy thu nhập bình quân đầu người hộ làm nghề của nhóm làng nghề chế biến lương thực thực phẩm bình quân đầu người từ 18-150 triệu đồng/người/năm; nhóm làng nghề dệt may từ 9 - 41 triệu đồng/người/năm; nhóm làng nghề thủ công mỹ nghệ từ 7,5-60 triệu đồng/người/năm; nhóm làng nghề cơ khí 15-70 triệu đồng/người/năm; nhóm làng nghề trồng cây và kinh doanh sinh vật cảnh 25-70 triệu đồng/người/năm; nhóm làng nghề trồng dâu nuôi tằm từ 10-
36 triệu/người/năm; làng nghề làm muối từ 10-28 triệu đồng/người/năm.
Ngoài những người lao động trực tiếp tham gia sản xuất, làng nghề còn mang lại thu nhập cho lao động làm vệc ở các ngành nghề liên quan với làng nghề như những hộ, doanh nghiệp cung ứng nguyên liệu hoặc tiêu thụ sản phẩm cho làng nghề.
2.1.2.3 Bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương và phát triển du lịch
Lịch sử phát triển làng nghề luôn gắn liền với quá trình phát triển kinh tế
xã hội của địa phương Làng nghề có phương thức sản xuất truyền thống, có bề dày lịch sử lâu đời, là nơi hội tụ và kết tinh những nét văn hóa truyền thống đặc trưng của của từng vùng miền Làng nghề còn gắn với văn hóa bởi sản phẩm làng nghề đa dạng, phổ biến gần gũi với sinh hoạt thường ngày của dân cư như mây tre đan, thêu, gỗ mỹ nghệ, công cụ dụng cụ sản xuất nông nghiệp Mỗi sản phẩm làng nghề là một tác phẩm nghệ thuật, được làm bởi sự sáng tạo và khéo léo của nghệ nhân Sản phẩm làng nghề phản ánh sinh động sinh hoạt của dân
cư, phong tục tập quán của làng quê Làng nghề còn thể hiện nét văn hóa qua hoạt động lễ hội, hoạt động mua bán sản phẩm như lễ hội chợ Viềng được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng Giêng hàng năm Các hoạt động lễ hội thụ hưởng thành quả lao động sau một năm làm việc Sản phẩm của làng nghề là sự kết tinh, sự giao lưu giá trị văn hóa, văn minh lâu đời được đúc kết từ đời này sang đời khác Nhiều người ở các vùng miền khác hoặc người nước ngoài biết đến thông qua những mặt hàng, sản phẩm đặc sắc.
Vì vậy bảo tồn và phát triển làng nghề góp phần vào việc giữ gìn giá trị văn hóa của làng quê trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Trang 212.1.2.4 Tăng giá trị sản xuất hàng hóa và kim ngạch xuất khẩu
Hiện nay các sản phẩm của làng nghề đang có triển vọng phát triển rộng lớn, nhiều sản phẩm có mặt ở các tỉnh thành trong cả nước như công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, lương thực thực phẩm, chế biến gỗ, mây tre đan, dệt may, tơ tằm, thêu ren, các mặt hàng gia dụng…Một số mặt hàng như mây tre đan, đồ gỗ, cơ khí, dệt may, phát triển nhất trong các làng nghề của tỉnh Nam Định Sản phẩm không những được tiêu thụ rộng rãi trong nước mà còn được xuất khẩu sang nước ngoài như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU,… Đặc biệt các làng nghề cơ khí, đúc phát triển rất mạnh mẽ, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư công nghệ mới đào tạo nhân lực giỏi phục vụ cho sản xuất.Các sản phẩm làng nghề có giá trị cao đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
2.1.2.5 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn
Trong quá trình phát triển, các làng nghề có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Khi nghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tế nông thôn kéo theo các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ, vận tải, thông tin liên lạc,… cùng tồn tại
và phát triển Các làng nghề không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp Làng nghề có vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ, phân tán, tự cung tự cấp sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tập trung, kết hợp sản xuất nông nghiệp với công nghiệp dịch vụ, thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường hàng hóa, thị trường lao động nông thôn Làng nghề sẽ là đầu nối giữa công nghiệp hiện đại với nông nghiệp tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp hiện đại, đô thị hóa Sự phát triển của làng nghề là một trong những hướng rất quan trọng để thực hiện việc chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.1.3 Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất của làng nghề tới môi trường
Chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm, làm suy thoái môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến sức khỏe người dân và ngày càng trở thành vấn đề bức xúc Ô nhiễm môi trường làng nghề có một số đặc điểm sau: ô nhiễm môi trường tại làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán, mang đậm nét đặc thù của sản xuất ngành nghề và loại hình sản phẩm và tác động trực tiếp tới môi trường
Trang 22nước, đất, không khí của khu vực Ô nhiễm môi trường làng nghề thường khá cao tại khu vực sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động.
Theo Báo cáo hiện trạng môi trường làng nghề (năm 2008) Chương 2 - Ô nhiễm môi trường làng nghề thì bên cạnh những lợi ích mà làng nghề đã đem lại cho nền kinh tế, dịch vụ, văn hóa thì sự phát triển hoạt động sản xuất làng nghề cũng đã và đang đe dọa tới môi trường rất lớn Kết quả khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước của Đề tài KC 08.09 (2005) cho thấy, có đến 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng, 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ Do các làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo ngành nghề
và loại hình sản phẩm nên không phải tất cả các làng nghề đều gây ô nhiễm và mức độ cũng như dạng ô nhiễm gây ra là không giống nhau.
2.1.3.1 Ô nhiễm không khí
Đối với làng nghề tái chế phế liệu thì ô nhiễm không khí diễn ra khá nặng nề đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại và tái chế nhựa Ngoài ô nhiễm không khí do đốt nhiên liệu thể hiện qua các thông số SO 2 , CO,
NO x …, quá trình tái chế và gia công cũng phát sinh các khí độc như hơi axit, kiềm, oxit kim loại (PbO, ZnO, Al 2 O 3 ) và đặc biệt gây ô nhiễm nhiệt.
