Permi thượng Hệ tầng Cam Lộ P 2cl Thành phần từ dưới lên gồm: đá phiến sét than phân lớp mỏng, màu xám đen, đá phiến sét xen cát kết, bột kết xám sẫm, đá phiến sét vôi, xen thấu kính đ
Trang 1Bộ tài nguyên và môi trường
Viện nghiên cứu địa chất và khoáng sản
Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng nhiễm mặn, nhiễm bẩn
và khả năng cung cấp nước sinh hoạt ở dải ven biển miền trung
từ tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Quảng Ng∙i
5964
03/8/2006
Hà Nội – 2005
Trang 2mục lục
Mở đầu
1- Mục tiêu
2- Nhiệm vụ
Chương I khái quát vùng nghiên cứu
1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
1.2 Đặc điểm địa hình
1.3 Đặc điểm khí hậu
1.4 Đặc điểm thuỷ văn, hải văn
2 Các hoạt động kinh tế - xã hội
3.3 Cấu trúc, kiến tạo
3.4 Tài nguyên khoáng sản
4 Đặc điểm địa hoá môi trường đất
4.1 Đặc điểm các loại đất
4.2 Đặc điểm địa hoá môi trường đất vùng nghiên cứu
5 Đặc điểm Địa chất thuỷ văn
A Đặc điểm địa chất thuỷ văn vùng ven biển Bình - Trị - Thiên
A.1 Các tầng chứa nước
1.1 Các tầng chứa nước lỗ hổng
1.2 Các tầng chứa nước khe nứt
A.2 Các thành tạo rất nghèo hoặc không chứa nước
2.1 Các thành tạo rất nghèo nước
2.2 Các thành tạo không chứa nước
B Đặc điểm địa chất thuỷ văn vùng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng
1 Tầng chứa nước lỗ hổng Holocen (qh)
Trang 32 Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen (qp)
3 Tầng chứa nước lỗ hổng Đệ tứ không phân chia (q)
4 Tầng chứa nước khe nứt trầm tích Neogen (n)
5 Các tầng chứa nước khe nứt trong các thành tạo Paleozoi
C Đặc điểm địa chất thuỷ văn vùng ven biển Quảng Ng∙i
1 Các tầng chứa nước lỗ hổng Holocen (qh)
2 Các tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen (qp)
3 Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Đệ tứ không phân chia (q)
4 Tầng chứa nước khe nứt trong thành tạo bazan Neogen (b/n)
Chương II phương pháp và khối lượng nghiên cứu
1 Phương pháp nghiên cứu
1.1 Phương pháp thu thập tổng hợp tài liệu
1.2 Phương pháp khảo sát thực địa, lấymẫu
1.3 Phương pháp địa vật lý
1.4 Phương pháp gia công, phân tích mẫu
1.5 Phương pháp chuyên gia - hợp tác nghiên cứu điều tra, phỏng vấn 1.6 Phương pháp địa hoá xử lý số liệu
2 Khối lượng nghiên cứu đã thực hiện
Chương III Hiện trạng nhiễm mặn, nhiễm bẩn các nguồn nước
3.2 Nhiễm mặn, nhiễm bẩn nước dưới đất
Chương IV Khả năng cung cấp, phương hướng khai thác
sử dụng và giải pháp bảo vệ các nguồn nước
1 Hiện trạng khai thác và nhu cầu nước cho ăn uống, sinh hoạt
1.1 Vùng ven biển Bình Trị Thiên
1.2 Vùng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng
1.3 Vùng ven biển Quảng Ngãi
2 Tiềm năng của các nguồn nước
2.1 Tiềm năng nước mặt
2.2 Tiềm năng nước dưới đất
Trang 43 Phương hướng khai thác sử dụng các nguồn nước
3.1 Bản đồ phân vùng định hướng sử dụng hợp lý các nguồn nước
3.2 Khai thác sử dụng hợp lý các nguồn nước
4 Các giải pháp phòng tránh nhiễm mặn, nhiễm bẩn các nguồn nước
4.1 Những yếu tố tác động tới quá trình nhiễm mặn, nhiễm bẩn các nguồn nước
4.2 Các giải pháp phòng tránh nhiễm mặn, nhiễm bẩn các nguồn nước Chương V Báo cáo kinh tế, kế hoạch
danh mục Tài liệu tham khảo
I Tài liệu xuất bản
II Tài liệu lưu trữ
danh mục bản vẽ kèm theo báo cáo
danh mục phụ lục kèm theo báo cáo
danh mục tài liệu nguyên thuỷ giao nộp khp lưu trữ viện nghiên cứu địa chất và khoáng sản
Trang 5Mở đầu
Ngày 20 tháng 12 năm 2002, Bộ Công nghiệp đã ký quyết định số
3388/QĐ-CNCL giao cho Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản xây dựng đề án "Nghiên
cứu, đánh giá hiện trạng nhiễm mặn, nhiễm bẩn và khả năng cung cấp nước sinh hoạt ở dải ven biển miền Trung từ tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Quảng Ngãi"
Ngày 30 tháng 05 năm 2003, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ký quyết định
số 692/QĐ-BTNMT phê duyệt đề án "Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng nhiễm mặn,
nhiễm bẩn và khả năng cung cấp nước sinh hoạt ở dải ven biển miền Trung từ tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Quảng Ngãi" của Viện nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản
Trên cơ sở pháp lý của các quyết định giao nhiệm vụ trên đây, đề án đã được tập thể tác giả thực hiện trong giai đoạn từ tháng 6/2003 đến tháng 11/2005
Diện tích nghiên cứu là địa bàn kinh tế trọng điểm của các tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi; nơi tập trung các đô thị, cụm dân cư, các khu công nghiệp, trung tâm du lịch, dịch vụ với những hoạt động kinh tế - xã hội hết sức sôi động
Công cuộc phát triển kinh tế - xã hội với quy mô lớn, tốc độ nhanh ngày càng
đòi hỏi nhu cầu cấp nước với cung lượng lớn và chất lượng cao Đây là một khó khăn không nhỏ đối với dải ven biển miền trung, do nguồn nước: cả nước mặt và nước dưới đất (NDĐ) nói chung còn hạn chế, lại bị nhiễm mặn trên diện rộng và
đang có nhiều biểu hiện nhiễm bẩn Mức độ xâm nhập mặn và nhiễm bẩn ngày càng trầm trọng và diễn biến phức tạp, các nguồn nước có nguy cơ bị suy thoái và cạn kiệt
Cho tới nay, trên diện tích nghiên cứu đã tiến hành khá nhiều công trình nghiên cứu địa chất thuỷ văn, tìm kiếm NDĐ ở nhiều thời điểm khác nhau, nhưng các kết quả nghiên cứu còn có những hạn chế, không đồng bộ và chưa được khai thác sử dụng có hiệu quả Vả lại, nước là một đối tượng rất linh hoạt, luôn vận động, biến đổi và rất nhạy cảm với môi trường, chịu tác động rất lớn của điều kiện môi trường Vì vậy, nghiên cứu chất lượng môi trường nước, nghiên cứu sự vận động và những biến động về thành phần của nó cần có sự quan trắc có hệ thống, thường xuyên, toàn diện và đồng bộ
Để đáp ứng nhu cầu cấp nước cho các hoạt động sản xuất và đời sống, khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên nước, cần có sự đầu tư phân tích tổng hợp điều kiện địa chất thuỷ văn, đánh giá chất lượng các nguồn nước; hiện trạng nhiễm mặn, nhiễm bẩn để có những biện pháp xử lý, khai thác hợp lý nhằm bảo vệ bền vững tài nguyên và môi trường
Do tính cấp thiết nêu trên, nên ngày 20 tháng 12 năm 2002, Bộ Công nghiệp
đã ra Quyết định số 3388/QĐ-CNCL giao cho Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng
sản nhiệm vụ lập đề án "Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng nhiễm mặn, nhiễm bẩn và
khả năng cung cấp nước sinh hoạt ở dải ven biển miền trung từ tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Quảng Ngãi" với những mục tiêu và nhiệm vụ sau:
Trang 6- Định hướng sử dụng hợp lý nguồn nước dưới đất
- Đề xuất các biện pháp ngăn ngừa, phòng tránh nhiễm mặn, nhiễm bẩn nguồn nước
2- Nhiệm vụ
Để đạt được những mục tiêu nêu trên, những nhiệm vụ chính của đề án là:
- Thu thập tổng hợp, khai thác sử dụng các nguồn tài liệu hiện có
- Khảo sát thực địa lấy mẫu, đo quan trắc bổ sung, phân tích kiểm tra, xác
định hiện trạng, mức độ nhiễm mặn, nhiễm bẩn, đánh giá chất lượng các nguồn nước
- áp dụng các phương pháp nghiên cứu Địa hoá, đo Địa vật lý xác lập biên xâm nhập mặn, đánh giá hiện trạng nhiễm mặn, nhiễm bẩn các nguồn nước làm cơ
sở cho việc xác định khả năng cung cấp nước sinh hoạt trên diện tích nghiên cứu
Báo cáo được xây dựng do TS Phạm Văn Thanh làm chủ biên với sự tham gia của ThS Bùi Hữu Việt, KS Trịnh Văn Nhân, KS Nguyễn Xuân Đức, KS Phạm Thị Nhung Lý, KS Nguyễn Văn Niệm, KT Trần Thị Minh Hoa và KT Vũ Duy Côi Trong quá trình thực thi đề án, tập thể tác giả đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học nhằm hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng của báo cáo: TS Nguyễn Xuân Khiển, TS Nguyễn Linh Ngọc, TS Trần Tân Văn, TS Mai Trọng Tú, TS Đỗ Trọng Sự, TS Nguyễn Văn Đản, chuyên viên cao cấp Nguyễn
Đông Lâm, TS Hồ Vương Bính, TS Đinh Thành, TS Nguyễn Đức Thắng, ThS Phạm Trung Lượng, ThS Nguyễn Xuân Trường
Để hoàn thành báo cáo này, tập thể tác giả luôn nhận được sự động viên kịp thời và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Vụ Khoa học và Công nghệ, Vụ Kế hoạch - Tài Chính thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, của Ban Giám đốc, các phòng quản
lý của Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản đã dành cho đề án Tập thể tác giả xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các nhà quản lý và lãnh đạo các cấp về sự giúp đỡ quý báu đó
Trong quá trình triển khai, đề án được sự hợp tác giúp đỡ nhiệt tình của Đoàn
ĐCTV- ĐCCT 708, Đoàn địa chất 501, 502, 206 trong công tác khảo sát thực địa, thu thập tài liệu cũng như sinh hoạt và làm việc tại thực địa
