Nguồn ô nhiễm từ thiên nhiên là do các núi lửa hoạt động và các cơn bão sa mạc đã đưa lượng lớn bụi lan truyền, nước biển bốc hơi mang theo hơi muối vào không khí trên lục địa, các hệ qu
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ KHU VỰC ĐÔ THỊ HẢI PHÒNG DỰ BÁO XU HƯỚNG DIỄN BIẾN, ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ KỸ THUẬT NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ HẢI PHÒNG
MAI ĐỨC LONG
HÀ NỘI 2005
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ KHU VỰC ĐÔ THỊ HẢI PHÒNG DỰ BÁO XU HƯỚNG DIỄN BIẾN, ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ KỸ THUẬT NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ HẢI PHÒNG
NGÀNH: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ :
MAI ĐỨC LONG
Người hướng dẫn khoa học: TS Huỳnh Trung Hải
HÀ NỘI 2005
Trang 3Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
MỤC LỤC
Lời cảm ơn 2
Mở đầu 4
Chương 1 Ô nhiễm không khí đô thị 6
1.1 Các nguồn gây ô nhiễm không khí 9
1.1.1 Nguồn ô nhiễm do sản xuất công nghiệp 9
1.1.2 Nguồn ô nhiễm do giao thông - xây dựng 24
1.1.3 Nguồn ô nhiễm do các hoạt động khác 26
1.2 Ảnh hưởng của không khí bị ô nhiễm đến sức khoẻ con người 27
Chương 2 Hiện trạng và dự báo xu hướng ô nhiễm không khí đô thị Hải Phòng 33
2.1 Giới thiệu tóm tắt về thành phố Hải Phòng 33
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 33
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 34
2.1.3 Thực trạng kinh tế xã hội 36
2.1.4 Quy hoạch và định hướng phát triển đến năm 2010 38
2.2 Hiện trạng môi trường không khí đô thị Hải Phòng 41
2.2.1 Các nguồn gây ô nhiễm từ sản xuất công nghiệp 41
2.2.2 Các nguồn gây ô nhiễm bởi giao thông - xây dựng 64
2.2.3 Các nguồn gây ô nhiễm do hoạt động khác 67
2.2.4 Ảnh hưởng của không khí bị ô nhiễm tới sức khoẻ con người 71
2.3 Dự báo xu hướng ô nhiễm không khí đô thị Hải Phòng 72
2.3.1 Xu hướng ô nhiễm do công nghiệp 72
2.3.2 Xu hướng ô nhiễm do giao thông - xây dựng 74
2.3.3 Xu hướng ô nhiễm do các hoạt động khác 78
Chương 3 Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí đô thị Hải Phòng 80
3.1 Các giải pháp chung 80
3.1.1 Giải pháp qui hoạch 80
3.1.2 Giải pháp quản lý 81
3.1.3 Giải pháp cách ly vệ sinh 84
3.1.4 Giải pháp công nghệ kỹ thuật 88
3.2 Giải pháp với các ngành 89
3.2.1 Giải pháp với ngành công nghiệp 89
3.2.2 Giải pháp với ngành giao thông 94
3.2.3 Giải pháp đối với ngành xây dựng 100
Kết luận 103
Tài liệu tham khảo 105
Tiếng Việt 105
Tiếng Anh 107
Trang 4Lời cảm ơn
Luận văn này được hoàn thành tại Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường - Trường đại học Bách khoa Hà Nội, với sự hướng dẫn của Tiến sỹ Huỳnh Trung Hải
Lời đầu tiên tôi chân thành cảm ơn Viện Khoa học và Công nghệ môi trường, Tiến sỹ Huỳnh Trung Hải đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và đã cho tôi những ý kiến nhận xét, góp ý quí báu
Tôi xin chân thành cám ơn Trung tâm Đào tạo sau Đại học Trường đại học Bách khoa Hà Nội, Trung tâm Đào tạo sau Đại học Trường đại học Hàng hải Việt Nam đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi về địa điểm, tài liệu cũng như những điều kiện khác cho tôi trong quá trình nghiên cứu, học tập
Tôi cũng bày tỏ lòng cảm ơn đối với Lãnh đạo
Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng, các đồng nghiệp nơi tôi công tác và bè bạn
Trang 5Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
nơi tôi học tập đã hỗ trợ, động viên tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin tỏ lòng biết ơn Mẹ và gia đình, bày tỏ
sự quí trọng đối với vợ và các con của tôi, những người đã dành cho tôi tất cả, luôn ở bên tôi, động viên, giũp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn để vươn lên trong học tập và công tác
Hải Phòng, tháng 10 năm
2005
Học viên
Mai Đức Long
Trang 6MỞ ĐẦU
Môi trường không khí bao quanh trái đất là nơi sự sống được sinh ra, tồn tại và phát triển Loài người đã quen sống với môi trường không khí xung quanh nhưng thậm chí rất ít để ý đến nó Môi trường sống luôn luôn chịu tác động của các hoạt động của con người và sự biến đổi của thiên nhiên Chúng ta
ai cũng biết đối với con người có thể nhịn ăn được một tuần, nhịn uống được hai đến ba ngày, nhưng chỉ sau 3-5 phút không hít thở không khí thì con người
có nguy cơ tử vong [15] Ngoài việc cung cấp ôxy duy trì sự sống không khí còn như chiếc áo giáp che cho trái đất một phần các tia bức xạ từ vũ trụ, duy trì nhiệt độ trên trái đất và tham gia vào vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên Quá trình phát triển công nghiệp đã mang lại rất nhiều những thành công
về kinh tế, tuy nhiên nó cũng đồng thời mang theo những vấn đề môi trường:
do sử dụng quá nhiều hoá chất, nhiên liệu và từ đó phát sinh khối lượng lớn các chất thải Bầu không khí bị ô nhiễm, sự suy giảm tầng ôzôn, mưa axit, hiệu ứng nhà kính - đó là những hậu quả mà loài người phải hứng chịu do quá trình phát triển kinh tế xã hội
Thành phố Hải Phòng trên đà phát triển cũng không tránh khỏi tình trạng như vậy Khu vực nội thành của thành phố qua hơn một trăm năm hình thành
và phát triển đến nay môi trường không khí đã ở vào tình trạng ô nhiễm Chất lượng môi trường trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào những tác động hiện tại và định hướng phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài luận văn với nội dung: “Đánh giá hiện
trạng chất lượng môi trường không khí khu vực đô thị Hải Phòng Dự báo
xu hướng diễn biến, đề xuất các giải pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí Hải Phòng” nhằm đánh giá hiện trạng
chất lượng môi trường không khí khu vực nội thành thành phố Hải Phòng,
Trang 7Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
nghiên cứu dự báo các xu hướng diến biến và đề xuất các giải pháp quản lý, kỹ thuật nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí, đáp ứng công tác bảo vệ môi trường và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của thành phố giai đoạn 2010 theo hướng phát triển bền vững, phù hợp với qui hoạch không gian đô thị Đối
tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng
môi trường không khí khu vực nội thành thành phố Hải Phòng, trong phạm vi luận văn này chỉ xin đề cập đến các thông số cụ thể sau: Tổng lượng bụi lơ lửng (TSP); Nồng độ khí CO; Nồng độ khí SO2, Nồng độ khí NOx và ảnh
hưởng của không khí bị ô nhiễm đến sức khoẻ con người Phạm vi nghiên cứu
về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá các ảnh hưởng đến chất lượng môi trường không khí khu vực nội thành, thành phố Hải Phòng; về thời gian: Luận văn sử dụng số liệu hồi cố từ năm 1996 đến hết sáu tháng đầu năm 2005 Luận văn gồm ba chương như sau:
Chương I Ô nhiễm không khí đô thị
Chương II Hiện trạng và dự báo xu hướng ô nhiễm không khí đô thị Hải
Phòng Chương III Các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí đô thị Hải
Phòng
Trang 8CHƯƠNG 1 Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ ĐÔ THỊ
Sự ô nhiễm không khí được hiểu là sự có mặt của các chất trong khí quyển sinh ra từ hoạt động của con người hoặc từ các quá trình tự nhiên và nếu nồng độ đủ lớn, thời gian đủ lâu chúng sẽ ảnh hưởng đến sự thoải mái, dễ chịu, sức khoẻ hoặc lợi ích của người hoặc môi trường [19]
Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc, đặc biệt đối với ô nhiễm không khí đô thị Ô nhiễm không khí có tác động rất xấu đến sức khoẻ con người, gây ra các bệnh về đường hô hấp Có hai loại nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí là: nguồn gây ô nhiễm thiên nhiên và nguồn gây ô nhiễm nhân tạo Nguồn ô nhiễm từ thiên nhiên là do các núi lửa hoạt động và các cơn bão sa mạc đã đưa lượng lớn bụi lan truyền, nước biển bốc hơi mang theo hơi muối vào không khí trên lục địa, các hệ quả khác như các loài sinh vật thối rữa cũng phát thải các loại khí độc vào không khí và tất cả các thành phần vừa nêu đều làm ô nhiễm môi trường không khí Cuối cùng là các phản ứng hóa học giữa các khí tự nhiên tạo thành các hợp chất khác như sunfat, nitorat, cacbonnat v.v Tổng lượng chất ô nhiễm do nguồn thiên nhiên gây ra rất lớn, nhưng may mắn thay chúng lại được phân bố tương đối đồng đều trên toàn địa cầu, không tập trung ở một điểm nhất định do đó nồng độ các chất ô nhiễm này thấp, con người, động vật và thực vật đã làm quen với nồng độ ô nhiễm đó Trong phạm vi của luận văn chúng ta chỉ xét các nguồn gây ô nhiễm nhân tạo: môi trường không khí đô thị ở nước ta bị ô nhiễm do các nguyên nhân chủ yếu