Đối với làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng thì ô nhiễm không khí do khí thải từ đốt nhiên liệu như CO, SO 2 , bụi…, ô nhiễm thường diễn ra cục bộ xung quanh lò Còn đối với làng nghề khai thác đá, bụi phát sinh từ quá trình khai thác và chế tác đá Đặc biệt, hàm lượng các chất ô nhiễm không khí thường rất cao xung quanh khu vực sản xuất Kết quả khảo sát ở khu vực làng nghề cho thấy, hàm lượng bụi đều vượt TCCP từ 3-8 lần, hàm lượng SO 2 có nơi vượt đến 6,5 lần.
Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ ô nhiễm không khí đặc trưng do sự phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải,
mùi tanh thối khó chịu nhất là các cơ sở chăn nuôi giết mổ gia xúc, gia cầm.
Các làng nghề ươm tơ, dệt vải, thuộc da xảy ra ô nhiễm cục bộ Khu vực sản xuất tại các làng nghề này thường bị ô nhiễm bởi các thông số như bụi, SO 2 , NO 2 , môi trường vi khí hậu ở các làng nghề dệt thường bị ô nhiễm bởi tiếng ồn do các máy dệt thủ công Mức ồn vượt TCVN từ 4 đến 14 dBA.
Các làng nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren; ô nhiễm không khí thường xảy ra
ở một số làng nghề chế tác đá và sản xuất mây tre đan Đặc biệt trong bụi phát sinh
từ hoạt động chế tác đá còn chứa một lượng không nhỏ SiO 2 có hại cho sức
Trang 23khỏe Trong khi đó ở các làng nghề mây tre đan thì ô nhiễm SO 2 phát sinh từ quá trình xử lý mốc cho sản phẩm.
2.1.3.2 Môi trường nước
a Môi trường nước mặt
Chất lượng nước mặt tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, một
số nơi đang ở mức báo động Nước mặt ở nhiều nơi có BOD 5 , COD,
NH + 4 , Coliform vượt QCVN hàng chục đến hàng trăm lần.
Các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ và thuộc da nước mặt bị ô nhiễm hữu cơ nặng: COD vượt QCVN từ 2-3 lần, BOD 5 vượt 1.5-2.5 lần Hàm lượng coliform trong nước mặt ở một số làng nghề khá cao, chứng tỏ bên cạnh nước thải sản xuất nước mặt đã bị nhiễm bẩn bởi nước thải sinh hoạt.
Các làng nghề thủ công, mỹ nghệ nhiều nơi hàm lượng COD trong nước mặt đã vượt QCVN Đặc biệt đối với làng nghề mây tre đan, do mây tre phải ngâm trong nước và quá trình gia công xử lý gây phát sinh nước thải có độ ô nhiễm hữu cơ cao dẫn đến nước mặt ở đây có hàm lượng COD, BOD 5 , NH + 4 , Coliform, độ màu đều tăng cao, vượt QCVN.
b Ô nhiễm nước dưới đất tầng nông
Nhìn chung nước dưới đất ở một số làng nghề: chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ gia xúc, gia cầm và làng nghề ươm tơ, dệt vải, thuộc
sản xuất tinh bột Dương Liễu và làng nghề dệt nhuộm Phùng Xá rất cao (18,46
tinh bột Tân Phú Đông, Đồng Tháp lên tới 28,40 mg/l Coliform trong nước dưới đất tại các làng nghề đều cao hơn TCVN từ 2-100 lần Hầu hết các làng nghề thủ công mỹ nghệ nước dưới đất tầng nông chưa bị ô nhiễm.
2.1.3.3 Chất thải rắn tại các làng nghề
Chất thải rắn đặc biệt là các chất thải nguy hại ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt để, nhiều làng nghề vứt rác bừa bãi gây ảnh hưởng xấu tới cảnh quan môi trường, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất Theo nguồn Sở Công thương tp.Hà Nội năm 2008 thì khối lượng chất thải rắn của 255 làng nghề thuộc thành phố Hà Nội(sau mở rộng) đã lên tới 207,3 m3/ngày(tương đương với 90 tấn trên ngày) chưa tính chất thải chăn nuôi gia súc gia cầm.
Trang 242.2 ĐÔI NÉT VỀ CÁC LÀNG NGHỀ TRÊN THẾ GIỚI
Theo bài báo: “Mạn đàm về làng nghề và đôi điều trăn trở” được đăng ngày 06-08-2013 trên trang Langnghevietnam.vn thì tại các nước Châu Âu và Châu Mỹ, khái niệm “làng nghề” hầu như không tồn tại, chỉ có các cơ sở thủ công sản xuất vừa và nhỏ trong khu dân cư Các đối tượng này được quản lý theo các chính sách, pháp luật chung của địa phương và quốc gia, không theo quy định riêng biệt Mô hình “làng nghề” chỉ tập trung chủ yếu tại khu vực Châu
Á (phổ biến là Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Singapore và Việt Nam).
* Tại Trung Quốc, sau thời kỳ cải cách mở cửa, việc thành lập
và duy trì Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 – 30 %
đã giải quyết được 12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn.
* Tại Hàn Quốc, chương trình phát triển làng nghề ngoài nông nghiệp ở nông thôn tạo việc làm cho nông dân bắt đầu từ năm 1967 Chương trình này tập trung vào các nghề sử dụng lao động thủ công, công nghệ đơn giản và nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, sản xuất với quy mô nhỏ, khoảng
10 hộ gia đình liên kết với nhau thành tổ hợp được ngân hàng cung cấp vốn tín dụng với lãi suất thấp để mua nguyên liệu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Năm 1971, Phong trào Cộng đồng mới Saemaul Undong được triển khai Phong trào đã đề ra Chương trình về cải thiện môi trường nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản cho các hoạt động sản xuất làng nghề và tăng thu nhập trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn.Với các nội dung thí điểm phát triển nông thôn như: Phát triển đường nông thôn; kiên cố hóa mái nhà, bếp, tường rào; xây cầu; nâng cấp hệ thống thủy lợi; mở địa điểm giặt và giếng nước công cộng, áp dụng các mô hình công nghệ cao vào sản xuất… Sau 5 năm triển khai Phong trào đã thu đươc kết quả, cụ thể: Cứng hóa đường nông thôn liên làng: 43.631 km, đường làng ngõ, xóm: 42.220 km; Xây dựng cầu nông thôn: 68.797 cầu; Kiên cố hóa đê, kè: 7.839 km; Xây hồ chứa nước nông thôn các loại: 24.140 hồ; Điện khí hóa nông thôn: 98% hộ có điện thắp sáng (Nguyễn Song Tùng, 2014).