Đề án cũng nhận được sự hợp tác nhiệt tình và sự giúp đỡ quý báu của UBND các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam
và Quảng Ngãi cùng các sở, ban, ngành có liên quan trong quá trình khảo sát và thu thập tài liệu
Nhân dịp này, tập thể tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các cơ quan và cá nhân các nhà khoa học nói trên
Trang 7Chương I khái quát vùng nghiên cứu
1 đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Diện tích nghiên cứu kéo dài theo dải ven biển từ phía nam Đèo Ngang (tỉnh
Quảng Bình) đến hết địa phận tỉnh Quảng Ngãi với toạ độ địa lý 18o00' đến 14o40' vĩ
độ Bắc Phía Tây là phần đồng bằng tiếp giáp với địa hình đồi núi phía tây của các
tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, thành phố Đà nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi; phía đông là bờ Biển Đông Diện tích nghiên cứu khoảng 20.000km2(hình I.1)
1.2 Đặc điểm địa hình
Diện tích nghiên cứu là dải đồng bằng duyên hải Trung bộ, kéo dài khoảng
500 km dọc theo bờ biển với chiều ngang hẹp (20 - 40 km), thỉnh thoảng bị những dãy núi đâm ngang chia cắt tạo thành những đồng bằng riêng biệt: đồng bằng Bình Trị Thiên, đồng bằng Quảng Nam - Đà Nẵng và đồng bằng Quảng Ngãi
Đặc điểm chung của địa hình là có dạng đồng bằng tích tụ - xâm thực ven biển xen đồi sót, độ cao thay đổi từ 0 - 5 m; 20 - 30 m đến 50 - 100 m Địa hình thoải, dốc dần về phía đông (phía biển)
Dải đồng bằng tiếp xúc gần như trực tiếp với dãy Trường Sơn ở phía tây, thuộc địa hình núi trung bình với sườn tiếp xúc dốc và hầu như không có đới chuyển tiếp Chính dạng địa hình này đã mang lại cho vùng Duyên hải miền Trung có những nét đặc trưng riêng về hình thái, khí hậu và các quá trình ngoại sinh, đặc biệt
là các hoạt động lũ lụt và tích tụ
Về phía đông, dọc ven biển rất phát triển địa hình các cồn cát, đụn cát dạng gợn sóng ven theo bờ với độ cao rất khác nhau và có xu thế tăng dần về phía nam
1.3 Đặc điểm khí hậu
Nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa 2 miền Nam - Bắc Khí hậu có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô
Theo tiêu chuẩn phân vùng khí hậu, dựa vào các chỉ tiêu về nhiệt độ, lượng mưa và trị số thuỷ nhiệt, vùng nghiên cứu thuộc vào 2 tiểu vùng khí hậu: bắc Hải Vân (Bình Trị Thiên) và nam Hải Vân (Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi) với
đặc trưng là mùa đông nhiệt độ tiểu vùng bắc Hải Vân thường thấp hơn phía nam 1-
20C và mùa mưa, mùa khô thường đến sớm hơn ở phía nam:
+ Mùa mưa tháng 8 - 11 (bắc Hải Vân) và tháng 9 - 12 (nam Hải Vân)
+ Mùa khô tháng 12 - 7 (bắc Hải Vân) và tháng 1 - 8 (nam Hải Vân)
Các đặc trưng về khí hậu được thể hiện ở bảng I.1
Trang 8Hình I.1 Sơ đồ vị trí địa lý vùng nghiên cứu
Trang 9Bảng I.1 một số thông số khí hậu dải đồng bằng ven biển
từ quảng bình đến Quảng Ng∙i
Chỉ tiêu khí hậu Bình Trị
Thiên
Đà Nẵng - Tam Kỳ
Quảng Ngãi - Bồng Sơn
1.4 Đặc điểm thuỷ văn, hải văn
- Thuỷ văn: vùng nghiên cứu có mạng lưới thuỷ văn khá dày và phân bố
tương đối đều khắp Các hệ thống sông chính gồm có: Sông Gianh, Nhật Lệ, Bến Hải, Thạch Hãn, Sông Hương, Cu Đê, Sông Hàn, Thu Bồn, Trà Bồng, Trà Khúc - Sông Vệ, cùng hàng loạt hệ thống sông suối nhỏ khác đã tạo cho khu vực một mạng lưới thuỷ văn dày và là nguồn cung cấp nước quan trọng
Các hệ thống sông chính đều bắt nguồn từ phía tây và đổ về Biển Đông Do
đặc tính địa hình, phần lớn sông có trắc diện dọc khá dốc ở phần phía tây, nhưng lại trở nên bằng thoải khi chảy qua khu vực đồng bằng ở phía đông Sự thay đổi đột ngột về trắc diện dọc, đồng bằng ven biển thấp và thoải, sự có mặt của các cồn cát dọc bờ biển, cộng thêm sự phát triển của hệ thống đứt gãy, các đới dập vỡ và chế độ mưa gió, thuỷ triều khiến phần hạ lưu của các con sông ở đây phần lớn đều quanh co uốn khúc
Hàng năm, lượng nước chảy của các lưu vực sông chính thường không thay
đổi nhiều, nhưng có sự khác biệt lớn giữa lưu lượng tháng kiệt nhất và tháng lớn nhất (tới hàng chục lần), đặc tính này cùng với đặc điểm sông ngắn, dốc nên khả năng điều tiết nước kém, thường gây lũ lụt ở hạ lưu và lũ quét ở thượng lưu
Phần hạ lưu của các hệ thống sông đều chịu ảnh hưởng của thuỷ triều và bị nước mặn xâm nhập vào khá sâu; thường là từ 3km đến 4km, có nơi 15km - 20km, thậm chí tới 30km như ở Sông Hương; hiện tượng này đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng các nguồn nước và tới khả năng cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt
Trang 10Dọc ven biển từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi có khá nhiều đầm hồ nước ngọt, trong đó đáng kể nhất là hồ Bàu Tró, Phú Vinh, Bàu Sen (Quảng Bình), Trúc Kinh (Quảng Trị), Phú Ninh (Quảng Nam) và một số hồ, đập nhân tạo khác bổ sung cho hệ thống nguồn nước mặt, tàng trữ và điều tiết nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của khu vực
- Hải văn: chế độ hải văn có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đến môi
trường nước mặt (nước sông, hồ, đầm, phá, ) và nước dưới đất Trong đó, thể hiện
rõ nhất là sự xâm nhập mặn vào các nguồn nước Ranh giới mặn nhạt tài nguyên nước di chuyển chủ yếu phụ thuộc vào chế độ thuỷ triều Mức độ mặn nhạt của tài nguyên nước phụ thuộc vào độ muối của nước biển xâm nhập
Chế độ thuỷ triều chủ yếu là chế độ nhật triều, với biên độ giảm dần từ bắc xuống phía nam Mực nước cao nhất vào tháng 10 - 12 hàng năm là 250mm - 260mm, thấp nhất vào tháng 6 - 7 là 50mm - 60mm, trung bình 150mm - 160mm
Về mùa hạ, thủy triều lên cao nhất vào buổi chiều, còn về mùa đông là vào các buổi sáng Nhìn chung về mùa mưa, mực nước thuỷ triều dâng cao, ảnh hưởng đến chế độ thoát nước của dòng nước mặt ra biển, gây ngập úng các đồng bằng trong vùng
Các dao động thuỷ triều của khu vực là yếu tố quan trọng tác động lên đặc
điểm động thái của nước mặt và nước dưới đất
2 các hoạt động kinh tế - x∙ hội
2.1 Các hoạt động công nghiệp
Các hoạt động sản xuất công nghiệp và các khu chế xuất ở dải ven biển Việt Nam rất đa dạng và phong phú với nhiều nhóm ngành nghề khác nhau Tuỳ theo từng ngành hoặc nhóm ngành công nghiệp hoạt động mà các chất thải ra cũng khác nhau, gây ra nhiễm bẩn tài nguyên nước (cả nước mặt và nước dưới đất) ở mức độ rất khác nhau Cùng với xu thế phát triển của các ngành và xuất hiện nhiều khu công nghiệp và khu chế xuất, khả năng nhiễm bẩn và mức độ nhiễm bẩn có nguy cơ tăng cao, các nguyên tố gây nhiễm bẩn cũng đa dạng Trong đó đáng chú ý là nhiễm bẩn coliform, COD, BOD5 và nitơ
Đến cuối năm 2003, tỉnh Quảng Bình có 16.365 cơ sở sản xuất công nghiệp Các cơ sở công nghiệp chủ yếu tập trung vùng nông thôn (huyện Quảng Trạch và Bố Trạch) thu hút khá đông lao động tham gia Tuy nhiên, các cơ sở này nằm rải rác trong khu dân cư, thiết bị công nghệ sản xuất còn lạc hậu Đặc biệt công tác môi trường chưa được cộng đồng quan tâm, đây là nguồn gây ô nhiễm tiềm tàng và lâu dài
Thành phố Huế có số lượng các cơ sở công nghiệp còn ít Tuy nhiên, một đặc thù riêng ở đây là hầu hết các nhà máy, xí nghiệp lớn đều được bố trí dọc Sông Hương và nước thải tập trung đổ về Sông Hương Phần lớn các nhà máy đều chưa có
hệ thống xử lý, vì vậy chất lượng nước thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép rất cao, nhất là hàm lượng BOD5, chất rắn lơ lửng và hàm lượng vi sinh vật
Nước tại các sông ở khu vực thành phố Đà Nẵng tiếp tục bị ô nhiễm, nếu như năm 1995, 1996 nước tại các sông mới chỉ bị ô nhiễm bởi Coliform, COD, Cyanua
về mùa mưa, thì năm 1997 ngoài các chỉ tiêu trên, còn có thêm BOD5 vượt tiêu chuẩn Việt Nam từ 2,25 lần đến 5,6 lần, COD vượt từ 1,1 lần đến 11,8 lần, DO nhỏ hơn 1 lần đến 6 lần, SS vượt từ 1,4 lần đến 3,25 lần
Trang 11Hàm lượng BOD5, COD tăng và DO giảm tại các sông là do nước thải sinh hoạt, công nghiệp thải thẳng xuống sông Hàm lượng COD tại các điểm thượng nguồn thấp hơn hạ lưu từ 1,2 lần đến 3,7 lần Trong khi đó, hàm lượng BOD5 biến
đổi ngược lại ở thượng nguồn cao hơn các điểm hạ lưu Có thể dễ nhận thấy, chất lượng nước sông ở đầu nguồn chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất nông nghiệp (sử dụng phân hữu cơ, phân gia súc, gia cầm ) và ở hạ lưu khi sông đi qua các thành phố chịu tác động trực tiếp của các hoạt động công nghiệp, đô thị với chỉ
số COD cao
