1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

50 de tu luan NGU VAN 9

81 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý Thức Giữ Gìn Bản Sắc Văn Hoá Dân Tộc Của Thế Hệ Trẻ Việt Nam
Thể loại đề tài
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 129,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ đợc Thanh Hải sáng tác trớc khi nhà thơ qua đời một tháng .Trong tâm lí nặng nề, sức khoẻ và bệnh tật mà hồn thơ Thanh Hải vẫn cất cánh bay cao để rồi mang đến c[r]

Trang 1

1 ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của thanh thiếu niên Việt Nam đợc biểu

hiện ở nhiều phơng diện : cách sống, lối sống, quan niệm, suy nghĩ, ở hoạt động,nói năng, ăn mặc, ứng xử

Qua những biểu hiện trên, có thể thấy rõ ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dântộc của thanh thiếu niên Việt Nam là nh thế nào ?

2 Xem xét nguyên nhân của vấn đề này phải nhìn ở cả 2 mặt : khách quan và chủ

quan Khách quan là sự tác động của môi trờng sống, của bối cảnh thời đại Chủquan là bản thân sự vận động trong t duy của đối tợng : các thanh niên, thiếu niên

đã quan tâm, suy nghĩ ở mức độ nào về vấn đề này

3 Với một ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc nh vậy, thanh thiếu niên Việt

Nam đang tác động nh thế nào đến bộ mặt văn hoá dân tộc, đang để lại một kếtquả ra sao cho tơng lai, đặc biệt là trong bối cảnh quá trình hội nhập quốc tế đangdiễn ra sôi động

4 Xã hội, gia đình, bản thân mỗi thanh niên, thiếu niên nên làm gì để góp phần

khẳng định bản sắc văn hoá Việt Nam trong cộng đồng quốc tế

điều đợc quan tâm đặc biệt của xã hội

Hơn bất kì ai, thanh niên, thiếu niên là những đối tợng bén nhạy nhất với cácyếu tố văn hoá Nhìn vào thế hệ trẻ hôm nay, đặc biệt là thành viên của thế hệ 8X,9X ngời ta thấy biểu hiện một ý thức đối với bản sắc văn hoá dân tộc Thế hệ trẻbây giờ nhanh nhạy hơn, năng động hơn, hiện đại hơn, đó là dấu hiệu đáng mừng,bởi nó chứng tỏ tuổi trẻ Việt Nam luôn nắm bắt và theo kịp những yêu cầu củathời đại Thế nhng, hãy quan sát kĩ một chút, chúng ta sẽ thấy trong cái năng

động, hiện đại đó còn có rất nhiều điều đáng suy ngẫm

Đầu tiên là từ những cái dễ thấy nhất nh đi đứng, nói năng, ăn mặc, phụctrang Xu hớng chung của giới trẻ là bắt chớc, học theo phim nớc ngoài, theo các

Trang 2

diễn viên, các ca sĩ nổi tiếng Những mái tóc nhuộm nhiều màu, những bộ quần

áo cộc cỡn, lạ mắt, những cử chỉ đầy kiểu cách, những câu nói lẫn lộn Tiếng Anh,Tiếng Việt đó là biểu hiện của một thứ văn hoá đua đòi phù phiếm Sự chân ph-

ơng, giản dị mà lịch lãm, trang nhã vốn là biểu hiện truyền thống của ngời ViệtNam đã không đợc nhiều bạn trẻ quan tâm, để ý Chạy theo những hình thức nhvậy cũng là biểu hiện của việc quay lng lại với bản sắc văn hoá dân tộc ở mộtchiều sâu khó thấy hơn là quan niệm, cách nghĩ, lối sống Rất nhiều thanh, thiếuniên Việt Nam không nắm đợc lịch sử dân tộc dù đã đợc học rất nhiều, trong khi

đó lại thuộc lòng vanh vách tiểu sử, đời t của các diễn viên, ca sĩ ; không biết,không hiểu và không quan tâm tới các lễ hội dân gian vốn là sinh hoạt văn hoá

truyền thống lâu đời của nhân dân trong khi rất sành về "chát", về ca nhạc, cà

phê Ngày lễ, tết họ đến nhà thờ hoặc vào chùa hái lộc nhng không biết bàn thờgia tiên đã có những gì Họ coi sự cần cù, chăm chỉ là biểu hiện của sự cũ kĩ,lạc hậu Tất cả đều là biểu hiện của một sự thiếu ý thức trong giữ gìn bản sắcvăn hoá dân tộc Tiếp xúc với nhiều công dân trẻ tuổi, ng ời ta thấy dấu ấn củabản sắc văn hoá Việt Nam là rất mờ nhạt, mà đậm nét lại là một thứ văn hoángoại lại hỗn tạp Đó là một thực trạng đang khá phổ biến hiện nay

Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên : nguyên nhân khách quan

và nguyên nhân chủ quan Về phía khách quan, đó chính là tác động của môi ờng sống, của bối cảnh thời đại Thời đại đất nớc mở cửa giao lu, hội nhập với thếgiới cho nên văn hoá bên ngoài theo đó mà tràn vào Việt Nam Đâu đâu cũng cóthể dễ dàng bắt gặp hình ảnh của một thứ văn hoá mới, hiện đại và đầy quyến rũ.Trong một không gian chung nh vậy, những nét văn hoá cổ truyền của ngời Việtdờng nh đang có nguy cơ trở nên yếu thế

tr-Về chủ quan, thế hệ trẻ ngày nay ít quan tâm để ý đến vấn đề bản sắc vănhoá Họ thiếu ý thức giữ gìn, bởi thực chất là họ không hiểu đợc bản sắc văn hoádân tộc là gì và cũng không cần hiểu

Những công dân trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Namnhng lại không giống một ngời dân nớc Việt Họ có bề rộng nhng thiếu chiềusâu, chiều sâu của một tâm hồn Việt, một tính cách Việt Văn hoá dân tộc làcội rễ bền vững của tâm hồn mỗi con ngời, không lớn lên và bám chắc vào cội

rễ đó, mỗi con ngời chỉ còn là một cá nhân lạc loài giữa cộng đồng của mình

Đó là hậu quả đầu tiên dành cho chính mỗi ngời, đặc biệt là những ngời trẻtuổi Và hãy tởng tợng, nếu thế hệ hôm nay quên đi bản sắc văn hoá dân tộcmình thì trong một tơng lai không xa chúng ta sẽ còn lại gì ? và những thế hệtiếp nối sau này sẽ ra sao ? Bản sắc văn hoá là linh hồn, là g ơng mặt riêng củamỗi dân tộc, là yếu tố quan trọng để khẳng định vị thế của dân tộc đó ở giữacộng đồng thế giới Đánh mất bản sắc riêng trong nền văn hoá của mình là

đánh mất quá khứ, mất lịch sử, mất cội nguồn và chúng ta chỉ còn là một con

số không ở giữa nhân loại Thế hệ trẻ là những ngời nắm giữ tơng lai của đất

n-ớc, bởi vậy, nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một điều vôcùng cần thiết

Vậy thì cần làm gì để thực hiện đợc điều đó Trớc hết, là phải từ sự tự giác ýthức của mỗi ngời Mỗi thanh niên, thiếu niên phải thực sự thấy đợc giá trị củavăn hoá dân tộc - những giá trị đợc chắt lọc và đúc kết từ ngàn đời, đợc gìn giữ,

kế thừa qua bao thăng trầm của lịch sử, đã và đang ăn sâu trong máu thịt của mỗingời dân để dù có đi đâu, sống ở nơi nào, con ngời đó vẫn luôn là ngời dân nớcViệt

Trang 3

Gia đình, cộng đồng xã hội cũng phải chung sức, chung lòng để tô đậm thêmnữa những giá trị văn hoá đó trong sự trà trộn phức tạp của những luồng văn hoákhác Mặt khác, cũng cần phải thấy rằng, giữ gìn ở đây không có nghĩa là kh kh

ôm lấy cái đã có Cần phải kế thừa phát huy nhng đồng thời cũng phải phát triển

nó lên bằng cách kết hợp có lựa chọn với những yếu tố văn hoá mới tích cực Từ

đó hình thành một nền văn hoá Việt Nam vừa truyền thống, vừa hiện đại, đa dạng,vừa thống nhất, đảm bảo đợc yêu cầu "hoà nhập nhng không hoà tan" trong mộtthời đại mới Thực hiện điều này là trọng trách, là nghĩa vụ của mỗi công dân, củamỗi thanh, thiếu niên hôm nay

Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là đóng góp có ý nghĩa đầu tiên cho đất nớc

mà mỗi thanh thiếu niên có thể làm và hãy làm bắt đầu từ việc điều chỉnh, uốnnắn chính những hành vi, ý thức của bản thân mình

1 Nạn khủng bố đang lan tràn trên khắp mọi khu vực của thế giới Ngày nào cũng

có cảnh đổ máu bởi khủng bố Khủng bố đang là nỗi lo chung của tất cả các dântộc

2 Mâu thuẫn, xung đột chính trị giữa các quốc gia, dân tộc, các tổ chức, phe phái

là nguyên nhân của tình trạng này

3 Khủng bố đe doạ nghiêm trọng tới mọi mặt của đời sống con ngời từ tính mạng

đến của cải, từ vật chất tới tinh thần, khiến nơi nơi đều bao trùm một bầu khôngkhí căng thẳng, hoảng loạn Sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá của cácquốc gia đều bị ảnh hởng bởi nguy cơ khủng bố

4 Tất cả mọi ngời, mọi quốc gia đều phải cùng thể hiện rõ quyết tâm đẩy lùi

khủng bố bằng những biện pháp cụ thể ; bảo vệ trái đất khỏi nạn khủng bố cũngchính là bảo vệ mái nhà chung của tất cả chúng ta

Kết bài:

Thế giới sẽ tơi đẹp hơn nếu nh con ngời không đối đầu và tàn hại lẫn nhau

Bài viết tham khảoKhát vọng lớn nhất của nhân loại từ thuở xa xa đến giờ vẫn là khát vọng vềmột nền hoà bình thực sự và vĩnh cửu Thế nhng trong lịch sử, nhân loại cũng đãbao lần phải chứng kiến cảnh bầu trời xanh của trái đất trong vẩn đục bởi khói lửachiến tranh Hiện nay, nạn khủng bố ở rất nhiều quốc gia trên thế giới đang phá

vỡ bầu không khí hoà bình của tất cả mọi ngời

Trang 4

Từ "khủng bố" đã trở thành một từ rất quen thuộc đối với con ngời hôm nay.