Để đảm bảo vệ môi trường Hàn Quốc đã coi việc xây dựng cơ sở hạ tầng là bước khởi đầu, sau đó là nâng cao thu nhập nông thôn nhằm tích luỹ khả năng tài chính cho việc quản lý môi trường, nâng cao đời sống tinh thần với sự tham gia tình nguyện của người dân và phát triển nguồn nhân lực Vấn đề quản lý môi trường được thực hiện thông qua việc tập trung sản xuất và tập trung xử lý chất
Trang 25thải đã được thực hiện theo các cụm sản xuất (khoảng 10 hộ) Đồng thời các phong trào cộng đồng vảo vệ môi trường thường xuyên được thực hiện Do
đó người quản lý môi trường thường xuyên nắm được hiện trạng môi trường
để từ đó có biện pháp điều chỉnh phù hợp (Nguyễn Hoài, 2004).
chỉ có một số ít loại nghề được bảo tồn và phát triển Làng nghề (traditional handicraft village) đã trở thành niềm tự hào của tinh hoa văn hóa của người dân
xứ sở phù tang, là các điểm thăm quan du lịch nổi tiếng dành cho học sinh, sinh viên, du khách trong nước và đặc biệt là khách du lịch quốc tế Ngoài mục tiêu phụ là kinh doanh các sản phẩm thủ công, tại các làng nghề là nơi diễn ra các hoạt động đào tạo, truyền bá văn hóa Nhật Bản.Cùng với việc ban hành Luật Xúc tiến Nghề Thủ công mỹ nghệ truyền thống (The Law for Promotion of Traditional Craft Industry) năm 1974, Hiệp hội khôi phục và phát triển nghề truyền thống (The Association for the Promotion of Traditional Craft Industries) đã được thành lập vào năm 1975 và trở thành hạt nhân cho phát triển ngành nghề có tính truyền thống Các sản phẩm để được coi là sản phẩm nghề truyền thống phải thỏa mãn
05 điều kiện, đó là: được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày; chủ yếu được sản xuất bằng tay (đây là điểm mấu chốt quan trọng); được sản xuất bằng kỹ thuật truyền thống; sử dụng chủ yếu là nguyên liệu truyền thống; phải có tính chất tự nhiên theo vùng Ngoài ra có các tiêu chí khác như: nghề thủ công truyền thống là nghề có thời gian tồn tại ít nhất là 100 năm và khu vực nghề truyền thống (làng nghề) phải có ít nhất 10 cơ sở với khoảng 30 lao động.Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (OVOP) được khởi phát từ năm 1979 tại làng Oyama, tỉnh Oita, Nhật Bản, là cách thức đưa nông nghiệp của tỉnh tăng trưởng
và phát triển theo kịp với sự phát triển chung của đất nước Phong trào OVOP được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc chính:
“Từ địa phương tiến ra toàn cầu”: Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu cao nhất của sản xuất hàng hóa nông nghiệp Nhật Bản là chiếm lĩnh thị trường nông sản thế giới.
“Tự tin - Sáng tạo”: Phong trào OVOP quan tâm đến tất cả các khâu của chu trình sản xuất - tiêu thụ sản phẩm khuyến khích những cách làm sáng tạo bao gồm việc nghiên cứu mẫu mã, chất liệu, quy cách đóng gói bao bì; cách tiếp thị, quảng bá, đưa sản phẩm ra thị trường sao cho ấn tượng, thu hút khách hàng…
Trang 26“Tập trung phát triển nguồn nhân lực”: Tại Nhật Bản, nông dân không những được đào tạo bài bản, có kiến thức về sản xuất nông nghiệp, hiểu biết sâu về sản phẩm, ứng dụng thành thạo khoa học - kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất hàng hóa, họ còn được cung cấp những kiến thức về kinh doanh, về nghệ thuật marketing để có thể tự xây dựng các chiến lược kinh doanh, cạnh tranh sản phẩm của mình Họ còn nhận được sự hỗ trợ từ Chính phủ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp bằng những chính sách hiệu quả Nhờ đó, họ tạo được những sản phẩm có thương hiệu như: Chanh Kobosu; thịt bò Bungo; nấm Oita (nấm shiitake) là loại nấm thượng hạng ở Nhật Bản, chiếm 28% thị trường nấm trên toàn quốc; hàng
gỗ mỹ nghệ ở thị trấn Yufuin; cam, cá khô ở làng Yonouzu; chè và măng tre
ở làng Natkatsu,… Trong 20 năm (1979-1999), phong trào OVOP đã tạo ra được 329 sản phẩm với tổng doanh thu là 141 tỷ yên/năm (1,1 tỷ USD).
Phong trào OVOP như một điển hình của việc phát triển ngành nghề nông thôn trên cơ sở tận dụng các nguồn lực địa phương Phong trào đã lan tỏa trên khắp đất nước Nhật Bản, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào
sự phát triển thần kỳ của ngành nông nghiệp nói riêng cũng như nền kinh tế Nhật Bản nói chung Kinh nghiệm từ phong trào OVOP được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia ở châu Á và châu Phi Tại Trung Quốc có các phong trào, như: “Mỗi nhà máy một sản phẩm”, “Mỗi thành phố một sản phẩm”, “Mỗi làng một báu vật”; tại Thái Lan có chương trình OTOP, tại Philippine có phong trào Mỗi thị trấn một sản phẩm, tại Malaysia có phong trào Mỗi làng một sản phẩm, phong trào "Mỗi làng một nghề; tại Hàn Quốc có chương trình "Mỗi làng một nhãn hiệu”, tại Inđônêsia (Đông Java) có phong trào
“Trở lại làng quê”, Nhờ áp dụng từ kinh nghiệm OVOP của Nhật Bản, các nước
đã tận dụng tốt các nguồn lực của địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống… thu được những thành công nhất định trong phát triển nông nghiệp thôn.