Trong qúa trình khai thác và chế biến khoáng sản, sử dụng một lượng nước khá lớn để tuyển rửa, lượng nước thải này cuốn theo một lượng khá lớn chất rắn lơ lửng và các kim loại độc hại có trong quặng như kẽm, sắt, bạc, thuỷ ngân gây ảnh hưởng đến cây trồng, các loài thuỷ sinh trong vùng và sức khoẻ của người dân Công nghệ trong quá trình chế biến vàng kim loại có sử dụng nhiều loại hoá chất độc hại, nếu không có biện phát xử lý sẽ đưa các chất độc này vào môi trường theo nước và khí thải, gây ô nhiễm đất và nước
Trong quá trình phát triển, hoạt động sản xuất công nghiệp đã có những ảnh hưởng nhất định đến môi trường Hiện trạng môi trường công nghiệp được đánh giá như sau:
- Tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp vẫn tiếp tục xảy ra Nước thải không được xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu đã ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, sức khoẻ người dân và nuôi trồng thuỷ sản
- Ô nhiễm bụi và khí thải do hoạt động công nghiệp vẫn còn kéo dài, chưa có dấu hiệu giảm Do phần lớn chưa đầu tư hệ thống xử lý, hoặc đã trang bị nhưng chưa
đạt yêu cầu, công nghệ sản xuất phần lớn còn lạc hậu, nên khả năng gây ô nhiễm cao, ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ con người
- Trong hoạt động khai thác khoáng sản, việc thực hiện các phương án bảo vệ môi trường còn mang tính hình thức, gây những tác động bất lợi đến môi trường và con người Ngoài ra, vấn đề phục hồi môi trường sau khai thác vẫn chưa được quan tâm
2.2 Sản xuất nông - lâm nghiệp
Hàng năm, sản xuất nông - lâm nghiệp đã sử dụng hàng chục ngàn tấn phân bón vô cơ Ngoài ra, một số loại phân bón qua lá, chất kích thích cũng được sử dụng So với những năm trước, lượng phân bón vô cơ tăng, trong khi nguồn phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh) đưa vào sử dụng còn ít, bón không đủ định lượng
do nguồn phân tại chỗ thiếu trầm trọng Việc sử dụng phân bón vô cơ (nhất là đạm urê) trong thời gian thu hoạch hoặc trước thu hoạch 1 - 2 ngày, đã gây lên hiện tượng tồn dư lượng nitrat vượt mức cho phép trong nhiều loại rau xanh
Ngoài ra, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy định cũng làm
ô nhiễm môi trường, nhất là các thuỷ vực, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt, làm xáo trộn sự sinh trưởng, phát triển của nhiều loại động vật và các loại thuỷ sinh, kể cả những loài làm thực phẩm cho con người
2.3 Hoạt động du lịch - dịch vụ
Những năm gần đây đánh dấu bước phát triển đáng kể về du lịch của Việt Nam với sự tăng cao lượng khách du lịch nội địa và khách quốc tế Số lượng dự án
Trang 12phát triển du lịch và khách sạn do đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng ngày càng tăng và chủ yếu tập trung vào các trung tâm du lịch: Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu Nước ta có khoảng 125 bãi biển có giá trị du lịch cao đang được sử dụng ở các mức độ khác nhau, làm cho du lịch biển thu hút 80% lượng khách và 70% tổng số điểm du lịch Lượng nước sạch cần cung cấp, lượng nước thải ra và lượng rác thải ngày càng lớn là sức ép rất đáng kể đến môi trường ở khu vực ven biển, hoạt động du lịch đã gây ra các hậu quả môi trường như:
- Hạ thấp mực nước ngầm ven biển, nhiễm mặn các lỗ khoan đang khai thác, nhiễm bẩn các giếng nước ngọt ven biển
- Gây nhiễm bẩn nước biển ven bờ, chủ yếu là ô nhiễm hữu cơ, túi nilông, vỏ hộp, v.v Ngoài ra, ý thức con người tham gia du lịch cũng cần được nhắc nhở Vấn
đề quản lý, khai thác hợp lý tiềm năng du lịch bảo vệ bền vững môi trường cần được ngành du lịch cũng như các cấp chính quyền địa phương quan tâm
2.4 Các hoạt động nhân sinh khác
+ Rác thải sinh hoạt và bệnh viện
Chất thải rắn và nước thải bệnh viện ảnh hưởng rất xấu đối với môi trường Mặc dù là nguồn gây bệnh nhưng nước thải tại các bệnh viện hầu như chưa được qua
xử lý Trong nước thải y tế có chứa ete, clor và một số loại muối vô cơ và các vi trùng
Nguồn gây ô nhiễm cho nước mặt thành phố Huế, trước tiên phải kể đến đó là việc xả trực tiếp các chất bẩn của 5 chợ lớn trong thành phố: chợ Kim Long và chợ
Đông Ba (xả ra Sông Hương), chợ Bến Ngự và chợ An Cựu (xả vào sông An Cựu), chợ Cống (xả vào sông Bạch Đằng) Sau đó là các cống xả của 2 bệnh viện lớn: bệnh viện thành phố thuộc phường Kim Long và bệnh viện Trung ương Huế thuộc phường Vĩnh Ninh Qua điều tra chúng tôi thấy chất thải lỏng của hai bệnh viện này cũng đổ vào Sông Hương Hoà nhập với các nguồn thải trên còn phải kể đến các chất thải của các khách sạn và hệ thống cống ngầm của thành phố
+ Tác động môi trường do hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản
Đến nay tình hình khai thác hải sản bằng chất nổ, xung điện đã giảm đáng
kể Nhìn chung, hoạt động khai thác thuỷ sản năm 2003 chưa có tác động lớn đến môi trường nhờ chuyển đổi cơ cấu khai thác Tình trạng môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản có nhiều chuyển biến tích cực so với các năm trước Việc sử dụng chế phẩm sinh học như: BRF2, mazzal, chế phẩm EM thay thế các loại thuốc hoặc hoá chất đã góp phần cải thiện môi trường Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số tồn tại sau:
- Một số cơ sở sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc và đặc tính Việc sử dụng chỉ dựa vào kinh nghiệm và hướng dẫn của người bán
- Chưa có trạm quan trắc nước, chưa có cơ sở đánh giá diễn biến chất lượng môi trường tại các vùng nuôi trồng thuỷ sản
- Ngoài các dự án nuôi tôm công nghiệp và dự án đã có quy hoạch chi tiết, phần lớn các vùng nuôi đều tự phát, do dân tự đầu tư, chủ yếu là nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến, không có hệ thống thoát nước, xử lý nước thải và không có khả năng ngăn chặn dịch bệnh Mặc dù, một số địa phương đã có quy hoạch lại nhưng còn ở mức độ chung cho toàn vùng, chưa chỉnh trang kênh mương và hệ thống thoát nước
Trang 133 Đặc điểm địa chất - khoáng sản
bị migmatit hóa mạnh, đá phiến plagioclas - diopsid - thạch anh - graphit, lớp mỏng
đá hoa calciphyr Bề dày của hệ tầng khoảng 1.000m
Trang 14Phân hệ tầng trên (MP-NPkđ3): thành phần gồm đá phiến amphibol, amphibolit xen đá phiến thạch anh - biotit, gneis biotit Dày 2.000m
Neoproterzoi - Cambri hạ
Hệ tầng Núi Vú (NP-ε1nv)
Phân hệ tầng dưới (NP-ε1nv 1): có thành phần chủ yếu là đá phiến plagioclas
- amphibol, đá phiến actinolit - clorit - epidot Bề dày 735m - 780m
Phân hệ tầng trên (NP-ε1nv 2): gồm đá phiến thạch anh - mica, đá phiến thạch anh - sericit, đá phiến silic, cấu trúc flysh Chiều dày tổng cộng của phân hệ tầng: 500m - 800m Tổng chiều dày của hệ tầng Núi Vú: 1.200m - 1.600m
đen, đá núi lửa trung tính, felsit bị biến chất Chiều dày khoảng 700m
Cambri trung - Ordovic hạ
Hệ tầng A Vương (ε2 -O 1av)
Trong phạm vùng Hội An, hệ tầng có diện phân bố không đáng kể ở nam Bà
Nà, bắc đông bắc thị trấn Đại Lộc, bắc thị trấn Hiệp Đức và bắc Phú Toản
Chiều dày chung của hệ tầng khoảng 2.100m - 2.400m
Phân hệ tầng dưới (ε2-O1av 1): gồm các tập đá phiến thạch anh - sericit - clorit ở Đại Lộc
Phân hệ tầng giữa (ε2-O1av 2): gồm đá phiến thạch anh - sericit màu xám, cát kết dạng quarzit, quarzit sericit phân lớp mỏng
Phân hệ tầng trên (ε2-O1av 3): đặc trưng bởi đá phiến sericit - thạch anh, đá phiến thạch anh hai mica, đá phiến thạch anh - biotit xen lớp mỏng quarzit, đá phiến silic, đá phiến carbonat - sericit thấu kính đá hoa màu xám đen, trắng xám dạng sọc dải, phân lớp dày
Ordovic thượng - Silur hạ
Hệ tầng Long Đại (O 3 -S 1lđ)
Phân hệ tầng dưới (O3-S1lđ 1): gồm đá phiến sét màu xám đen phân lớp mỏng, xen bột kết, cát kết, cát kết dạng quarzit, xen kẽ với bột kết, đá phiến sét, thấu kính sét vôi
Phân hệ tầng giữa (O3-S1lđ 2) bao gồm: đá phun trào felic - trung tính bị ép phiến mạnh màu xám lục xen những lớp cát kết, các thấu kính hoặc lớp mỏng cuội sạn kết tuf Đá phiến sét, bột kết xen đá phiên silic màu xám sẫm
Trang 15Phân hệ tầng trên (O3-S1lđ 3) bao gồm: cát kết, cát kết dạng quarzit xen lớp mỏng bột kết, đá phiến sét Đá phiến sét phân lớp mỏng dạng sọc dải, bột kết, xen lớp mỏng cát kết
Hệ tầng Sông Cả (O 3 -S 1sc)
Trong phạm vi nghiên cứu chỉ lộ ra các phân hệ tầng giữa và trên
Phân hệ tầng giữa (O3-S1sc 2 ) Tại Xuân Sơn - Cổ Cang: đá phiến thạch anh -
sericit xám đen, xen cát kết màu xám Ryolit dạng porphyr màu xám sáng, đá phiến thạch anh - sericit - clorit màu xam xanh lục Tổng bề dày 340m - 550m
Phần hệ tầng trên (O3-S1sc 3 ) từ Thuỷ Vực đến Rào Mốc bao gồm: cát bột kết
giàu carbonat màu xám sáng, đá phiến thạch anh - sericit màu xam đen xen lớp mỏng cát kết màu xám sáng, phân lớp mỏng Tổng chiều dày khoảng 400m