Gắn liền với nó là cảnh đổ máu tang thơng, là ngời chết, là đổ nát tan hoang, lànỗi kinh hoàng ám ảnh bao ngời sống sót

Các phơng tiện thông tin ngày nào cũng sẵn những tin về những thảm cảnh

nh vậy Tai hoạ khủng bố có thể đến với bất kì ai, ở bất cứ nơi nào : trong nhàhàng, siêu thị, trờng học, nhà trẻ, công viên, bến xe, máy bay Cách thức khủng

bố cũng rất đa dạng : gài bom, tấn công trực tiếp, bắt cóc con tin, đặc biệt nguyhại là bọn khủng bố có thể sử dụng cả vũ khí sinh học, hoá học để reo giắc thảmhoạ cho con ngời Khủng bố ngày càng trở nên nghiêm trọng, bởi qui mô và mức

độ tàn phá của nó Thế giới hẳn sẽ không bao giờ quên đợc ngày 11 tháng 9, ngày

mà toà tháp đôi chọc trời, biểu tợng cho sức mạnh và nền kinh tế Mĩ đổ sụpxuống trong tiếng la hét kinh hoàng của hàng ngàn ngời Đấy là hồi chuông cảnhbáo có sức thuyết phục nhất về tội ác khủng bố Tác giả của những vụ khủng bốlại là những kẻ giấu mặt đang tạo thành một tổ chức mà mạng lới của nó có mặt ởhầu khắp các khu vực của thế giới Bởi thế, không một ai trên thế giới biết tai hoạ

có thể sẽ đổ ập xuống đầu mình lúc nào Một bầu không khí lo lắng, hoang mang

đang bao trùm lên cuộc sống của toàn nhân loại

Đằng sau mỗi một vụ khủng bố bao giờ cũng tồn tại một nguyên nhân Nhngnguyên nhân bao trùm của mọi cuộc khủng bố vẫn là những bất đồng về chính trị,dẫn đến mâu thuẫn, xung đột dai dẳng về chính trị, về sắc tộc, về tôn giáo trongcộng đồng thế giới

Hậu quả mà nạn khủng bố để lại là vô cùng nghiêm trọng Hàng năm, những

vụ khủng bố đã cớp đi không biết bao nhiêu sinh mạng con ngời, gây nên cảnh đổmáu tàn khốc, cảnh cha mất con, vợ mất chồng, gia đình, ngời thân li tán Nhữngngời may mắn sống sót thì trở thành ngời tàn phế, mang di chứng suốt đời Khủng

bố còn làm tiêu tốn biết bao nhiêu công sức, của cải của con ngời Tài sản, nhàcửa, các công trình kiến trúc mà bao ngời phải nỗ lực trong nhiều năm tháng mớitạo dựng lên đợc chỉ trong một tích tắc đã bị huỷ hoại hoàn toàn Nhiều ngời bị

đầy vào cảnh không nhà, không cửa, tay trắng chỉ trong giây phút Kèm theo đó,nguy hiểm hơn là môi trờng sống của trái đất bị đặt trong nguy cơ bị huỷ diệt bất

cứ lúc nào Đây là những hậu quả tức thời trớc mắt mà ai cũng có thể nhìn thấy.Bên cạnh đó, còn tồn tại những hậu quả lâu dài cho tơng lai loài ngời Khủng bốkhiến cho mâu thuẫn, xung đột trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt quyết liệt.Khối thống nhất, nền hoà bình mà nhân loại nỗ lực xây dựng đã bị xâm hại vàlung lay thực sự Khủng bố cha phải là một cuộc chiến tranh công khai trên mộtphạm vi rộng nhng tiến hành khủng bố là cách tốt nhất để nuôi dỡng mầm mống

và làm bùng phát chiến tranh trên toàn thế giới Nhân loại sẽ nh thế nào, sẽ đi về

đâu khi chiến tranh lại bùng nổ trong lúc hậu quả của hai cuộc chiến tranh thếgiới ở thế kỉ XX hãy còn đó Không chỉ có vậy, nạn khủng bố lan tràn khiến tất cảmọi ngời ở khắp nơi trên trái đất mất đi cảnh giác an toàn, cảnh giác yên tâmtrong cuộc sống Trái đất là ngôi nhà chung và là ngôi nhà duy nhất của loài ngờigiữa vũ trụ, thế nhng con ngời đang cảm thấy sợ khi sống dới mái nhà của mình.Nỗi ám ảnh về khủng bố len lỏi vào cuộc sống bình yên của mọi ngời và đangmài mòn, thách thức sức chịu đựng của tất cả Khả năng huỷ hoại thần kinh loàingời của nó còn lớn và tai hại gấp nhiều lần khả năng làm đổ máu hay phá huỷ tàisản

Khủng bố, đó là kẻ thù của một nhân loại tiến bộ và văn minh

Cần làm gì để ngăn chặn nguy cơ này ? Các nớc trên thế giới đều coi đây làvấn đề an ninh quốc gia và có rất nhiều biện pháp thiết thực, cơng quyết để bảo vệ

Trang 5

tính mạng, tài sản cũng nh cuộc sống của ngời dân Tuy nhiên, vẫn cha thể hết,cha thể chấm dứt tình trạng này Cuộc đấu tranh với nạn khủng bố sẽ còn kéo dài

và vô cùng nan giải, bởi kẻ thù của chúng ta cũng tựa một con quái vật khổng lồ

ẩn mình trong bóng tối, nó sẵn sàng tấn công con ngời bất cứ lúc nào nhng khôngbao giờ lộ mặt Để có thể chiến thắng đợc, loài ngời phải xích lại gần nhau hơnnữa và phải bắt đầu từ những việc tởng rất xa xôi : giáo dục, hình thành chonhững thế hệ tơng lai một tình yêu hoà bình bền vững Có nh vậy, trái đất củachúng ta mới mãi mãi là một tổ ấm giữa dải thiên hà mênh mông lạnh lẽo

Thế giới sẽ tuyệt vời biết mấy nếu ngày mai sẽ không còn bạo lực, không cònthù hằn và chết chóc ! Con ngời tàn hại lẫn nhau thực chất là đang tàn hại chínhmình ! Hãy góp một tiếng nói chung vào cuộc chiến chống khủng bố trên toàn thếgiới

1 Số lợng trẻ em từ nông thôn đến thành thị kiếm sống hiện nay là rất nhiều Các

em thuộc đủ mọi lứa tuổi, làm nhiều công việc khác nhau Cuộc sống của các emrất vất vả, khó nhọc

2 Nguyên nhân khiến các em phải rơi vào tình trạng này thì rất nhiều nhng nhiều

nhất vẫn là do cái nghèo Cái nghèo làm nảy sinh nhiều cảnh ngộ, chịu thiệt thòinhiều nhất từ những cảnh ngộ đó là những đứa trẻ Bên cạnh đó còn do sự thiếuquan tâm của ngời lớn

3 Tình trạng này sẽ dẫn đến nhiều hậu quả khó lờng, không chỉ đối với xã hội mà

đối với trớc hết là bản thân các em Sống xa gia đình, trong một môi trờng phứctạp, tuổi lại còn nhỏ, chắc chắn sẽ ảnh hởng không ít tới tâm hồn, nhận thức củacác em Từ đó mà sẽ có tác động ngợc lại của các em đối với môi trờng chung củaxã hội

4 Cần phải có những biện pháp, những giải pháp để giảm thiểu và dần dần xoá bỏ

tình trạng này Đó cũng là cách để xã hội góp tay thực hiện vấn đề quyền trẻ emmột cách thiết thực nhất

đợc yêu thơng, bảo vệ và học tập đầy đủ Đó là quyền mà bất kì đứa trẻ nào cũng

đợc hởng Thế nhng trong thực tế thì không phải nh vậy Có rất nhiều bạn nhỏ khi

Trang 6

lớn lên đã phải sớm rời bỏ mái nhà để tìm đến kiếm sống ở những thành phố,những khu đô thị xa lạ Hiện tợng này không còn là cá biệt mà đã trở thành mộttình trạng phổ biến, một vấn đề của cả xã hội.

Đặt chân đến bất kì thành phố, khu đô thị dù lớn, dù bé nào ngời ta cũng cóthể dễ dàng bắt gặp những đứa trẻ lang thang đến từ nhiều vùng quê khác nhau

Đó là những cô bé, cậu bé tuổi còn rất nhỏ, tâm hồn còn rất ngây thơ, non nớt.Các em đáng lẽ phải đang ở nhà và cắp sách đến trờng nh bao bạn nhỏ cùng tranglứa khác, nhng lại phải một thân một mình bơn chải kiếm sống Các em tìm đếnthành phố với mục đích lớn nhất là kiếm tiền để nuôi sống bản thân và giúp đỡgia đình Mỗi em tự tìm cho mình một công việc : em đánh giày, em bán báo, em

đi làm ngời giúp việc trong các gia đình, các quán ăn Bất cứ việc gì làm đợc và

có ngời cần các em đều có thể làm Việc ít, ngời nhiều - nhiều khi phải tranh cớp,giành giật mới kiếm đợc miếng ăn ít ỏi

Một mình giữa nơi đông đúc, không có ngời thân thích bên cạnh, các em phải

tự lo cho mình mọi chuyện, từ ăn uống đến chỗ ngủ qua đêm rồi khi ốm đau bệnhtật Cuộc sống của các em rất bếp bênh và khổ cực, có biết bao nhiêu cay đắng,rủi ro rình rập theo mỗi bớc chân của những đứa trẻ này Nhìn khuôn mặt của các

em, ngời ta thấy hiện rõ sự mệt mỏi, cái già dặn trớc tuổi bên cạnh chút hồnnhiên, non nớt của tuổi thơ còn sót lại Đấy là điều khiến chúng ta, bạn và tôi,những đứa trẻ may mắn đang đợc che chở dới mái ấm gia đình và ngày ngày cắpsách đến trờng, không thể không suy nghĩ

Đứa trẻ nào cũng muốn đợc yêu thơng, đợc chăm sóc, đợc sống giữa vòng taygia đình và bạn bè Thế nhng, tại sao vẫn có nhiều bạn nhỏ phải tự bớc vào đờikiếm sống sớm đến vậy ? Nguyên nhân đầu tiên của tình trạng này vẫn là do cáinghèo Nơi các bạn nhỏ này bớc chân ra đi đều là những vùng nông thôn xa xôi.Gia đình có mỗi một nghề làm ruộng, đất thì ít, anh chị em thì đông, đến ngàymùa đầu tắt mặt tối mà vẫn không đủ ăn Không có tiền đi học, các bạn nhỏ ở nhàrồi rời nhà đi kiếm sống để bớt gánh nặng cho gia đình Cũng có khi là do cảnhcha mẹ không hoà hợp, suốt ngày cãi cọ, không để ý đến con cái, các em cũng tự

bỏ nhà lên phố rồi cha mẹ li thân, li dị, hay do mất cha, mất mẹ khiến các emkhông còn chỗ dựa Nói chung, có trăm nghìn lí do đẩy các bạn nhỏ vào cảnh thaphơng Đằng sau tất cả những lí do đó vẫn phải khẳng định một điều đó là sựthiếu quan tâm của ngời lớn Nếu các bậc làm cha, làm mẹ biết nghĩ cho các emnhiều hơn thì chắc chắn dù trong bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng sẽ không để chocon em mình vào đời bơn chải vật lộn với miếng ăn khi còn quá nhỏ dại nh vậy.Sống trong cảnh thiếu thốn, cảnh không yên ổn của gia đình đã là một thiệt thòi,giờ phải rời mái nhà đang che chở cho các em, một thân một mình ma nắng chốn

xa lạ, đó là lời cảnh báo cho cả xã hội về vấn đề đảm bảo những quyền lợi chính

đáng cho tất cả mọi đứa trẻ

Tình trạng trẻ em từ nông thôn ra thành phố kiếm sống đã và đang để lại rấtnhiều những hậu quả nghiêm trọng Sống trong một môi trờng đua chen phức tạp,tiếp xúc với đồng tiền, với cơ chế thị trờng quá sớm khiến nhận thức, nhân cách,tâm hồn của các em phát triển một cách lệch lạc, không tự nhiên và thiếu lànhmạnh Thật khó mà dám khẳng định là tất cả những đứa trẻ đó sẽ có một t ơng laibình thờng và và tốt đẹp Bị ép phải già trớc tuổi, phải từ giã tuổi thơ khi còn quánhỏ, phải sống trong cô đơn ghẻ lạnh, không có một bàn tay vỗ về chăm sóc,không có ngời chỉ đờng dẫn lối ai dám đảm bảo rằng, tất cả những em nhỏ đó sẽ

