NGUYỄN THẢO NGUYÊN Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU CHỊU LỬA THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính q
Trang 1NGUYỄN THẢO NGUYÊN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU CHỊU LỬA THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính môi trường Khoa : Quản lý tài nguyên Khóa học : 2011 - 2015
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 2NGUYỄN THẢO NGUYÊN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU CHỊU LỬA THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính môi trường
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Phương châm của các trường chuyên nghiệp nước ta cũng như trường
đại học Nông Lâm là học đi đôi với hành lý thuyết gắn liền với thực tiễn Vì
vậy thực tập tốt nghiệp là một bước quan trọng của sinh viên khóa cuối Đây
là giai đoạn mà sinh viên củng cố lại kiến thức đã được học và cũng là giai
đoạn nâng cao các kỹ năng thực hành nghề nghiệp từ đó giúp sinh viên tổng
hợp được các kiến thức mình đã học áp dụng vào thực tế giải quyết các vấn đề một cách cụ thể
Nhằm hoàn thiện các kỹ năng đã được học trong chương trình đào tạo
kỹ sư Địa chính- Môi trường có đủ năng lực công tác tốt Được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Quản lí tài nguyên cùng với nguyện vọng của bản thân, em đã tiến hành thực hiện đề tài
“Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường không khí tại Công ty cổ phần
vật liệu chịu lửa Thái Nguyên” Trong thời gian thực hiện đề tài em đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô khoa Quản lí tài nguyên và đặc biệt
là thầy giáo TS Nguyễn Thanh Hải, cùng với các anh chị phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thái Nguyên và các cán bộ môi trường của công ty cổ phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên
Do các kỹ năng của em chưa được tốt và thời gian có hạn, nên đề tài của em không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rất mong có được sự góp
ý của các thầy cô và bạn bè để bài khóa luận của em được hoàn thiện tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Sinh viên
NGUYỄN THẢO NGUYÊN
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1.Diễn biến nồng độ bụi lơ lửng (mg/m3) trung bình năm trong không
khí cạnh các khu công nghiệp từ năm 2000 đến 2010 9
Hình 4.1.Sơ đồ công nghệ sản xuất vôi, đôlômit kèm dòng thải 33
Hình 4.2: Sơ đồ công nghệ sản xuất tấm lót nguội Ganex kèm dòng thải 34
Hình 4.3: Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất gạch MgO-C kèm dòng thải 35
Hình 4.4: Biểu đồ thông số tiếng ồn của khu vực sản xuất 38
Hình 4.5: Biểu đồ hàm lượng CO trong khí thải ống khói 39
Hình 4.6: Mức độ ô nhiễm môi trường qua đánh giá của địa phương 43
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.42.Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý 12
2.2 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam về chất thải môi trường không khí 13
2.2.1 Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trên thế giới 13
2.2.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam 15
2.2.3 Hiện trạng môi trường không khí ở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 20
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.2.1 Khái quát chung về công ty cổ phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên 23
3.3.2 Hiện trạng môi trường không khí tại khu vực công ty cổ phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên 23
Trang 73.3.3 Đánh giá hiện trạng môi trường không khí tại khu vực xung quanh công ty cổ phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên qua ý kiến của người dân
và ý kiến của một số cán bộ trong công ty 24
3.3.4 Đề xuất giải pháp khắc phục 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp kế thừa sử dụng tài liệu thứ cấp 24
3.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa và đánh giá nhanh môi trường 24
3.4.3 Phương pháp xử lý và đánh giá tổng hợp số liệu 25
3.4.4 Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia 25
3.4.5 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm 25
3.4.6 Phương pháp tổng hợp so sánh 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Khái quát chung về công ty cổ phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên 28
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
4.1.2 Điều kiện kinh tế 31
4.2 Hiện trạng môi trường công ty cổ phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên 32
4.2.1 Quy trình sản xuất các vật liệu chịu lửa tại công ty cổ phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên 32
4.2.2 Hiện trạng môi trường không khí tại khu vực công ty cổ phần vtj liệu chịu lử Thái Nguyên 36
4.3 Hiện trạng môi trường tại khu vực xung quanh công ty cổ phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên qua ý kiến của người dân và ý kiến của một số cán bộ trong công ty 40