* Tại Thái Lan, Chiang Mai là trung tâm của các hoạt động tiểu thủ công nghiệp Vốn là đất nước lấy công nghiệp du lịch làm nền tảng, hoạt động tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh mẽ và có sự liên kết chặt chẽ với du lịch văn hóa Thái Lan Khác với Việt Nam, từ góc độ quản lý, người ta phân chia cơ sở sản xuất thủ công theo quy mô hoạt động (về sản phẩm và nhân lực) Và cũng giống Nhật Bản, người ta coi các làng nghề chỉ là những nơi sản xuất bằng biện pháp thủ công
và tạo ra những sản phẩm truyền thống.Cùng với các hoạt động quản lý môi trường tại các làng nghề có hiệu quả, Chính phủ Thái Lan đã tăng cường cung cấp thông
Trang 27tin, kiến thức thích hợp cho các làng nghề, cơ sở sản xuất nhỏ để giúp tăng cường mức độ quan tâm tới các hoạt động môi trường, kết hợp chặt chẽ hơn vấn đề môi trường với sản xuất và khả năng cạnh tranh trong kinh doanh.
Để khắc phục vấn đề gây ô nhiễm môi trường từ làng nghề, Chính phủ Thái Lan đã ra quy định bắt buộc các doanh nghiệp này phải thực hiện các yêu cầu khắt khe về môi trường Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các cán bộ, nhân viên các công ty về BVMT.Khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện sản xuất xanh và nhu cầu tiêu dùng xanh cũng được đẩy mạnh Điều này, bắt buộc các doanh nghiệp kinh doanh tăng cấp độ tự nguyện tham gia thực hiện các sáng kiến môi trường như ISO-14001 và các áp dụng xanh khác Hơn nữa, thị trường quốc tế đang ngày càng đòi hỏi bằng chứng về trách nhiệm môi trường từ tất cả các giai đoạn của chuỗi cung ứng, nguyên liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra của hàng hóa, với các yêu cầu môi trường liên quan đến sản phẩm như dán nhãn sinh thái (Nguyễn Song Tùng, 2014).
* Tại Singapore việc bảo vệ môi trường được coi như là một nhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế- xã hội nên Singapore đã tiến hành nhiều biện pháp bảo vệ môi trường.Singapore ban hành khá nhiều đạo luật bảo vệ môi trường như: đạo luật bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, đạo luật kiểm soát vấn đề môi trường, đạo luật về xuất nhập khẩu…đi kèm các đạo luật này có hàng chục văn bản hướng dẫn thi hành Để đảm bảo cho các đạo luật có hiệu lực thi trên thực tế thì các biện pháp cưỡng chế là không thể thiếu Pháp luật về môi trường của Singapore đã đặt ra các biện pháp cưỡng chế khác nhau cho các mức vi phạm về môi trường Pháp luật môi trường Singapore lấy chế tài hình sự như là công cụ cơ bản để thực thi.Các hình thức xử lý gồm: Phạt tù, phạt tiền, tịch thu và tạm giữ,… Bên cạnh các chế tài về Hình sự và Hành chính, các đạo luật về môi trường Singspore cũng quy định nhiều về hình thức chế tài dân sự
cụ thể như: Yêu cầu cá nhân gây ô nhiễm phải nộp phạt, bồi thường thiệt hại chi phí và các chi phí bị tổn thương mà cơ quan thẩm quyền
có nhiệm vụ để làm sạch môi trường (Trương Thu Trang, 2009).
2.3 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG NGHỀ TẠI VIỆT NAM
2.3.1 Lịch sử hình thành của các loại hình làng nghề tại Việt Nam
Việt Nam được biết đến là cái nôi của nền văn minh lúa nước Do đó, sự phát triển của của các hoạt động sản xuất làng nghề xuất phát từ sự phát triển của
Trang 28các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhất là sản phẩm nông cụ, vật liệu sản xuất và trao đổi lương thực thực phẩm Từ đó, có thể nói làng nghề là một trong các đặc thù của nông thôn Việt Nam.
Song song với quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước, các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm Ví dụ: Làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) đã có gần 500 năm tồn tại, làng nghề trạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình) đã hình thành cách đây hơn 400 năm…
Ngày nay, do cơ chế thị trường mà làng nghề không chỉ phục vụ cho nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của con ngời trong vùng mà còn phục vụ cho hoạt động xuất khẩu và phát triển hoạt động du lịch.Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của thị trường trong và ngoài nước thay đổi, do đó những làng nghề phù hợp với thị trường có xu thế phát triển mạnh, còn những làng nghề không thích ứng có khả năng bị suy thoái hoặc không phát triển được nữa Bảng 2.1 Dự báo phát triển của làng nghề Việt Nam đến năm 2015
Trang 29Quá trình phát triển làng nghề được phân làm 3 giai đoạn trong 50 năm gần đây, gồm:
Giai đoạn 1954-1978
Hàng hóa chủ yếu của giai đoạn này là thủ công, mỹ nghệ …xuất khẩu đi các nước trong khối xã hội chủ nghĩa Hàng hóa phụ thuộc vào chủng loại, số lượng và giá trị hàng hóa được quyết định bởi đường lối chính sách của nhà nước theo kế hoạch hóa tập trung.
Giai đoạn 1978-1985
Đây là giai đoạn vô cùng khó khăn, các nước xã hội chủ nghĩa nói chung
và Việt Nam nói riêng rơi vào thời kỳ khủng hoảng về chính trị và kinh tế Các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp gặp khó khăn làm cho các làng nghề phải thu hẹp sản xuất và nhiều làng nghề đã bị mai một và suy thoái dần.