Hệ tầng Tân Lâm (D 1tl)
Phổ biến trong các vùng Tân Lâm, Cô Bai, Làng Mô, tạo thành dải kéo dài từ Vĩnh Linh đến Vạn Xuân Hệ tầng gồm: cuội kết, cát kết, cát bột kết màu nâu đỏ, xám, có lớp mỏng thấu kính đá vôi, sét vôi Đá phiến sét màu nâu đỏ, xám vàng xen
ít lớp cát kết, bột kết Bề dày chungcủa hệ tầng 600m - 900m
Devon trung, Eifel
Hệ tầng Bản Giàng (D 2ebg)
Hệ tầng phân bố thành ba dải: La Trọng, Thanh Lạng - Quy Đạt, Đại Đủ -
đèo Lý Hoà gồm: cát kết thạch anh màu xám có ổ silic, xen bột kết màu đen, cát kết thạch anh màu xám vàng, cát kết dạng quarzit Chiều dày đạt 1.090m
Devon trung, Givet
Hệ tầng Mục Bài (D 2gmb)
Hệ tầng lộ ra ở Thanh Lạng - Cầu Rồng, Y Lanh - Quy Đạt - ga Ngân Sơn và xóm Ve gồm: sét vôi chứa ổ vôi silic màu đen, phong hoá có màu nâu vàng nhạt, sét vôi, đá vôi màu đen, xám xanh, cát kết thạch anh màu xám vàng, sét vôi màu xám
đen, phong hoá xám vàng Bề dày chung của hệ tầng đạt tới 390m
Devon trung - thượng
Hệ tầng Cô Bai (D 2-3cb)
Hệ tầng ở vùng Cô Bai gồm: đá vôi phân lớp màu đen, xám tro, xen lớp mỏng
đá vôi silic và thấu kính nhỏ silic vôi Phần dưới có xen ít đá phiến sét màu nâu sẫm, tím nhạt Đá vôi màu xám, xám sẫm, phân lớp trung bình, xen lớp mỏng hoặc thấu
Trang 16kính sét vôi màu đen có bitum Đá vôi màu xám sáng phân lớp trung bình Bề dày là 600m
Devon thượng, Frasni
Hệ tầng Đông Thọ (D 3frđt)
Hệ Tầng gồm: cát kết thạch sáng màu, kẹp ít lớp bột kết, đá phiến sét, cát kết thạch anh nhiễm vật chất than xen bột kết than, sét than, trên là đá phiến silic, silic màu đen, có nhiều mangan, phân lớp mỏng Bề dày chung đạt 220m
Hệ tầng Cát Đằng (D 3frcđ)
Hệ tầng gồm: đá vôi dạng dải màu xám đen, xám xanh, đá vôi sét phân lớp, cát bột kết màu xám đen, đá vôi vân đỏ, dạng dải phân lớp mỏng Đây là tập hợp chứa quặng mangan
Carbon hạ
Hệ tầng La Khê (C 1lk)
Hệ tầng có: cát bột kết, đá phiến sét than, đá phiến sét màu xám đến xám
đen, các lớp mỏng cát kết, cát kết vôi màu xám, xám vàng Đá vôi silic, sét silic xám đen, đá phiến vôi, vôi sét màu xám đen, các lớp mỏng hoặc thấu kính đá vôi
Carbon - Permi
Hệ tầng Bắc Sơn ( C - Pbs)
Thành phần thạch học khá đồng nhất, gồm: đá vôi xám đen xen ít sét vôi Đá vôi màu xám hạt mịn phân lớp dày, đôi khi bị tái kết tinh, cấu tạo trứng cá Đá vôi màu xám sáng hạt mịn, phân lớp dày đến dạng khối Bề dày đạt tới 1.200m
Hệ tầng Ngũ Hành Sơn ( C - P nhs)
Mặt cắt của hệ tầng bao gồm đá vôi hoa hoá màu xám trắng, xám hồng, có chỗ xám sẫm, phần dưới xen kẽ ít đá phiến thạch anh - sericit, quarzit phân phiến màu xám Bề dày chung khoảng 500m
Permi thượng
Hệ tầng Cam Lộ (P 2cl)
Thành phần từ dưới lên gồm: đá phiến sét than phân lớp mỏng, màu xám đen,
đá phiến sét xen cát kết, bột kết xám sẫm, đá phiến sét vôi, xen thấu kính đá vôi Bề dày chung là 200m
Hệ tầng Khe Giữa (P 2kg)
Hệ tầng gồm: đá vôi dạng dăm, đá vôi sét màu xám xanh sẫm, đá phiến sét,
đá vôi, đá vôi silic màu xám sẫm Bề dày chung của hệ tầng là 250m
Trang 17phân hệ tầng đạt tới 1.500m đến 1.700m
Phân hệ tầng trên (T2ađt2) bao gồm: cát bột kết, cát kết hạt nhỏ màu xám nâm, đá phiến sericit bị ép và biến đổi, đá phiến sét màu nâu đỏ Dày tới 1.500m
Trias trung
Hệ tầng Mang Yang (T 2my)
Là các đá cát kết tuf, bột kết tuf, ryolit bị phong hóa, màu xám, xám vàng Dày 600m
Trias thượng, Nori - Reti
Hệ tầng Đồng Đỏ (T 3n-rđđ)
Hệ tầng chỉ lộ ra với những diện tích nhỏ bao gồm: cát kết hạt nhỏ màu xám
Hệ tầng lộ ra với chiều dày khoảng 225m
Hệ tầng Nông Sơn (T 3n-rns)
Phân hệ tầng dưới (T3n-rns1) chủ yếu bao gồm cuội dăm kết xen cát kết, bột kết, cát bột kết Dày khoảng 1.000m
Phân hệ tầng trên (T3n-rns2) gồm có: cuội kết, sạn kết, sạn kết, cát kết chứa vật chất than màu xám đen, các vỉa than đá
Hệ tầng Nông Sơn ở chính vùng Nông Sơn có bề dày khoảng 1.500m Một số lớp của hệ tầng Nông Sơn mang tính phóng xạ cao, có nơi urani và thori đạt hàm lượng công nghiệp
Jura Jura hạ
Hệ tầng này có thành phần thạch học khá đồng nhất, từ dưới lên gồm chủ yếu
là sự xen kẽ giữa các tập cát kết và bột kết Bề dày tổng cộng là 320m
Creta thượng
Hệ tầng Đăk Rium (K 2đr)
Thành phần gồm: sạn kết, sạn kết chứa cuội, màu đỏ, cát kết, cát bột kết màu
đỏ, cát kết thạch anh, silic với xi măng gắn kết là silic - sericit (20% - 25%) Dày 500m
Trang 18Giới kainozoi
Neogen
Hệ tầng ái Nghĩa ( Nan)
Phần dưới: gồm chủ yếu là sỏi kết chứa cuội, sạn kết xen cuội kết màu xám
vàng, xám trắng chuyển lên cát kết, bột kết màu xám đen Dày 30m - 160m
Phần trên: cuội kết, sỏi kết xen những lớp mỏng cát kết màu xám trắng, xám
vàng, sạn kết, bột kết Bề dày tổng cộng của phần trên 80m - 160m Chiều dày chung của hệ tầng ái Nghĩa khoảng 110m - 320m
Hệ tầng Đồng Hới ( Nđh)
Phần dưới chủ yếu gồm trầm tích hạt thô: cuội tảng kết màu nâu nhạt, sét
chứa cuội, sỏi cát nâu màu xám sáng, kaolin, cát, sét màu nâu đen, dẻo mịn Dày 212m
Phần trên gồm: bột, cát kết có màu xám xanh hạt mịn, sạn kết màu vàng, bột,
sét kết màu nâu, xám vàng, cuội, sỏi kết màu vàng Chiều dày đạt 283m
Thành tạo bồi tích Pliocen - Pleistocen hạ (aN 2 -Q 1 )
Khá đồng nhất gồm cuội, sỏi, thành phần hỗn tạp, đôi nơi được gắng kết bằng sét - kaolin và phần trên bị kết cứng do laterit hoá Bề dày 10m - 30m
Pliocen
Phun trào bazan hệ tầng Đại Nga (B/N 2đn)
Mặt cắt đặc trưng gồm các tập bazan, không có trầm tích xen kẽ Có các loại bazan hai pyroxen, plagiobazan, bazan olivin - augit - plagioclas, bazan olivin - augit và bazan olivin Chiều dày hệ tầng khoảng 150m Các khoáng sản liên quan
đến bazan cần tập trung chú ý là đá quý saphir, zircon, đá xây dựng
Neogen - Đệ Tứ
Phun trào bazan Pliocen - Pleistocen hạ (B/N 2 -Q 1)
Phân bố ở vùng Mỗ Nhất, A Dua ấp, Cùa và một phần diện tích phía đông của khối Gio Linh Thành phần là bazan pyroxen olivin bị ép màu xám đen, cấu tạo dòng chảy Chiều dày 50 - 70m
Đệ Tứ
Pleistocen hạ Trầm tích sông (aQ 1)
Thành phần khá đồng nhất, chủ yếu là cuội sỏi với kích thước và thành phần hỗn tạp, chuyển dần lên là sét pha, cát pha, màu xám vàng Trên bề mặt các thềm này thường có laterit và tectit
Pleistocen hạ - trung
Trầm tích tàn tích, sườn tích (edQ11-2): các trầm tích này là sản phẩm phong hóa của đá gốc bao gồm cát, sét, sỏi, tảng lăn, sạn laterit Chiều dày 11m
Các trầm tích có nguồn gốc chủ yếu sông - lũ (apQ11-2ln): gồm cuội, sỏi lẫn
dăm sạn, bột sét màu vàng, xám đen Dày 22m
Trang 19phần chủ yếu là thạch anh, ít hạt felspat, có màu vàng thường được gọi là "cát vàng
Đà Nẵng" Trong cát vàng có ilmenit, zircon và monazit Chiều dày 8m - 10m
Hệ tầng Tú Loan (m, aQ13tl): các trầm tích này phổ biến rộng rãi trong vùng
Thành phần gồm bột, cát, sét màu xám vàng, bị laterit hoá, lớp laterit có chỗ dày 0,5m - 1m Hệ tầng dày khoảng 12m - 13m
Holocen hạ - trung
Hệ tầng Nam Ô (mvQ21-2no): thành phần gồm cát thạch anh màu trắng, độ
mài tròn, chọn lọc tốt, được gọi là "cát trắng Nam Ô" Chiều dày 3m - 6m
Holocen trung
Trầm tích sông (aQ22): phân bố dọc các sông suối ở vùng núi và đồng bằng,
có thành phần: cuội sỏi, cát, bột màu xám vàng có chứa sa khoáng vàng
Trầm tích sông - biển (amQ22): thành phần gồm: cát bột, sét màu xám vàng
Trầm tích sông - biển (amQ23): gồm cát, bột, sét Chiều dày 2m - 7m
Trầm tích biển - đầm lầy (mbQ23): từ dưới lên như sau: cát, sét màu xám đen, chuyển lên là cát, sét màu xám trắng, xám đen, than bùn Dày 8m - 12m
Trầm tích biển - gió (mvQ23): phần dưới là cát màu trắng, hạt nhỏ; phần giữa
là cát hạt vừa, màu vàng lẫn cát xám đen; phần trên chủ yếu là cát thạch anh hạt lớn Dày 18m
Thành tạo bazan Holocen không phân chia (B/Q 2)
Thành phần chủ yếu là bazan olivin màu xám sẫm, nhiều lỗ hổng Trên mặt
bị phong hoá thành đất màu nâu đỏ Ngoài khơi, khối Cồn Cỏ có thành phần tương
tự Chiều dày 20m - 30m
Trang 20Đệ Tứ không phân chia
Các thành tạo có nguồn gốc bồi tích - lũ tích (ap), bồi tích - sườn tích (ad), tàn tích - sườn tích (ed), biển - sườn tích (md) và bồi tích (a) thuộc Đệ tứ không phân chia đều được gộp chúng vào kiểu trầm tích này Thành phần: cuội, sỏi, sét, cát, có chỗ bị laterit hoá, gắn kết yếu Chiều dày thay đổi từ 2m - 5m đến 3m - 10m
3.2 Magma
Phức hệ Tu Mơ Rông ( G/PPtmr)
Phức hệ chủ yếu gồm plagiogranit, granit migmatit và granit
Về đặc tính thạch hóa, có thể chia ra hai loại đá: plagiogranit và granit Plagiogranit có hàm lượng SiO2, Al2O3, độ kiềm chung Na2O + K2O thấp hơn so với granit song cả hai loại đều là granit cao nhôm và tương đối cao kiềm