sau: thứ nhất là do các hoạt động công nghiệp; thứ hai là do giao thông vận tải
và xây dựng; thứ ba là do các hoạt động khác trong sinh hoạt của con người
Quá trình công nghiệp hóa càng mạnh, độ thị hóa càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí
Trang 9Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
theo chiều hướng xấu càng lớn Theo báo cáo Phát triển thế giới (WDR) năm 2003: lượng CO2 tại các đô thị trên thế giới đang cao hơn 70% so với năm
1970 Ông Zmarak Shalizi - tác giả bản báo cáo - cho rằng ô nhiễm không khí tại nhiều đô thị đang cao hơn 3 - 4 lần so với tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WTO), hơn 30% dân số đang sống trong tình trạng thiếu nước sạch Tốc
độ đô thị hóa tăng nhanh và không thể kiểm soát là nguyên nhân chính của tình trạng này Theo cố giáo sư Lê Quí An - Chủ tịch hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam - ý thức bảo vệ môi trường của nhân dân còn quá kém, đặc biệt bộ phận doanh nghiệp tại các đô thị “Nhiều đơn vị chỉ quan tâm tới phát triển kinh tế, không chú ý tới vấn đề môi trường Trong khi việc xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng lại quá yếu” [21]
Hai phần ba trong số 338 thành phố ở Trung Quốc có độ ô nhiễm không khí vượt quá giới hạn cho phép, mặc dù 40% trong số đó chưa đạt chuẩn của khu công nghiệp [21] Tại Bắc kinh và Quảng Châu, thành phần oxit nitơ trong không khí thuộc loại cao nhất thế giới So với thành phố khác có mật độ bụi vượt quá mức cho phép, gần 90 khu công nghiệp bị ngạt vì oxit lưu huỳnh - một khí độc gây ung thư Và trên một phần ba các thành phố công nghiệp miền nam Trung Quốc, dân chúng thường xuyên phải chịu những trận mưa axit Sự bùng nổ các phương tiện giao thông, đặc biệt là ô tô tại các thành phố lớn, là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên Mặt khác, ống khói từ các nhà máy nhiệt điện (cung cấp vào khoảng 70% năng lượng cho Trung Quốc) cũng làm môi trường xấu đi đáng kể Theo báo cáo của UNDP, hiện Trung Quốc là nước tiêu thụ nhiều than đá nhất thế giới, và tình trạng này sẽ không thay đổi trong mười năm tới Điều đáng nhấn mạnh, theo UNDP, là xe ô tô Trung Quốc chạy rất chậm trên đường, và thải gấp 3 đến 5 lần chất độc hại so với ô tô ở Châu
Âu “Các số liệu mới nhất về tình trạng ô nhiễm không khí ở Bắc Kinh và những xét nghiệm về nồng độ chì trong máu người dân ở Hàng Châu cho thấy,
Trang 10khí thải ô tô ở Trung Quốc đã lên đến mức báo động Nó đòi hỏi chính phủ và các tổ chức môi trường Trung Quốc phải có biện pháp khác phục nhanh chóng, hiệu quả cũng như lâu dài” UNDP kết luận [21]
Có thể kể đến thảm họa đầu tiên trong thế kỷ 20 do ô nhiễm môi trường không khí gây ra là hơi khói công nghiệp phát ra đã bị hiện tượng khí hậu
“nghịch đảo nhiệt” kìm hãm, gây ra đầu độc ở thành phố thung lũng Manse thuộc nước Bỉ vào năm 1930 và tương tự ở thung lũng dọc sông Monongahela vào năm 1948 Trong các vụ này hàng trăm người đã chết Hiện tượng “nghịch đảo nhiệt” đã làm tăng nồng độ hơi khói độc gây ngạt thở ở Luân Đôn năm
1952, làm chết và bị thương 4000-5000 người ở thành phố Los Angeles (Mỹ) cũng đã có lần xảy ra tương tự Không khí ô nhiễm bị tù hãm đã bao phủ từ miền Chicago và Miiwaukee tới New Orleans và Philadelphia ở nước Mỹ vào tháng 8 năm 1969, cũng đã gây rất nhiều thiệt hại [15]
Thảm họa lớn nhất trong lịch sử loài người do ô nhiễm môi trường không khí gây ra lại xảy ra trong thời gian gần đây nhất, đó là vụ rò khí MIC (methyl - iso - cyanate) của Liên hiệp Sản xuất Phân bón ở Bhopal (Ấn Độ) vào năm 1984, làm khoảng 2 triệu người dân ở Bhopal đã bị nhiễm độc, trong đó
5000 người đã chết và 50000 người bị nhiễm độc trầm trọng, rất nhiều người bị
mù [15]
Rất may là ở nước ta chưa xảy ra thảm hoạ do ô nhiễm môi trường không khí gây ra, nhưng thực tế các khu công nghiệp đã làm ô nhiễm không khí vùng lân cận, gây thiệt hại cho sản xuất và ảnh hưởng đến sức khoẻ nhân dân
Ví dụ như nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình đã toả khói bụi với nồng độ cao bao trùm cả thị xã Ninh Bình vào các ngày gió Nam và gió Đông Nam Tháng 6 năm 1986 ở Nhà máy xi măng Hoàng Thạch đã xảy ra sự cố nổ bộ lọc bụi tĩnh điện Vì vậy trong 2 năm (1986-1987) nhà máy đã sản xuất với điều kiện không
Trang 11Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
có bộ lọc bụi tĩnh điện, nên mỗi ngày có khoảng 100 tấn bụi và hơi độc của nhà máy từ các phân xưởng nghiền clinke, nghiền than, nghiền nguyên liệu và lò nung clinke thoát qua ống khói và phun lên không trung gây ô nhiễm trên một vùng đất rộng lớn thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương và Hưng Yên, gây thiệt hại cho mùa màng và ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân trong vùng Các khí và bụi độc hại của Nhà máy Supe Phốt phát Lâm Thao tỉnh Phú Thọ thải ra đã làm cho cây cối, rau cỏ và cây ăn quả lâu năm ở gần nhà máy bị vàng
úa, khô héo và rụng lá vào mùa ít mưa Gia súc trâu bò ngựa ăn cỏ cũng có nhiều con bị nhiễm bệnh và chết [15]
1.1 CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
1.1.1 Nguồn ô nhiễm do sản xuất công nghiệp
Phần lớn các loại bụi, hơi, khí sinh ra từ các quá trình sản xuất công nghiệp đều gây ra ô nhiễm môi trường khí Các hoạt động sản xuất công nghiệp
đã đưa vào không khí, vào nước và vào đất hàng loạt chất thải nguy hại Tại đây, chúng ta quan tâm tới phần đưa vào không khí gây ô nhiễm bầu khí quyển Các ống thải ở các nhà máy thải vào môi trường không khí rất nhiều loại chất độc hại Trong quá trình sản xuất, các chất độc hại thoát ra do bốc hơi, rò rỉ, tổn hao trên dây chuyền, trên các phương tiện dẫn tải Đặc điểm của chất thải do quá trình sản xuất là nồng độ chất độc hại rất cao và tập trung trong một không gian nhỏ, thường ở dạng hỗn hợp khí và hơi độc hại Hệ thống thông gió thải khí độc hại vào môi trường, đối với hệ thống thông gió cục bộ thì nồng độ chất độc hại thải ra khá lớn còn đối với hệ thống thông gió chung thì lượng hỗn hợp khí thải ra ra lớn nhưng nồng độ chất độc hại lại thấp Khí thải công nghệ và khí thải của hệ thống thông gió cục bộ trước khi cho thải ra không khí cần qua thiết bị xử lý để được làm sạch sơ bộ
Trang 12Tại Việt Nam, Công nghiệp cũ (xây dựng trước những năm 1975) đều là
công nghiệp vừa và nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, một số cơ sở sản xuất có thiết bị lọc bụi, hầu như chưa có thiết bị xử lý khí thải độc hại Nói chung công nghiệp cũ không đạt tiêu chuẩn về chất lượng môi trường Đặc điểm điển hình của công nghiệp cũ là nằm phân tán, xen kẽ trong các khu dân cư Do quá trình
đô thị hóa, phạm vi thành phố ngày càng được mở rộng nên hiện nay phần lớn công nghiệp cũ nằm trong nội thành của nhiều thành phố Càng ngày số lượng các khí, bụi từ quá trình sản xuất công nghiệp thải ra ngày càng lớn hơn, đa dạng hơn về tính độc hại làm cho mức độ ô nhiễm không khí ngày càng trầm trọng Trong những năm gần đây, rất nhiều thành phố đã tiến hành việc di chuyển các cơ sở công nghiệp cũ ra khỏi khu vực nội thành tập trung vào các khu công nghiệp, thậm chí còn đưa ra các giải pháp khuyến khích sự di chuyển này như là thưởng tiền cho các doanh nghiệp di chuyển trước tiến độ từ 10 đến
500 triệu đồng Điều đó cũng góp phần đáng kể vào việc giảm áp lực đối với ô nhiễm môi trường không khí đô thị Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định về việc phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô niễm môi trường nghiêm trọng” (Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 -
xem phụ lục 5) Công nghiệp mới phần lớn các cơ sở công nghiệp mới đều
được đầu tư tập trung vào các khu công nghiệp, trước khi xây dựng đều tiến hành “Đánh giá Tác động Môi trường” (ĐTM) đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường Tuy vậy vẫn còn nhiều nhà máy, xí nghiệp mới, đặc biệt là các nhà máy, xí nghiệp sử dụng nguồn nhiên liệu là than, chưa xử lý triệt để các khí thải độc hại (bụi, SO2, NO2, CO) cũng gây nên ô nhiễm môi trường không khí xung quanh
Các nguồn thải được phân loại theo tính chất hóa lý hoặc hình thức phát thải cũng như các biện pháp giảm thiểu: Nguồn thải có tổ chức là các nguồn xả