Giai đoạn 1986-1992
Giai đoạn này đánh dấu bước ngoặt chuyển đổi cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường Giai đoạn này nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, trong mỗi làng nghề quy mô được mở rộng, đầu
tư về vốn, kỹ thuật được tăng cường Ở nhiều địa phương phát triển làng nghề đã thu hút và giải quyết được việc làm cho nhiều lao động, đồng thời tăng nhanh sản phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
Giai đoạn 1993 đến nay
Nhiều ngành nghề và làng nghề truyền thống khôi phục và phát triển.Cũng trong giai đoạn này, trước nhu cầu của thị trường và giải quyết việc làm trong nông thôn nhiều làng nghề mới xuất hiện.Những làng nghề này nhanh chóng trở thành tụ điểm kinh tế, nơi giao lưu hàng hóa giữa các vùng nông thôn, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ phát triển Trong vài năm gần đây, làng nghề thay đổi nhanh chóng trở thành tụ điểm kinh tế xã hội, nơi giao lưu hàng hóa giữa các vùng nông thôn, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ phát triển Trong vài năm gần đây, làng nghề thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục
vụ tiêu dùng cả nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển.
2.3.2 Đôi nét về các loại hình làng nghề tại Việt Nam
Các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, dựa trên các tiêu trí khác nhau, có thể phân loại thành 6 nhóm ngành sản xuất chính như sau:
Trang 30• Nhóm 1: Ươm tơ, dệt vải và may đồ da;
• Nhóm 2: Chế biến lương thực, thực phẩm, dược liệu;
• Nhóm 3: Tái chế phế liệu (kim loại, giấy, nhựa…);
• Nhóm 4: Thủ công mỹ nghệ, thêu ren;
• Nhóm 5: Vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá;
Nguồn: Đặng Kim Chi (2005)
nước, với 44% số hộ nông thôn thuộc diện khó khăn vì thu nhập thấp Làng nghề
có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho người nông dân trong thời kỳ nông nhàn, giảm áp lực cho các đô thị về giao thông và tệ nạn xã hội Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vàp làng nghề, chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng công nghiệp hóa giúp tạo
ra hàng hóa cho vùng nông thôn, làm tăng tỷ trọng GDP của khu vực nông nghiệp góp phần làm tằng tổng giá trị thu nhập quốc dân.
Theo thống kê của Viện Khoa học công nghệ & Môi trường và trường Đại học Bách khoa Hà Nội (2005), cả nước có 1450 làng nghề, trong đó có trên 300
Trang 31làng nghề truyền thống phân bố trên cả 3 miền đất nước, làng nghề tại khu vực phía Bắc chiếm đến 70% Đa số các cơ sở sản xuất trong làng nghề có quy mô hộ gia đình (chiếm 80,1%) Hàng hóa các làng nghề đóng góp cho xuất khẩu trung bình mỗi năm đạt gần 600 triệu USD.
Dệt, may mặc, mây tre đan, tái chế kim loại… Mây tre đan, sản xuất vật liệu xây dựng…
2.4 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ KIM LOẠI
2.4.1 Giới thiệu chung về làng nghề tái chế kim loại
Làng nghề tái chế kim loại đóng vai trò quan trọng, chiếm tỷ lệ cao trong
số các làng nghề, góp phần không nhỏ trong GDP của vùng và quốc gia.
Trong những năm gần đây, do được sự hỗ trợ, quan tâm nhiều hơn của Nhà nước mà cơ sở hạ tầng ở các làng nghề có nhiều cải thiện, hệ thống giao thông thuận lợi hơn vì vậy các làng nghề tái chế kim loại đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, số hộ gia đình tham gia sản xuất ngày càng tăng, lan toả từ thôm xóm này sang thôm xóm khác, các sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ cả thị
Trang 32trường trong và ngoài nước, đóng góp đáng kể vào việc mở rộng ngành nghề và tăng kim ngạch xuất khẩu.
Hiện nay, ở các làng nghề tái chế kim loại đã tiến hành quy hoạch các hộ gia đình tham gia sản xuất thành cụm công nghiệp, tuy nhiên vẫn còn một số hộ sản xuất nhỏ lẻ nằm xen lẫn trong khu dân
cư Nhờ vậy, hoạt động sản xuất tại các làng nghề tái chế kim loại có quy mô hơn và ngày một phát triển rộng Sản phẩm của các làng nghề tái chế này rất đa dạng về mẫu mã, chủng loại và chất lượng.
Bảng 2.4 Lượng sản phẩm tại một số làng nghề tái chế kim loại
Nguồn: Đặng Kim Chi, Làng nghề Việt Nam và Môi trường (2005)
Các chất thải độc hại khó phân huỷ là một vấn đề môi trường nóng bỏng đặt ra cho các làng nghề tái chế kim loại này Qua các kết quả đã phân tích cho thấy hàm lượng độc hại đang ở mức báo động, vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều
Trang 33lần Tại các làng nghề tái chế kim loại có nơi hàm lượng Pb 2+ có thể vượt tiêu chuẩn cho phép tới 4,1 lần, Cu 2+ vượt quá 3,25 lần.
Một thực tế cho thấy, trong quá trình chuyển đổi theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, sản xuất ở các địa phương thường đi sau một bước về thế
hệ công nghệ, việc phát triển các ngành nghề tái chế kim loại vẫn tận dụng hệ thống thiết bị lạc hậu, chắp vá hoặc nhận thiết bị thải loại từ những nhà máy, xí nghiệp của Trung ương nên định mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu để tạo ra một đơn vị sản phẩm thường lớn, giá trị sản phẩm làm ra có giá thành cao khó có khả năng cạnh tranh trên thị trường Mặt khác, thiết bị chắp vá, thế hệ công nghệ
bị lạc hậu dẫn đến tỷ lệ hao hụt nguyên nhiên liệu nhiều, thất thoát trong quá trình vận hành sản xuất tăng, đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề ngày càng tăng.