đều trở thành những công dân lơng thiện và có ích Thực tế cho thấy nhiều đứa trẻtrong số đó đã trở thành tội phạm trớc khi trở thành một công dân Chúng móctúi, cớp giật, trộm cắp, lừa đảo, sa vào các tệ nạn xã hội và trở thành gánh nặng

Trang 7

của cộng đồng Đa phần các em nhỏ khi mới rời nhà đi đều là những đứa trẻ hiềnlành, ngây thơ, chỉ sau một thời gian đã trở thành những đứa trẻ hoàn toàn khác.Lối sống nơi đô thị đã làm mất đi ở các em bản tính trong sáng, hồn nhiên, vô t.

Đó là những di chứng tinh thần rất có hại cho các em khi đến tuổi trởng thành

Nh vậy, tình trạng trẻ em rời nhà đến kiếm sống ở các thành phố sẽ tạo nênnhững hậu quả khôn lờng đối với chính những đứa trẻ và với toàn xã hội Cầnphải làm gì để xoá bỏ tình trạng này để trẻ em tất cả mọi vùng miền đều đợc hởngnhững quyền chính đáng mà các em có Đây là trách nhiệm không của riêng ai

Sự quan tâm là điều đầu tiên cần phải có Và trớc hết phải là từ gia đình, cha mẹ

và những ngời thân của các em Tạo dựng cho các em một mái ấm bình yên, chocác em một môi trờng trong lành để các em đợc lớn lên, đợc trởng thành một cách

tự nhiên, lành mạnh là điều các bậc làm cha, làm mẹ phải làm Mỗi địa phơngcũng cần có những biện pháp cụ thể để giúp những em nhỏ có hoàn cảnh đặc biệtgiải quyết những khó khăn vớng mắc Ví nh giúp các em có việc làm ngay trênquê hơng mình, hỗ trợ để các em có đủ điều kiện đến trờng và rộng hơn là cả xãhội Dành cho các em một cái nhìn độ lợng, nhân ái, một cử chỉ quan tâm dù làrất nhỏ bé, là mỗi ngời đã và đang góp phần đem đến cho mỗi số phận tội nghiệp

đó những giá trị rất lớn lao

Nhà nớc đã có nhiều hành động cụ thể để giải quyết vấn đề này Nh giao chocác tỉnh, các địa phơng đa các em trở về, tạo công ăn việc làm, giúp các em ổn

định cuộc sống tại quê nhà, đợc học tập, vui chơi nh mọi đứa trẻ khác Việc làmnày bớc đầu đã tạo nên những biến đổi rất tích cực, rất nhiều bạn nhỏ đã yên tâmtrở về, lao động và sinh hoạt trên quê hơng mình, tìm thấy niềm vui mới Sự quantâm của Nhà nớc là rất kịp thời và thiết thực Tuy nhiên, để chấm dứt hẳn tìnhtrạng này thì cần có thời gian và sự quan tâm hơn nữa của tất cả mọi ngời trongcộng đồng

Một xã hội không thể coi là văn minh, là công bằng và tiến bộ khi mà ở đâu

đó vẫn có nhiều đứa trẻ bị đẩy ra đờng kiếm tiền thay cho việc đến trờng đi học.Cho các em một quá khứ êm đềm, một hiện tại bình yên hạnh phúc và một tơnglai đợc đảm bảo, đó cũng là cách để tạo dựng một thế giới tốt đẹp cho tất cả mọingời

Thân bài :

Trang 8

1 Rất nhiều đứa trẻ từ những năm tháng ấu thơ cho đến khi trởng thành hiếm khi,

thậm chí cha bao giờ đợc nghe một lời bảo ban, khuyên nhủ dịu dàng của cha mẹ.Bất kì lúc nào, trong bất cứ chuyện gì, cha hoặc mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ đều cómột hình thức duy nhất đối với các em : quát tháo, mắng chửi bằng những lời lẽhết sức gay gắt, thô bạo ; hay nặng hơn là dùng roi vọt và đánh đập Biện phápnày đợc áp dụng trong tất cả mọi việc, mọi tình huống, chỉ cần cha mẹ khôngcảm thấy hài lòng, thì dù là chuyện nhỏ nh cái nhà cha đợc sạch, quần áo cha

đợc gọn gàng, đến những chuyện lớn hơn, nh bị điểm kém, đi học về muộn, bịcô giáo phê bình, đánh nhau, cãi lộn cha mẹ đều ngay lập tức dạy dỗ conmình bằng cách này Đối với họ, đấy là cách giáo dục con cái tốt nhất, bởi vìlàm nh vậy các em sẽ sợ và không bao giờ dám phạm lỗi nữa Theo họ đó còn

là cách để thể hiện tình yêu thơng, bởi vì "thơng cho roi cho vọt"

2 Thực chất, cách giáo dục này không phải là một biện pháp tích cực và có hiệu

quả Điều này đã đợc minh chứng bằng thực tế Rất nhiều đứa trẻ bớc ra khỏinhững năm tháng ấu thơ với nỗi ám ảnh không bao giờ mất về cách đối xử thôbạo của cha mẹ đối với bản thân mình Làm bất cứ việc gì cũng có thể bị chửimắng và khi lỡ phạm lỗi thì bị đánh đập thậm tệ Cứ ròng rã liên tục nh vậy, cuốicùng những đứa trẻ không tiến bộ lên chút nào mà thậm chí là còn ngợc lại : từngoan thành h, từ hiền thành dữ, từ thông minh lanh lợi hoá ra lì lợm, chậmchạp Nhìn chung, có hai xu hớng phát triển cơ bản : hoặc là quậy phá nghịchngợm, hoặc là trở nên trầm cảm khó gần Trớc mặt cha mẹ, các em dờng nhngoan hơn, nhng thực chất cái ngoan đó chỉ là đối phó Thậm chí, nhiều em đã cónhững phản ứng rất tiêu cực : bỏ nhà đi, hoặc tự vẫn Tất cả những biến đổi nh vậy

đều là biểu hiện của sự tổn thơng trầm trọng về mặt tinh thần Đối với những đứatrẻ này, tuổi thơ tơi đẹp trở thành những năm tháng u ám kinh hoàng ; tổ ấm gia

đình có thể trở thành địa ngục trần gian và cha mẹ trong mắt các em là những conngời nào đó hết sức xa lạ và độc đoán Các em mất đi cảm giác đợc yêu thơng,che chở, lúc nào cũng thon thót lo sợ và lâu dần có thể trở nên trơ lì Đó là điềurất nguy hiểm, bởi lẽ nó sẽ để lại một dấu ấn trong nhân cách, tâm hồn của các

em sau này

Giáo dục con cái bằng cách này sẽ để lại những hậu quả lớn, không chỉ đốivới trớc mắt mà còn là về lâu dài trong tơng lai của các em, của xã hội

3 Cha mẹ, ai cũng yêu thơng con cái, ai cũng muốn những đứa con của mình

tr-ởng thành nên ngời Thế nhng, giáo dục con cái nh thế nào để các em vừa cảmnhận đợc tình yêu thơng đó vừa có sự tiến bộ trong nhân cách là điều rất quantrọng Đứa trẻ nào cũng có thể dễ dàng mắc sai lầm Và đằng sau mỗi sai lầm đóbao giờ cũng có một nguyên nhân, một lí do Cha mẹ muốn dạy dỗ các em mộtcách có hiệu quả thì phải bắt đầu từ những nguyên nhân đó Tìm hiểu nguyênnhân, phân tích cặn kẽ phải trái, khuyên răn nhẹ nhàng nhng cơng quyết, thêmmột chút cảm thông độ lợng thiết nghĩ không có đứa trẻ nào mà lại không nghe,không trở nên tiến bộ Kiềm chế cơn nóng giận là điều quan trọng khi giáo dụctrẻ em Nhiều đứa trẻ rơi vào cảm giác oan ức, rồi đâm ra oán giận cha mẹ vì họkhông bao giờ để ý đến nguyên nhân vì sao các em làm nh vậy mà ngay lập tức xỉvả, thợng cẳng chân hạ cẳng tay cho hả cơn giận mà thôi

"Thơng cho roi cho vọt", điều đó không có nghĩa là bất cứ lúc nào cũng có

thể sử dụng bạo lực đối với trẻ em Đến một mức độ nào đó, chính những ngờilàm cha, làm mẹ đã và đang xâm phạm đến quyền trẻ em ngay trong gia đình củamình - điều mà cả xã hội đang quan tâm và bảo vệ

Kết bài :

Trang 9

Cha mẹ luôn là hiện thân của tình yêu thơng, của lòng nhân từ bao dung, lànơi những đứa con tìm về sau những sai lầm vấp ngã Đừng làm mất đi trong các

em tất cả những điều quí giá và thiêng liêng ấy

Thân bài :

1 Rừng đợc ví là lá phổi xanh của trái đất Thế nhng, lá phổi này đang ngày càng

nhỏ đi ở Việt Nam, hàng năm có hàng chục ngàn ha rừng bị phá huỷ Nhữngcánh rừng xanh thẫm, những khu rừng nguyên sinh giàu có giờ chỉ còn là vùng

đất trống đồi trọc, phơi ra những gốc cổ thụ trơ trọi, những thảm thực vật cằn cỗi.Những xe gỗ vẫn lặng lẽ đều đặn di chuyển về xuôi và những cánh rừng cũnglặng lẽ biến mất, để lại những khoảng trống ngày càng lớn trên bề mặt trái đất củachúng ta

2 Rất dễ thấy nguyên nhân của vấn đề này Ngời ta chặt rừng để lấy gỗ bán và lấy

đất canh tác Rừng bảo vệ che chở cho con ngời nhng đang bị tàn phá bởi chínhlòng tham và sự thiếu ý thức, thiếu nhận thức của con ngời