ra từ các miệng thải có đặt các thiết bị để giảm bớt chất độc hại; nguồn thải vô
Trang 13Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
tổ chức là các nguồn thải từ các thiết bị không kín, các dây chuyền hay kênh dẫn, băng tải hở Căn cứ vào nhiệt độ thải ra môi trường không khí xung quanh
mà chia ra nguồn thải nóng và nguồn nguội Căn cứ vào kích thước hình học,
độ cao của bộ phận thải mà chia ra nguồn phát thải cao hoặc nguồn phát thải thấp Căn cứ vào tính chất của nguồn thải mà chia ra nguồn điểm, nguồn đường, nguồn mặt
Mỗi ngành công nghiệp, tuỳ theo dây chuyền công nghệ, tùy theo loại nhiên liệu sử dụng, đặc điểm sản xuất, qui mô sản xuất, loại nguyên liệu và sản phẩm của nó, tuỳ theo mức độ cơ giới hóa tự động hóa và mức độ hiện đại tiên tiến của nhà máy mà lượng chất độc hại, loại chất độc hại sẽ khác nhau
Ngành sản xuất vật liệu xây dựng là một trong những ngành có từ lâu đời
và gắn liền với nhu cầu của con người Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của các ngành nghề kinh tế khác thì sản xuất vật liệu xây dựng cũng là ngành có tốc độ phát triển rất nhanh chóng Số lượng, chất lượng các sản phẩm vật liệu xây dựng ngày càng đa dạng, phong phú và đa dạng Theo thống kê năm 1997, cả nước có trên 500 cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng phân
bố rộng khắp trên các vùng, miền trong cả nước Năm 1999, vốn đầu tư cho sản xuất vật liệu xây dựng là 1159,1 tỷ đồng và khai thác đá là 39,7 tỷ đồng Tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn từ 1996 - 2000 của ngành sản xuất vật liệu xây dựng là 16,9%, trong đó sản xuất xi măng duy trì mức tăng trưởng cao 21,4 % /năm Xét về công nghệ sản xuất và sản phẩm, thì ngành sản xuất vật liệu xây dựng có thể chia thành một số loại hình như: sản xuất xi măng, sản xuất gạch ngói, gốm, vôi, bêtông đúc sẵn, gạch ốp lát, sứ dân dụng, sứ công nghiệp, thuỷ tinh, kính xây dựng, sản xuất tấm lợp, khai thác đá, sỏi, đá dăm, Hàng năm các loại hình sản xuất vật liệu xây dựng đóng góp cho xã hội
số lượng lớn các sản phẩm phục vụ nhu cầu về xây dựng, phát triển cơ sở hạ
Trang 14tầng, công trình, khu công nghiệp, nhà ở vv Đồng thời ngành sản xuất vật liệu xây dựng là một trong những ngành công nghiệp gây ô nhiễm không khí đáng
kể nhất, thường thải ra rất nhiều bụi và các khí độc như SO2, NO2, CO Dây chuyền công nghệ càng lạc hậu thì lượng bụi và các chất độc hại thải ra càng nhiều
Sản xuất gạch ngói xây dựng là nhóm ngành đa dạng về quy mô, từ sản xuất dạng công nghiệp đến sản xuất thủ công Nhìn chung các cơ sở sản xuất gạch ngói công nghiệp có năng suất chưa lớn, chỉ đáp ứng một phần nhu cầu xây dựng ở thành phố và các khu công nghiệp Các cơ sở sản xuất quy mô công nghiệp thường sử dụng các lò nung có công nghệ hiện đại, năng suất lớn như loại lò liên tục, bán liên tục, lò Tuynel, lò Hoffman, lò Vòng, theo công nghệ của Đức, Trung Quốc Hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất của các
cơ sở công nghiệp được cơ giới hoá Công nghệ sản xuất gạch ngói sử dụng công nghệ đùn ép chân không tạo hình, đốt bằng lò tuynel sấy nung liên hợp cũng làm giảm đáng kể việc gây ô nhiễm môi trường không khí Bảng 1.1 là danh sách một số các cơ sở sản xuất gạch nằm trong khu đô thị thuộc phạm vi
cả nước
Bảng 1.1 Một số cơ sở sản xuất gạch, ngói
5 Xí nghiệp gạch Đồng Giao Thị xã Tam Điệp, Ninh Bình 20
Trang 15Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
12 Nhà máy gạch Quảng Trị Thị xã Đông Hà, Quảng Trị 20
Trong các năm tới, nhu cầu về các sản phẩm gạch ngói xây dựng phục vụ phát triển nhà ở, cơ sở hạ tầng ngày càng tăng Bộ Xây dựng đưa ra dự báo nhu cầu về sản phẩm gạch ngói của cả nước đến năm 2005 là 16.7 tỷ viên, và đến năm 2010 là 21.2 tỷ viên
Xi măng là một mặt hàng chiến lược trong nền kinh tế quốc dân Trong những năm vừa qua, sản lượng xi măng hàng năm không ngừng tăng và sản xuất xi măng trở thành ngành công nghiệp trọng điểm Các sản phẩm xi măng hàng năm đã đáp ứng được nhu cầu rộng rãi về xây dựng các công trình nhà ở, khu công nghiệp, hạ tầng cơ sở của xã hội Ngành sản xuất xi măng cũng phát triển rất đa dạng về quy mô, loại hình công nghệ như công nghệ lò đứng, công nghệ lò quay phương pháp ướt, công nghệ lò quay phương pháp khô Hiện nay trên cả nước có hơn 10 công ty lớn sản xuất xi măng theo công nghệ lò quay, chiếm 84% tổng sản lượng sản phẩm xi măng, và hơn 56 nhà máy nhỏ sản xuất xi măng theo công nghệ lò đứng Sản xuất xi măng với công nghệ lò quay, theo phương pháp khô, khai thác nguyên liệu bằng phương pháp cắt tầng, dùng hệ thống lọc bụi tĩnh điện cũng phần nào giảm được ô nhiễm không khí Tuy vậy, do giá thành cao, khả năng quản lý chưa phù hợp nên các doanh nghiệp còn bỏ qua các công đoạn xử lý khí thải, gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường không khí trên diện rộng Các công ty xi măng lò quay có chất lượng xi măng tốt hơn, mác cao hơn so với xi măng lò đứng Bảng 1.2 là danh sách một số cơ sở sản xuất xi măng điển hình trong cả nước nằm trong khu đô thị
Bảng 1.2 Một số cơ sở sản xuất xi măng
(TẤN/NĂM)
1100000
1200000
Trang 164 Xi Măng Bút Sơn Hà Nam 1700000
Các loại nhiên liệu được sử dụng khá đa dạng, bao gồm than đá dùng cho
lò nung đốt (trong sản xuất xi măng, gạch, vôi), hoặc than bánh, than cám được trộn với nguyên liệu đất sét (trong sản xuất gạch, vôi, gốm), điện, dầu FO, dầu
DO, khí LPG (các cơ sở sản xuất gạch ngói, gốm quy mô công nghiệp), ngoài
ra còn có một số loại nhiên liệu phụ như củi, mạt cưa Sản xuất xi măng là nhóm ngành có mức ô nhiễm không khí đáng quan tâm nhất, đặc biệt là ô nhiễm không khí do bụi và khí thải Theo số liệu năm 1998, tổng sản lượng xi măng trên toàn quốc là 9.4 triệu tấn, trong đó doanh nghiệp quốc doanh chiếm 7.35 triệu tấn, còn lại là các thành phần kinh tế khác Năm 2000, tổng sản lượng xi măng cả nước là 15.5 triệu tấn/năm Mục tiêu kế hoạch của ngành xi măng đến năm 2010 đạt 44 triệu tấn xi măng
Trong sản xuất xi măng, hầu hết các công đoạn đều phát sinh bụi Bụi xi măng có kích thước tương đối nhỏ, tại công đoạn nghiền nguyên liệu, bụi phát sinh từ máy nghiền bi phần lớn có kích thước nhỏ hơn 30 m và có hàm lượng SiO2 khá lớn Bụi từ các hoạt động sản xuất xi măng phát sinh ra môi trường không khí ở 2 dạng là phát tán qua ống khói lò nung (trong một không gian rộng) và phát tán ngay tại các khu vực sản xuất như khu vực đập, nghiền bi Chất thải rắn của quá trình sản xuất ximăng chủ yếu là gạch chịu lửa (samốt) khi thay thế hoặc sửa chữa lò nung, bã bùn do nước rửa, nước mưa cuốn theo bụi bám thải ra Lượng chất thải rắn phát sinh từ tất cả các hoạt động trong quy trình sản xuất xi măng chiếm khoảng 4% lượng sản phẩm Ví dụ lượng gạch samốt phát sinh tại nhà máy xi măng Phú Yên là khoảng 20 tấn/năm Số gạch này được thu hồi lại nên không ảnh hưởng tới môi trường Lượng bùn đất do nước mưa cuốn trôi khoảng 30 tấn/năm Nhìn chung, ảnh hưởng của chất thải rắn do hoạt động sản xuất xi măng tới môi trường không đáng kể Vấn đề môi trường cần quan tâm hơn cả trong sản xuất xi măng là ô nhiễm không khí do
Trang 17Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
bụi và các khí độc hại, trong đó bao gồm ô nhiễm không khí trong khu vực nhà máy và ô nhiễm do phát thải khí, bụi từ ống khói ra xung quanh Vấn đề ô nhiễm không khí tại các nhà máy xi măng có khả năng kiểm soát được nhờ lắp đặt các hệ thống xử lý bụi, khí phù hợp Xét về khía cạnh tác động môi trường, theo định hướng phát triển công nghiệp xi măng và đặc biệt là xi măng lò quay khô, thì đến năm 2010 lượng khí ô nhiễm do sản xuất xi măng sẽ rất lớn nếu không có những giải pháp hạn chế ô nhiễm từ đầu Bảng 1.3 là loại chất ô nhiễm chính từ các công đoạn của quy trình sản xuất xi măng
Từ các số liệu về nhu cầu tiêu thụ nguyên, nhiên liệu cho 1 tấn xi măng, chúng ta có được tải lượng ô nhiễm của một số loại khí SO2, NOx, CO, CO2 và bụi (Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới - World Bank 1998, trong báo cáo Đánh giá nhanh môi trường Hải Phòng [10], ta sử dụng thông số thải của
ximăng: tải lượng ô nhiễm bụi và các khí thải độc hại, tính cho 1 tấn sản phẩm)
Từ đó, tính ra tải lượng bụi, khí thải theo sản lượng xi măng năm 2000 như sau (xem bảng 1.4.)