Hơn nữa, nguyên liệu dùng cho sản xuất hay tái chế kim loại được mua về từ nhiều nguồn khác nhau, nguyên liệu chủ yếu được thu gom “thập cẩm” từ các nơi đem về bán lại cho các cơ sở sản xuất nhằm tái sử dụng Sau khi lựa chọn được những nguyên liệu thích hợp, có thể sử dụng được, các chủ xưởng thường dùng những cách thức khác nhau nhằm “tẩy rửa” nguyên liệu cho “sạch” bằng các hợp chất hóa học độc hại Những hóa chất gồm axit, chất tẩy trắng, làm bóng sản phẩm sau khi dùng xong không được
xử lý mà được đổ thẳng ra cống rãnh gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Kết quả điều tra và nghiên cứu ở Hà Tây (cũ) cho thấy các hộ gia đình vẫn tự
xử lý chất thải mà chưa có một công nghệ mới nào mang tính tập trung Hàng ngày họ vẫn xả chất thải chưa qua xử lý ra môi trường.
Theo điều tra của Sở Tài nguyên - Môi trường Hà Nội về nguồn nước và không khí tại các làng nghề cho thấy: Tình trạng ô nhiễm đang ở mức báo động ở tất
cả các điểm công nghiệp trong tỉnh và ở tất cả các loại hình làng nghề; nghiêm trọng nhất là các điểm công nghiệp Quảng Phú Cầu (Ứng Hoà), Phùng Xá (Thạch Thất), Thanh Thuỳ (Thanh Oai), làng nghề rèn Đa Sĩ (Hà Đông) với nhiều doanh nghiệp và
hộ sản xuất tham gia các ngành nghề nấu thép, sản xuất hàng kim khí Mỗi ngày các
xã sử dụng 50 - 100 tấn phế liệu sắt, thép, gang, nhựa phế liệu đưa vào lò nấu để tạo phôi và sản xuất các loại sản phẩm, đã thải ra lượng khí thải, hoá chất độc hại chứa
CO 2 , SO 2 , NO 2 rất lớn Đặc biệt, trong quá trình tẩy, rửa và mạ, nước thải tồn dư nhiều hoá chất, các chất lơ lửng; riêng hàm
Trang 34lượng kim loại nặng trong nước ở các làng nghề tái chế kim loại vượt tiêu chuẩn cho phép cao như: Zn vượt 8 lần, Fe vượt 12 lần và Pb vượt 4 lần trở lên.
2.4.2 Tác động đến môi trường của các làng nghề tái chế kim loại
Tái chế kim loại là loại hình làng nghề gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng nhiều nhất do công nghệ lạc hậu
và không có các giải pháp kiểm soát ô nhiễm Môi trường không khí bị
ô nhiễm nặng nề do khí thải của các lò nấu tái chế kim loại Ngoài các hơi khí độc hại cơ bản do đốt cháy nhiên liệu như CO, SO 2 , NO x còn có các loại hơi oxit kim loại như: PbO, Al 2 O 3 … là những tác nhân chính ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, đặc biệt đối với trẻ em.
Nước mặt và đất tại các làng nghề này cũng bị ô nhiễm nặng, hàm lượng kim loại nặng (Pb, Cu, Zn, …) vượt QCCP nhiều lần thậm chí còn xuất hiện hàm lượng xianua đáng kể, làm cho các loài thuỷ sinh vật không thể tồn tại được trong nước ao hồ tại các làng nghề tái chế kim loại.
2.4.2.1 Tác động đến môi trường nước
Ở các cơ sở sản xuất làng nghề, lượng nước thải không được xử lý triệt để,
mà chỉ xử lý sơ bộ qua một hệ thống lắng lọc hoặc thải thẳng vào hệ thống thủy nông, gây ô nhiễm môi trường nước ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân.
Nước sử dụng trong tái chế kim loại gồm: nước làm mát, nước vệ sinh thiết bị, nhà xưởng.
Các ngành gia công cơ khí, đúc, mạ, tái chế và chế tác kim loại có lượng nước thải không lớn nhưng lại chứa nhiều chất độc hại như kim loại nặng (Zn, Fe, Cr, Ni,…), dầu mỡ công nghiệp Quá trình mạ bạc còn tạo ra muối Hg, xyanua, oxit kim loại và các tạp chất khác Đặc biệt, quá trình rửa bình ắc quy và nấu chì còn gây phát sinh nước thải chứa một lượng lớn chì Nước thải của một số làng nghề có hàm lượng các kim loại nặng như Cr 6+ , Zn 2+ , Pb 2+ lớn hơn từ 1,5 đến 10 lần so với TCVN.
Theo kết quả phân tích chất lượng nước tại một số làng nghề tái chế kim loại như Thanh Thùy – Hà Nội, Đồng Xâm – Thái Bình, Vân Chàng - Nam Định đều cho thấy có dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng Hàm lượng Zn 2+ cả ba làng nghề đều vượt TCCP , hàm lượng Cr 6+ tại làng nghề Vân Chàng rất lớn vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
Trang 35Hình 2.1 Biểu đồ hàm lượng một số kim loại nặng
trong nước thải làng nghề tái chế
Nguồn: Đề tài KC 08-09, 2005 CEETIA, Đại học Xây dựng Hà Nội (2007) Chú thích: N1: Cơ sở mạ thôn Rùa Hạ, Thanh Thùy – Thanh Oai, Hà Nội
N2: Nước thải sản xuất thôn Rùa Thượng, Thanh Thùy - Thanh Oai, Hà Nội (2) N3: Nước thải cơ sở mạ Đồng Xâm, Thái Bình
N4: Làng nghề đúc nhôm Vân Chàng, Nam Định
Bảng 2.5 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại
trong nước thải làng nghề Đồng Xâm
STT
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Nguồn: Đề tài KC 08-09, 2005 CEETIA, Đại học Xây dựng Hà Nội (2007)
Trang 36Các kết quả phân tích mẫu nước cho thấy nước thải làng nghề chạm bạc Đồng Xâm bị ô nhiễm kim loại nặng: Fe, Mn, Ni, Cu, Zn Đáng chú ý là hàm lượng Cu vượt quá tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần, hàm lượng Fe và Mn vượt tiêu chuẩn hàng chục lần.
Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm hàng năm sử dụng một khối lượng kim loại màu và hóa chất độc hại rất lớn như axit nitric (HNO 3 ), axit sulfuric (H 2 SO 4 ), cyanua (CN) và thủy ngân (Hg) Các hóa chất này được lưu giữ ngay trong nhà dân để sử dụng hàng ngày, đây là một mối nguy hiểm rất lớn cho
sự an toàn về sức khỏe và tính mạng của những thành viên trong gia đình
họ Với khối lượng hóa chất lớn được đưa vào sản xuất, một phần hóa chất tham gia vào các phản ứng tác động vào sản phẩm, số còn thừa theo nước thải và khí thải đi vào môi trường gây ô nhiễm môi trường không khí và môi trường nước Nước thải của việc rửa sau mạ lần 1, lần 2 và tẩy rửa bằng hóa chất đều đổ ra vườn, ao, sông ngòi gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của dân trong khu vực.
2.4.2.2 Tác động đến môi trường không khí
Ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề tái chế kim loại có nguồn gốc chủ yếu từ đốt nhiên liệu và sử dụng các nguyên vật liệu, hóa chất trong dây chuyền công nghệ sản xuất Than là nhiên liệu chính được sử dụng phổ biến ở các làng nghề và thường là than chất lượng thấp Đây là loại nhiên liệu gây phát sinh lượng lớn bụi và các khí ô nhiễm Tái chế kim loại đòi hỏi nhu cầu nhiên liệu cao cho các lò nấu nhôm, chì và là ngành sản xuất có thải lượng ô nhiễm lớn nhất do
sử dụng than Do đó, khí thải ở các làng nghề thường chứa nhiều thành phần
Bảng 2.6 Thải lượng ô nhiễm do đốt than tại làng nghề tái chế
Trang 37Qua kết quả nghiên cứu ở bảng trên cho thấy, ở các làng nghề tái chế kim loại (Đa Hội, Vân Chàng, Xuân Tiến) tiêu thụ lượng than cao hơn so với các làng nghề tái chế giấy (Dương Ổ, Phú Lâm), đồng thời phát sinh một lượng lớn bụi và các khí thải độc hại Lượng than tiêu thụ ở làng nghề sắt thép Đa Hội là 270.000 tấn/năm cao gấp 35,5 lần so với lượng than tiêu thụ ở làng nghề tái chế giấy Dương Ổ; hàm lượng bụi, CO, SO 2 , NO 2 ,… ở làng nghề
Đa Hội cũng cao và gấp trên 30 lần so với làng nghề Dương Ổ.
Ngoài ô nhiễm không khí do đốt nhiên liệu thể hiện ở các thông số ô nhiễm như bụi, SO 2 , CO, NO x ,… quá trình tái chế kim loại còn gây phát sinh các khí độc như hơi axit, kiềm, oxit kim loại (PbO, ZnO, Al 2 O 3 ) từ khâu tẩy rửa, làm sạch bề mặt kim loại và mạ.
Bảng 2.7 Chất lượng môi trường không khí tại một số làng nghề
tái chế kim loại
K1: Nhà ông Trần Văn Liên – Vân Chàng (cán kéo sắt)
K2: Nhà ông Nguyễn Mạnh Cường – Vân Chàng (đúc nhôm)
K3: Nhà ông Lê Văn Cường – Vân Chàng (nhúng nhôm)
K4: Nhà ông Nguyễn Văn Mạnh – Xuân Tiến (đúc đồng)
K5: Nhà ông Phan Văn Hải – Phước Kiều – Quảng Nam (đúc nhôm)
Trang 38Theo kết quả phân tích chất lượng không khí, nồng độ bụi ở làng nghề cơ khí Vân Chàng và làng nghề đúc nhôm Phước Kiều vượt quá TCCP gấp 3 lần Hàm lượng các khí thải: CO, SO 2 , NO 2 dưới TCCP Khí thải trong quá trình đúc nhôm tại làng nghề Vân Chàng có chứa hơi kiềm, hơi axit do sử dụng hóa chất để đánh bóng sản phẩm Các điểm lấy mẫu tại các cơ sở đúc nhôm đều phát hiện khí thải có chứa hơi nhôm được phát sinh trong quá trình nấu nhôm trong các lò đúc.
2.4.2.3 Chất thải rắn và môi trường đất
Hoạt động của các cơ sở tái chế kim loại thải ra một lượng khá lớn chất thải rắn Chất thải này chủ yếu là tro, xỉ từ than cháy và từ kim loại nóng chảy Bên cạnh đó, quá trình phân loại nguyên liệu cũng thải ra một lượng đáng kể gỉ sắt và mẩu vụn kim loại Lượng chất thải rắn thải bỏ bừa bãi, không được quản
lý đã ảnh hưởng lớn đến môi trường, làm ô nhiễm môi trường đất.
Tại làng nghề Đa Hội, lượng chất thải rắn bao gồm xỉ than, kim loại vụn và phế loại từ công đoạn phân loại chiếm khoảng 11 tấn/ngày, một số làng nghề khác
do quy mô nhỏ nên lượng chất thải rắn ít hơn đáng kể như: Đình Bảng - Bắc Ninh: 1,4 tấn/ngày; Vân Chàng khoảng 7 tấn/ngày; Văn Môn - Bắc Ninh 0,6 tấn/ngày,…
Chất lượng môi trường đất khảo sát tại một số làng nghề cho thấy, đất đang có nguy cơ nhiễm kim loại nặng, hàm lượng kim loại phát hiện được Ni
= 0,005 – 0,001 mg/l, Zn = 0,02 – 0,025 mg/l, là tương đối cao so với các khu vực khác.
Nhìn chung, chất thải rắn của quá trình sản xuất tái chế có hàm lượng kim loại rất cao (từ 3 – 5 g/kg nguyên liệu) Bên cạnh đó, còn chất thải rắn chứa dầu mỡ, các chất khoáng với hàm lượng dao động từ 1 – 6 mg/kg nguyên liệu, hiện nay hầu như chưa có giải pháp xử lý thích đáng Việc thải bỏ chất thải rắn không thep quy hoạch và không được quản lý nên đã ảnh hưởng tới chất lượng đất của làng nghề, hàm lượng kim loại trong đất khá cao (khoảng 2 – 3 g/kg) Lượng chất độc này dễ ngấm vào đất, tích tụ lại lâu dần sẽ làm suy thoái môi trường đất.