3 Khi những cánh rừng bị tàn phá và biến mất, hậu quả không hiện ra cụ thể và

ngay lập tức Nó sẽ đến rất từ từ, nhng sẽ rất lâu dài và khủng khiếp

Rừng trả lại cho trái đất một bầu không khí trong lành Hiện nay, bầu khôngkhí đang bị ô nhiễm và vẩn đục bởi bộ máy thanh lọc nó đang trở nên yếu đi Hạnhán, lũ lụt, thiên tai ngày càng tăng cũng bởi một phần từ đó

Rừng bị tàn phá dẫn đến hiệu ứng nhà kính và trái đất của chúng ta đang ngàycàng nóng lên, những khối băng khổng lồ ở hai địa cực có nguy cơ tan chảy Sựcân bằng sinh thái bị phá huỷ và con ngời sẽ sống nh thế nào khi môi trờng tựnhiên không còn

Nh vậy, phá rừng để lấy gỗ và lấy đất, cái lợi là dành cho một vài ngời nhngcái hại là dành cho tất cả Sự tồn tại của trái đất giữa vũ trụ đang bị đe doạ bởichính bàn tay con ngời

4 Cần phải ngăn chặn ngay tình trạng này Tất cả mọi ngời trong xã hội phải ý

thức sâu sắc về sự nguy hiểm và mức độ nghiêm trọng của nạn phá rừng hiện nay,

từ đó có chung một thái độ cơng quyết trong việc bảo vệ rừng Làm ngơ, tiếp taycho bọn buôn gỗ lậu cũng chính là đang khuyến khích cho nạn phá rừng ngàycàng phát triển Nhng cũng cần có thêm nhiều biện pháp cứng rắn và chặt chẽ hơntrong vấn đề này, cần kiên quyết xử lí những kẻ trực tiếp và gián tiếp phá rừng,

Trang 10

giúp dân từ bỏ thói quen canh tác lạc hậu Đồng thời, việc trồng rừng để bổ sungdiện tích rừng bị phá, phủ xanh đất trống đồi trọc, nhân thêm nhiều cánh rừngmới là một việc làm rất hiệu quả và là việc phải làm của con ngời.

Kết bài :

Hãy thử tởng tợng, đến một ngày nào đó, trên trái đất sẽ không còn một cánhrừng nào, con ngời sẽ phơi mình ra dới mặt trời nóng bỏng và cuồng phong của vũtrụ Và liệu sau đó trong tơng lai, trái đất có còn là hành tinh của sự sống nữa haykhông ? Bảo vệ những cánh rừng chính là bảo vệ bản thân cuộc sống của mỗichúng ta

Đề số 6

1 Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

2 Phân tích đoạn thơ :

Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe thùng xe có xớc

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trớc

Chỉ cần trong xe có một trái tim

(Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật)

Đỏp ỏn đề số 6

1 Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Bài làm

Đồng chí ! Ôi tiếng gọi sao mà thân thơng tha thiết quá Nó biểu hiện thật đầy

đủ tình đồng đội của anh bộ đội Cụ Hồ thời kháng Pháp Cảm nhận đợc tình cảmvừa thân quen vừa mới lạ trong cuộc sống chiến đấu ấy, Chính Hữu, một nhà thơ -

chiến sĩ đã xúc động viết bài thơ Đồng chí Với lời thơ chân chất, tràn đầy tình

cảm, bài thơ đã để lại bao cảm xúc trong lòng ngời đọc

Cả bài thơ thể hiện rõ tình đồng đội keo sơn gắn bó giữa những ngời chiến

sĩ quân đội nhân dân trong cuộc sống chiến đấu gian khổ Họ là những ngời xuất

thân từ nhân dân lao động chỉ quen việc "cuốc cày" ở những vùng quê nghèo khác

nhau, vì có chung tấm lòng yêu nớc, họ đã gặp nhau từ xa lạ bỗng trở thành thânquen Chính Hữu đã kể về những con ngời ấy bằng lời thơ thật xúc động :

Quê hơng anh nớc mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi ngời xa lạ

Tự phơng trời chẳng hẹn quen nhau

Họ đều xuất thân từ những vùng đất khô cằn, nghèo khổ "nớc mặn đồng chua", "đất cày lên sỏi đá" Từ "xa lạ" gặp nhau Thật là thú vị, nhà thơ không nói hai ngời xa lạ mà là "đôi ngời xa lạ", vì thế ý thơ đợc nhấn mạnh, mở rộng thêm.

"Hai ngời" cụ thể quá Đôi ngời là từng "đôi" một - nhiều ngời Trong đơn vị quân

đội ấy, ai cũng thế Hình ảnh những con ngời chẳng hẹn quen nhau nói lên một sự

xa lạ trong không gian và tình cảm Nhng khi tham gia kháng chiến, những conngời ấy cùng nhau chiến đấu, cùng nhau chịu đựng gian khổ, chung lng đấu cậtbên nhau Vì thế họ trở thành thân nhau, hiểu nhau, thơng nhau và gọi nhau là

"đồng chí".

"Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí"

Trang 11

Tình cảm ấy thật thân thơng, thật tha thiết Giọng thơ đang liền mạch nhẹ

nhàng, thủ thỉ tâm tình, bỗng ngắt nhịp đột ngột Từ Đồng chí lại đợc tách ra làm

câu riêng, một đoạn riêng Với cấu trúc thơ khác thờng ấy tác giả đã làm nổi bật ýthơ Nó nh một nốt nhấn của bản nhạc, bật lên âm hởng gây xúc động lòng ngời

Câu thơ chỉ có một từ Đồng chí - một tiếng nói thiêng liêng Đồng chí một sự cảm

kích về nhiều đổi thay kì lạ trong quan hệ tình cảm Thế là thành đồng chí

Tình cảm ấy lại đựơc biểu hiện cụ thể trong cuộc sống chiến đấu Những lúc kề

bên nhau, họ lại kể cho nhau nghe chuyện quê nhà Chuyện "Ruộng nơng anh gửi bạn thân cày", "Gian nhà không mặc kệ gió lung lay" cả chuyện "Giếng nớc gốc

đa nhớ ngời ra lính" Từ những lời tâm tình ấy cho ta hiểu rằng : Các anh chiến

sĩ mỗi ngời đều có một quê hơng, có những kỉ niệm thân thiết gắn bó với quê nhà

và khi ra đi hình bóng quê hơng đều mang theo trong họ Các anh lại cùng chia sẻngọt bùi, cùng chịu gian khổ bên nhau Trong gian lao vất vả họ lại tìm đ ợc niềmvui, niềm hạnh phúc trong mối tình đồng chí Làm sao các anh có thể quên đợc

những lúc ớt mồ hôi, cùng chịu với nhau từng cơn ớn lạnh Cuộc sống bộ đội nghèo vất vả nhng không thiếu niềm vui Dẫu áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá dẫu trời có buốt giá thì miệng vẫn cời tơi Tình cảm chân thành tha thiết ấy không diễn tả bằng lời mà lại thể hiện bằng cách nắm lấy bàn tay Thật

giản dị và cảm động Không phải là những vật chất của cải, không phải là nhữnglời hoa mĩ phô trơng Những ngời chiến sĩ biểu hiện tình đồng chí là bàn tay nắmlấy bàn tay Chính đôi tay nắm chặt ấy đã nói lên tất cả những ý nghĩ thiêng liêngcao đẹp của mối tình đồng chí :

Đêm nay rừng hoang sơng muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

đọc Nó nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích lí tởng chiến đấu và mốitình đồng chí thiêng liêng của anh bộ đội Cụ Hồ

Bằng ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh chân thực gợi tả có sự khái quát cao,Chính Hữu đã cho ta thấy rõ quá trình phát triển của một tình cảm cách mạngtrong quân đội ở đây nhà thơ đã xây dựng hình ảnh thơ từ những chi tiết thực củacuộc sống thực trong đời thờng của ngời chiến sĩ, không phô trơng, không lãngmạn hóa, thi vị hóa, chính những nét thực đó tạo nên sự thành công của tác phẩm.Bài thơ đánh dấu một bớc ngoặt mới trong phơng pháp sáng tác và cách xây dựnghình tợng ngời chiến sĩ trong thơ thời kì chống Pháp

Trang 12

Phạm Tiến Duật là một trong những gơng mặt xuất sắc của thơ ca Việt Nam

thời chống Mĩ cứu nớc Ông đợc gọi là "Viên ngọc Trờng Sơn của thơ ca" bởi thi

sĩ đã mang cả hào khí thời đại cùng dãy Trờng Sơn vào thơ Đặc biệt mảng thơ về

ngời lính lái xe của ông đã để lại ấn tợng thật thú vị, đó là "Vết xe lăn" nóng bỏng

trong những bài thơ Trờng Sơn thời chống Mĩ

Trong số những vần thơ thông minh, dí dỏm về ngời lính lái xe Trờng Sơn của

Phạm Tiến Duật, phải kể đến Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

Bài thơ đợc viết năm 1969, in trong tập "Vầng trăng - Quầng lửa" Hình tợng

thơ hết sức độc đáo : những chiếc xe không kính băng băng ra trận bất chấp hoàncảnh khắc nghiệt của chiến tranh Để cuối bài thơ, tác giả đa ra một ý tởng thật

bất ngờ - đó là "trái tim cầm lái":

Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe thùng xe có xớc

Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trớc

Chỉ cần trong xe có một trái tim

ở phần đầu bài thơ, Phạm Tiến Duật đã giải thích rất đơn giản mà sắc sảo :

"Không có kính không phải vì xe không có kính" bởi vì : "Bom giật bom rung kính

vỡ đi rồi" Thật là đơn giản ! Chiến tranh bom đạn tàn phá Xe không kính chắn

gió vẫn ra trận thanh thản mà ung dung Hai câu đầu khi kết, tác giả một lần nữatả hình dáng của chiếc xe quân sự thời chống Mĩ :

Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe thùng xe có xớc Đã không kính - gió, bụi, ma tuôn vào buồng lái, khó khăn chồng chất hơn khi

xe lại không có đèn, rồi không có mui xe thùng xe có xớc Một hình ảnh trần trụi

do chiến tranh gây nên Ngời lái xe phải huy động mọi giác quan, năng lực để lái

xe trong mạo hiểm, phiêu lu Tất cả đều vợt qua bởi :

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trớc Chỉ cần trong xe có một trái tim

Đây là chủ đề sâu thẳm của bài thơ Đây mới là điều hệ trọng và thiêng liêng

mà cả bài thơ vui nhộn cha hé lộ Nhà thơ đã nói đúng tinh thần thời đại : Xẻ dọc Trờng sơn đi cứu nớc - Mà lòng phơi phới dậy tơng lai (Tố Hữu) Cả nớc lên đờng

đánh Mĩ vì miền Nam ruột thịt Vậy là trái tim đã giúp những ngời lính vợt qua

gian khổ trên những chiếc xe không kính, không đèn, không mui xe Trái tim rực

lửa căm thù giặc Mĩ và nóng bỏng yêu thơng đồng bào miền Nam ấy chính là vẻ

đẹp sâu thẳm của tâm hồn Việt Nam thời đánh Mĩ, là trái tim nhân hậu, thủychung của cả dân tộc

Thơ là thể hiện con ngời và thời đại một cách cao đẹp Phạm Tiến Duật đãthể hiện thành công tâm hồn thế hệ trẻ Việt Nam yêu nớc trong những năm tháng

đánh Mĩ hi sinh gian khổ mà vĩ đại của dân tộc ta

Chiến tranh đã lùi xa, nhng thơ Phạm Tiến Duật và những "Vết xe trên dãy Trờng Sơn" sẽ còn nóng bỏng trong tâm hồn của những ngời Việt Nam yêu nớc Những chiếc xe độc đáo ấy của một thời đã góp phần làm nên huyền tích Trờng Sơn.