Bảng 1.3 Loại chất ô nhiễm chính của quá trình sản xuất xi măng
TT CÔNG ĐOẠN CHẤT GÂY Ô NHIỄM CHÍNH VÀ NGUỒN PHÁT SINH
- CTR do rơi vãi nguyên liệu
2 Đập, sấy nguyên liệu
- Bụi phát tán, khí CO, CO 2 , SO 2 , , nhiệt
- Tiếng ồn từ các máy nghiền, vít tải liệu, các các bộ phận chuyển động trong hệ thống thiết bị
- Chất thải rắn do rơi vãi nguyên liệu
- Tiếng ồn sinh ra từ động cơ và ma sát của các vật liệu với
vỏ máy Nhiệt độ cao (có thể đạt tới 1450 0 C trong giai đoạn nung)
Trang 18- CTR là xi măng rơi vãi, bao bì hỏng
Bảng 1.4 Tải lượng khí thải tính theo sản lượng xi măng năm 2000
CO2
Ngành luyện kim và chế tạo cơ khí: ngành luyện kim đóng vai trò rất
quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là một trong những ngành được Đảng và Nhà Nước quan tâm phát triển mạnh trong chiến lược phát triển chung, nhằm tạo ra những sản phẩm sắt thép đa dạng và chất lượng có tính cạnh tranh cao, đáp ứng và thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp khác, hạn chế sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu Hiện nay sản lượng của toàn ngành luyện kim mới chỉ đạt khoảng 2.5 triệu tấn năm, đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu trong nước nhưng chủ yếu là các sản phẩm đơn giản Chiến lược phát triển của toàn ngành đến năm 2020 đạt khoảng 14 triệu tấn, cơ bản đáp ứng được thị trường trong nước về thép xây dựng Công nghiệp luyện kim là một ngành công nghiệp nặng, sử dụng nhiều chủng loại vật tư với khối lượng lớn và là những nguyên liệu thô được khai thác từ quặng, các nguồn phế liệu, các loại hoá chất khác nhau nên ẩn chứa nhiều yếu tố độc hại, nguy hiểm ảnh hưởng rất mạnh tới môi trường Song song với sự phát triển mạnh mẽ của ngành luyện kim, chúng ta cũng phải đối mặt vói sự gia tăng các tác nhân
Trang 19Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
gây ô nhiễm môi trường đó là nước thải, khí thải và chất thải rắn Trong các dòng thải này có chứa các chất độc hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề tới sức khoẻ của con người như kim loại nặng, chất phóng
xạ, hoá chất Đặc điểm nổi bật về phát thải vào không khí của ngành này là thường thải ra nhiều bụi và nhiều loại chất độc hại Bụi thường có kích thước lớn từ 10 đến 100 m nhất là ở các công đoạn: khai thác quặng, tuyển quặng, sàng nghiền quặng Bụi có kích thước nhỏ và khói thường thoát ra từ các lò cao, lò Mac-tanh, lò nhiệt luyện, các băng chuyền và ở công đoạn làm sạch khuôn đúc Quá trình đốt nhiên liệu, luyện gang thép, luyện đồng kẽm và các kim loại khác sinh ra nhiều loại chất độc hại và bụi có kích thước lớn [17] Chính vì vậy công tác quản lý và bảo vệ môi trường của toàn ngành cần phải đáp ứng một cách nhanh chóng và hiệu quả mới đảm bảo được sự phát triển của ngành trong thời gian tới Hiện nay nhiều cơ sở đã nhận thức được tầm quan trọng về việc bảo vệ môi trường nên đã đầu tư xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế do thiếu vốn, nhân lực, nhưng cũng còn nhiều cơ sở chưa thực sự quan tâm và nhận thức đúng về vấn đề này nên quá trình hoạt động đã gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng Để bảo
vệ được môi trường chung, Nhà nước cần có những văn bản pháp quy chặt chẽ hơn buộc các cơ sở phải có nhận thức đầy đủ về việc bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất Ngoài ra Nhà nước cũng cần có các chính sách hỗ trợ, khen thưởng và kỷ luật đối với các cơ sở chấp hành tốt và vi phạp luật bảo vệ môi trường Tuy nhiên công tác quả lý Nhà nước đối với việc bảo vệ môi trường của các cơ sở cũng cần phải được tăng cường hơn nữa trong thời gian tới như tăng cường công tác kiểm tra, giáo dục nhận thức và quan trắc thường xuyên, nhằm nắm rõ được tình hình sản xuất cũng môi trường để có thể đề ra các chiến lược phát triển bền vững cũng như giảm rủi ro môi trường và khắc phục sự cố môi trường một cách nhanh chóng và hiệu quả
Tới nay sự phân bố các cơ sở luyện kim đen, sản xuất thép là khá đồng đều trên toàn lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên Tổng công ty Thép Việt Nam là đơn vị chiếm chủ đạo trong ngành công nghiệp luyện kim, Tổng công ty hiện nay có 19 xí nghiệp Ngoài ra còn khoảng 70 các cơ sở sản xuất tư nhân cũng như các làng nghề tái chế, sản lượng của các làng nghề tái chế và các cơ sở tư nhân nhỏ đạt khoảng 30 vạn tấn/năm
Trang 20Một số công ty lớn trực thuộc tổng công ty thép Việt Nam
+ Công ty gang thép Thái Nguyên + Công ty thép Đà Nẵng
Các đơn vị liên doanh với nước ngoài
+ Công ty Vinausteel + Công ty Vinapipe + Công ty VSC- Posco + Công ty Thép Việt Nhật
+ Công ty Sản xuất gia công Dịch vụ Thép Sài Gòn
Về luyện kim loại màu: Ngành luyện kim loại màu nước ta chưa có điều kiện phát triển, thời gian qua chỉ có thiếc là được sản xuất khá ổn định về số lượng và chất lượng, đây cũng là sản phẩm chính của ngành Những cơ sở sản xuất thiếc có quy mô tương đối lớn đều tập trung tại Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam
Ngành hóa chất: ngành công nghiệp hoá chất ở nước ta chiếm một vị trí
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Không chỉ cung cấp những sản phẩm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, ngành còn đá p ứng nhu cầu nguyên liệu hoá chất cơ bản cho nhiều ngành kinh tế khác như xút, axit, khí công nghiệp, que hàn, bột nhẹ và cung ứng vào thị trường những sản phẩm phục vụ cho cuộc sống và vận hành nền kinh tế như các sản phẩm nhựa, cao su, pin, ắc quy Hoá chất cơ bản là một lĩnh vực phong phú, hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp đều sử dụng những dạng hoá chất khác nhau Một khối lượng lớn hoá chất vô cơ được coi là máu của các ngành công nghiệp như axit sulfuric, Xút đáp ứng yêu cầu sản xuất của hàng loạt ngành công nghiệp khác nhau Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định quan điểm phải đầu tư phát triển mạnh công nghiệp hoá dầu để làm tăng hiệu quả ngành dầu khí và sẽ cung cấp cho xã hội các nguyên liệu cơ bản cho hàng loạt ngành sản xuất khác như sơn, chất dẻo, sản xuất các vật liệu siêu dẫn, ngành cơ khí, điện tử Nhìn chung, ngành công nghiệp hoá chất rất đa dạng, phong phú về các nhóm, loại hình công nghệ, sản phẩm trong đó các sản phẩm đều có giá trị quan trọng ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên cũng cần đề cập đến một thực trạng là ngành hoá chất nước ta
do đặc thù đa dạng của mình về hoại hình sản xuất và hiện trạng trang thiết bị
Trang 21Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
lạc hậu đã trở thành một trong những ngành gây ô nhiễm lớn nhất đối với môi trường ở nước ta hiện nay Hiện trạng ngành hoá chất Việt Nam: trong thời kỳ
10 năm từ 1990 - 2000, ngành hoá chất đã có sự đầu tư phát triển mạnh mẽ mọi sản phẩm Nhiều cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài (liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài) đã tạo nên sự tăng trưởng đáng kể về năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, đóng góp đáng kể vào ngân sách quốc gia như: các loại nhựa PVC, PS, PU, chất hoá dẻo DOP (DiOctyl Phtalat), chất tạo bọt LAS (Ankyl Benzen Sunfonic axit mạch thẳng), hoạt chất thuốc trừ sâu, phân hỗn hợp chất lượng cao NPK, ắc quy khởi động nhanh, xăm lốp ôtô xe máy, sơn trang trí, chất tẩy rửa các loại Công nghiệp hoá chất địa phương cũng phát triển mạnh
mẽ chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, sản phẩm gia công, tái chế nhựa Theo số liệu của tổng cục thống kê thì giá trị sản xuất của công nghiệp địa phương chiếm tỷ lệ khoảng gần nửa so với công nghiệp trung ương Các doanh nghiệp quốc doanh, với 24 nhà máy mới xây dựng trong vòng không đầy hai thập kỷ đã đảm bảo được gần 70% giá trị tổng sản lượng toàn ngành
Bảng 1.5 Sản lượng một số sản phẩm hoá chất chủ yếu (số liệu năm 2002):
XUẤT
MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG NHU CẦU THỊ TRƯỜNG
Trang 2212 Sơn hoá học tấn 70000
Giá trị sản xuất của công nghiệp hoá chất nước ta kể cả cao su và plastic
là khoảng 20337.9 tỷ đồng tương đương 1355 triệu USD Cơ cấu giữa các nhóm sản phẩm của ngành càng ngày càng được hoàn thiện theo hướng tích cực, cân đối giữa sản phẩm là tư liệu sản xuất và sản phẩm là tư liệu tiêu dùng Nhóm sản phẩm hoá chất vô cơ cơ bản đã tăng dần tỷ trọng từ 5% (năm 1994) lên đến 11.11% (năm 2002), cung cấp nguyên liệu và tạo tiền đề cho nhiều ngành công nghiệp khác phát triển Nhóm sản phẩm cao su đã có bước tăng trưởng vượt bậc, tỷ trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành
đã tăng từ 9% (năm 1994) lên đến 19.84% (năm 2002), góp phần đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước về các loại săm lốp xe máy và xe đạp các loại; ngoài ra còn dành một phần cho xuất khẩu Nhóm sản phẩm phân bón sau nhiều năm được tập trung cho đầu tư phát triển và từng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của ngành, mặc dù vẫn tiếp tục có mức tăng trưởng cao nhưng đã giảm dần tỷ trọng nhường cho những nhóm sản phẩm khác phát triển Quy mô và công suất của hầu hết các cơ sở sản xuất đều thuộc loại nhỏ Công nghệ gia công chế biến chiếm tỷ lệ cao Các loại công nghệ đặc trưng cho công nghệ hoá chất hiện đại chiếm tỷ trọng ít Sản lượng các sản phẩm được sản xuất theo công nghệ thuần tuý hoá học như axit, xút, clo, phân đạm, phân lân còn chiếm tỷ lệ nhỏ Các sản phẩm pin, ắc quy dù đã có những tiến bộ rất lớn về công nghệ nhưng nói chung chưa phải công nghệ tiên tiến của khu vực Các biện pháp nhằm bảo vệ môi trường tại hầu hết các cơ sở lớn và nhỏ chưa được quan tâm đúng mức, nhiều trường hợp còn cố tình lảnh tránh Điều này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường xung quanh khu vực có hoạt động của ngành hoá chất