4.3.1 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của công ty đến môi trường 41
4.3.2 Đánh giá của cán bộ công nhân viên về ảnh hưởng của các hoạt động công ty đến môi trường 47
Trang 84.4 Các biện pháp phòng ngừa, khắc phục các tác động tiêu cực của hoạt
động sản xuất vật liệu xây dựng đến môi trường không khí xung quanh 48
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1.Kết luận 51
5.2.Đề nghị Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam đang trong giai đoạn đô thị hóa công nghiệp hóa và cùng với việc gia tăng dân số quá nhanh đã xả thải vào môi trường làm cho môi trường bị
ô nhiễm hết sức nghiêm trọng và với nhiều dạng ô nhiễm khác nhau
Đặc biệt là ô nhiễm môi trường không khí với các nhà máy và cơ sở
sản xuất kinh doanh công nghiệp thủ công nghiệp sử dụng nhiều nhiên liệu than đá, dầu mỏ khí đốt, củi gỗ và nạn cháy rừng… làm cho vấn đề ô nhiễm môi trường không khí ngày càng nghiêm trọng Vì vậy bảo vệ môi trường là một trong những ưu tiên hàng đầu mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước thì Thái Nguyên cũng
đang phát triển một cách nhanh chóng bằng việc giảm tỉ trọng nông nghiệp,
tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, thương mại và đặc biệt hơn là quá trình phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra hết sức mạnh mẽ
Thái Nguyên là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú
về cả chủng loại lẫn số lượng đó là một lợi thế lớn trong nghành công nghiệp luyện kim, khai khoáng, khai thác than,sản xuất các vật liệu xây dựng Các hoạt động này gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường không khí của tỉnh Thái Nguyên Do đó việc xem xét đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường không khí của tỉnh Thái Nguyên là một vấn đề được quan tâm hiện nay
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên và nhận thấy sự quan trọng trong công tác đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lí tài nguyên- Trường Đại
Trang 10học Nông Lâm Thái Nguyên và cơ sở thực tập phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên
TS Nguyễn Thanh Hải em thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng chất lượng
môi trường không khí tại công ty cổ phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên”
nhằm phục vụ công tác môi trường về công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại thành phố Thái Nguyên, qua đó đề xuất một số biện pháp nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường hướng tới sự phát triển bền vững theo mục tiêu đề ra của Đảng và Nhà Nước
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường không khí của công ty cổ
phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên đến khu vực xung quanh, nhằm đánh giá thực trạng môi trường tại khu vực sống xung quanh của nhà máy, từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế ảnh hưởng đến môi trường
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường không khí của công ty cổ
phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên
Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường không khí xung quanh công
ty cổ phần vật liệu chịu lửa Thái Nguyên
Phân tích các nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường, xác định vấn đề môi trường bức xúc cần giải quyết trên địa bàn
Đề ra những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế nhằm khắc phục ô
nhiễm môi trường trên địa bàn
1.3 Yêu cầu của đề tài
Đánh giá chính xác, trung thực khách quan về hiện trạng môi trường
khu vực nhà máy và khu vực xung quanh nhà máy
Trang 11Các kết quả phân tích phải được so sánh với các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường ở Việt Nam
Các kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện
ở địa phương
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Áp dụng kiến thức đã được học ở nhà trường vào thực tế
Nâng cao kiến thức thực tế
Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường
Bổ sung tư liệu học tập
1.42.Ý nghĩa thực tiễn
- Đưa ra được các tác động của hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng tới môi trường không khí để từ đó giúp cho đơn vị khai thác có các biện pháp quản lý, phòng ngừa, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường không khí, cảnh quan và con người
- Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi cho mọi thành viên tham gia hoạt động sản xuất công nghiệp
Trang 12
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Khái niệm về môi trường và ô nhiễm không khí
Quản lý môi trường là một nội dung cụ thể của quản lý Nhà Nước Đó là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế-xã hội
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm:
Khắc phục và phòng chống ô nhiêm suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người