Đề số 7

1 Vẻ đẹp của ngời lính trong khổ cuối bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

2 Từ hiểu biết về bài Đồng chí của Chính Hữu, em hãy viết một đoan văn theo luận đề: Đồng chí mang một vẻ đẹp của thời đại mới.

Trang 13

Đáp án Đề số 7

1 Vẻ đẹp của ngời lính trong khổ thơ cuối bài Đồng chí (Chính Hữu)

Bài làm

Là ngời lính thuộc trung đoàn thủ đô rồi trở thành nhà thơ quân đội, Chính

Hữu chủ yếu viết về ngời lính và hai cuộc kháng chiến Đồng chí đợc sáng tác

năm 1948, là bài thơ thành công nhất của ông Cả bài thơ thể hiện rõ tình đồng

đội, đồng chí gắn bó keo sơn của những chiến sĩ quân đội nhân dân trong thời kìkháng chiến chống Pháp

Bài thơ mở đầu bằng những câu thơ mộc mạc, giản dị, chân chất khi tác giảgiới thiệu về quê hơng của các anh bộ đội Các anh mỗi ngời một quê - nhữngvùng quê nghèo khó - song đã về đây để cùng tham gia kháng chiến, cùng chịu

đựng gian khổ, chung lng đấu cật bên nhau

Cuộc sống ngời lính vất vả biết bao nhiêu Nào : áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá Lại nữa, những đêm trời rét chỉ có một mảnh chăn mỏng hay những cơn sốt rét rừng hành hạ Vợt lên trên tất cả những khó khăn đó để "Th-

ơng nhau tay nắm lấy bàn tay" Chính đôi tay nắm chặt ấy đã nói lên ý nghĩa

thiêng liêng, cao đẹp của tình đồng đội, của ý chí quyết tâm đánh giặc

Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đặc sắc :

Đêm nay rừng hoang sơng muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

Ba câu thơ là bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của ngời lính, làbiểu tợng đẹp về cuộc đời ngời chiến sĩ Trong bức tranh trên, nổi bật là ba hình

ảnh gắn kết với nhau : Ngời lính, khẩu súng, vầng trăng giữa cảnh rừng hoang

s-ơng muối phục kích giặc Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vợt lên tất cảnhững khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ, thiếu thốn Tình đồng chí đã sởi

ấm lòng họ Hình ảnh Đầu súng trăng treo là hình ảnh đẹp nhất vì nó vừa là hình

ảnh thực vừa là hình ảnh tợng trng

Tác giả Chính Hữu đã từng nói : "Đầu súng trăng treo, ngoài hình ảnh, bốn chữ này còn có nhịp điệu nh lắc của một cái gì lơ lửng chông chênh trong sự bát ngát Nó nói lên một cái gì lơ lửng ở rất xa chứ không phải là buộc chặt, suốt

đêm vầng trăng ở bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc nh treo lơ lửng trên đầu mũi súng Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng nh một ngời bạn" Đó là

hình ảnh thực của cuộc kháng chiến, của những ngời lính khi chờ giặc tới

Ngoài tả thực, hình ảnh "Đầu súng trăng treo" còn mang ý nghĩa tợng trng Đó

là sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, vừa thực, vừa mơ, vừa xa vừagần, vừa mang tính chiến đấu, vừa mang tính trữ tình Vừa chiến sĩ vừa thi sĩ Đây

là hình ảnh tợng trng cho tình cảm trong sáng của ngời chiến sĩ Mối tình đồngchí đang nảy nở, vơn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu Hình ảnh thơ thật độc

đáo, gây xúc động bất ngờ, thú vị cho ngời đọc Nó nói lên đầy đủ ý nghĩa cao

đẹp của mục đích lí tởng chiến đấu và tình nghĩa thiêng liêng của anh bộ đội CụHồ

Với nhịp chậm, giọng thơ hơi cao, ba câu thơ cuối của bài một lần nữa khắchọa chân thực mà sâu sắc về hình ảnh ngời lính trong thời kì kháng chiến chốngPháp

Tình cảm đồng chí, đồng đội là tình cảm thiêng liêng cao đẹp nhất củanhững ngời lính Đó là sức mạnh giúp họ vợt qua tất cả mọi khó khăn trở ngại,

mọi thiếu thốn để chiến thắng kẻ thù Bài thơ Đồng chí đặc biệt là ba câu kết nh

Trang 14

một lời nhắn nhủ với mọi ngời : Hãy biết nâng niu và gìn giữ những tình cảm đẹptrong cuộc sống, phải biết kính trọng những ngời lính

2 Từ hiểu biết về bài Đồng chí của Chính Hữu, em hãy viết một đoạn văn theo luận đề "Đồng chí mang một vẻ đẹp của thời đại mới".

Trong cái cầm tay nhau ấy, hình ảnh đất nớc và tinh thần đoàn kết giai cấp đợcdiễn đạt thật cao đẹp, cô đọng và thuyết phục Chính tình cảm cao đẹp và lí tởngsáng ngời "Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới" đó mà những ngời lính đợc nâng lêntầm cao khái quát trong đó có sự hài hòa giữa hiện thực và lãng mạn, trữ tình

Đầu súng trăng treo mang ý nghĩa sâu sắc cho tinh thần thời đại.

Đề số 8

Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã cho thấy hành

trang mang theo con đờng ra trận là trái tim yêu nớc ý kiến của em ?

Đáp án Đề số 8

Tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã cho

thấy hành trang mang theo con đờng ra trận là trái tim yêu nớc Hãy phân tích bài thơ để làm sáng tỏ nhận định trên.

Bài làm

Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻnhững năm kháng chiến chống Mĩ Bản thân là anh bộ đội Trờng Sơn, tác giả cảmthông và hiểu rõ tâm tình ngời lính, nhất là ngời chiến sĩ vận tải dọc Trờng Sơnchở vũ khí, quân trang từ hậu phơng lớn ra tiền tuyến lớn Cùng với thế hệ thanh

niên hăng hái "Xẻ dọc trờng sơn đi cứu nớc / Mà lòng phơi phới dậy tơng lai"

Phạm Tiến Duật mang niềm vui hăm hở của tuổi trẻ ra chiến trờng Nhà thơ đã tạocho mình một giọng điệu thơ rất lính : khỏe khoắn, tự nhiên, tràn đầy sức sống,

tinh nghịch tơi vui mà giàu suy tởng Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tác

phẩm tiêu biểu nhất của giọng thơ ấy, của hồn thơ ấy

Kết cấu của bài thơ là hành trình của con đờng ra trận Hành trình đó có nhữnglúc dãi dầu nắng ma, có những ngày vợt suối băng đèo và có tiếng reo cời trongtình thân chan hòa đồng đội, trong một mái ấm gia đình giữa đất trời bao la Kếtcấu đó trớc hết thể hiện qua số lợng chữ trong câu :

Mở đầu chặng đờng hành quân là những khó khăn Vì vậy khổ 1, câu thơ đầudài ra 10 chữ và kết thúc bằng thanh trắc - hoàn toàn trái quy luật phối thanh bình

thờng của thơ vần nhịp Nó là điệu nói :

Không có kính không phải vì xe không có kính

Ba câu tiếp theo, khó khăn dần rút lại, tạo nên sự ung dung phong thái

đỉnh đạc với số lợng chữ rút dần xuống và đằm lại về thanh điệu : 8- 6- 6, bằng - trắc

Trang 15

bằng-Hai câu thơ cuối khổ, thanh bằng chiếm tỉ lệ nhiều hơn, khoảng 2/3 Chính

sự thắng thế của thanh bằng đã tạo nên sự thanh thản, ung dung cho khổ thơ mặc

dù kết thúc của nó lại là thanh trắc Chính thanh trắc này lại mở đờng cho xe đi

tới : Nhìn thẳng

Năm khổ thơ tiếp theo, số lợng câu chữ trở lại bình thờng, hoán đổi đều đặn

ở hai kiểu kết hợp : 7- 8- 8- 7- và 7- 7- 8- 7 Đờng ra trận đẹp lắm, nên xe không

kính cứ chạy bon bon, ngời lái xe đã nhìn thấy, nhìn thấy và thấy Thấy gió xoa mắt đắng, thấy con đờng chạy thẳng vào tim Quan trọng nhất, thấy đợc nụ cời

rạng rỡ của nhau ấy cũng chính là thấy đợc lòng dũng cảm tiềm ẩn đằng saunhững câu đùa vui và hành động tếu táo :

Gặp bạn bè suốt dọc đờng đi tới Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi

Khổ thơ có một sự thay đổi đặc biệt so với toàn bài ở số lợng chữ trong câuthơ : 8- 8- 8- 8 Bốn câu thơ 32 chữ chia đều nhau thanh điệu bằng trắc ở bốn chữcuối và trở lại kiểu phối âm bình thờng bằng- trắc- trắc- bằng Câu kết của bàithơ mở rộng bằng thanh bằng :

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Đây là câu thơ mấu chốt của cả khổ thơ và cả bài thơ Hóa ra tất cả khó khănthử thách ở phía trên kia chẳng là gì cả, dù cho bom rơi, pháo thả, dù xe khôngkính, dù đờng ra mặt trận có khi đồng nghĩa với cái chết thì ngời lính lái xe ra

trận cũng luôn cảm thấy bình yên, an toàn bởi vì có một trái tim Đó là trái tim

biết thức vì Miền Nam, biết khát khao chân lí, hòa bình Hành trang ra trận cầnbiết bao một trái tim nh thế

Bài thơ đã khắc họa đậm nét hình ảnh ngời chiến sĩ quân đội nhân dân Việt

Nam : Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi Bài thơ không chứa đựng một ẩn ý

sâu xa nào khiến ngời đọc phải suy luận, nêu giả thiết hoặc là thế này hoặc là thếkia Tạo dựng hình ảnh thơ bằng ngôn ngữ thô mộc của đời sống thờng nhật,không sử dụng các loại mĩ từ, mĩ cảm, ẩn dụ, hình ảnh thơ thể hiện đạt tới độchân thực cao mà vẫn rất thơ, đó là tài nghệ của Phạm Tiến Duật trong lao độngsáng tạo Bài thơ có đầy đủ yếu tố cách tân và hiện đại nhng vẫn mang đậm bảnsắc của thơ ca dân tộc, nối tiếp truyền thống của thơ ca cách mạng viết về anh bộ

đội trong hai cuộc trờng chinh cứu nớc vĩ đại của dân tộc ở thế kỉ XX

Đề số 9

Hình ảnh ngời lính trong hai bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.