Sản xuất phân bón: Hiện nay trên cả nước đã có 1 cơ sở sản xuất phân
đạm với công suất 150000 tấn/năm; 3 cơ sở sản xuất phân supe phôtphát với công suất 850000 - 950000 tấn/năm; 5 cơ sở sản xuất phân lân nung chảy với
Trang 23Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
công suất 500000 tấn/năm; ngoài ra còn có hơn 50 cơ sở sản xuất phân hỗn hợp NPK với tổng công suất khoảng 2300000 tấn/năm trong đó các cơ sở phía bắc
có công suất ước lượng 400000 tấn/năm chủ yếu là loại phân hỗn hợp NPK có hàm lượng dinh dưỡng 18% (NPK:5-10-3), còn lại do các cơ sở phía nam sản xuất phần lớn là loại có thành phần dinh dưỡng cao (hơn 40%) Phân hữu cơ sinh học và vi sinh: có 76 cơ sở sản xuất với tổng năng lực 130000 - 150000 tấn/năm Hiện tại mức tiêu hao nguyên liệu/một tấn sản phẩm thuộc diện cao trên thế giới, như sau:
Tiêu hao/1 tấn sản phẩm Việt Nam Thế Giới
NOx, Cl2 và hơi kim loại cũng như một số khí độc khác Nồng độ các chất khí độc hại (điển hình là khí SO2) trong không khí xung quanh ở nhiều nhà máy và khu công nghiệp vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1.5 - 2.5 lần [16]
Ngành dệt may và da giày: Trong những năm qua, ngành công nghiệp Dệt May
và Da giày đã có rất nhiều nỗ lực để đẩy mạnh phát triển ngành Với "Chiến lược tăng tốc phát triển ngành Dệt May Việt Nam đến năm 2010" sản xuất của ngành sẽ được mở rộng về quy mô và nâng cao về chất lượng Theo đó lượng hóa chất, thuốc nhuộm sử dụng sẽ tăng lên đáng kể, đồng thời lượng thải cũng rất đáng quan tâm Đối với công tác bảo vệ môi trường, hầu hết các doanh nghiệp Dệt May và Da giày đã thực hiện đánh giá tác động môi trường, một số
đã xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường và tham gia vào áp dụng sản xuất sạch hơn trong sản xuất để tiết kiệm năng lượng, hóa chất, đồng thời giảm
Trang 24thiểu ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, số lượng các nhà máy có hệ thống xử lý đang còn rất khiêm tốn Hầu hết các doanh nghiệp vẫn đang là đối tượng gây ô nhiễm và nằm trong sách đen của các cơ quan quản lý môi trường Vì vậy cần phải xây dựng kế hoạch, giải pháp và tiến độ thực hiện nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường tại các doanh nghiệp để ngành Dệt May và Da giày Việt Nam phát triển một cách bền vững
Căn cứ vào kết quả điều tra và phân tích cho thấy, các cơ sở sản xuất lớn, công nghệ đa dạng mức độ ô nhiễm thường cao hơn, đặc biệt là công đoạn nhuộm phát sinh nhiều chất thải với tải lượng lớn, thậm chí độc hại Các cơ sở chỉ đơn thuần dệt hoặc gia công may chất thải không nhiều Tuy nhiên, sản xuất Dệt May và Da giày gây phát sinh chất thải ở cả 3 dạng: khí, nước và chất thải rắn, gây ô nhiễm môi trường Các chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu gồm: các khí ô nhiễm, hơi hóa chất, dung môi, bụi, nhiệt và tiếng ồn có nguồn gốc chủ yếu từ các lò hơi, phân xưởng kéo sợi, dệt, nhuộm và bộ phận chuẩn bị hóa chất Khí thải lò hơi chứa lượng lớn các khí ô nhiễm, hầu như chưa được xử lý mà thải thẳng vào môi trường Các chất thải trong khói lò gồm: bụi, khí SO2, NO2, CO, Trong các công đoạn xử lý nhiệt và xử lý hoàn tất hàng dệt có một số hóa chất, dung môi bay hơi gây ô nhiễm môi trường không khí: khí Clo sinh ra trong quá trình tẩy trắng bằng nước Javen (NaClO); Khí
NO2 khi
Bảng 1.6 Nguồn gốc chất thải và tác động của ngành Dệt may và Da giày
Hoạt động của
nhà máy dệt
- Bụi -Tiếng ồn
- Nước thải
Ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước và sức khoẻ người lao động
Hoạt động của
nhà máy sản xuất
Giày
- Bụi -Tiếng ồn
- Nước thải
Ô nhiễm môi trường không khí khu vực sản xuất và sức khoẻ người lao động
Trang 25Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
- Nhiệt dư và tiếng ồn
Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm môi trường không khí khu vực sản xuất và sức khoẻ người lao động
Hoạt động của lò
hơi, lò gia nhiệt
- Khí thải giàu SO 2 (Khi đốt dầu), bụi (đốt than)
- Nhiệt dư
Ô nhiễm môi trường không khí xung quanh do phát tán khí thải qua ống khói
ảnh hưởng sức khoẻ người lao động Hoạt động của
ty dệt 8/3) Số liệu đo H2S ở một số nhà máy có nồng độ SO2 ở nơi cách nguồn thải tới 100 m nhưng vẫn vượt quá TCCP 2.34 lần, do đó trong phân xưởng nhuộm, giặt, nhiệt độ của nước cao (90-95oC) làm bay hơi tạo mù trong khu vực sản xuất Các chất tải nhiệt sinh ra từ các thiết bị làm lạnh và điều hòa trung tâm được sử dụng trong các công nghệ kéo sợi, công nghệ dệt và các dây chuyền may Theo số liệu thống kê của VINATEX, phần lớn các thiết bị này thuộc thế hệ cũ, sử dụng CFC là chất tải nhiệt, chiếm khoảng 7% tổng lượng chất tải nhiệt đang sử dụng ở nước ta Do thiết bị cũ, bảo dưỡng kém nên khí CFC có thể bị rò rỉ, bốc hơi tới 15-20% CFC là một trong những tác nhân làm suy giảm tầng ozon Nhìn chung, hầu hết trong các phân xưởng tẩy, nhuộm, in hoa, xử lý hoàn tất hàng dệt, hàng da cho các nhà máy giày đều có mức độ ô nhiễm khí thải vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người lao động và gây ô nhiễm môi trường xung quanh Bụi phát sinh trong các công đoạn kéo sợi, dệt may, cắt định hình vải hoặc da chủ yếu là bụi bông Theo tính toán thống kê tổn thất bông xơ dưới dạng bụi trong công đoạn
Trang 26kéo sợi là 1.5-2% Trong công đoạn dệt là 0.5-1% Theo số liệu kiểm tra của VINATEX: Nồng độ bụi công đoạn kéo sợi: 1.10-3.44 mg/m3; Nồng độ bụi công đoạn dệt vải: 1.16-1.50 mg/m3; Nồng độ bụi công đoạn may: 0.93-1.15 mg/m3 Lượng nhiệt thoát ra từ quá trình nhuộm, từ nồi hơi, nhiệt sinh ra trong vận hành máy dệt, kéo sợi, may, dập khuôn đóng đế làm cho nhiệt độ khu vực
Bảng 1.7 Định mức nguyên, nhiên và phụ liệu cho 1 tấn sản phẩm
Công nghiệp càng phát triển, nhà máy mọc lên càng nhiều, nhất là sự xuất hiện các cụm công nghiệp thì tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng
nặng nề hơn
1.1.2 Nguồn ô nhiễm do giao thông - xây dựng
Ô nhiễm do giao thông vận tải gây ra là một nguồn lớn đối với môi
trường không khí Chúng thải ra 2/3 khí CO và 1/2 khí Hydro cacbon và NOx, đặc biệt ở các nước phát triển Ô tô xe máy thải ra nhiều khí độc hại và làm tung bụi bẩn, tàu hỏa, tàu thủy sử dụng nhiên liệu xăng dầu hay than cũng thải
ra nhiều khí độc Đặc điểm nổi bật của nguồn ô nhiễm do giao thông vận tải đường bộ gây ra là nguồn ô nhiễm di động, thấp song nó tỷ lệ thuận với cường
độ khai thác mặt đường Khả năng khuyếch tán các chất ô nhiễm này phụ thuộc
Trang 27Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
rất nhiều vào địa hình và quy hoạch kiến trúc cụ thể Máy bay cũng là nguồn gây ô nhiễm bụi, hơi độc và tiếng ồn trong không trung, nhưng chủ yếu làm ô nhiễm khu vực xung quanh sân bay Một điểm đáng chú ý là khi ở độ cao, các máy bay xả ra nitơoxit có tác động rất mạnh tới sự phá huỷ tầng ôzôn [3]
Hiện trạng cơ sở hạ tầng giao thông đô thị là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình gây ô nhiễm không khí đô thị Tại Việt Nam hiện nay, hiện trạng hạ tầng giao thông thực sự còn rất hạn chế Tốc độ hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông đô thị thấp hơn nhiều so với tốc độ gia tăng và sự thay đổi mạnh mẽ cơ cấu phương tiện giao thông đô thị Diện tích đất giao thông đô thị không đủ, mạng lưới đường giao thông phân bố không đồng đều, các tuyến đường rất thấp về thông số kỹ thuật, hành lang đường luôn bị lấn chiếm là một đặc điểm đặc trưng cho giao thông đô thị hiện nay Theo số liệu thống kê, tại một số các thành phố lớn, chỉ tiêu đáp ứng về hạ tầng giao thông rất thấp, chỉ đáp ứng được 40% so với nhu cầu cần thiết, diện tích đất giao thông khoảng 7.8%, mật độ đường đạt 3.89km/km2, diện tích các bãi đỗ xe chỉ đạt 25% song lại chưa có qui hoạch hoàn chỉnh Mật độ đường chính chỉ đạt 40%, mật độ đường liên khu vực, phân khu vực thấp nhất, chỉ đạt 20 - 30% so với yêu cầu [1] Cùng với sự phát triển, đô thị hóa, phương tiện giao thông cơ giới ở nước
ta tăng lên rất nhanh, đặc biệt là ở các đô thị Ngày nay 80 % dân số tại các đô thị tham gia giao thông bằng xe máy Bình quân số lượng xe máy ở các đô thị của nước ta mỗi năm tăng 15-18%, ô tô tăng mỗi năm khoảng 8-10% Do số lượng xe máy đô thị tăng nhanh, không những làm tăng nhanh nguồn thải ô nhiễm không khí mà còn gây ra tắc nghẽn, ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn Tình trạng ùn tắc giao thông trong các đô thị Việt Nam ngày càng trở nên bức xúc, không chỉ xảy ra cục bộ, với thời gian ngắn mà ngày càng xảy ra với diện rộng hơn, tần xuất và thời gian cao hơn Ô nhiễm khí CO và hơi xăng dầu (VOC) thường xảy ra tại các nút giao thông lớn hoặc các điểm ùn tắc giao thông Việt Nam hiện có khoảng 75% số lượng ô tô chạy bằng nhiên liệu xăng, 25% số lượng ô tô chạy bằng dầu DO, 100% số lượng xe máy chạy bằng nhiên liệu xăng [1] Cứ 1 triệu tấn xăng và dầu diezel được sử dụng cho giao thông vận tải thì phát thải ra 4 triệu tấn CO2, 60000 tấn CO, 23400 tấn NO2, 8000 tấn
SO2 và hơn 14.000 tấn CmHn Mỗi năm Việt Nam sử dụng từ 1.5 đến 2 triệu tấn xăng và dầu diezel cho giao thông vận tải và như vậy lượng phát thải càng làm