Phức hệ gồm chủ yếu là granodiorit, diorit nằm trong trường phân bố của các
đá biến chất hệ tầng Khâm Đức Khối Trà My còn có một lượng nhỏ tonalit
Khoáng vật phụ thường gặp là sphen, apatit, zircon, orthit, pyrit
Trang 21Pha 2(GDi/PZ3bg-qs 2 ): granodiorit, hornblend, hạt vừa
Pha 3(G/PZ3bg-qs 3 ): granit biotit hạt nhỏ - vừa, sàng màu
Các mạch aplit granit sáng màu, specsartit, diorit porphyrit
Các đá của phức hệ có hàm lượng các nguyên tố Co, Ni, Cr cao hơn trị số Clark từ 2 lần đến 4 lần Các nguyên tố còn lại đều thấp dưới mức Clark
- Pha đá mạch: gồm granit aplit và pegmatoid có turmalin Thành phần
khoáng vật chủ yếu là thạch anh, felspat, ít turmalin, muscovit, zircon và casiterit
Các nguyên tố vi lượng đáng chú ý là Mo, Co, Ni xấp xỉ bằng 2 Clark, Cu,
Pb, Ga bằng 1,2 Clark - 2 Clark
Phức hệ Phia Bioc (G/aT 3npb)
Khối Rào Mốc - Mỹ Sơn gồm có granit, granit biotit sẫm màu (pha 1), granit muscovit, granit hai mica sáng màu (pha 2)
Trang 22giàu thạch anh (pha 1), granit alaskit (pha 2) và aplit, pegmatit turmalin (pha đá mạch) Gặp các đới greisen thạch anh - casiterit - wolframit
Các nguyên tố Sn, Be, Ga, Mo và Yb cao hơn Clark Khoáng sản liên quan:
Sn, W, Au và xạ hiếm
Phức hệ Măng Xim
- Pha 1 (GSy/Emx
granosyenit biotit, syenit thạch anh biotit, granit - granophyr, granosyenit porphyr
- Pha 2 (Sy/Emx2): ở Măng Xim, Măng Búc, Ngọc Rinh, bao gồm: syenit thạch anh - felspat kali, syenit felspat kali - biotit - pyroxen
- Pha đá mạch: gặp ở Măng Xim, Măng Búc, Hương Hóa, bao gồm syenit
aplit màu hồng
Các nguyên tố vi lượng đáng chú ý có (đơn vị Clark): Sr = 0,83, Ba = 1,12; Ni
= 2; Cu = 1,7; Pb = 2,2; Zn = 1,7 và Mo = 10
Phức hệ Phan Rang ( G/Epr)
Có thành phần granit porphyr màu xám trắng, thành phần ban tinh chủ yếu là thạch anh, felspat hạt nhỏ, nền granophyr hoặc aplit hạt nhỏ
Phức hệ Cù Mông (G b/Ecm)
Trong phạm vi nghiên cứu gặp một mạch nhỏ có thành phần gabrodiabas màu xám xanh đen ở vùng tây Hưng Nhượng
3.3 Cấu trúc, kiến tạo
Vùng nghiên cứu - các tỉnh ven biển miền trung thuộc miền uốn nếp Trường Sơn (Việt - Lào) và Kon Tum (miền uốn nếp Kon Tum - Nam Bộ) Trên diện tích nghiên cứu từ ven biển tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Quảng Ngãi có những đới cấu trúc dưới đây (từ bắc vào nam)
3.3.1 Đới Hoành Sơn: trong phạm vi vùng nghiên cứu chỉ có phần đông
nam đới, chiếm một diện tích hẹp ở phía bắc đứt gãy Rào Nậy Đới được cấu thành bởi các phức hệ thạch kiến tạo Plaleozoi hạ - trung, Mesozoi và Kainozoi
3.3.2 Đới Long Đại: chiếm phần lớn diện tích của tỉnh Quảng Bình, Quảng
Trị, Thừa Thiên-Huế và bắc Đà Nẵng Phía bắc giới hạn bởi đứt gãy Rào Nậy, phía nam là đứt gãy Sơn Trà - A Trép Đới được cấu thành bởi các phức hệ thạch kiến tạo Paleozoi hạ - trung, Paleozoi thượng, Mesozoi và Kainozoi
3.3.3 Đới A Vương: vùng Quảng Trị có một diện tích nhỏ thuộc rìa bắc của
đới A Vương ở Huế - Đà Nẵng Đới A Vương chiếm diện tích ở phía tây và nam và
phần lớn diện tích phía bắc Quảng nam
Đới được cấu thành bởi các phức hệ thạch kiến tạo Neoproterozoi, Paleozoi hạ, Paleozoi trung, Paleozoi thượng, Mesozoi hạ, Mesozoi trung và Kainozoi
3.3.4 Đới Nông Sơn: ở trung tâm vùng nghiên cứu, phía bắc được giới hạn
bằng đứt gãy sông Vu Gia; phía nam: đứt gãy Thăng Bình, Hiệp Đức; phía tây: đứt gãy sông Tranh (phương á vĩ tuyến) gồm các phức hệ thạch kiến tạo: Paleozoi hạ, Paleozoi thượng - Mesozoi hạ và các phức hệ hoạt động lục địa gồm trầm tích chứa than hệ tầng Nông Sơn, trầm tích tướng biển, lục địa hệ tầng A Ngo
Trang 233.3.5 Đới Khâm Đức: có cấu trúc phức tạp, bị biến cải nhiều lần, giới hạn
với các đới khác bởi các đứt gãy Tam Kỳ - Phước Sơn (phía bắc), Hương Nhượng -
Tà Vi (phía nam) và Pô Cô (phía tây) Đới gồm các phức hệ thạch kiến tạo chính: Tiền Cambri, Paleozoi hạ và Kainozoi là các thành tạo bazan và trầm tích Đệ tứ, đặc trưng cho điều kiện lục địa
- Khối Trà Bồng: phân bố ở phần phía bắc tờ, kéo dài trên 50km, rộng hơn
10km với đường phương cấu trúc của khối và của đá đều là vĩ tuyến Khối được tạo nên chủ yếu bởi tập hợp thạch kiến tạo Meso-Neoproterozoi Phần phía đông bị phủ bởi trầm tích và bazan Kainozoi
- Khối Ngọc Linh: phân bố ở nửa phía tây tờ Quảng Ngãi được cấu tạo chủ
yếu bởi vỏ lục địa Paleoproterozoi Phần phía nam bị phá hủy bởi thể nền granit tuổi Neoproterozoi và Trias muộn
- Khối Sơn Hà: cấu tạo bởi phần thấp của tập hợp thạch kiến tạo
Paleoproterozoi (hệ tầng Sông Re) Rìa phía đông bị phá hủy bởi granitoiđ thể nền
Đức Phổ Rìa đông bắc bị phủ bởi các trầm tích bở rời Đệ tứ (khu vực nam Quảng Ngãi) Rìa tây dọc đứt gãy Đăk Se Lô - Mang Yang có lớp phủ lục nguyên màu đỏ tuổi Creta
- Khối Ba Tơ - Đức Phổ: phân bố ở rìa đông nam tờ Quảng Ngãi và được cấu
tạo bởi vỏ lục địa Arkei Rìa đông bắc bị phá hủy bởi granitoiđ trẻ phức hệ Hải Vân
Hệ thống đứt g∙y
* Khu vực Quảng Bình gồm chủ yếu là các hệ thống đứt gãy theo hướng tây
bắc - đông nam, á kinh tuyến và đông bắc tây nam ở phía nam - tây nam Đồng Hới,
trong đó đáng chú ý là các đứt gãy sau:
- Đứt gãy nghịch chờm Rào Nậy kéo dài (khoảng 150km) từ ngoài vùng qua Kim Lũ - Ba Đồn ra biển theo hướng tây bắc - đông nam
- Đứt gãy Đường 20 từ Cà Roong - Xuân Sơn ra biển Đứt gãy đóng vai trò phân chia khối sụt Phong Nha và khối nâng Đồng Hới
- Đứt gãy thuận ngang Đường 12 bắt đầu từ Thành Lạng - đèo Mụ Gịa chạy sang lãnh thổ Lào, dài hơn 100km
* Khu vực Lệ Thuỷ - Quảng Trị: phát triển 3 hệ thống đứt gãy chính: tây bắc
- đông nam, á vĩ tuyến và đông bắc - tây nam
- Hệ thống đứt gãy tây bắc - đông nam điển hình như đứt gãy phân đới sông
Sa Mu - Rào Quán, đứt gãy Sông Tale - Tân Lâm, Làng Mô - Vít Thu Lu - Cam Lộ
- Hệ thống đứt gãy á vĩ tuyến ít phổ biến hơn, phân bố ở phía tây bắc và đông nam tờ tây bắc - đông nam tờ Lệ Thuỷ - Quảng Trị, gồm các đứt gãy sông Cam Lộ, Rào Thanh
- Hệ thống đứt gãy đông bắc - tây nam hình thành muộn hơn, thường là những đứt gãy ngắn, phân đoạn
* Khu vực Huế - Đà Nẵng: chỉ xác định hai pha phá huỷ
- Các đứt gãy pha 1 có phương tây bắc - đông nam và đông bắc - tây nam
Điển hình là hệ đứt gãy Đăk Rông - A Lưới
- Các đứt gãy pha 2 là các đứt gãy phương gần kinh tuyến Đặc trưng là hệ
Trang 24đứt gãy Sông Bồ, Tả Trạch và Hữu Trạch
Ngoài các pha phá hủy trên, trong vùng còn dấu vết của các pha trước đó, là
hệ đứt gãy Cu Đê phương á vĩ tuyến
* Khu vực Quảng Nam: gồm 4 nhóm: á vĩ tuyến, tây bắc - đông nam, đông
bắc - tây nam và kinh tuyến
- Nhóm á vĩ tuyến và vĩ tuyến: gồm các nhánh của đứt gãy Sơn Trà - Tam Ron, Hội An, Tam Kỳ - Phước Sơn, hệ đứt gãy Trà Bồng
- Nhóm tây bắc - đông nam gồm các đứt gãy A Blan, Đức Phúm
- Nhóm đông bắc - tây nam gồm các hệ đứt gãy Cha Val, sông Bung, Thành
Mỹ, Thu Bồn, Hương An, Sa Huỳnh, Núi Vú
- Nhóm kinh tuyến có đứt gãy Bến Giằng, Pô Cô chỉ lộ ra ở phía đông nam
* Khu vực Quảng Ngãi: phát triển và có đầy đủ cả 4 nhóm: kinh tuyến, vĩ
tuyến, đông bắc-tây nam và tây bắc-đông nam
- Đới đứt gãy Hưng Nhượng - Tà Vi gồm 5 đứt gãy cùng kéo theo phương vĩ
tuyến
- Đứt gãy Đăk Sê Lô - Mang Yang đóng vai trò phân tách các khối Ngọc
Linh - Sơn Hà, kéo dài theo phương kinh tuyến
- Đứt gãy Ba Tơ - Kon Tum kéo dài trên 100 km, từ Mộ Đức qua Ba Tơ
3.4 Tài nguyên khoáng sản
Trên diện tích vùng nghiên cứu (dải ven biển) từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi đã đăng ký 360 mỏ và điểm quặng của 50 loại khoáng sản Thuộc nhóm kim loại có sắt, mangan, titan-zircon, đồng, chì-kẽm, antimoan, thiếc-wolfram, molibđen, vàng-bạc Nhóm không kim loại có arsen, pyrit, phosphorit, kaolin, pegmatit, thạch anh, cát thuỷ tinh Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng có đá ốp lát,
đá vôi xi măng, đá vôi xây dựng, sét chịu lửa, sét gạch ngói, cát kết và cuội sỏi Nhóm nước nóng - nước khoáng gồm các nguồn nước sulfur hydro, clorur và bicarbonat Dưới đây chúng tôi điểm qua vị trí và thành phần một số khoáng sản mà
sự tồn tại và quá trình khai thác, chế biến sử dụng có phát tán các chất độc vào môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường, nhất là môi trường nước
a- Khoáng sản kim loại
Sắt:
* Vùng Mahaxay - Đồng Hới: đã phát hiện 4 điểm sắt limonit: Khe Ngang,
Làng Va, Lèn á và Thu Lộc Thành phần khoáng vật quặng: limonit, goethit, hydrogoethit, ít hơn có hematit, tàn dư pyrit
* Vùng Lệ Thuỷ - Quảng Trị: trong số 11 điểm quặng sắt đã biết, chỉ có một