Đáp án Đề số 9

Hình ảnh ngời lính qua hai bài thơ Đồng chí (Chính Hữu) và Bài thơ về

tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật)

Bài làm

Lớp cha trớc lớp con sau

Đã thành đồng chí chung câu quân hành

(Tố Hữu) Trải qua ba mơi năm chiến tranh vệ quốc vĩ đại, dân tộc ta đã làm nên kỳ tíchhào hùng : đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Có thể nói, nhân vật trungtâm của thời đại đã làm nên huyền thoại, đó là anh bộ đội Cụ Hồ

Trang 16

Hình tợng anh bộ đội Cụ Hồ đã trở thành cảm hứng đẹp trong thơ ca hiện đại.

Trong số những bài thơ viết về đề tài này phải kể đến Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Hai bài thơ gắn với hai giai

đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ sẽ giúp chúng ta cảm nhận đầy đủ hơn

về hình ảnh ngời lính

Chính Hữu sinh năm 1926 Năm 1946 ông nhập ngũ, là lính trung đoàn Thủ

đô Đầu năm 1948 bài thơ Đồng chí ra đời khi ông là chính trị viên đại đội Phạm

Tiến Duật sinh năm 1941, năm 1964 gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến

đ-ờng Trđ-ờng sơn Bài thơ về tiểu đội xe không kính sáng tác năm 1969.

Hai nhà thơ thuộc hai thế hệ thi nhân nối tiếp nhau trong cuộc trờng chinh củadân tộc Hai thi phẩm mà chúng ta đề cập tới là hai trong những tác phẩm tiêubiểu của mỗi thời kì văn học Hay sự thể hiện hình tợng anh bộ đội Cụ Hồ Ngờilính trong hai bài thơ này là những hình ảnh tiêu biểu của thơ Việt Nam 1945 -

1975 sẽ còn sống mãi trong lòng ngời đọc

Đọc Đồng chí, cảm nhận chung của chúng ta là, ngời lính cách mạng trong

kháng chiến chống Pháp xuất thân từ nông dân Hình ảnh họ đợc Chính Hữu môtả chân thực, giản dị mà cao đẹp Khác với khuynh hớng lãng mạn anh hùngmang dáng dấp tráng sĩ trợng phu của thơ ca đầu chống Pháp, cảm hứng của

Chính Hữu trong Đồng chí hớng về chất thực của đời sống, khai thác cái đẹp và

chất thơ trong cái "đời thực" của cuộc chiến đấu và ngời chiến sĩ Cái đẹp trongkhó khăn, thiếu thốn và nhất là cái đẹp trong tình đồng chí, đồng đội, thắm thiết,sâu nặng :

Quê hơng anh nớc mặn đồng chua làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Tôi với anh đôi ngời xa lạ

Tự phơng trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí !

Đoạn mở đầu này có bảy dòng, theo ba cặp và cuối cùng dồn lại ở một từ :

Đồng chí Một sự lí giải tình đồng chí của nguời lính Đó là xuất phát từ sự giống

nhau ở cảnh ngộ, xuất thân từ nghèo khó, là cùng chung mục đích, lí tởng, nhiệm

vụ, chia sẻ gian lao (Súng bên súng đầu sát bên đầu/ Đêm rét chung chăn thành

đôi tri kỉ ) Một chữ chung khiến những ngời vốn xa lạ thành đôi tri kỉ và cao hơn

là thành đồng chí

Ngời xa đánh giá tình bạn cao nhất bằng tri kỉ Chính Hữu nhìn thấy ở anh bộ

đội Cụ Hồ một tình cảm còn sâu sắc hơn, gắn bó hơn - tình đồng chí Tình cảmnày không phải chỉ vì sự cảm thông sâu xa tâm t, nỗi lòng của nhau mà là cáichung lớn lao Là những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời chiến đấu Tất cả diễn

đạt bằng lời không đủ, bao nhiêu lời thân thơng, trìu mến nhất cũng trở thành sáorỗng, không chuyên chở nổi sức nặng cảm động giữa những ngời lính, ngời đồng

đội Vì thế đoạn thơ thứ hai có 10 dòng vẫn theo từng cặp tơng ứng để cuối cùng

dồn lại một hành động thay cho muôn lời : "Thơng nhau tay nắm lấy bàn tay".

Tình đồng chí giữa những ngời lính vệ quốc, nói nh Chính Hữu :

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run ngời vầng trán ớt mồ hôi

áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cời buốt giá

Chân không giày

Trang 17

Là tình cảm của cha ông thuở mới nổi dậy chống Pháp hồi giữa thế kỉ XIX

truyền lại Tình của những dân ấp, dân lân, "Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm - Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt cha từng ngó" (Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu) Những con ngời ấy vốn dĩ

không đi vào cuộc chiến đấu cam go, thiếu thốn này bằng óc lãng mạn Nhngcuộc chiến đấu trên chiến hào bảo vệ Tổ quốc đã khiến họ thành oai hùng, lãngmạn Bức tợng đài cuối bài thơ là sự phát triển tất yếu từ tình đồng chí :

Đêm nay rừng hoang sơng muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo Đó là cuộc đời thực của những ngời lính nông dân nghèo khổ nơi : nớc mặn

đồng chua, đất cày lên sỏi đá, áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày

đợc tình cảm cách mạng cao đẹp tạc thành dáng hình mới

Nếu Đồng chí là hình ảnh của anh lính nông dân cha biết chữ thời kì đầu kháng Pháp thì ngời lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một hóa thân khác.

Họ là những thanh niên học sinh đã qua 20 năm dới mái trờng Miền Bắc đi chiến

đấu, giải phóng Miền Nam thống nhất đất nớc Ngời chiến sĩ trong Bài thơ về tiểu

đội xe không kính không mang đặc điểm nh đã nói ở trên tuy vẫn cùng bốn phơng

hội tụ, với tất cả sự trong sáng, hồn nhiên, vô t Họ, những ngời chiến sĩ lái xe,

những chiếc xe từ trong bom đạn : đã về đây họp thành tiểu đội : Không có kính rồi xe không có đèn, không có mui xe Bởi vì : Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Nên phải chịu bao gian khổ : gió, bụi, ma xối xả song :

Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trớc Chỉ cần trong xe có một trái tim

Tình đồng chí, đồng đội trong bài thơ của Phạm Tiến Duật có cái tên chung là

ta, chúng ta Tất cả đều là đồng chí : trẻ, khỏe, dũng cảm bất chấp nguy hiểm Không có kính không phải vì xe không có kính / bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Nhng : Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng /Bụi phun tóc trắng cời ha ha / Ma tuôn mau thôi / Gặp bè bạn kính vỡ rồi / Họ không cần nhiều tìm hiểu, không cần phải đồng cảnh ngộ, với họ từ trong bom rơi họp thành tiểu đội Nếu hình ảnh ngời chiến sĩ trong bài Đồng chí là một bức tợng

đài : Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/ Đầu súng trăng treo thì ngời lính trong thơ Phạm Tiến Duật là một tổ hợp của những khuôn mặt trai trẻ, hồn nhiên Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là hai

tiêu điểm trong các tiêu điểm của hình tợng ngời lính - Anh bộ đội Cụ Hồ mà thơ

ca dựng lên từ 30 năm chiến đấu gian khổ đến ngày toàn thắng 1975

Đề số 10

1 Không khí lao động khẩn trơng, khỏe khoắn và tơi vui trong bài thơ Đoàn

thuyền đánh cá của Huy Cận.

2 Chép lại theo trí nhớ 4 câu thơ đầu và 4 câu thơ cuối bài Đoàn thuyền đánh cá.

a) Phân tích ý nghĩa của hai hình ảnh thơ Mặt trời xuống biển và Mặt trời đội biển Bình luận tính chính xác của hai từ xuống và đội.

b) Trong hai đoạn thơ này, tác giả diễn tả tâm trạng của ai ? Đó là tâm trạng gì ?

Đáp án Đề số 10

1.Không khí lao động khẩn trơng, khỏe khoắn và tơi vui trong bài thơ Đoàn

thuyền đánh cá của Huy Cận.

Trang 18

2 Chép lại theo trí nhớ bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ kết bài thơ Đoàn

1 Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một "bài thơ cuộc đời" Bài thơ đợc

sáng tác năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả.Thông qua một đêm đánh cá của đoàn thuyền lớn trên biển, tác giả ca ngợi kiểulao động mới mẻ của ngời lao động tràn đầy lạc quan tin tởng, làm chủ thiênnhiên, biển cả bao la Qua bài thơ ta cảm nhận đợc không khí lao động khẩn tr-

ơng, hăng say, nhộn nhịp của miền Bắc thời kì xây dựng CNXH

Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh :

Mặt trời xuống biển nh hòn lửa

Giới thiệu một ngày sắp kết thúc, sự vật bắt đầu nghỉ ngơi sau hành trình 12 giờ

mệt mỏi Thế nhng với con ngời làm nghề đánh cá thì lại khác, dấu hiệu mặt trời xuống biển mở ra một sự bắt đầu với Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Đánh cá

trên biển là công việc nặng nhọc, đầy nguy hiểm Vậy mà những ngời đánh cá

"lại" ra khơi với một tinh thần sảng khoái, tràn trề niềm vui, phấn chấn :

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Tiếng hát đợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần nh một điệp khúc và nó trở thành âmthanh chủ đạo trong bài thơ :

- Hát rằng : cá bạc biển Đông lặng

- Ta hát bài ca gọi cá vào

Tác giả miêu tả những con cá, những đàn cá gợi nên bức tranh sinh động về biểncả Hình ảnh đàn cá lóng lánh màu sắc nh một bức tranh sơn mài

Giữa khung cảnh mênh mông, rộng lớn, hình ảnh ngời lao động xuất hiện với tthế làm chủ thiên nhiên, biển cả, làm chủ công việc của mình Hình ảnh thật khỏekhoắn, rắn chắc :

Sao mờ kéo lới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Bằng cảm hứng lãng mạn, Huy Cận đã tô đậm lên hình ảnh những ngời lao

động mới với tầm vóc ngang tầm vũ trụ và hòa nhập với khung cảnh trời nớc bao

mới hiện lên với chiều kích của không gian, đó chính là niềm vui hăng say lao

động, làm giàu cho Tổ quốc bằng sức lực, trí tuệ của mình

Công việc nặng nhọc của ngời lao động đánh cá đã trở thành bài ca đầy niềmvui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên :

Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Tiếng hát làm cho họ đỡ mệt nhọc Còn trăng làm công việc đỡ vất vả hơn, vì ánh

trăng in mặt nớc, sóng nhịp nhàng xô bóng trăng dới nớc nh gõ vào mạn thuyền.Cái hiện thực đã đợc bút pháp lãng mạn chắp cánh làm đẹp thêm công việc đánh

Trang 19

cá của ngời lao động Nh vậy con ngời lao động đã chinh phục đợc tự nhiên Bàithơ kết thúc với cảnh rạng đông khi đoàn thuyền quay trở về :

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Cuối câu thơ là một hình ảnh tô đậm bức tranh sống động, hấp dẫn về thành quảcủa ngời lao động Sau một đêm làm việc vất vả, mệt nhọc, khẩn trơng nay họ đã

về bến với hình ảnh mắt cá huy hoàng cá phơi dài muôn dặm.