Trang 28ô nhiễm môi trường không khí Từ những vấn đề đã phân tích ở trên, có thể khẳng định các chất độc hại do khí xả của các phương tiện giao thông cơ giới gây ô nhiễm, môi trường là rõ rệt và đáng lo ngại Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận tải gây ra chiếm tỷ lệ 70% trên tổng số các nguồn gây ô nhiễm không khí [1] Việc hạn chế đến mức tối đa tác hại của khí xả nói trên đã được các nước trong khu vực
và trên thế giới quan tâm từ lâu và có chính sách hữu hiệu Tại các giao cắt giao thông hiện nay, đã sử dụng nhiều biện pháp giao thông không đồng mức: cầu vượt, hầm chui, phân làn đường nhằm giảm ùn tắc, tăng lưu lượng xe tham gia giao thông
Ô nhiễm do xây dựng: ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựng nhà cửa,
đường xá, cầu cống trở nên sôi động hơn bao giờ hết, nó diễn ra ở khắp nơi, đặc biệt là tại các đô thị Các hoạt động xây dựng như đào lấp đất, đập phá các công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển thường xuyên gây nên ô nhiễm bụi đối với môi trường không khí xung quanh Tại nơi
có hoạt động xây dựng, ô nhiễm môi trường không khí về bụi là rất trầm trọng,
có nơi giá trị lên tới 3 đến 6 mg/m3, vượt giá trị cho phép của Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5937-1995: 0.3 mg/m3) từ 10-20 lần Các chỉ tiêu về khí độc là không đáng kể đối với các hoạt động xây dựng gây ra cho môi trường không khí xung quanh
1.1.3 Nguồn ô nhiễm do các hoạt động khác
Sinh hoạt của con người: Nguồn ô nhiễm không khí từ các hoạt động dân
cư chủ yếu tính đến là nguồn năng lượng sử dụng từ việc đốt các nhiên liệu và các khí thải tạo ra bắt nguồn từ các loại phế thải sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng dân cư Nhân dân ở các thành phố thường đun nấu bằng than, dầu hoả, củi, điện và khí tự nhiên hóa lỏng (gas) Đun nấu bằng than và dầu hỏa sẽ thải
ra một lượng đáng kể các chất thải ô nhiễm, đặc biệt tại các đô thị nó là nguồn
ô nhiễm chính đối với môi trường không khí trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân Trong những năm gần đây, nhiều gia đình trong đô thị
đã sử dụng bếp gas thay cho việc đun nấu bằng than và dầu hỏa Theo báo cáo hiện trạng môi trường của các tỉnh thành năm 2002 và năm 2003, số lượng các gia đình có mức thu nhập cao đã chuyển hẳn việc đun nấu bằng than và dầu hỏa sang đun nấu bằng bếp gas ngày càng nhiều Bếp gas gây ô nhiễm môi trường
Trang 29Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
không khí ít hơn rất nhiều so với bếp than hay bếp dầu Tuy nhiên, do giá dầu hỏa và giá điện tăng cao, rất nhiều gia đình có mức thu nhập thấp đã chuyển sang sử dụng bếp than tổ ong với số lượng lớn (thường mỗi gia đình tiêu thụ khoảng 2 kg than mỗi ngày) gây ra ô nhiễm cục bộ rất nặng nề, nhất là lúc bắt đầu nhóm bếp và khi ủ than [1]
Ngành du lịch và dịch vụ cũng gây nên sự ô nhiễm không khí: Theo số liệu thống kê đến năm 2002 trên toàn quốc có trên 72000 phòng khách sạn (chưa kể đến số phòng nhà khách, nhà nghỉ), tăng 100% so với năm 1995, tập trung chủ yếu (trên 70%) ở các đô thị du lịch Nếu chỉ tính đến tác động của các thiết bị điều hoà nhiệt độ dùng trong hệ thống khách sạn du lịch thì lượng khí CFCs thải ra khi thay đổi hoặc sửa chữa chúng cũng có tác động không nhỏ đến môi trường không khí (mỗi lần thay đổi hoặc sửa chữa các thiết bị điều hoà nhiệt độ người ta thường để rò rỉ khí CFCs vào môi trường không khí) Đi kèm với hệ thống du lịch nói trên là gần 7000 phương tiện vận chuyển khách du lịch của các doanh nghiệp nhà nước (cũng gần bằng như vậy đối với các phương tiện vận chuyển của tư nhân) Vào mùa du lịch, đặc biệt là những ngày lễ hội, ngày nghỉ lượng xe du lịch vận chuyển khách tập trung đến các trung tâm đô thị du lịch gây ra tình trạng ách tắc giao thông và làm tăng đáng kể lượng bụi
và khí thải vào môi trường không khí
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA KHÔNG KHÍ BỊ Ô NHIỄM ĐẾN SỨC KHOẺ CON NGƯỜI
Không khí không bị ô nhiễm, tính theo tỷ lệ phần trăm thể tích thì chủ yếu là Nitơ (78.09%) và ôxy (20.94%) Con người cần không khí để sống và phát triển Môi trường không khí bao quanh con người là không khí ẩm và đã
bị ô nhiễm do các chất độc hại và bụi Không khí ẩm là hỗn hợp không khí khô
và hơi nước Trong không khí chủ yếu có các chất ô nhiễm như bụi lơ lửng,
NO2, SO2, CO và một số chất khác
Bụi ở trong không khí, nhất là các hạt bụi nhỏ hơn 5m có thể vào tận phế nang của người, bụi gây ra một số bệnh như: Bệnh phổi nhiễm bụi là do người hít thở bụi khoáng, bụi amiăng, bụi than và kim loại Người sẽ bị xơ phổi, suy giảm chức năng hô hấp; Tại Mỹ năm 1950 - 1955 phát hiện được
12763 người nhiễm bụi đá silic, ở Nam phi có khoảng 30 - 40% thợ mỏ hàng
Trang 30năm chết do bị bệnh phổi nhiễm bụi đá và năm 1963 - 1964 tại sáu mỏ vàng ở Gana có 4300 thợ thì 7% trong số đó mắc bệnh nhiễm bụi đá silic, ở Tây Đức hàng năm có khoảng 1500 người chết vì bệnh silic, ở Tây Âu, 973000 thợ mỏ
có tới 120000 người bị bệnh silic, ở Nhật bệnh silic chiếm tới 63% tại các mỏ kim loại, 39% tại các mỏ than [17] Bệnh ở đường hô hấp là: bệnh do các loại bụi gây ra như bệnh viêm mũi, họng phế quản Bụi hữu cơ như bông gai dính vào niêm mạc gây phù thụng tiết nhiều niêm dịch, về lâu dài có thể gây loét lòng khí phế quản Bụi vô cơ rắn có cạnh sắc nhọn, lúc đầu thường gây ra viêm mũi làm cho niêm mạc dày lên, tiết nhiều niêm dịch, hít thở khó sau vài năm chuyển thành viêm mũi teo, giảm chức năng lọc giữ bụi của mũi, gây thành bệnh phổi nhiễm bụi Bụi Crom, Asen gây viêm loét thủng vách mũi vùng trước sụn lá mía Bụi len, bột thuốc kháng sinh gây dị ứng, viêm mũi, viêm phế quản và hen suyễn Bụi Mangan, phốt phát, bicromat kali, gỉ sắt gây ra bệnh viêm phổi, làm thay đổi tính miễn dịch sinh hóa của phổi Bụi đồng thời gây ra bệnh nhiễm trùng da rất khó chữa: bụi tác động vào các tuyến nhờn làm cho da
bị khô gây ra các bệnh ở da như trứng cá, viêm da Loại bệnh này các thợ đốt lò hơi, thợ máy trong các ngành sản xuất xi măng, sành sứ hay mắc phải Đặc biệt bụi gây kích thích da, sinh mụn nhọt lở loét như bụi vôi, bụi dược phẩm, thuốc trừ sâu, đường Bụi nhựa than dưới tác dụng của ánh nắng làm cho da sưng tấy bỏng, ngứa, mắt sưng đỏ chảy nước mắt, nếu nặng có thể gây chấn thương mắt, viêm màng tiếp hợp, viêm mi mắt Bụi kiềm, bụi axít có thể gây bỏng giác mạc, giảm thị lực thậm chí bị mù Một loại bệnh nữa mà bụi gây ra là bệnh ở đường tiêu hóa: bụi đường, các loại bột có thể gây sâu răng, làm hỏng men răng Bụi kim loại, bụi khoáng to nhọn có cạnh sắc đi vào dạ dày gây viêm niêm mạc dạ dày, rối loạn tiêu hóa Bụi chì gây ra bệnh thiếu máu, giảm hồng cầu và gây rối loạn thận cũng như hệ bài tiết Bụi vi sinh vật có nhiều tác hại tới sức khoẻ con người, gây ra các bệnh dịch, bệnh hô hấp, bệnh đau mắt và bệnh đường tiêu hóa Bụi còn có tác hại đến sự tồn tại và phát triển của các động vật và thực vật: như bụi lò xi măng, bụi lò gạch, bụi amiăng, bụi than, bụi cloruanatri làm cho cây cỏ không phát triển được, bị vàng lá, rụng lá, giảm hoa quả teo hạt, làm giảm năng suất thậm chí chết cây [18]
Các chất độc hại, gây ô nhiễm môi trường không khí như là CO, SO2,
NO2 có nguồn gốc từ sản xuất công nghiệp và quá trình đốt cháy nhiên liệu
Trang 31Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
Các chất độc hại này đi vào cơ thể qua đương hô hấp, tiêu hóa và qua da Chất độc hại đi vào cơ thể qua đường hô hấp là nguy hiểm và hay gặp nhất: nó xâm nhập qua phế quản và các tế bào vào máu Chất độc hại xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa do con người ăn uống, hút thuốc chất độc hại qua gan, nhờ các phản ứng sinh hóa nên ít nguy hiểm Chất độc hại thấm qua da chủ yếu
là các chất có thể hòa tan trong mỡ trong nước đi vào cơ thể và đi vào máu như benzen, êtylic Ngoài ra, các chất độc hại còn đi qua các tuyến mồ hôi, lỗ chân lông để đi vào cơ thể Dựa vào tác hại của chất độc ta chia ra các nhóm như: chất gây bỏng, kích thích da, niêm mạc; chất gây kích thích đường hô hấp trên; chất gây ngạt; chất gây độc Như đã nói ở trên, chúng ta chỉ đi sâu nghiên cứu các chất gây độc sau: CO, SO2, NO2
Cacbon monoxit (CO) là một loại khí không màu, không mùi, không vị,
tỷ trọng 0,967 Được tạo ra bởi sự cháy không hoàn toàn của các vật liệu có chứa cacbon Mỗi năm tổng lượng CO được sinh ra khoảng 250 triệu tấn, trong
đó có một phần CO sinh học Khí CO chiếm tỷ lệ lớn trong các chất gây ô nhiễm môi trường không khí, nhưng nồng độ CO trong không khí không ổn định, biến thiên nhanh chưa xác định được chính xác Tác hại của CO là rất độc hại: người và động vật tiếp xúc với khí này có thể bị chết đột ngột Lý do là
CO có tác dụng mạnh với hemglobin (Hb) gấp 250 lần so với Oxy, lấy hết ôxy của hemoglobin và tạo thành Cacbonxy hemoglobin, làm mất khả năng vận chuyển oxy của máu và gây ra ngạt
HbO2 + CO HbCO + O2
Mức độ nhẹ, nhiễm độc CO thường bị đau đầu ù tai, chóng mặt buồn nôn, mệt mỏi co giật dẫn đến hôn mê Bị nnhiễm độc nặng thì có thể bị hôn mê ngay, chân tay mềm nhũn, mặt xanh tím, bị phù phổi cấp Trường hợp bị nhiễm độc CO mạn tính thưòng bị đau đầu dai dẳng, chóng mặt, mỏi mệt và sút cân Hàng năm trên thế giới có hàng trăm người chết do trúng độc khí CO Thực vật