điểm quặng sắt gốc, số còn lại tồn tại dưới dạng tảng lăn Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu gồm hyđrohematit, hematit, ít hơn là goethit
* Vùng Huế - Đà Nẵng: gồm 14 điểm quặng sắt, trong đó có 9 điểm quặng
sắt magnetit - hematit chưa rõ nguồn gốc Quặng gốc mới chỉ gặp ở Phú Gia và Tuấn Lương Thành phần chủ yếu gồm magnetit, hematit, ít limonit và thạch anh
* Vùng Quảng Nam: hiện đã biết 4 điểm quặng sắt: Tam Kỳ, Trung Lộc, La
Trang 25Châu và Phú Minh Trong số các điểm quặng sắt, đáng lưu ý hơn cả là điểm quặng sắt Tam Kỳ
* Vùng Quảng Ngãi: có 2 mỏ nhỏ là Núi Võng, Núi Khoáng và 2 điểm quặng
là Văn Bàn, Núi Đồi
Đồng:
* Vùng Huế - Đà Nẵng: gồm hai điểm quặng Hoà Ninh và Thuỷ Tú Thành
phần khoáng vật quặng gồm chalcopyrit, bornit, azurit, malachit Hàm lượng đồng trong quặng thấp, ít triển vọng
* Vùng Quảng Nam: hai điểm quặng đồng Đức Phú và Đông Nga Các
khoáng vật chalcopyrit, pyrit, pyrotin xâm tán trong đá gabro với hàm lượng thấp
Chì-Kẽm:
* Vùng Lệ Thủy - Quảng Trị: điểm quặng kẽm - chì An Mã, khoáng vật
quặng chủ yếu là sphalerit, ít hơn có galenit, thứ đến pyrit và pyrotin
* Vùng Huế - Đà Nẵng: khoáng hoá chì - kẽm ở điểm quặng Sông Bồ, các
khoáng vật quặng gồm galenit, sphalerit, pyrit, chalcopyrit xâm tán
Mangan:
* Vùng Mahaxay - Đồng Hới: các điểm quặng mangan Kim Lũ, Đồng Văn
nằm ở rìa nếp lồi Quy Đạt Khoáng vật quặng gồm psilomelan, pyrolusit Chúng lấp
đầy khe nứt, lỗ hổng Hàm lượng Mn thay đổi từ 3% đến 40%
Antimoan:
* Vùng Lệ Thuỷ - Quảng Trị: ở điểm quặng antimoan Tân Lâm, các khoáng
vật antimon, pyrit và chalcopyrit xâm tán trong xi măng của dăm Ngoài antimon, còn gặp cinabar và vàng với hàm lượng thấp (Au = 0,08g/tấn)
* Vùng Huế - Đà Nẵng: Mới chỉ biết một điểm quặng antimon Phong An
Vàng, Bạc, Đa kim-Vàng:
* Vùng Lệ Thủy - Quảng Trị: trên diện tích tờ bản đồ đã phát hiện được 3
điểm quặng và sa khoáng: A Sóc, Sa Lúy và Bãi Hà Hàm lượng vàng ở A Sóc và Bãi
Hà đạt 0,1g/m3 - 0,5g/m3
* Vùng Huế - Đà Nẵng: vàng tập trung chủ yếu ở phần phía tây và tây nam
của tờ bản đồ, đã đăng ký được 28 mỏ và điểm quặng
* Vùng Quảng Nam:
- Đa kim-vàng (kẽm-đồng-vàng): điểm quặng kẽm-đồng-vàng Đức Bố Trong
số các khoáng vật sulfur, phổ biến có chalcopyrit, sphalerit, galerit, pyrit Hàm lượng vàng trong các mẫu lấy tại các công trình cũ đạt từ 1g/t đến 1,5g/t
- Vàng-bạc: trên diện tích tờ bản đồ đã đăng ký được 2 mỏ gốc, 4 mỏ sa khoáng với quy mô nhỏ và 22 điểm quặng
Hàm lượng vàng thay đổi trong giới hạn rộng và khác nhau ở các mỏ và
điểm quặng, từ vết đến 51g/t, thường đạt từ 2g/t đến 10g/t; hàm lượng bạc đạt từ vết
đến 29g/t, trung bình 3g/t - 5g/t
* Vùng Quảng Ngãi: Có một mỏ cũ là Vĩnh Tuy và một điểm quặng Đồng
Trang 26Dinh Các khoáng vật quặng gồm pyrit, chalcopyrit, arsenopyrit dạng mạch nhỏ hoặc xâm tán Hàm lượng Au = 1g/t - 17g/t
b Khoáng sản không kim loại
Arsen:
* Vùng Mahaxay - Đồng Hới: Arsen ở Đèo Ngang được phát hiện ở dạng
tảng lăn thạch anh chứa arsenopyrit Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là arsenopyrit, ít các khoáng vật sulfur khác Ngoài As, trong mẫu quang phổ còn thấy
Mn, Ti, Ba, Cr, Ni, Be, Mo
* Vùng Huế - Đà Nẵng: điểm quặng arsenopyrit Nông trường Nam Đông
Hàm lượng arsenopyrit đạt 25% - 30%
Tại điểm quặng Đèo Mây, mạch thạch anh - arsenopyrit xuyên trong đá granit phức hệ Hải Vân Ngoài arsen, trong mạch còn có vàng
Pyrit:
* Vùng Mahaxay - Đồng Hới: vùng đo vẽ có 9 điểm pyrit, tập trung ở phía
nam Đèo Ngang: Động Rì Rì, Ba Lợi, Động Cầy, Thuỷ Vực, Đá Đen, Quán Bưởi, Vực Tròn, Đất Đỏ và Quảng Tiến
Thành phần khoáng vật gồm pyrit, thạch anh, ít arsenopyrit, wolframit, galenit, molibdenit, sheelit, sphalerit, cinabar, vàng, chalcopyrit
* Vùng Lệ thuỷ - Quảng Trị: đã phát hiện 2 điểm pyrit Xóm Quán và Rào
Thanh Khoáng vật tạo quặng chủ yếu là pyrit, chalcopyrit
* Vùng Huế - Đà Nẵng: có 3 mỏ Bản Gồn, Hương Phú, La Vân và 14 điểm
quặng Khoáng vật quặng chủ yếu là pyrit, thứ đến là arsenopyrit, pyrotin, chalcopyrit, sphalerit, galenit, covelin, chalcosin, và vàng
* Vùng Quảng Nam: có 5 điểm quặng: Sóc Sét, Tiên Giang, Vũng Dôi, Sông
Bui và Trà Dốc Quặng pyrit xâm tán trong đá phiến amphibol, đá phiến graphit hay các thể amphibol Ngoài pyrit, trong quặng còn có arsenopyrit, chalcopyrit và vàng
* Vùng Quảng Ngãi: ở khu vực Trà Bồng - Trà Mi, quặng hóa pyrit khá
phong phú Tuy nhiên đáng chú ý hơn cả là điểm quặng Suối Tà Vi Hàm lượng sulfur đạt 15% - 30%, có nơi giàu hơn
Phosphorit:
* Vùng Mahaxay - Đồng Hới: trên diện tích tờ Mahaxay - Đồng Hới đã phát
hiện 23 mỏ và điểm quặng Hàm lượng phosphorit trong đất thay đổi từ 50kg/m3 đến 750kg/m3, trung bình 250kg/m3 - 300kg/m3
* Vùng Lệ Thuỷ - Quảng Trị: phát hiện được 2 điểm quặng phosphorit là Rào
Trù và Đông Sơn, đều có nguồn gốc phong hóa, được thành tạo trong hang đá vôi hệ
tầng Bắc Sơn (C-Pbs)
* Vùng Huế - Đà Nẵng: mới chỉ biết 1 điểm quặng Ke Đe Phosphorit thành
tạo trong các hang karst của đá vôi hệ tầng Tân Lâm Cũng ở khu vực này, có các đá phiến carbonat hệ tầng A Vương chứa lượng P2O5 khá cao (3% - 5%)
* Vùng Quảng Nam: có 2 điểm quặng Thạch Bàn và Phường Rạch, đều phân
bố trong các đá phiến sét vôi nằm giữa cát kết, bột kết tuổi Jura Hàm lượng P2O5thay đổi từ dưới 1% đến 10%, trung bình 3% - 5% Ngoài ra còn có MgO = 3% -
Trang 279%, CaO = 24% - 245% và SiO2 = 26% - 35%
4 Đặc điểm địa hoá môi trường đất
4.1 Đặc điểm các loại đất
Trong vùng Quảng Bình - Quảng Ngãi, đất được nghiên cứu thuộc vỏ phong hoá (VPH) của các loại đá gốc (granit, biến chất, bazan, trầm tích gắn kết), các trầm tích bở rời Đệ Tứ dọc dải ven biển và một số sườn tích Đất phân bố trên đá gốc gắn kết và sườn tích với địa hình khá dốc, thường bị rửa trôi mạnh mẽ Còn dọc dải ven biển địa hình khá bằng phẳng, có nơi ngập úng, có khu vực bị nhiễm mặn Đất trong vùng nghiên cứu được phân ra các đơn vị (tập mẫu) đất khác nhau theo thành phần
đá gốc mà nó phủ lên Quảng Ngãi là khu vực phong phú về các loại đất đá, còn khu vực Huế - Quảng Bình các loại đất đá đơn giản hơn về độ phong phú
4.1.1 Vùng ven biển Quảng Bình - Thừa Thiên Huế
a Đất của VPH các đá trầm tích lục nguyên (S s ): bao gồm đất phát triển trên
các trầm tích bở rời Đệ tứ dọc dải ven biển; các đá trầm tích phiến sét xen bột kết, cát kết hệ tầng Long Đại; các trầm tích màu đỏ cát kết, bột kết, phiến sét, cuội kết
hệ tầng Tân Lâm; phiến sét hệ tầng Cam Lộ và cuội kết, cát kết hệ tầng Đồng Trầu Thành phần đất chủ yếu gồm: sét bột lẫn nhiều sạn sỏi ít mùn, cát bột
Tập mẫu đất Ss bao gồm các kiểu đất trước đây đã phân chia khá chi tiết: Đất
đỏ vàng trên đá hệ tầng Long Đại (Fs), đất trên đá hệ tầng Tân Lâm (Fd), Đất trên đá trầm tích Trias (Ft), đất cát (C), đất mặn (đất mặn ít - Mi, đất mặn trung bình - Mb,
đất chua mặn - Sm) (Hồ Vương Bính - 1997)
b Đất của VPH các đá bazan (Sβ): Phân bố trên đá bazan Neogen-Đệ tứ
Thành phần đất gồm sét bột bở rời màu nâu đỏ, nhiều mùn, chiều dày khá lớn Thường phân bố ở địa hình thấp và thoải
4.1.2 Vùng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng
a Đất của VPH các đá granit (Sγ): phân bố trên đá granit của các phức hệ
Hải Vân, Chu Lai, Bà Nà Đất chủ yếu là sét, sét lẫn các mảnh vụn, sét bột, thành phần mùn ít
b Đất của VPH các đá biến chất (S m ): đất là sản phẩm phong hoá của các đá
biến chất hệ tầng Núi Vú, các sườn tích Đất trên các sườn tích rất mỏng, sét sạn lẫn nhiều mảnh vụn, ít mùn Đất trên đá biến chất dày hơn, với sét mùn lẫn ít sạn cát, phía dưới là tầng sét màu vàng Địa hình đồi thấp
c Đất của VPH các đá trầm tích lục nguyên (S s ): đất phát triển trên các thành
tạo Đệ tứ bở rời ven biển, các đá phiến hệ tầng A Vương; cát kết, bột kết, cát bột kết, cuội sạn kết hệ tầng Nông Sơn; cuội kết, cát kết hệ tầng Bàn Cờ; trầm tích hạt mịn xen carbonat của hệ tầng Khe Rèn Đất có thành phần gồm sét màu nâu nhạt, cát sạn sét ít mùn lẫn nhiều mảnh vụn thạch anh, sét kaolinit - cát màu nâu đỏ, cát bột sét màu nâu vàng Có những khu vực bị rửa trôi mạnh
4.1.3 Vùng ven biển Quảng Ng∙i
Các đơn vị địa hoá môi trường đất trong vùng Quảng Ngãi được nghiên cứu gồm có:
a Đất của VPH các đá granit (Sγ): phân bố trên đá granit của các phức hệ
Hải Vân, Chu Lai, Tu Mơ Rông Địa hình phân bố từ thấp đến khá cao và dốc, độ
Trang 28phân cắt lớn Đất chủ yếu là sét, sét lẫn các mảnh vụn, sét bột, thành phần mùn ít
b Đất của VPH các đá bazan (Sβ): phân bố trên đá bazan Pliocen Đại Nga,