Đoàn thuyền đánh cá là khung cảnh lao động đầy khí thế của những con ngời

mới, của cuộc sống mới những tháng ngày hăng say xây dựng CNXH Bài thơ đãnói về lòng yêu nghề, yêu đời, yêu cuộc sống, yêu sự nghiệp xây dựng đất nớc

của những ngời lao động Bút pháp lãng mạn, cảm hứng không gian bất tận, Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ hay của thơ ca hiện đại sau cách mạng Tháng Tám.

a) Đoàn thuyền đánh cá là bài thơ nổi tiếng của Huy Cận, lấy cảm hứng từ cuộc

sống lao động đánh cá trên biển Hòn Gai vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX.Trong bài thơ này tác giả sử dụng rất nhiều hình ảnh đẹp, kì vĩ của thiên nhiên, vũ

trụ, đặc biệt là hình ảnh "mặt trời xuống biển" và "mặt trời đội biển" ở khổ thơ

đầu và khổ thơ kết Đây là hai hình ảnh nghệ thuật đặc sắc góp phần làm nênthành công của bài thơ

"Mặt trời xuống biển" và "Mặt trời đội biển" là hai không gian, thời gian

gắn liền với hoạt động của đoàn thuyền đánh cá Đoàn thuyền xuất phát khi biểnvào đêm, lúc vũ trụ nghỉ ngơi là lúc con ngời hoạt động Đoàn thuyền trở về khimột ngày mới xuất hiện trên biển, con ngời lao động thật hăng say, nâng lên tầmvóc vũ trụ

Từ "xuống" rất chính xác, diễn tả cảnh mặt trời lặn, nhng là xuống biển, tức

là đoàn thuyền xuất phát từ đảo xa bờ, không có bóng dáng đất liền, chỉ có bốn bề

là biển mênh mông Còn từ "đội" ở phần kết cũng rất chính xác vì diễn tả cảnh

bình minh trên biển, mặt trời nh đợc mọc lên từ biển, xuyên qua biển, tạo nênbình minh rực rỡ Hai hình ảnh này có ý nghĩa diễn tả đoàn thuyền lênh đênh trênbiển, nh thách thức biển khơi

b) Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là tiếng hát lãng mạn, hăng say lao động trên

biển Cái tôi trữ tình của nhà thơ hòa vào cái ta chung để diễn tả tâm trạng củanhững con ngời lao động mới xây dựng miền Bắc XHCN Đó là cái chất hào hùngkhông còn phải cúi mình trớc biển khơi Bài thơ đem đến một cảm hứng lạc quan,khắc tạc t thế chiến thắng của con ngời Họ ra khơi giữa trời đêm, trở về khi trờisáng Họ là những con ngời chinh phục thiên nhiên

Trang 20

Đề số 11

1 Hãy chọn một số câu thơ có giá trị nghệ thuật độc đáo trong bài Đoàn thuyền

đánh cá của Huy Cận để viết một bài văn có tên đề :

Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn

2 Viết lời bình cho khổ thơ sau đây :

Câu hát căng buồm với gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

(Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận)

Đáp án Đề số 11

1 Hãy chọn một số câu thơ trong bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận để viết một bài văn có tên đề : Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn.

Bài làm

Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là bài ca tuyệt đẹp của con ngời lao

động mới hăng say, khỏe khoắn giữa thiên nhiên kì ảo Gam màu chủ yếu của bức tranh thơ này là màu sáng lóng lánh Để rồi, khi đọc thi phẩm ta cảm tởng lạc vào

đêm hoa đăng chiến thắng trên biển - Hào hùng, tráng lệ và lãng mạn

Nh bao bài thơ khác, thiên nhiên xuất hiện trong Đoàn thuyền đánh cá thật quen thuộc : mặt trời, trăng, sao, gió, mây Tuy nhiên, bằng cái nhìn của một con

ngời mới XHCN, đi giữa miền Bắc hòa bình với ngòi bút miêu tả theo phong cách

ấn tợng đầy tài năng của Huy Cận, thiên nhiên đã trở nên chân thực, sống động

mà tráng lệ, rực rỡ kì vĩ, lớn lao mà tinh tế Bên cạnh hình ảnh thiên nhiên ấy, conngời hiện lên khoáng đạt, lãng mạn, tin yêu cuộc sống và tinh thần hăng hái lao

động Đặt mình vào t cách con ngời lao động trên biển khơi mênh mông, HuyCận đã lắng nghe đợc sự hòa hợp tuyệt diệu giữa thiên nhiên và con ngời

Bài thơ miêu tả hành trình ra khơi và trở về trong thắng lợi của đoàn thuyền

đánh cá gắn với hình ảnh mặt trời tráng lệ : "Mặt trời xuống biển nh hòn lửa"

-"Mặt trời đội biển nhô màu mới" Trong câu thơ đầu tác giả sử dụng hình ảnh ví

von vô cùng biểu cảm, giàu sức gợi và chuẩn xác Khi mặt trời xuống biển là lúc

có hình dáng quả cầu đỏ sẫm Những tia sáng phản chiếu dới mặt nớc, lung linh

nh hoa lửa Vẫn mang nét tráng lệ, nhng khác với hình ảnh mặt trời hoàng hôn ởphần đầu bài thơ, hình ảnh mặt trời ở cuối bài thơ lại là linh hồn của bình minh và

đồng hiện cùng với sự cập bến đầy tốt lành của đoàn thuyền đánh cá

Hình ảnh bao quát bài thơ cho ta cảm giác về vũ trụ bao la thơ mộng Đó là

mối quan hệ tơng hợp giữa con ngời với thiiên nhiên trong lao động, với mặt trời tráng lệ, với đêm trăng huyền ảo, với mây trời, sóng nớc và với cá - sinh lực, tinh

lực của biển

Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn trong bài chủ yếu là những hình

ảnh miêu tả trực tiếp thiên nhiên nhng đã gián tiếp làm rõ vẻ đẹp khỏe khoắn,khoáng đạt, tinh thần lao động hăng say, nhiệt tình của con ngời Chúng ta hãy

đọc những vần thơ :

Câu hát căng buồm cung gió khơi Thuyền ta lái gió với buồm trăng Ta hát bài ca gọi cá vào

Đêm thở : sao lùa nớc Hạ Long

Trang 21

Hàng loạt các hình ảnh thiên nhiên hiện ra cùng với hoạt động và tiếng hátcủa con ngời cùng đa con thuyền lao động tiến vào trùng dơng Trăng, sao, điểmtô cho bức vẽ con ngời xông pha vào đại dơng bao la thêm phơi phới hơn Nhịp

điệu lao động của con ngời đã mang nhịp thiên nhiên, vũ trụ một cách nhịp

nhàng, hài hòa Trong bài thơ : trời, mây, biển cả đợc tráng lệ hóa để mang hồn

lao động, con ngời lao động đợc cao cả hóa để mang tầm vũ trụ

Gấp trang thơ của Huy Cận lại, những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạnvẫn còn mãi trong trí tởng tợng của chúng ta Với cách sử dụng màu sắc, với cáchvận dụng các thủ pháp ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa và thậm xng, Huy Cận đã sángtạo nhiều hình ảnh đẹp, đầy ý nghĩa Một không gian tráng lệ tràn ngập niềm vui

và câu hát, một rạng đông trên biển và một rạng đông trong lòng ngời, vì đối với

Huy Cận "Trời mỗi ngày lại sáng" và "biển đang hát"

2 Viết lời bình cho khổ thơ sau đây :

Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

(Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận)

Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng âm hởng của tiếng hát vui say lao độngvẫn ngân nga trong lòng ngời :

Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Câu đầu tiên của khổ thơ này đợc lặp lại gần nh nguyên vẹn câu thứ t của

khổ thơ đầu bài thơ, chỉ thay một chữ "cùng" bằng "với", nó có ý nghĩa diễn tả : tạo ra cảm giác tuần hoàn, câu hát căng buồm đa thuyền đi thì giờ đây vẫn câu hát căng buồm lại đa thuyền về Nhng bây giờ đoàn thuyền trở về trong một t thế mới "chạy đua cùng mặt trời " Màu nắng chan hòa làm thành quả lao động thêm rực rỡ Hình ảnh mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi là sự kết hợp giữa màu sắc

của mắt cá và ánh sáng chan hòa của mặt trời Câu thơ kết là hay nhất bởi cách

dùng chữ thật tài tình : Mặt trời đội biển nhô màu mới - Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi Huy Cận miêu tả chính xác chuyển động của mặt trời, chuyển động từ

từ, ban đầu là ánh sáng nhô lên, sau đó mặt trời mới ló ra, mặt trời nhô lên kếtthúc một đêm tơng xứng với mặt trời xuống biển - kết thúc một ngày ở đầu bàithơ Và thành quả tốt đẹp (mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi) chính là cao tràocủa bài ca lao động

Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một bài ca ngợi ca lao động, ngợi ca biển

trời quê hơng giàu đẹp và những chủ nhân của đất nớc Sự hài hòa giữa con ngời

và thiên nhiên, tấm lòng và tình cảm của Huy Cận cùng với trí tởng tợng phongphú của nhà thơ tạo thêm sức hấp dẫn, ấn tợng về cuộc sống mới và con ngời mới

Đề số 12

Trang 22

1 Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

2 Bằng một bài văn ngắn, hãy viết cảm nhận của em về hình ảnh ngời bà trong

khác nhau : có khi là hình ảnh dung dị một bát canh rau muống, một chén cà dầm tơng, có khi lại là một ánh trăng quê Còn riêng với Bằng Việt, trong những năm tháng du học ở Liên xô, nhà thơ nhớ da diết Bếp lửa của bà :

Một bếp lửa chờn vờn sơng sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đợm

Cảm xúc về Bếp lửa của Bằng Việt bắt đầu từ đây Chúng ta hãy cùng đọc

và khẽ ngâm lên từng lời thơ để hòa nhập hồn mình bâng khuâng theo dòng cảmxúc đang trào dâng của tác giả

Thật xúc động biết bao ! Từ một đất nớc công nghiệp chỉ toàn bếp điện,

bếp hơi, với những ống khói con tàu, tác giả nhớ về một bếp lửa đang chờn vờn trong sơng sớm Và từ bếp lửa, nhớ đến kỉ niệm ấu thơ : Cháu thơng bà biết mấy nắng ma Cả một hồi ức kỉ niệm hiện về trong tâm trí nhà thơ, suốt một quãng đời vất vả bà cháu bên nhau : Mới lên bốn tuổi đã quen mùi khói Làng đói kém, bố