2.4.2.4 Ảnh hưởng của làng nghề tái chế kim loại đến sức khoẻ con người
Làng nghề tái chế kim loại là một trong những nhóm làng nghề có hoạt động sản xuất có tác hại nhiều nhất tới sức khỏe của con người Bệnh phổ biến của nhóm làng nghề này chủ yếu là các bệnh về hô hấp, bụi phổi và bệnh về thần kinh Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do sự phát thải khí độc, nguồn nhiệt cao và bụi kim loại từ các lò đúc, nấu kim loại,… trong quá trình sản xuất.
Trang 39Có 4 loại bệnh có tỷ lệ mắc cao tại nhóm làng nghề tái chế kim loại
là bệnh phổi thông thường, bệnh tiêu hoá, bệnh về mắt đau mắt hột viêm ngứa và phụ khoa, bệnh ung thư phổi (0,35 - 1%) và lao phổi (0,4 - 0,6%) Tại 7 điểm nghiên cứu, các nhà khoa học cho thấy đều xuất hiện các trường hợp ung thư phổi, tỷ lệ mắc ung thư và chết cao nhất là ở các làng nghề Vân Chàng và Tống Xá (Nam Định) (13,04 - 9,8%).
Làng nghề sản xuất sắt Đa Hội (Bắc Ninh) có tỷ lệ người lao động mắc bệnh mãn tính tương đối cao (khoảng 29%) Tỷ lệ người mắc bệnh đau, khô họng
ở nghề đúc là 31,7% và nghề cán là 31% Nguyên nhân do người lao động trong làng nghề tiếp xúc nhiều với nhiệt độ cao và hơi khí độc Việc tiếp xúc với bụi hàm lượng cao và thời gian dài cũng là nguyên nhân dẫn đến bệnh đường hô hấp mạn tính cho người lao động tại làng nghề này.
Ô nhiễm đất, nguồn nước và không khí tại làng nghề cơ khí Vân Chàng (Nam Định) đã làm cho phần lớn dân cư trong làng mắc các bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da và phụ khoa Có tới 4,7 % số người trong làng
bị mắc bệnh lao phổi, 8,3% mắc bệnh viêm phế quản, đặc biệt số người chết
vì ung thư ngày càng tăng Làng có trên 50% người lao động mắc các bệnh liên quan tới thần kinh Tính đến năm 2002, tại Vân Chàng có 150 người bị bệnh lao phổi; 240 người bị bệnh phế quản; hơn 90% dân số mắc các bệnh ngoài da, viêm ngứa, đau mắt hột và gần 10 người chết vì bệnh ung thư Rất nhiều chị em phụ nữ đẻ non hoặc con chết yểu, đặc biệt thời gian gần đây các ca quái thai có chiều hướng gia tăng Tuổi thọ trung bình của người dân Vân Chàng là 55, thấp hơn nhiều so với tuổi trung bình của cả nước.
Tỷ lệ mắc bệnh ở các làng nghề tái chế kim loại cao hơn 15 – 25% so với các làng nghề không sản xuất Bệnh về đường hô hấp ở trẻ em, phụ khoa
ở phụ nữ chiếm 30 – 45% trên tổng số trẻ em và phụ nữ trong làng nghề Tuổi thọ trung bình khu vực làng nghề này thấp, chỉ từ 55 – 63 tuổi.
Bên cạnh những vấn đề bệnh tật do ô nhiễm môi trường làng nghề, các nguy
cơ tai nạn thương tích đối với lao động tại các làng nghề tái chế kim loại cũng rất cần được quan tâm Những tai nạn lao động như nổ lò, điện giật, bỏng, ngã, gãy tay, vật nặng đè cũng đáng báo động, tỷ lệ tai nạn tại nhóm làng nghề tái chế kim loại chiếm khoảng 33,4% mỗi năm Theo một nghiên cứu năm 1999, cho thấy tỷ lệ tai nạn lao động tại làng nghề Đa Hội - Bắc Ninh lên tới 56,9% Nghiên
Trang 40cứu khác tại làng nghề Đại Bái – Bắc Ninh (2002) tỷ lệ tai nạn lao động 42,2% Theo nghiên cứu tại Tống Xá – Nam Định năm 2007, tỷ lệ tai nạn thương tích (bỏng, điện giất, gãy chân tay,…) của làng nghề Tống Xá cao hơn so với khu vực đối chứng là làng An Thái và Ba Khu thuộc xã Yên Phong (Nam Định).
2.5 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TỈNH NAM ĐỊNH
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng Hầu hết các sản phẩm của làng nghề ban đầu đều được sản xuất để phục vụ sinh hoạt hàng ngày hoặc là công cụ để sản xuất nông nghiệp, chủ yếu làm trong lúc nông nhàn Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong những năm gần đây, làng nghề đang có sự thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục
vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển Quá trình công nghiệp hóa cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, thúc đẩy sản xuất tại các làng nghề đã làm tăng mức thu nhập bình quân của người dân nông thôn, các công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng Các làng nghề mới và các cụm công nghiệp làng nghề không ngừng được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn.
Đặc biệt một số làng nghề sau một thời gian dài bị mai một, nay đang được phục hồi và phát triển trở lại như làng nghề thêu ren truyền thống ở các thôn Nhuộng, Thông, Hoàng Giang, Tiêu Bảng, Văn Minh, Văn
Mỹ và nghề làm nón của thôn Mạc Sơn, xã Yên Trung (Ý Yên); làng nghề thêu ren truyền thống Phú Nhai, nghề điêu khắc và chế biến lâm sản ở các thôn Trà Đông, Trà Đoài của xã Xuân Phương (Xuân Trường)…
Nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề khu vực nông thôn, tỉnh Nam Định đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích đầu tư về nông thôn, đầu tư xây dựng các CCN làng nghề.
Tỉnh Nam Định đã công nhận 80 làng nghề theo Quyết định 1470/QĐ-UBND ngày 01/10/2012 và Quyết định 1276/QĐ-UBND ngày 18/7/2014, trong đó có 29 làng nghề truyền thống, 05 nghề truyền thống và 46 làng nghề Ngoài ra, còn có rất nhiều làng nghề chưa được công nhận đang hoạt động và phát triển trên địa bàn tỉnh.