VPH khá dày Đất màu nâu đỏ, chủ yếu là sét bở rời Địa hình phân bố là đồi đất thấp
c Đất của VPH các đá biến chất (S m ): đất là sản phẩm phong hoá của các đá
biến chất hệ tầng Tắc Pỏ, Khâm Đức, Sông Re Đất phủ rất mỏng, ít mùn, lẫn nhiều sạn sỏi
d Đất của VPH các đá trầm tích lục nguyên (S s ): phân bố trên các trầm tích
bở rời Đệ tứ với địa hình thấp, bằng phẳng và các đá trầm tích hệ tầng Đăk Rium
Đất gồm: bột cát, sét lẫn nhiều sạn sỏi
e Đất của VPH đá magma bazơ (Sδ): đất phân bố trên đá granodiorit - gneis
phức hệ Trà Bồng Lớp đất phủ rất mỏng, thành phần sạn cát màu xám sẫm, ít mùn
4.2 Đặc điểm địa hoá môi trường đất vùng nghiên cứu
4.2.1 Đặc tính địa hoá môi trường của các nguyên tố
a Nguyên tố chì (Pb): chì là nguyên tố có độc tính cao Hàm lượng chì dư
thừa sẽ làm chậm phát triển của cơ thể và trí tuệ, đồng thời làm giảm khả năng nghe, làm tăng huyết áp ở người lớn trong giai đoạn ngắn Trong thời gian dài cơ thể bị nhiễm chì có thể ảnh hưởng tới thận hoặc gây ung thư, tác động đến tổng hợp máu, dẫn đến phá vỡ hồng cầu, ức chế một số enzim Khả năng xâm nhập của chì vào cơ thể người rất phức tạp
Về dạng tồn tại, trong tự nhiên chủ yếu gặp chì ở hoá trị +2, rất hiếm khi gặp
ở dạng hoá trị +4 Nó tồn tại ở các dạng chính sau: Khoáng vật độc lập, dạng thay thế đồng hình hoặc dạng hấp phụ trong sét, vật chất hữu cơ Ngoài ra con người còn tổng hợp nhiều hợp chất hữu cơ chứa chì như alkyl, methyl của chì, trong hợp chất phụ gia vào xăng dầu (gasoline)
Trị số Clark của chì là 0,0016% Trong đới biểu sinh thì hành vi của chì và kẽm rất khác nhau Chì giàu trong đá phiến sét đặc biệt đá phiến sét chứa bitum
b Nguyên tố kẽm (Zn): kẽm là nguyên tố cần thiết đối với mọi sinh vật (tính
biofil) Độc tính thấp, ảnh hưởng tiêu cực của việc thiếu kẽm lớn hơn nhiều so với dư thừa (nhiễm độc) kẽm Kẽm ảnh hưởng tới tốc độ phát triển tế bào ung thư khi nó vào cơ thể qua thức ăn với liều lượng lớn
Trị số Clark của kẽm là 0,0083% Trong đới biểu sinh, môi trường axit, thường là đới oxy hoá thì sunfat kẽm có độ hoà tan lớn, làm cho kẽm có khả năng di chuyển mạnh
c Nguyên tố arsen (As): arsen là nguyên tố có tính chất đối lập, là độc tố rất
mạnh nhưng cũng là chất đặc biệt cần thiết không thể thay thế Arsen là nguyên tố
được sử dụng vào hai mục đích trái ngược nhau: vừa làm thuốc chữa bệnh không thể thiếu được, làm chất kích thích tăng trưởng ở động vật; vừa làm thuốc độc đặc biệt nguy hiểm Arsen có tính cộng dồn, các hoạt động nhân sinh đã thải vào môi trường ngày càng nhiều sẽ góp phần vào việc tích luỹ hàm lượng của nó ngày một lớn trong môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng
Đặc điểm địa hoá của arsen trong quá trình ngoại sinh là nó trở nên linh động
và có khả năng tạo hợp chất với nhiều nguyên tố khác để rồi tập trung lại, duy chỉ có
Trang 29các tác nhân axit là làm cho arsen phân tán Trong đới ngoại sinh thì khoáng vật nguyên sinh của arsen dễ bị phá huỷ, arsen chuyển vào dung dịch, lắng đọng trong trầm tích, bị các chất keo, nhất là hydroxit Fe3+, chất hữu cơ hấp phụ
Hàm lượng arsen trong thổ nhưỡng trung bình là 5.10-4% Trị số Clark của arsen là 2.10-4%
d Nguyên tố thuỷ ngân (Hg): thuỷ ngân là kim loại duy nhất ở trạng thái
lỏng trong điều kiện bình thường Nó là nguyên tố rất độc, có khả năng gây ung thư, bệnh thận, có thể gây ngộ độc chết người Khi thuỷ ngân hấp thụ trong trầm tích và
đất sẽ dần được giải phóng vào nước và gây nên sự nhiễm bẩn thường xuyên và lâu dài Tác dụng sinh hoá cũng như tính độc của thuỷ ngân phụ thuộc vào dạng tồn tại của nó trong môi trường và con người
Hàm lượng thuỷ ngân trong các đá xấp xỉ nhau Trị số Clark của thuỷ ngân là 8,3.10-6% Trong đới biểu sinh, thuỷ ngân bị hấp phụ rất nhiều bởi khoáng vật sét
c Nguyên tố mangan (Mn): mangan là nguyên tố cần thiết cho cơ thể sống ở
hàm lượng nhất định Mangan tích cực tham gia vào quá trình oxy hoá khử, là chất kích thích quá trình oxy hoá Sự thiếu hụt mangan trong cơ thể người và động vật sẽ
ảnh hưởng tới sự phát triển và sinh sản Mangan chỉ gây độc khi ở hàm lượng rất cao Mangan góp phần ngăn ngừa mỡ hoá ở gan và tăng khả năng sử dụng lipit trong cơ thể Thiếu mangan xương ngừng phát triển, còn thừa mangan xương bị biến dạng như còi xương Hơn nữa mangan còn tham gia vào quá trình quang hợp, đồng hoá nitơ, hô hấp của sinh vật
Về tính địa hoá, mangan có nhiều hoá trị, nhưng thường gặp là Mn2+, Mn3+ Trong đới phong hoá, hợp chất Mn2+ không bền vững, dễ bị oxy hoá chuyển thành mangan hoá trị cao hơn Trong đới biểu sinh hành vi của Mn2+ giống như Fe2+
Trị số Clark của mangan là 0,1% Mangan có nhiều trong thổ nhưỡng: 0,8%, thừa hoặc thiếu mangan trong thổ những đều làm cho cây chậm phát triển
d Nguyên tố fluor (F): hàm lượng trung bình của fluor trong vỏ trái đất là
300ppm Clark của fluor trong đất là 200ppm (A.P Vinogradov, 1957)
Được biết những vùng môi trường giàu fluor: thứ nhất là những vùng núi lửa hiện đại; thứ hai là vùng fluor apatit Những vùng trong đất có mức fluor trên 500ppm hoặc trong nước ăn ở mức < 0,5mg/l hoặc > 1,0mg/l có thể gây bệnh địa phương cho cộng đồng dân cư Mức độ fluor tập trung trong đất phụ thuộc vào lượng sét, độ pH và sự tập trung của calci và phospho Phần hoà tan của fluor trong đất rất nhỏ Fluor tồn tại trong dạng apatit, mica Một lượng lớn fluor tập trung trong phần sét của đất
Hàm lượng fluor thường tăng với sự tăng độ pH của môi trường và hàm lượng vật chất hữu cơ Sự tập trung cao của fluor và calci có tỷ lệ tương đồng
4.2.2 Đặc điểm địa hoá đất vùng nghiên cứu
- Vùng ven biển Quảng Bình - Thừa Thiên Huế
Trong vùng này, tất cả các nguyên tố vi lượng được nghiên cứu đều có hàm lượng trung bình nhỏ hơn giới hạn cho phép (Bảng I.2)
Đối với đất phát triển trên các trầm tích và đá trầm tích lục nguyên (Ss), hầu hết các nguyên tố có mức phân tán khá mạnh mẽ, trừ Pb có Tc = 1,0 Mức độ biến
Trang 30động về hàm l−ợng của các nguyên tố trong đất Sβ là đáng kể
Hệ số ô nhiễm trung bình cao nhất cũng chỉ đạt 0,55 đối với kẽm của đất đỏ bazan (Sβ) Trong đất đỏ bazan (Sβ), khả năng tập trung của mangan, kẽm, chì là khá cao (Tc > 2,5); còn các nguyên tố khác đều ở mức phân tán mạnh (Hình I.2, I.3)
Bảng I.2 Tham số phân bố các nguyên tố trong đất
* Ghi chú (cho các bảng I.2, I.3 và I.4):
Tp là hệ số ô nhiễm của nguyên tố (Tp > 1: Nguyên tố có khả năng gây ô nhiễm)
Xtb là nồng độ trung bình của các nguyên tố trong tập mẫu
Tc: Hệ số tập trung của nguyên tố Tc = Xtb/Clak Clak lấy theo từng loại đá
V = S/Xtb.100
S: Độ lệch chuẩn
TCCP: Tiêu chuẩn cho phép của nguyên tố
ON: Số mẫu ô nhiễm (cao hơn XTCCP)
Trang 31
Hình I.2 Biểu đồ khả năng tập trung của các nguyên tố
vi l−ợng trong đất vùng Quảng Bình - Huế
Tp
Hình I.3 Biểu đồ mức độ ô nhiễm của các nguyên tố
vi l−ợng trong đất vùng Quảng Bình - Huế
Sβ
Ss
Trang 32So với những kết quả trước đây (1997) thì chỉ có thuỷ ngân có sự biến đổi khác biệt: thuỷ ngân trong đất của vùng Quảng Bình - Thừa Thiên Huế trước đây là khá cao, vượt giới hạn cho phép khá nhiều Nhưng kết quả nghiên cứu hiện nay đã xác định hàm lượng thuỷ ngân đã giảm đáng kể
Trong các loại đất vùng Quảng Bình - Thừa Thiên Huế, hàm lượng cation
được đặc trưng bởi Ca2+ mà không phải Na+ Hàm lượng cation Ca2+ cao hơn cả so với 2 vùng khác trên diện tích nghiên cứu
Nhìn chung, môi trường đất của vùng này thể hiện tính axit - axit yếu (pH thường dưới 6,0) và thể hiện tính oxy hoá (Eh > 200mV) Các tham số môi trường
địa hoá đất, chất dinh dưỡng cũng như tham số muối hoá của đất được thể hiện trong bảng I.3
Bảng I.3: Một số chỉ tiêu địa hoá môi trường đất
vùng ven biển Quảng Ng∙i
Tập mẫu
đất
Số mẫu
Min 0,05 0,02 0,01 0,01 0,03 0,07 1,12 0,04 Max 0,07 0,03 0,02 0,01 0,33 0,20 1,45 1,95
Min 0,06 0,02 0,01 0,01 0,35 0,16 0,35 0,18 Max 0,08 0,04 0,02 0,01 0,57 0,57 2,40 1,50
- Vùng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng
Nhìn chung thì hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong đất vùng Quảng Nam
- Đà Nẵng đều thấp hơn giới hạn cho phép, chỉ một mẫu có hàm lượng chì trung bình trong loại đất (Ss) là cao hơn giới hạn cho phép (Bảng I.4) Hệ số ô nhiễm đều thấp hơn 1 (Tp) cao nhất là đối với kẽm trong đất Sγ bằng 0,48 Chì và kẽm là hai nguyên tố có khả năng tập trung và mức độ biến động của chúng về hàm lượng cũng khá lớn (V có thể đạt 175%) Ngoài ra mangan cũng có hệ số tập trung trong đất Sm