ít nhạy cảm với CO hơn so với động vật, nhưng nếu nồng độ CO cao từ 100 đến 1000 ppm thì cây cối xảy ra tình trạng rụng lá, xoắn cây và chậm phát triển Sự đốt cháy nhiên liệu và quá trình hô hấp thải vào môi trường không khí một lượng lớn CO2, ước tính hàng năm riêng đốt than đá đã thải khoảng 2.5x1013 tấn CO2 Lượng CO2 do núi lửa phun ra hàng năm bằng 40000 lần lượng CO2 có trong khí quyển hiện nay Không phải lượng CO2 sinh ra lưu tồn
Trang 32mãi mãi trong khí quyển, mà chừng 1/2 do thực vật và nước biển hấp thụ Phần
do nước biển hấp thụ, được hòa tan và kết tủa trong biển, các loại thực vật ở dưới biển đóng vai trò chủ yếu duy trì sự cân bằng CO2 giữa khí quyển và bề mặt đại dương Còn một lượng CO2 lưu tồn trong khí quyển, rất cần cho thực vật quang hợp để duy trì sự sống và phát triển khi nồng độ CO2 trong khí quyển quá cao thì có hại cho con người và động thực vật [17]
Hiệu ứng nhà kính: khí CO2 chủ yếu tồn tại ở tầng đối lưu Nhiệt độ mặt đất được cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống mặt đất và năng lượng nhiệt mặt đất phát vào vũ trụ Bức xạ mặt trời là bức xạ sóng ngắn, nó dễ dàng xuyên qua các tầng khí CO2, khí Ôzôn rồi chiếu xuống mặt đất Còn bức xạ nhiệt từ mặt đất vào vũ trụ là bức xạ sóng dài, không có khả năng xuyên qua tầng khí CO2 mà nó bị hấp thụ bởi CO2 và hơi nước có trong khí quyển, vì vậy nhiệt độ của không khí xung quanh trái đất sẽ tăng lên, làm cho nhiệt độ mặt đất tăng lên dần, hiện tượng này gọi là “hiệu ứng nhà kính” Tầng CO2 tương tự như lớp kính bao che nhà kính trồng cây xanh trong mùa đông ở các nước xứ lạnh, chỉ khác ở đây nó có quy mô toàn cầu Nhiệt độ trái đất tăng lên là nguyên nhân làm tăng ở cực bắc, nâng cao mực nước biển, có nguy cơ dẫn đến ngập những vùng thấp trũng trên mặt đất Nhiệt độ trái đất tăng lên là nguy cơ của các trận mưa bão lũ lụt trên diện rộng, gây nhiều thiệt hại Nếu không ngăn chặn được hiệu ứng nhà kính, thì trong vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ dâng lên 1.5 - 3.5 m Nếu nồng độ CO2 tăng gấp đôi thì nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất tăng lên 3.6 oC Trong khoảng từ năm 1885 đến năm 1940, nhiệt độ trung bình hàng năm của trái đất tăng lên 0.5 oC Sau năm 1940 độ tăng nhiệt
độ của trái đất có chậm hơn nhưng riêng ở Bắc Âu và Bắc Mỹ thì nhiệt độ vẫn tiếp tục tăng Từ năm 1940 đến năm 1980 tăng khoảng 0.11 oC Hội thảo khí hậu học tại Châu Âu gần đây dự báo năm 2050 nhiệt đọo của trái đất tăng thêm 1.5 - 4.5 oC, nếu không có biện pháp ngăn chặn hiệu ứng nhà kính [17]
Khí sulfur dioxit (SO 2 ) là một loại khí không màu, có vị cay và mùi rất
khó chịu Khí này có nhiều ở các lò luyện gang, lò rèn, lò gia công nóng, những
lò đốt than có lưu huỳnh Trong khí quyển SO2 do hiện tượng quang hóa có xúc tác biến thành SO3 Khí SO2 tác dụng với hơi nước biến thành axit sulfurơ Lượng SO2 do sản xuất công nghiệp thải vào khí quyển rất lớn, hàng năm khoảng 66 triệu tấn sulfur tương đương 132 triệu tấn SO2, chủ yếu là do đốt
Trang 33Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
than và sử dụng xăng dầu Gần các nguồn điểm (nhà máy điện) nồng độ SO2 rất cao so với các nơi khác Khí SO2 và H2SO4 tác hại đến sức khoẻ con người và động vật, với nồng độ thấp gây kích thích đối với hệ hô hấp, với nồng độ cao gây ra bệnh tật, bỏng nặng vì H2SO4 rất háo nước, thậm chí có thể chết Khí
SO2 và H2SO4 còn có tác hại đối với các vật liệu: nó làm thay đổi tính năng, màu sắc các loại sản phẩm đá, ăn mòn kim loại, giảm độ bền của sản phẩm vải lụa và đồ dùng Đối với thực vật, SO2 có tác hại đến sự sinh trưởng của rau quả, làm cây vàng lá, rụng lá hoặc chết [17]
Nitơ oxit (NO x ) có rất nhiều loại trong khí quyển, chủ yếu là nitric oxit
(NO) và notơ dioxit (NO2) Nó hình thành do phản ứng hóa học nitơ với oxy trong khí quyển khi đốt cháy ở nhiệt độ cao, lớn hơn 1100 oC và nhanh chóng làm lạnh để không bị phân huỷ
nó khi nồng độ 0.12 ppm Trong phản ứng quang hóa học nó hấp thụ bức xạ
tử ngoại Khí NO2 với nồng độ 100 ppm có thể làm chết người và động vật chỉ sau vài phút, với nồng độ 5 ppm có thể gây tác hại bộ máy hô hấp sau mấy phút tiếp xúc, với nồng độ 15 - 20 ppm sẽ gây nguy hiểm cho tim, phổi gan sau vài phút tiếp xúc, với nồng độ khoảng 0.06 ppm cũng có thể gây bệnh phổi cho người nếu tiếp xúc lâu dài NO2 là khí gây rất nhiều tác hại cho con người Quá trình đốt cháy không hoàn toàn, nhất là trong động cơ đốt trong, đã thải vào khí quyển một khối lượng lớn hydro cacbon và nitơ ôxit (NO) [17]
Trang 34Tóm lại, ô nhiễm không khí đô thị có nhiều nguồn, trong đó ảnh hưởng đáng kể nhất là do Công nghiệp và Giao thông đô thị Ô nhiễm này ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và môi trường sinh thái Chính vì vậy việc nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm không khí đô thị Hải Phòng cũng như đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí là cần thiết và cấp bách để xây dựng Hải Phòng thành Trung tâm Công nghiệp và Dịch vụ du lịch của khu vực miền Bắc, Hải Phòng là Đô thị loại 1 cấp Quốc gia
Trang 35Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG VÀ DỰ BÁO XU HƯỚNG Ô NHIỄM
KHÔNG KHÍ ĐÔ THỊ HẢI PHÒNG 2.1 GIỚI THIỆU TÓM TẮT VỀ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phố Hải Phòng được thành lập từ năm 1888, dự tính đến năm
1955 thành phố chỉ đủ công năng phục vụ cho 100000 dân Đến nay thành phố
đã có 14 đơn vị hành chính, gồm 5 quận nội thành, 1 thị xã, 6 huyện ngoại thành và 2 huyện đảo Tổng số dân của thành phố Hải Phòng là 1754000, trong
đó riêng dân số đô thị khoảng 646400 người - chiếm 36.8% dân số của toàn thành phố, mật độ dân cư rất cao (quận Hồng Bàng: 6421 người/km2, quận Ngô Quyền: 14066 người/km2, quận Lê Chân: 33227 người/km2) Khu vực đô thị tập trung nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, mô hình nhỏ lẻ, nằm xen kẽ trong các khu dân cư Chỉ tính riêng ở 5 quận nội thành có khoảng trên 1590 doanh nghiệp với gần 500 cơ sở công nghiệp và hầu hết sử dụng các nhiên liệu hoá thạch gây ô nhiễm không khí Mức độ ô nhiễm rất nặng nề, hầu hết các chỉ tiêu
về CO, SO2, NO2 và bụi lơ lửng đều vượt mức Tiêu chuẩn cho phép Các cơ sở công nghiệp này phần lớn có công nghệ lạc hậu Hoạt động công nghiệp cùng với giao thông vận tải và sinh hoạt làm cho đô thị Hải Phòng bị ô nhiễm về không khí Diện tích các khu vực ô nhiễm đã chiếm tới 60% diện tích đô thị, trong đó có những khu vực vừa bị ô nhiễm bụi vừa bị ô nhiễm khí độc và ô nhiễm tiếng ồn [3, 7, 9, 10]
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Thành phố Hải phòng nằm ở phía Nam đồng bằng bắc bộ thuộc vùng Châu Thổ Sông Hồng, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, nam giáp Thái Bình phía Tây giáp Hải Dương, phía Đông là vịnh Bắc bộ Là một trong ba cực tăng trưởng kinh tế phía Bắcgồm: Hải Phòng - Hà Nội - Quảng Ninh (cách Hà Nội khoảng 106 km) Thành phố được hình thành từ cửa sông có độ sâu nhất của đồng bằng, Hải phòng trở thành một Thành phố Cảng, một trung tâm giao thông quan trọng của miền Bắc nước ta Địa hình Hải Phòng đa dạng, có đất liền, vùng biển - hải đảo, đồng bằng ven biển (độ cao từ 0.7 - 1.7 m so với mực nước biển) Hải Phòng có 125 km bờ biển, đảo Cát Bà là đảo lớn và đẹp nhất trong quần thể tổng số chừng 360 đảo, có độ cao 200 m diện tích khoảng 100
Trang 36km2 cách thành phố 30 hải lý và cách xa hơn về phía Đông Nam 90 km là đảo Bạch Long Vĩ đảo khá bằng phẳng và có nhiều cát trắng Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 trong cả nước sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, hiện nay là
đô thị loại I cấp quốc gia (Theo quyết định số 92/2003/QĐ-TTG, ngày 9/5/2003 của Thủ Tướng Chính phủ), là một trong những trung tâm công nghiệp chính của Việt Nam
Theo số liệu của Trung tâm khí tượng thuỷ văn, Hải phòng chịu ảnh hưởng của vùng nhiệt đới gió mùa và bị chi phối chủ yếu bởi quan hệ tương hỗ phức tạp giữa hoàn lưu và địa hình Nhiệt độ không khí trung bình trong năm 23-24 độ C (nhiệt độ trung bình trong thời kỳ lạnh nhất từ +17 đến +180C vào tháng 12; nhiệt độ trung bình thời kỳ nóng nhất khoảng + 280C) Độ ẩm trung bình 85-86% Lượng mưa tương đối đều trên toàn bề mặt thành phố, lượng mưa trung bình hàng năm là từ 1600 đến 1800 mm Gió mùa ảnh hưởng không đáng kể đến tốc độ gió trung bình ở Hải Phòng, tốc độ gió trung bình tính theo tháng từ 3.5 đến 4.2 m/s, tính theo trung bình năm thì là 3.8 m/s Tốc độ theo tần suất khi thời tiết lặng gió gần như giống nhau
Hải phòng nằm trong vùng có mật độ lưới sông lớn nhất trong đồng bằng Bắc bộ, các dòng sông uốn khúc vận tốc dòng chảy không lớn, lưu lượng biến đổi theo mùa, và chu kỳ thuỷ triều Vùng nội thành được bao bọc bởi 3 con sông chính là sông Cấm, sông Lạch Tray và sông Tam Bạc Các sông này đều
bị ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều Chiều cao trung bình của thuỷ triều là 3.7 - 3.8 m, triều lớn nhất là 4.44 m vào tháng sáu hàng năm Mùa khô nước mặn có thể vào sâu trong đất liền đến 40 km làm ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và nước ngầm
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Tổng diện tích của thành phố Hải Phòng khoảng 153000 ha trong đó khu vực nội thành chỉ có khoảng 17000 ha Diện tích đất nông nghiệp của Hải Phòng là 67800 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm là 55700 ha Gần 50% diện tích đất canh tác có thể trồng 2 vụ lúa 1 vụ màu Ngoài ra Hải Phòng còn