Phát triển kinh tế xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất
Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ Các công cụ phải thích hợp cho từng ngành từng địa phương
và cộng đồng dân cư
- Khái niệm môi trường:
Tại khoản 1 điều 3 Luật bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm
2005 quy định: “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại,phát triển của con người và sinh vật” [10]
- Chức năng của môi trường
Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động của con người
Trang 13Môi trường là nơi chúa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong hoạt động sản xuất của mình
Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin
- Khái niệm về phát triển bền vững:
* Theo điều 4 khoản 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường năm 2005: “ Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”.(Theo luật bảo vệ môi trường năm 2005) [10]
- Khái niệm về ô nhiễm môi trường:
* Theo chương 3 chương 1 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm
2005 thì : “ Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi
trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con
người và sinh vật”.[10]
Ngày nay thuật ngữ ô nhiễm môi trường còn được diễn tả các hành
động phá hoại môi trường tự nhiên
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi, gây tác hại tới đời sống của con người và sinh vật khác
Ô nhiễm môi trường không khí là hiện tượng làm cho không khí sạch thay đổi thành phần và tính chất dưới bất kì nguyên nhân nào, có nguy cơ tác hại tới con người, động vật ,thực vật và môi trường sống xung quanh Khí quyển có khả năng tự làm sạch để duy trì sự cân bằng giữa các quá trình Những hoạt động của con người quá khả năng tự làm sạch, có sự thay
đổi bất lợi trong môi trường không khí thì được xem là ô nhiễm môi trường
không khí
Trang 14Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở lên độc hại vói con người và sinh vật Làm giảm độ da dạng sinh vật trong nước
Ô nhiễm môi trường đất là sự biến đổi thành phần, tính chất của đất gây
ra bởi những tập quán phản sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp với những phương thức canh tác khác nhau, và do thải bỏ không hợp lý các chất cạn bã đặc và lỏng vào lòng đất, ngoài ra ô nhiễm đất còn do sự lắng đọng của các chất ô nhiễm không khí lắng xuống đất
Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn là tập hợp âm thanh có cường độ tần số khác nhau, sắp xếp không có trật tự, gây cảm giác khó chịu cho người nghe,
ảnh hưởng tới quá trình làm việc nghỉ ngơi của con người hay là nhưng âm
thanh phát ra không đúng lúc, không đúng nơi, âm thanh phát ra có cường độ quá lớn, vượt quá mức chịu đựng của con người.[9]
- Một số khái niệm khác:
* Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ quản lý và bảo vệ môi trường
* Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật
* Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt
động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên gây ô nhiễm, suy
thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.[10]
2.1.1.2 Đặc điểm của chất gây ô nhiễm không khí
- Các chất và tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí CO, H2S và các loại khí halogen ( clo, brom, iot) Các loại oxit như: nitơ oxit (NO, NO2) nitơ dioxit (NO2), SO2
Trang 15Sáu tác nhân ô nhiễm đầu sinh ra chủ yếu do quá trình đốt cháy nhiên liệu
và sản xuất công nghiệp các tác nhân ô nhiễm không khí có thể phân hai dạng: Dạng hơi khí và dạng phân tử nhỏ tuy nhiên, phần lớn các tác nhân ô nhiễm
đều gây hại đối với sức khỏe con người.[11]
Tác nhân ô nhiễm được chia làm hai loại: sơ cấp và thứ cấp.Sunfua
đioxit sinh ra trong quá trình do đốt cháy tan đó là tác nhân ô nhiễm sơ cấp
Nó tác động trực tiếp tới bộ phận tiếp nhận Sau đó, khí này lại liên kết với oxy và nước của không khí sạch để tạo thành axit sunfuaric (H2SO4) rơi xuống đất cùng với nước mưa làm thay đổi PH của đất và thủy vực, tác động xấu tới nhiều thực vật, động vật và vi sinh vật Như vậy, mưa axit là tác nhân thứ cấp được tạo thành do sự kết hợp SO2 với nước Cũng như trường hợp, các tác nhân ô nhiễm thứ cấp mới, gây tác động xấu Cơ thể sinh vật phản ứng
đối với các tác nhân ô nhiễm phụ thuộc vào nồng độ ô nhiễm và thời gian tác động.[11]
*Mức độ ô nhiễm
Ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm
bụi trầm trọng, tới mức báo động Các khu dân cư ở cạnh đường giao thông lớn và ở gần các nhà máy, xí nghiệp cũng bị ô nhiễm bụi rất lớn
Trang 16Nồng độ bụi trong các khu dân cư ở xa đường giao thông, xa các cơ sở sản xuất hay trong các khu công viên cũng đạt tới xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép
Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng trung bình lớn hơn trị số tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần, ở các nút giao thông thuộc các đô thị này nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 5 lần, ở các khu đô thị mới đang diễn ra quá trình thi công xây dựng nhà cửa, đường sá và hạ tầng kỹ thuật thì nồng độ bụi thường vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 - 20 lần
Ở các thành phố, thị xã thuộc Đồng bằng Nam Bộ có mức ô nhiễm bụi
trung bình cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 đến 1,5 lần, như ở thành phố Cần Thơ, thị xã Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, thị xã Bến Tre Nói chung, ô nhiễm bụi ở các tỉnh, thành miền Nam trong mùa khô thường lớn hơn trong mùa mưa
Nồng độ bụi trong không khí ở các thị xã, thành phố miền Trung và Tây Nguyên (như là thị xã Tam Kỳ, Hội An, Nha Trang, Cam Ranh, Vinh,
Đồng Hới, Buôn Ma Thuột, Kon Tum, ) cao hơn ở các thành phố, thị xã
Nam Bộ
Nồng độ bụi ở các đô thị thuộc các tỉnh miền núi, vùng cao, nói chung còn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép (tức là không khí còn trong sạch), như
là Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Đà Lạt, Ngược lại, ở các đô thị phát triển
đường giao thông và xây dựng nhà cửa mạnh, thì môi trường không khí bị ô
nhiễm bụi tương đối nặng, như thị xã Vĩnh Yên (nồng độ bụi: 0,70 - 1,23mg/m3), thị xã Phúc Yên (0,99 - 1,33mg/m3), thị trấn Hoà Mạc, Hà Nam (1,31mg/m3), thị xã Hà Đông (0,9 - 1,5mg/m3),
Trên Hình 2.1.giới thiệu diễn biến nồng độ bụi trong không khí từ năm
2000 đến hết năm 2010 ở các khu dân cư bên cạnh các khu công nghiệp.[12]
Trang 17Hình 2.1.Diễn biến nồng độ bụi lơ lửng (mg/m 3 ) trung bình năm trong
không khí cạnh các khu công nghiệp từ năm 2000 đến 2010
(Nguồn: Cục Môi trường, Báo cáo quan trắc và Phân tích môi trường) 2.1.1.3 Nguồn gốc ô nhiễm
Vật chất hòa tan trong nước biển
Hoạt động của núi lửa: Ở bờ biển, quần đảo và các đảo ở thái Bình Dương có khoảng 380 núi lửa đang hoạt động, Đại tây Dương và biểm Địa Trung Hải có khoảng 75 núi lửa, Ấn Độ Dương và Châu Á có khoảng 30 núi lửa Núi lửa hoạt động khối lượng lớn nham thạch, bụi, khí trong lòng đất tung lên mặt đất và không khí
Đất cát, sa mạc đất trồng bị mưa gió bào mòn
Trang 18Quá trình phân hủy động thực vật
Cháy rừng gây ra bụi, tro tàn, khí CO2, CO và khói
Bụi theo gió cuốn
- Nguồn nhân tạo
Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng nhưng chủ yếu do các hoạt
động công nghiệp, quá trình đốt cháy các nguyên liệu hóa thạch, hoạt động
của các phương tiện giao thông vận tải và nông nghiệp
Quá trình đốt nhiên liệu thải ra rất nhiều khí độc đi qua các ống khói của các nhà máy vào không khí
Do bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất sản phẩm và trên các đường ống dẫn tải Nguồn thải của quá trình sản xuất này cũng có thể
được hút và thổi ra ngoài bằng hệ thống thông gió
Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí bao gồm: nhiệt
điện, vật liệu xây dựng, hóa chất và phân bón, dệt và giấy, luyện kim, thực
phẩm, các xí nghiệp cơ khí, các nhà máy thuộc ngành công nghiệpnhẹ, Giao thông vận tải, bên cạnh đó phải kể đến sinh hoạt của con người.[17]
2.1.1.4 Thành phần chất ô nhiễm trong không khí
Các khí nhân tạo nguy hiểm nhất đối với sức khoẻ con người và khí quyển trái đất được biết đến bao gồm: Cacbon đioxit (CO2), dioxit Sunfua (SO2), Cacbon monoxit (CO), Nitơ oxit (N2O),metan (CH4)
Trang 19Cacbon đioxit (CO 2 ): CO2 với hàm lượng 0,03% trong khí quyển là nguyên liệu cho quá trình quang hợp để sản xuất năng lượng sinh học sơ cấp
ở cây xanh Thông thường lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân bằng với lượng CO2 được sử dụng cho quang hợp Hai hoạt động của con người là
đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và phá rừng đã làm cho quá trình mất cân bằng,
có tác động xấu tới khí hậu toàn cầu
Cacbon monoxit (CO): CO được hình thành do việc đốt cháy không
hết nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và một số chất hữu cơ khác Khí thải từ
động cơ xe máy là nguồn gây ô nhiễm CO chủ yếu ở các thành phố Hàng
năm toàn cầu sinh ra khoảng 600 triệu tấn CO CO có khả năng gây những
ảnh hưởng cấp tính đến sức khỏe Khi con người ở trong không khí có nồng
độ CO khoảng 250ppm sẽ tử vong CO không độc với thực vật vì cây xanh có
thể chuyển hóa CO thành CO2 và sử dụng nó trong quá trình quang hợp Vì vậy, thảm thực vật được xem là tác nhân tự nhiên có tác dụng làm giảm ô nhiễm CO
Đioxit sunfua (SO 2 ): là chất gây ô nhiễm không khí có nồng độ cao
trong khí quyển, tập trung chủ yếu ở tầng đối lưu SO2 sinh ra do núi lửa phun
và so oxy hóa lưu huỳnh khi đốt cháy các nhiên liệu như than, dầu, sản phẩm của dầu, quặng sunfua SO2 là chất gây kích thích đường hô hấp mạnh
Nitơ dioxit ( NO 2 ): là chất khí màu nâu đỏ và có vị hăng phát thải