là khá cao: Tc = 3,7 Các nguyên tố còn lại đều có mức độ phân tán (Tc có thể giảm tới 0,02) - Hình I.4, I.5
Đặc điểm nổi bật nhất của khu vực này là đất của các trầm tích lục nguyên (Ss) có tổng muối tan và hầu hết các anion, cation đều cao hơn các loại đất khác Trong số các cation thì Na+ cao nhất, thứ đến là Ca2+ (Bảng I.3)
Trang 33Bảng I.4 Tham số phân bố các nguyên tố trong đất
Trang 34Hình I.4 Biểu đồ khả năng tập trung của các nguyên tố
vi l−ợng trong đất vùng Quảng Nam - Đà Nẵng
SγSmSs
Hình I.5 Biểu đồ mức độ ô nhiễm của các nguyên tố
vi l−ợng trong đất vùng Quảng Nam - Đà Nẵng
Trang 35- Vùng ven biển Quảng Ngãi
Trong vùng Quảng Ngãi, hàm lượng trung bình của các nguyên tố vi lượng trong các loại đất đều thấp so với giới hạn cho phép, chỉ có duy nhất một mẫu có hàm lượng chì trong đất phát triển trên đá granit (Sγ) vượt hàm lượng giới hạn (mẫu B.1031 có Pb = 205,5ppm) (Bảng I.5)
Hệ số ô nhiễm trung bình (Tp) của các loại đất cao nhất cũng chỉ đạt 0.4 Nhìn chung, các nguyên tố trong các loại đất đều có mức độ phân tán mạnh mẽ như arsen, thuỷ ngân, fluor và mangan (Tc thường < 0.5) Chỉ có chì và kẽm có khả năng tập trung và thể hiện đặc tính địa hoá trái ngược nhau trong đới biểu sinh khá rõ: chì
có khả năng tập trung lớn nhất trong loại đất Ss (Tc = 1.7), còn kẽm có khả năng tập trung rất cao trong đất đỏ bazan (Sβ) (Tc = 7.5) Ngoài ra, mangan cũng có khả năng tập trung trong đất đỏ bazan và đá biến chất cổ (Sm) Các nguyên tố vi lượng nhìn chung đều có hệ số biến phân V% khá cao (Hình I.6, I.7)
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, tổng muối tan trong một số loại đất (Sγ,
Sm) tương tự nhau, đất Sβ có thấp hơn chút ít Hàm lượng các anion trong các loại đất (Sγ, Sm, Sβ) tương tự nhau Đối với các cation, hàm lượng trong đất Sβ thường thấp hơn hai loại đất Sγ, Sm Trong cả 3 loại đất, hàm lượng cation Na+ cao nhất, sau đó là
K+ so với các cation khác (Bảng I.3)
Tóm lại, các loại đất trong vùng Quảng Ngãi thường có mức hàm lượng các
nguyên tố vi lượng thấp hơn giới hạn cho phép, khả năng biến động của các nguyên
tố khá cao và mức độ phân tán của nhiều nguyên tố như arsen, thuỷ ngân, fluor và mangan là khá cao Điều này có thể xảy ra quá trình trao đổi ion với môi trường nước dễ dàng hơn, tạo điều kiện giải phóng chúng vào môi trường
Trang 36Bảng I.5 Tham số phân bố các nguyên tố vi lợng trong đất
Trang 37Hình I.6 Biểu đồ khả năng tập trung của các nguyên tố
vi l−ợng trong đất vùng Quảng Ngãi
Hình I.7 Biểu đồ mức độ ô nhiễm của các nguyên tố
vi l−ợng trong đất vùng Quảng Ngãi
Tp
SγSβSmSsSδ
SγSβSmSsSδ
Trang 385 Đặc điểm địa chất thuỷ văn
Vùng nghiên cứu về hình thể là dải địa hình thấp, kéo dài từ bắc vào nam,
được các dải địa hình núi chạy ra sát bờ biển phân cắt thành các "khoảnh" khác nhau
về hình thể, cấu trúc địa chất, điều kiện địa chất thuỷ văn Mỗi khu vực có những nét
đặc thù riêng Để đánh giá về điều kiện địa chất thuỷ văn, chúng tôi chia vùng nghiên cứu ra 3 khu vực và sẽ mô tả theo thứ tự các khu vực từ bắc vào nam như sau:
1- Vùng ven biển Bình - Trị - Thiên
2- Vùng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng
3- Vùng ven biển Quảng Ngãi
Về mặt địa hình địa mạo, các vùng đều có nhiều nét chung hoặc gần gũi nhau nên trong phần mô tả dưới đây chúng tôi chỉ nêu lên những nét đặc thù của từng vùng để tránh trùng lặp với phần mô tả khu vực ở trên
Đặc điểm địa chất thuỷ văn được mô tả dựa vào các kết quả điều tra địa chất thuỷ văn ở các thời kỳ khác nhau của các tác giả Nguyễn Văn Đức (1995), Nguyễn Trường Đỉu (1995) và Nguyễn Trường Giang (2000), được chỉnh lý, biên tập theo
kết quả nghiên cứu của đề tài Đặc điểm địa chất thuỷ văn được trình bày trên "Bản
đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ 1:200.000" được thành lập theo nguyên tắc dạng tồn tại
của nước (nguyên tắc do UNESCO đề xuất) Dưới đây mô tả đặc điểm địa chất thuỷ văn các khu vực
A- Đặc điểm Địa Chất Thuỷ Văn vùng ven biển Bình - Trị - Thiên
sò, ốc có nơi gặp mùn thực vật, dày 9,15m - 24,5m, trung bình 17,66m Các trầm tích Holocen có độ chứa nước tốt
Như vậy, đây là tầng tương đối giàu nước Mực nước tĩnh ở lỗ khoan và giếng
đào thường từ 0,0m đến 3,58m Lưu lượng nước các lỗ khoan trong cát dao động từ 1,76 l/s đến 5,66 l/s Một số lỗ khoan như LK.365 và LK.367 vùng Thuỷ Biều do bắt gặp các lớp cuội sỏi trầm tích sông biển hiện đại và gần Sông Hương nên khi bơm thí nghiệm lưu lượng khá giàu (6,98 l/s - 7,95 l/s) Chi tiết về kết quả thí nghiệm các
lỗ khoan địa chất thuỷ văn nêu ở bảng I.6
Nước trong trầm tích biển gió Holocen có thành phần hoá học là clorur natri
là chủ yếu và độ khoáng hoá của nước là 0,03g/l - 0,153g/l Hàm lượng các vi nguyên tố cho phép sử dụng cung cấp nước sinh hoạt ở ven cửa Thuận An, tầng này
Trang 39bị nhiễm mặn
(Nguyễn Trường Giang, 2000)
Thể địa chất Số hiệu lỗ
khoan
Chiều sâu
lỗ khoan (m)
Mực nước tĩnh h (m)
Lưu lượng
Q (l/s)
Trị số hạ thấp S (m)
Độ khoáng hoá M (g/l)
Hệ số thấm
K (m/ng)
Chiều dày chứa nước (m)
gò cát dạng điểm lộ và chảy vào các vùng trũng thấp ở đồng bằng ven biển
Tóm lại: Tầng chứa nước Holocen tương đối giàu nước và chất lượng đảm
bảo, có ý nghĩa khai thác tập trung cỡ nhỏ để phục vụ sản xuất và sinh hoạt Nước trong tầng này đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống sinh hoạt trong vùng Có ý nghĩa nhất là các trầm tích biển - gió dọc theo bờ biển từ Hồ Xá đến cửa Tư Hiền với diện tích 600km2 ở Thuỷ Biều (Huế), trầm tích nguồn gốc sông - biển Holocen
có độ chứa nước khá cao và có thể cấp nước tập trung cỡ vừa và nhỏ Công trình cấp nước cho thành phố Đồng Hới (Quảng Bình) bởi nước từ hồ Bàu Tró chính là do tầng chứa nước này cung cấp
1.1.2 Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen (qp)
Trầm tích Pleistocen xuất lộ thành những dải hẹp ven theo gò đồi, còn ở vùng
đồng bằng bị phủ bởi các thành tạo Holocen Hiện nay tỉnh Quảng Trị đang thi công cụm lỗ khoan khai thác nước ở Gio Linh Theo diện phân bố không gian, có thể phân ra từng vùng nhỏ để đánh giá chi tiết về chiều dày và chất lượng cũng như trữ lượng của nước dưới đất trong tầng Pleistocen (qp), cụ thể như sau:
Trang 40- Vùng Hồ Xá: các trầm tích Pleistocen thường bị cát nguồn gốc biển-gió
hoặc các đá bazan phủ lên và phía dưới đáy có thể gặp đá trầm tích hệ tầng Long
Đại, các đá xâm nhập, vùng gần sông Bến Hải chúng phủ lên trầm tích Neogen
- Vùng Gio Linh - Đông Hà: các trầm tích Pleistocen vùng này thường bị phủ
bởi trầm tích bở rời Holocen, riêng ở Gio Linh phía dưới trầm tích bở rời Holocen gặp đá bazan sau đó mới gặp trầm tích Pleistocen Một số lỗ khoan như QT.12, QT.13, QT.14 hiện nay nước vẫn tự chảy ra trên mặt đất ở dưới đáy trầm tích Pleistocen vùng Gio Linh - Đông Hà chủ yếu gặp trầm tích Neogen Riêng vùng Dốc Miếu gặp trầm tích hệ tầng Long Đại
- Vùng Cam Lộ: đây là vùng trũng dọc theo sông Hiếu có diện tích không
lớn Dưới đáy trầm tích Pleistocen vùng này chủ yếu là đá vôi hệ tầng Cô Bai Hiện
ở vùng này có một số lỗ khoan bơm tổng hợp hai tầng này cho lưu lượng khá lớn
- Vùng Quảng Trị - Hải Lăng: trầm tích Pleistocen ở đây bị phủ chủ yếu bởi
trầm tích bở rời Holocen và ở đáy thường là trầm tích Neogen Bề dày trầm tích Pleistocen vùng này không bình ổn và gần như là vùng tiếp giáp vùng trũng Phong
Điền - Huế và vùng nâng Gio Linh
- Vùng Phong Điền - Huế: các trầm tích bị phủ bởi trầm tích Holocen, đáy
thường phủ lên trầm tích Neogen, riêng vùng tây và tây bắc Huế, chúng phủ trực tiếp lên các đá carbonat hệ tầng Cô Bai
Bảng I.7 Giá trị về độ sâu phân bố và chiều dày tầng Pleistocen
(Nguyễn Trường Giang, 2000)
Qua số liệu điều tra cho thấy đây là tầng rất giàu nước Lưu lượng các lỗ khoan dao động từ 1,42 l/s đến 28,49 l/s; 82% số lỗ khoan thí nghiệm có lưu lượng
>5 l/s Thường thay đổi từ 8 l/s đến 20 l/s và có nơi đạt 25 l/s - 26 l/s
Nước lấy từ lỗ khoan trong tầng qp thường có thành phần hoá học là clorur- bicarbonat natri hoặc bicarbonat - clorur natri Độ khoáng hoá của nước ở đa số lỗ khoan nghiên cứu nhỏ hơn 1g/l ở vùng nhiễm mặn, nước có độ khoáng hoá đạt 1,08g/l đến 4,43g/l (LK.378) Độ pH = 6 - 8 Hàm lượng các vi nguyên tố đều ở giới hạn cho phép sử dụng nước sinh hoạt
Đây là tầng chứa nước có ý nghĩa quan trọng nhất trong vùng Những vùng
có tiềm năng cho quy hoạch cung cấp nước tập trung từ tầng Pleistocen là Phong
Điền, Phú Bài Riêng vùng Huế - Thuận An, tầng chứa nước qp bị nhiễm mặn Diện