có trên 23000 ha bãi bồi ngập triều trong đó có chừng 9000 ha có thể tổ chức nuôi trồng thuỷ sản Do cấu trúc về địa hình của dãy ven bờ và vùng biển của thành phố đã tạo ra những lợi thế đặc biệt cho sự phát triển toàn diện ngành
Trang 37Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
thuỷ sản Bạch Long Vĩ nằm sát với ngư trường trọng điểm vùng vịnh Bắc Bộ, cùng liên kết với Cát Bà, trung tâm hội tụ nghề đánh cá biển của cả nước trở thành khu vực phát triển hải sản vào loại mạnh nhất nhì trong khu vực Năm cửa sông lớn dọc theo chiều dài 125 km bờ biển của Hải Phòng là nơi tải phù sa
từ trong đất liền ra tạo điều kiện thuận lợi cho nguồn thức ăn nuôi cá vùng biển ven bờ Đây là tiền đề vững chắc tạo đà phát triển đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản
Rừng ngoài hải đảo tập trung ở khu vực đảo Cát Bà, riêng tại đảo này, khu vực Vườn Quốc gia bảo vệ có diện tích 15200 ha với 745 loài thực vật, 495 chi, 149 họ trong đó có 350 loài cây thuốc Đồ Sơn là khu vực bán đảo đồi núi với những rừng thông vươn xa ra biển (chừng 5 km) chứa ẩn tiềm năng rất lớn
về phát triển ngành du lịch
Khu vực núi Voi phía Bắc quận Kiến An và khu vực Tràng Kênh thuộc huyện Thuỷ Nguyên là khu vực núi đá vôi có nhiều hang động.Đá vôi là nguồn khoáng sản đáng kể của Hải Phòng, trữ lượng khoảng 225 triệu tấn, là nguồn nguyên liệu dồi dào cho quá trình phát triển ngành sản xuất vật liệu xây dựng [3]
Nguồn nước của Hải Phòng là khá hạn chế bởi sự ảnh hưởng của thuỷ triều tới tất cả 5 cửa sông như nói ở trên Hải phòng có một số sông ngòi, kênh đào quan trọng như sau: Sông Lạch Tray bắt nguồn từ sông Rạng, chảy qua Kiến An và đổ ra cửa Lạch Tray; Sông Cấm có chiều rộng từ 500 - 600 m, cửa sông bị bồi lấp nhanh và được ngăn đập, do đó toàn bộ dòng chảy chuyển qua kênh đào Đình Vũ Hệ thống kênh đào An Kim Hải: là một hệ thống thuỷ nông phục vụ cho một số khu vực của Hải Dương và Hải Phòng Sông Vật Cách là một con sông nhỏ nhận nước từ hệ thống kênh An Kim Hải, còn nhánh chính là sông Rế Sông Đa Độ nhận nước của sông Rạng qua cống Trung Trang, chảy qua Kiến Thuỵ và đổ ra cửa Văn úc Kênh Hoà Bình nhận nước từ sông Đa Độ; Sông Đá Bạch Sông Giá là một nhánh của sông Đá Bạch, dài khoảng 18 km; Sông Tam Bạc là sông chảy trong nội thành Hải Phòng; Các sông này là nguồn tiếp nhận nước mưa, nước thải tuy nhiên khả năng pha loãng và lưu lượng dòng chảy là khá lớn Hiện nay, nguồn nước ngọt sử dụng chỉ được lấy duy nhất từ sông Đa Độ khai thác với mục đích cấp nước sinh hoạt cho toàn thành phố [3]
Trang 382.1.3 Thực trạng kinh tế xã hội
a Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu ngành nghề
Đến hết năm 2004, Hải Phòng đã kêu gọi được 1.3 tỷ USD đầu tư với 90
Dự án và 334 triệu USD vốn viện trợ từ các nguồn khác Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Hải Phòng đạt 8.56 % Số hộ đói nghèo đã giảm xuống 5.8% năm 2004 (năm 1995 là 18%) Tốc độ tăng trưởng GDP ngành công nghiệp của Hải Phòng giai đoạn 1999-2004 đạt 13.9% trong đó năm 2004 ước tính đạt 14.6% Các ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp có tốc độ tăng trưởng GDP 1999-2004 đạt 5.7% như hầu hết các ngành khác, đặc biệt năm 2004 nghề khai thác hải sản đạt 24000 tấn, gấp 2.2 lần so với 1990
Các ngành dịch vụ: giai doạn 1999-2004 tỷ trọng thương mại chiếm GDP khoảng 8.5 - 8.7% với mức tăng trưởng hàng năm bình quân là 30%, du lịch 2.5% GDP và kim ngạch xuất khẩu có độ tăng trưởng chừng 13.9%/năm
b Công nghiệp Hải Phòng
Sản xuất vật liệu xây dựng từ chất khoáng phi kim loại: Có khoảng 600
doanh nghiệp thuộc nhóm ngành này Trong đó có Công ty Xi măng Hải Phòng được hình thành cách đây gần 100 năm Với công suất 250 nghìn tấn/năm, công nghệ và dây chuyền máy móc thiết bị quá cũ, các thiết vị kiểm soát ô nhiễm hầu hết không còn hoạt động Công ty Xi măng Hải Phòng được coi là nguồn gây ô nhiễm không khí lớn nhất của thành phố hiện nay Chính phủ đã quyết định đóng cửa dây chuyền sản xuất tại khu vực nội thành của Công ty Xi măng Hải Phòng, và di chuyển sang vị trí mới gần nhà máy xi măng Chinh-Phong thuộc khu vực huyện Thuỷ Nguyên Tại khu vực cũ sẽ phát triển công nghiệp sạch và các hoạt động khác nhằm cung cấp lao động cho thành phố Tuy nhiên đến nay Công ty vẫn chưa di chuyển, đang còn hoạt động [5,10]
Công nghiệp cơ khí cán thép tương đối phổ biến ở Hải Phòng, với những
cơ sở có qui mô nhỏ nằm trong khu nội thành nơi tập chung mật độ dân cư cao, nguyên liệu là các loại sắt thép phế thải, qua công đoạn gia nhiệt, cán kéo để chế thành các sản phẩm dân dụng, công nghệ sản xuất ở các cơ sở này tương đối lạc hậu và sử dụng một lượng lớn nguyên liệu than đá cho sản xuất đang là yếu tố gây ô nhiễm môi trường [5]
Trang 39Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐHBK HN
Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm và thức ăn chăn nuôi: gồm
có tổng số 4174 doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là sản xuất bia, chế biến hải sản và chế biến thực phẩm xuất khẩu (thịt đông lạnh), sản xuất Argar, thuốc lá, Đặc điểm chính của ngành công nghiệp thực phẩm là tiềm năng gây ra ô nhiễm nước cao và ô nhiễm mùi cho vùng không khí lân cận Hải Phòng là một trong 4 trung tâm sản xuất giầy dép, dệt may lớn của cả nước Sản lượng giầy dép (năm 2000) của Hải Phòng vào khoảng trên 30 triệu đôi/năm, quần áo may sẵn 5.366 triệu cái/năm, Một trong các yếu tố chính gây ô nhiễm của nhóm ngành này là việc thải ra một lượng rất lớn các chất thải rắn khó phân huỷ (ba via cao su, giả da, vải ) và việc sử dụng rất nhiều keo để dán giầy, phát sinh ra lượng chất hữu cơ bay hơi (VOC) [5]
Các cơ sở công nghiệp lớn khác: ngoài các cơ sở công nghiệp gây ô
nhiễm tương đối phổ biến như trên, Hải Phòng còn có một số cơ sở công nghiệp lớn gây ô nhiễm như nhà máy Thuỷ tinh Hải Phòng (sản xuất các bao bì thuỷ tinh), nhà máy hoá chất Sông Cấm (sản xuất bột giặt, thuỷ tinh lỏng và bột nhẹ), Công ty Sơn Hải Phòng (sản xuất sơn dầu và sơn alkyd), Công ty ắc quy Tia Sáng [10]
c Giao thông và xây dựng của Hải Phòng
Sự phát triển của thành phố kéo theo việc dân cư tập trung ở mật độ cao,
số lượng người tham gia giao thông hàng ngày cũng vì thế mà tăng lên và gây
ra hiện tượng quá tải về giao thông Hiện nay thành phố Hải Phòng có khoảng
200 km đường và phố, gần 100 km đường quốc lộ với khoảng 380 điểm giao cắt Chủ yếu là các giao cắt đồng mức, một số ít các giao cắt được thực hiện bằng các biện pháp tổng hợp: phân luồng, nhánh rẽ không đồng mức, cầu vượt
Số lượng người tham gia giao thông quá đông vào mỗi ngày cũng như thời gian
ca, kíp làm việc tuỳ theo từng khu vực, Hải phòng tương tự như các thành phố Cảng biển trên thế giới khác: đang ở trong tình trạng giao thông phức tạp, lộn xộn, tiềm ẩn nhiều nguy hiểm Tỷ lệ đất giành cho giao thông hiện nay vào khoảng 3.5% quá thấp so với thế giới: 20 - 25% [6]
Riêng giao thông đường bộ hiện nay, Hải Phòng có khoảng 24000 xe ô
tô các loại trong đó 2000 xe tải hạng nặng; 15000 xe con; còn lại là xe khách và các loại khác, số lượng xe máy là 382600 xe Các tuyến xe buýt hầu như
Trang 40không đáng kể (5 tuyến cho toàn thành phố) [6] vì vậy chưa đáp ứng được và chưa tạo thành thói quen sử dụng phương tiện giao thông công cộng đối với nhân dân thành phố Việc chỉnh trang đô thị cũng như tiến hành xây dựng các
dự án đã làm một lượng bụi lớn phát sinh (chủ yếu từ các công trình xây dựng) Lượng bụi này tập trung trên bề mặt đường và hai bên đường và sẽ bị khuếch tán lên bởi gió hoặc các phương tiện giao thông gây nên ô nhiễm về bụi Kèm theo đó là việc gây ô nhiễm về các chất khí độc của các phương tiện tham gia giao thông
Hải phòng còn phải kể đến giao thông đường thuỷ, đường sắt, và đường hàng không Với cảng biển lớn, lượng hàng hóa vận tải hàng năm đạt hàng triệu tấn Mặt khác, vận tải đường sắt với ưu điểm giá thành hạ đã thu hút được một lượng lớn khối lượng hàng hóa vận chuyển, lưu thông Tuy nhiên vì có đường riêng cũng như các đặc điểm của ngành đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không cho nên dù khối lượng hành khách, hàng hóa vận chuyển rất cao song mức độ gây ô nhiễm và các sự cố môi trường về không khí là không đáng kể
Thành phố Hải Phòng đã có nhiều cố gắng trong việc tổ chức nghiên cứu
và đưa ra các chính sách nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu từ trước đến nay có thể do nhiều mục tiêu hoặc giới hạn khác nhau nên bên cạnh những thành công quan trọng cũng còn nhiều vấn đề cần thiết chưa được làm rõ hoặc chưa được đề cập tới
2.1.4 Quy hoạch và định hướng phát triển đến năm 2010
a Mục tiêu phát triển:
Tốc độ phát triển bằng 1.5 lần so với cả nước với tỷ trọng GDP lên 3.5% vào 2005 và 4% vào năm 2010 Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10 - 11% giai đoạn 2000-2005 và 11 - 11.5 % giai đoạn 2005-2010
3.3-Cơ cấu kinh tế theo hướng xuất khẩu: kim ngạch xuất khẩu đạt 670 triệu USD năm 2005 (280 triệu/2000) và 1300 - 1600 triệu USD năm 2010 Tỷ lệ thu ngân sách tăng từ 27.5% hiện nay lên 30 % năm 2005 và 32% năm 2010 Cơ cấu kinh tế có những dịch chuyển cơ bản: tỷ trọng GDP nông-lâm nghiệp trong tổng GDP từ 17.8% xuống còn 14% vào năm 2005 và 8-10% vào năm 2010;
Tỷ trọng GDP công nghiệp tăng từ 33.6% năm 2000 lên 37% năm 2005 và 39 -