khoảng 0,5-4ppb 0,2 ppm thì không khí bị ô nhiễm, được tạo ra bởi sự oxy hóa nitơ ở nhiệt độ cao NO2 có thể tác động xấu đến phổi, tim, gan
Nitơ oxit (N 2 O): không màu, không độc dùng trong y tế như thuốc gây
mê nhẹ nồng độ trung bình trong không khí khoảng 0,25ppm Phát thải do công nghiệp thấp Phát thải tự nhiên do vi sinh vật nitrit hóa các nitrit trong môi trường đất, nước và phân bón N2O là loại khí gây hiệu ứng nhà kính,
Trang 20được sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên kiệu hóa thạch Hàm lượng nó đang tăng dần trên phạm vi toàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2-0,3%
Mêtan (CH 4 ): Mêtan là một chất khí gây hiệu ứng nhà kính Nó được
sinh ra từ các quá trình sinh học, như sự men hóa đường ruột của động vật có guốc, cừu và những động vật khác, sự phân giải kỵ khí ở đất ngập nước, ruộng lúa, cháy rừng và đốt nhiên liệu hóa thạch CH4 thúc đẩy sự oxy hóa hơi nước ở tầng bình lưu Sự gia tăng hơi nước gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn nhiều so với hiệu ứng trực tiếp của CH4.[17]
2.1.2 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo Vệ Môi Trường do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 và chính thức có hiệu lực ngày 01/07/2006
- Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của chính phủ về sửa
đổi bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2006 về
việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo Vệ Môi Trường
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của chính phủ về việc quản lý chất thải rắn
- Thông tư 47/2011/TT-BTNMT ngày 28 tháng 12 năm 2011 của Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường về quy định Quy chuẩn quốc gia về Môi Trường
- Quyết định 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường về việc bắt buộc áp dụng TCVN về môi trường
- Quyết định số 04/2008/QĐ-BTNMT ngày 18/07/2008 và quyết định
số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 13/12/2008 ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
- Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT: Tiêu chuẩn vệ sinh lao động ban hành
theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ trưởng Bộ
Y tế
Trang 21- QCVN 06:2009/BTNMT-Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
- QCVN 05:2013/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh
- QCVN 06:2009/BTNMT-Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất
độc hại trong môi trường không khí xung quanh
- QCVN 27:2010/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về độ rung
- QCVN 19:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ
- QCVN 40:2011/BTNMT (B) – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp
- QCVN 19:2009/BTNMT (A) – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ
- QCVN 26:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
- TCVN 5937;2005- Chất lượng không khí- tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh
- TCVN 5938:2005- Chất lượng không khí nồng độ tối đa cho phép một số chất độc hại trong không khí xung quanh
2.2 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam về chất thải môi trường không khí
2.2.1 Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trên thế giới
Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt tại các đô thị không chỉ là vấn đề riêng lẻ của một quốc gia hay một khu vực mà nó đã trở thành vấn đề toàn cầu Thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia trên thế giới trong thời gian qua nó đã tác động lớn đến môi trường, và làm cho môi trường sống của con người bị thay đổi dẫn đến sự biến đổi về khí hậu
và nóng lên toàn cầu, suy giảm tầng ozon và mưa axit…
Trang 22Ô nhiễm không khí, bao gồm cả môi trường bên trong và bên ngoài,bây giờ trở thành vấn đề lớn nhất ảnh hưởng tới sức khỏe,và nó tác động tới mọi người, cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển
Theo một nghiên cứu mới nhất năm 2012 của tổ chức WHO thì có một trong tám người chết trên toàn cầu có liên quan đến ô nhiễm không khí
Các khu vực chịu ảnh hưởng lớn nhất là khu vực Đông Nam Á, bao gồm Ấn Độ, Indonesia và Tây Thái Bình Dương từ Trung Quốc,Hàn Quốc
đến Nhất Bản và Philippines
Sản xuất vật liệu chịu lửa và môi trường
Ngày nay, những chiếc đệm lót trong đồ đạc nội thất ở các gia đình thường được sản xuất từ bọt polyuretan có khả năng chịu lửa tốt Để đáp ứng các quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy, các nhà sản xuất xử lý bọt này với các hóa chất brom hóa có khả năng chống cháy Tuy nhiên, các chuyên gia độc học và các nhà khoa học môi trường hiện đang lo ngại về ảnh hưởng của những hóa chất brom hóa này, vì một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hóa chất đó có thể gây rối loạn nội tiết hoặc các vấn đề về thần kinh Liên minh châu Âu đã cấm sử dụng một số các hợp chất thuộc nhóm này, còn các
cơ quan tại Mỹ và Canađa cũng đã bắt đầu xem xét lại việc cho phép sử dụng các hóa chất đó
Trong quá trình tìm kiếm các chất chịu lửa không ảnh hưởng đến độ cứng của bọt xốp và ít độc hơn các chất chịu lửa hiện tại, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Tổng hợp Texas A&M (Mỹ) đã phát triển một lớp phủ bao gồm axit polyvinylsulfonic (PVS) và chitosan - một loại polyme với các phân tử cacbonhydrat mạch dài, được chiết xuất từ vỏ tôm và các động vật giáp xác khác
Để sản xuất lớp phủ đó, các nhà nghiên cứu đã nhúng bọt xốp vào dung
dịch nước của hai polyme nói trên Trong nước, chitosan tích điện dương, còn PVS tích điện âm Hai polyme tích điện trái dấu này hút nhau và gắn chặt với
Trang 23nhau, tạo thành lớp phủ bền Lớp màng phủ dày 30 nm này chỉ làm cho trọng lượng của bọt xốp tăng thêm 5,5% và không ảnh hưởng đến độ mềm của tấm bọt xốp
Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm lớp phủ này bằng cách cho bọt xốp
đã xử lý chịu tác động của ngọn lửa đèn butan trong 10 giây Trong khi bọt
xốp không phủ cháy hết hoàn toàn, ngọn lửa ở miếng bọt xốp đã phủ màng chịu lửa chỉ tắt khi các nhà nghiên cứu tắt đèn đốt
Kết quả đánh giá thử nghiệm cho thấy, vật liệu chịu lửa thông thường phải có trọng lượng lớn gấp ba mới đạt hiệu quả chịu lửa tương đương như vật liệu bọc phủ mới được phát hiện
Theo các nhà khoa học, khi cháy PVS giải phóng hơi oxit lưu huỳnh là một chất không cháy Hơi này tạo thành tấm chăn khí phủ kín bề mặt bọt xốp, cắt đứt đường cung cấp oxy và làm cho lửa tắt
Các chuyên gia về vật liệu chịu lửa cho biết, các lớp phủ nano chịu lửa
là công nghệ mới nhất hiện nay trong lĩnh vực này Trong khi đó, lớp phủ polyme nano nói trên còn độc đáo hơn vì nó là vật liệu đầu tiên sử dụng khí
có chứa lưu huỳnh để ngăn không cho lửa cháy tiếp Các lớp phủ nano làm từ
đất sét hoặc polyme như trên có hiệu quả hơn và có thể ít độc hại hơn so với
các chất chịu lửa đang được bán trên thị trường.[12]
2.2.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam
Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với đô thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu tới sức khỏe (đặc biệt là gây ra các bệnh về đường
hô hấp), ảnh hưởng đến hệ sinh thái và biến đổi khí hậu ( hiệu ứng nhà kính,mưa axit,thủng tầng ozon……) Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng phát triển thì nguồn thải ô nhiễm môi trường ngày càng nhiều, ảnh
Trang 24hưởng tới chất lượng môi trường ngày càng cao và yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng trở nên quan trọng
Hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm không khí chủ yếu là từ các hoạt
động của các khu, cụm khu công nghiệp đặc biệt là các cụm khu công nghiệp
cũ như : Thượng Đình, Minh Khai-Mai Động (Hà Nội), Biên Hòa( Đồng Nai), khu công nghiệp Việt Trì Và khu công nghiệp Gang Thép Thái Nguyên…… đặc biệt là ô nhiễm từ các nhà máy xi măng, các lò nung gạch,các nhà máy nhiệt điện đốt than dầu và đốt dầu FO, các nhà máy đúc
đồng luyện thép, các nhà máy sản xuất phân hóa học,……
Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung
ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu, Vĩnh Phúc Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nước thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lí nước thải Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác Dọc lưu vực sông Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân
Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa
đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định Thực trạng đó
Trang 25làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của người dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khi bùng phát thành các xung
đột xã hội gay gắt
Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
và giải quyết việc làm ở các địa phương Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và NOx thải ra trong quá trình sản xuất khá cao Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay
cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống, đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động thường xuyên và lao động không thường xuyên Các làng nghề được phân bố rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển nhất là đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long Hoạt động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân làng nghề mà còn ảnh hưởng đến cả những người dân sống ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết liệt của bộ phận dân cư này, làm nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt
Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động Đó là các
Trang 26ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn Những năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà
không có bất kỳ một biện pháp xử lí môi trường nào ngoài việc vận chuyển
đến bãi chôn lấp Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân
ở các thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng
trăm nghìn mét khối nước thải độc hại; các phương tiện giao thông thải ra hàng trăm tấn bụi, khí độc Trong tổng số khoảng 34 tấn rác thải rắn y tế mỗi ngày, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 1/3; bầu khí quyển của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có mức benzen và sunfua đioxit đáng báo động Theo một kết quả nghiên cứu mới công bố năm
2008 của Ngân hàng Thế giới (WB), trên 10 tỉnh thành phố Việt Nam, xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất, nước, không khí, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa bàn ô nhiễm đất nặng nhất Theo báo cáo của Chương trình môi trường của Liên hợp quốc, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
đứng đầu châu Á về mức độ ô nhiễm bụị
Đánh giá về ô nhiễm môi trường không khí tại Việt Nam thì ô nhiễm
bụi tiếp tục là vấn đề nổi cộm nhất So với giai đoạn 2003 – 2007, ô nhiễm bụi chưa được cải thiện Đối với các chất khí khác như NOx, SO2, CO… hầu hết các giá trị vẫn nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép Ngoại trừ một số khu vực như ven các trục giao thông chính, khu vực sản xuất công nghiệp , nồng
độ các chất này có xu hướng tăng lên Ô nhiễm tiếng ồn tại các đô thị và khu
vực sản xuất cũng là vấn đề tồn tại từ nhiều năm nay chưa được khắc phục Ngoài ra, ô nhiễm mùi cũng là một trong những vấn đề bức xúc, mặc dù vấn
đề này chỉ mang tính chất cục bộ Trong thời gian gần đây, một số nghiên cứu
đã cho thấy, Việt Nam có nhiều nguy cơ bị tác động bởi một số nguồn ô
Trang 27nhiễm không khí xuyên biên giới Một số vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới đang nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia đó là ô nhiễm bụi mịn, thủy ngân, lắng đọng axit và khói mù quang hóa do nguồn phát thải từ các nước lân cận
Theo đánh giá của Bộ Y tế, trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc các bệnh về đường hô hấp được đánh giá là cao nhất và một trong những nguyên nhân là do ô nhiễm không khí Theo thống kê, tỷ lệ người dân mắc các bệnh
hô hấp tại các làng nghề, khu vực gần các khu sản xuất công nghiệp, nút giao thông… cao hơn các khu vực khác Ô nhiễm không khí còn gây những thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng xấu tới các hệ sinh thái tự nhiên và là một trong những nguyên nhân sâu xa của vấn đề biến đổi khí hậu, gia tăng nhiệt độ bề mặt trái đất, nước biển dâng, gia tăng các hiện tượng thời tiết cực
đoan và thiên tai ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Trong những năm qua, công tác bảo vệ môi trường không khí tiếp tục
được đẩy mạnh và thu được những kết quả khá tốt Hành lang pháp lý về bảo
vệ môi trường không khí đã và đang tiếp tục được hoàn thiện Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về môi trường không khí cũng đã đi vào hoạt động ổn
định Các ngành, lĩnh vực cũng đã có những hoạt động cụ thể, đem lại những
kết quả tích cực trong kiểm soát và bảo vệ môi trường không khí Đó là việc tăng cường quản lý hoạt động giao thông nhằm kiểm soát và giảm thiểu các chất ô nhiễm phát thải vào không khí; từng bước kiểm soát và khắc phục ô nhiễm từ hoạt động làng nghề, sản xuất công nghiệp; tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hệ thống quan trắc không khí tự động Cũng trong giai đoạn này, việc triển khai nhóm các giải pháp xanh (chi trả dịch vụ môi trường rừng, tăng trưởng xanh và phát triển phát thải các bon thấp) cũng đã góp phần giảm thiểu lượng khí thải hiệu ứng nhà kính, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu
Trang 28Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập trong công tác quản lý đã tồn tại từ nhiều năm nay nhưng chưa được giải quyết triệt để: vẫn thiếu các quy định
đặc thù cho môi trường không khí; tính hiệu quả, hiệu lực thực thi chính sách,
pháp luật chưa cao và thiếu tính gắn kết Đặc biệt, chưa thực hiện được việc kiểm soát khí thải tại nguồn, cùng với đó là ý thức tuân thủ các quy định về BVMT của các chủ nguồn thải còn kém Các hạn chế này cũng là nguyên nhân khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường không khí chưa có nhiều cải thiện trong thời gian qua Chính vì vậy, các cấp quản lý cần xem xét và có sự quan tâm đúng mức để có những giải pháp khắc phục hiệu quả những hạn chế nêu trên trong thời gian tới.[16,7]
-Tình hình sản xuất vật liệu xây dựng và ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Sự phân bố các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng tập trung chủ yếu tại Đồng bằng sông Hồng và Trung du, miền núi phía Bắc, do đó, chất lượng môi trường không khí tại các khu vực này bị ảnh hưởng nhiều hơn so với các khu vực khác Ô nhiễm không khí do hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng phát sinh từ quá trình khai thác, sản xuất và vận chuyển nguyên vật liệu Quá trình khai thác và chế biến thường phát sinh bụi và một số khí: CO, NOx, SO2, H2S,…; quá trình vận chuyển nguyên vật liệu chủ yếu phát sinh bụi
Các ngành sản xuất vật liệu xây dựng khác cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng không khí tại các khu vực xung quanh trong quá trình hoạt động Việc khai thác và chế biến đá gây ô nhiễm bụi từ quá trình nổ mìn, đập nghiền
và bốc xúc đá Ngoài bụi, quá trình khai thác còn phát sinh ra các khí: CO, NOx, SO2, H2S,… do nổ mìn và sử dụng dầu diezen Hoạt động sản xuất gốm
sứ, gạch nung, gạch ốp lát, do sử dụng than làm nhiên liệu nên khí thải chủ
yếu là bụivà SO2.[15]
2.2.3 Hiện trạng môi trường không khí ở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 29Theo đánh giá mới nhất của tỉnh Thái Nguyên, hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn nay càng gia tăng và khó kiểm soát, tính chất
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng phức tạp, nhiều điểm nóng
về ô nhiễm môi trường còn tồn tại, gây bức xúc trong dư luận…
Đặc biệt tai khu vực Quán Triều, Quang Vinh và thành phố Thái
Nguyên – nơi tập trung các đơn vị của công ty cổ phần Gang Thép Thái Nguyên như: nhà máy cốc hóa, nhà máy luyện gang, nhà máy luyện thép, nhà máy sản xuất vật liệu chịu lửa… Trong suốt gần 10 năm qua kể từ khi bị liệt vào danh sách ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo quyết định 64/2003/QĐ-TTg, vẫn để ô nhiễm không khí ô nhiễm vẫn chưa được giảm nhiều, nồng độ ô nhiễm tại khu vực này vượt tiêu chuẩn cho phép 2 lần Ở khu vực xung quanh nhà máy cốc hóa, nồng độ phenol vượt tiêu chuẩn cho phép 6 lần: Công ty cổ phần hợp kim sắt gang thép có nồng độ bụi khí CO2
vượt tiêu chuẩn từ 1,4-2 lần tại công ty cổ phần vật liệu chịu lửa, nồng độ
NOx, SO2, CO vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,8-3,1 lần…
Mặc dù tỉnh Thái Nguyên đã triển khai nhiều biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhất là tại các khu vực khai thác, chế biến khoáng sản, luyện kim nhưng hiện nay, tình trạng nhiều doanh nghiệp sản xuất lớn gây ô nhiễm môi trường vẫn chưa được giải quyết triệt để, khiến
người dân địa phương bức xúc
Điển hình như tại khu vực khai thác mỏ của Công ty TNHH một thành
viên than Khánh Hòa - VVMI (xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương), tình trạng gây ô nhiễm môi trường đã kéo dài nhiều năm Doanh nghiệp đang đầu tư thực hiện dự án nâng công suất khai thác lên trên 800.000 tấn/năm nhưng chưa được phê duyệt dự án và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; thế nhưng công ty đã khai thác với sản lượng hơn 700.000 tấn/năm, trong khi công suất được cấp phép là 600.000 tấn/năm Do tăng công suất
Trang 30khai thác nên mức độ tác động, ảnh hưởng đến môi trường cũng gia tăng, nhất
là tình trạng ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép
Đáng lưu ý, cùng với việc không kiểm soát được lượng bụi thải phát
tán ra môi trường, tại bãi thải Tây, doanh nghiệp này đã đổ thải lấn vào khoảng cách an toàn của chùa Làng Ngò - xã An Khánh, huyện Đại Từ (di tích do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý), tự ý nắn suối Làng Ngò nhưng chưa được phê duyệt báo cáo tác động môi trường Tại bãi thải Nam, Công ty than Khánh Hòa cũng đổ thải cao vượt công suất thiết kế 100 m, làm gia tăng thêm tình trạng bụi cho khu vực các xã Phúc Hà (thành phố Thái Nguyên), An Khánh (huyện Đại Từ) Cách đây chưa lâu, doanh nghiệp đã bị
xử phạt hành chính vì có hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép ra môi trường
Đường băng vận chuyển than của Công ty than Núi Hồng về Nhà máy
Nhiệt điện Cao Ngạn tại địa bàn phường Quan Triều (thành phố Thái Nguyên) hiện cũng là điểm bị ô nhiễm bụi nặng, chỉ tiêu tiếng ồn, bụi qua quan trắc vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,1 đến 1,3 lần Nguyên nhân do hệ thống con lăn, hệ thống hút bụi tại các trạm chuyển hướng trên hệ thống băng tải này đã xuống cấp, mái che bị hư hỏng Sau khi các cơ quan chức năng vào cuộc, doanh nghiệp đã có động thái sửa chữa, nâng cấp, gia cố sàn băng tải nhưng tình trạng bụi và tiếng ồn phát sinh, ảnh hưởng đến môi trường, đời sống của hàng nghìn người dân trong 8 tổ dân phố thuộc phường Quan Triều chưa được cải thiện nhiều
Đối với các nhà máy thuộc Công ty cổ phần gang thép Thái Nguyên,
tình trạng gây ô nhiễm môi trường cũng chưa được xử lý triệt để nhất là tại Nhà máy luyện thép, Công ty cổ phần cơ khí, Nhà máy cán thép Thái Nguyên, Công ty cổ phần hợp kim sắt Gang Thép Tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường do khói bụi thải phát tán ra các khu dân cư lân cận