đi đánh xe thật vất vả - Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay Hồi tởng những năm tháng bà cháu cùng sớm hôm có nhau Bà kể chuyện những ngày ở Huế, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, bà dặn cháu viết th cho bố ở chiến khu, bà sớm

chiều nhen bếp lửa Lời kể sao mà ngậm ngùi tha thiết quá ! Nó gợi trong lòng

ngời bao niềm xúc động sâu xa Làm sao quên đợc : Những năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Bà đã dặn cháu :

Bố ở chiến khu, bố còn việc bố Mày có viết th chớ kẻ này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn đợc bình yên

Hình ảnh ngời bà hiện lên trong lời thơ ấy đẹp làm sao ! Bà lúc nào cũngsẵn sàng chịu đựng Bà là thế đấy! Suốt một đời tận tụy vì con, vì cháu Nh ngkhông chỉ có thế Vợt lên trên tình thơng ấy, bà còn là ngời làm việc âm thầm,lặng lẽ, biểu lộ ý thức trách nhiệm của mình với Tổ quốc Bà đã cùng chịu đựnggian khổ, cùng chia sẻ hi sinh cho cuộc kháng chiến này Càng lớn khôn, tác giả

càng nhận thức rõ tấm lòng cao quí của bà Ngời đã lận đận biết mấy nắng ma để

nhen nhóm trong lòng đứa cháu yêu quí của mình ngay từ tuổi thơ một tình cảm

rộng lớn hơn tình bà cháu thông thờng, đó là một ngọn lửa chứa chan niềm tin dai dẳng đối với đất nớc con ngời :

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đợm Nhóm niềm thơng yêu khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

Ôi kì lạ và thiêng bếp lửa Hình ảnh bếp lửa đợc lặp lại nhiều trong bài thơ có giá trị tu từ độc đáo.

Đây là hình ảnh tả thực trong cuộc sống đời thờng Song, đối với ngời đi xa quê

Trang 23

h-ơng lại là một dấu ấn khó phai mờ - Bởi vì chính bên cạnh bếp lửa hồng ấy, hình

ảnh ngời bà "còm cõi", "chập chờn", "sơng sớm" in đậm trong tâm trí tác giả từ

tuổi nhỏ Nhờ bếp lửa mà thời ấu thơ của tác giả êm đềm, ấm áp nh những câuchuyện cổ tích mà bà thờng hay kể Bếp lửa và ngời bà chính là nguồn sáng tâmhồn, nuôi dỡng tình cảm thơng yêu cho ngời cháu

Điều đáng nói nhất về bài thơ chính là ý nghĩa tợng trng của hình tợng bếplửa Đó là ngọn lửa niềm tin, ngọn lửa tình yêu, ngọn lửa của tâm hồn dân tộc đãnhóm lên trong tâm hồn nhà thơ những cảm xúc và suy nghĩ chân tình, đẹp đẽ.Hình ảnh bếp lửa trong quá khứ, trong hiện tại đan cài vào nhau, nâng cảm xúc và

t duy nhà thơ bay bổng dạt dào, hớng về gia đình, về nguồn cội, về quê hơng đấtnớc Sức hấp dẫn của bài thơ chính là ở đó Với giọng thơ ân tình tha thiết, nhà

thơ hồi tởng những năm tháng cùng bà "nhóm lửa" Hình ảnh chim tu hú kêu trên những cánh đồng xa gợi lên không khí của một buổi sớm tinh mơ, vắng vẻ, quạnh hiu Cùng với hình ảnh chim tu hú, hình ảnh bà cũng hiện lên còm cõi, đơn côi, vất vả trong tâm trí của nhà thơ Các vần nối tiếp nhau để diễn tả cảm xúc ấy : Xa, nhà, huế, thế, về tạo nên một âm hởng kéo dài liên tục không dứt Nhạc điệu

buồn, tha thiết, trầm lặng thể hiện nỗi nhớ nhung ngời bà :

Giờ cháu đi xa có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Nhng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở Sớm mai này bà nhóm bếp lên cha ?

Chính tình bà cháu cao đẹp và thiêng liêng kì diệu đã nhen nhóm tronglòng nhà thơ niềm tin yêu cuộc sống con ngời trên quê hơng đất nớc Đây là mộtbài thơ dạt dào cảm xúc Tác giả đã khéo léo sử dụng cách gieo vần, láy điệp từ vànhững hình ảnh có sức liên tởng độc đáo tạo nên giá trị cho bài thơ Ta cảm nhận

đợc tấm lòng biết ơn, nỗi nhớ nhung của nhà thơ dành cho ngời bà yêu dấu của

mình Bếp lửa đã khơi dậy trong ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, quê

h-ơng, đất nớc Đặc biệt là lòng biết ơn sâu nặng đối với ngời bà

2 Bằng một bài văn ngắn, hãy viết cảm nhận của em về hình ảnh ngời bà

trong bài thơ Bếp lửa.

Bài làm

Bếp lửa tái hiện hình ảnh ngời bà quen thuộc, yêu thơng mà trong thơ hiện

đại không phải dễ gặp

Bẳng Việt đã đem đến một biểu tợng tình bà yêu cháu vô cùng sâu nặng

Đó là những tháng năm xa chỉ còn trong kí ức, mẹ cha bận công tác, giữa thờibom đạn, bà chăm chút, yêu thơng dạy bảo cháu nên ngời Bà là nguồn sống gia

đình, là những gì tảo tần, nhẫn nại, giàu niềm tin, hết lòng yêu thơng, chăm lo,chi chút cho cháu và gia đình Bà là ngọn lửa của tình thơng hạnh phúc con cháu

Bà khơi dậy và làm bùng lên khát vọng Hành động nhóm bếp không chỉ là hình

ảnh đời thờng ấm áp mà chính là ngọn lửa của sự sống Khi viết những dòng thơ

Bếp lửa, tác giả đang ở xa Tổ quốc và đã trởng thành Đây là một bài thơ thật sự

sâu sắc về tình yêu đất nớc trong hình ảnh dung dị của ngời bà - quê hơng

Hồi ức về những ngời thân yêu bao giờ cũng sinh động, ta càng rời xa tuổi

thơ thì kỉ niệm càng thân thiết, gần gũi, cảm động Bếp lửa là một hồi ức tuyệt

đẹp về ngời bà, nhắc nhở mỗi ngời về tình yêu cụ thể trong tâm hồn và trái timnhững ngời Việt Nam yêu nớc

Đề số 13

Từ bếp lửa đời đến Bếp lửa trong thơ Bằng Việt

Trang 24

Đáp án Đề số 13

Từ bếp lửa đời đến Bếp lửa trong thơ Bằng Việt

Bài làm

Đọc “Bếp lửa” của Bằng Việt tôi đã mờng tợng ra một chàng trai trẻ trong

cái giá lạnh của mùa đông Ki-ép ở đất nớc U-crai-na xa xôi đơng cặm cụi sởi ấmnhững nguồn thơng qua từng chữ, từng câu mà đợc thắp lên ngọn lửa đợm đà củamột thời thơ ấu đẹp đẽ sống bên ngời bà yêu dấu

Đến nay đã hơn bốn thập kỉ kể từ khi bài thơ ra đời, ta thực khó rõ đã có bao

nhiêu trái tim rung cảm mỗi khi đến với “Bếp lửa” Chỉ biết đằng sau mạch cảm

xúc dạt dào của hoài niệm kia sẽ là gì nếu không phải một tình lan tỏa với cái

nóng, cái nồng đợm của “Bếp lửa quê nhà , ” với sự ấm áp, ấp iu của “ngọn lửa tình ngời

Có lẽ khi nhắc về quá khứ, nhất là những thời điểm đẹp đẽ, ngời ta vẫn thờng

kể nhiều hơn Với “Bếp lửa” nhà thơ Bằng Việt thực đã dắt dẫn ngời đọc vào sâu

trong mạch kể, mạch hồi tởng của ông Hồi ức đẹp một đi không trở lại của tuổithơ đợc tái hiện không phải bằng một trí nhớ lan man, chắp vá Trái lại, ở sâu

trong tiềm thức của tác giả, hình ảnh “Bếp lửa” và “ngời bà” lúc nào cũng tỏ sáng

lạ kì - trở thành một điểm đi về trong cõi nhớ Dòng suy tởng và hoài niệm củangời cháu xa quê nhà có lẽ đều đợc khởi nguồn từ những hình ảnh đầy giản dị màthân thơng, ấm áp vô cùng

Việc đồng hiện lên hình ảnh “Bếp lửa” và “bà” trong bài thơ thật dễ khiến

cho ngời ta có một sự liên tởng về mối quan hệ lạ kì, thiêng liêng Từ bếp lửa của

củi rơm đến “Bếp lửa” của lòng ngời có lẽ hơn bao giờ hết con ngời cảm nhận

thật rõ về tình bà cháu, tình quê nồng ấm

Một bếp lửa chờn vờn sơng sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đợm Cháu thơng bà biết mấy nắng ma Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hum nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.

Cái “nỗi nhớ về bếp lửa” đợc nói trực tiếp song không vì thế mà giảm đi

phần sâu lắng, tinh tế Hình ảnh “Bếp lửa” gợi nhớ bằng nhiều giác quan bằng trí

tởng tợng Thị giác (chờn vờn sơng sớm), cảm giác (ấp iu nồng đợm) và khớu giác(sống mũi còn cay) rồi xúc giác (hun nhèm mắt cháu) Tác giả hớng mọi giácquan để quay về sống lại kỉ niệm trong trí tởng tợng Dờng nh không còn cảmgiác khoảng cách của thời gian ở đây nữa, mọi hình ảnh gắn với bếp lửa đã táihiện chân thật, rõ ràng từ một thời kí ức xa xôi ! Hình ảnh bếp lửa còn gắn với ng-

ời bà đầy thân thơng Tuy không trực tiếp nói ra song ngời đọc hình dung đợccông việc của ngời bà : “nhóm bếp” Tuổi thơ của cháu gắn với bếp lửa, với mùikhói cay nhèm và cũng gắn chặt với bà Phải chăng hình ảnh: “Một bếp lửa ấp iunồng đợm” chính là hoá thân của tình cảm bà dành cho cháu Vì vậy có lẽ tìm vềvới bếp lửa quê nhà cũng chính là tìm về tuổi thơ sống bên bà dành cho cháu Sựtơng đồng đẹp đẽ ấy dễ thờng mấy ai nhận ra Chỉ có Bằng Việt với khoảng cáchthời gian đầu đời trong sáng đợc gắn bó bên bà mới có thể “cảm” sâu sắc đến thế,cái tởng chừng quá bình dị, mộc mạc Đắm mình trong dòng hồi ức tơi mát củatác giả, chúng ta muốn tìm đến với những tình thơng yêu nồng hậu nh thế

“Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Trang 25

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Nhóm bếp lửa nghĩ thơng bà khó nhọc

Cái ấm áp của “Bếp lửa” và “tình ngời” trong sự tơng đồng, ta đã biết Đằng

sau đó dờng nh còn có một sự tơng đồng nữa Bếp lửa và ngời bà đều là những gì

gắn bó, thân thơng nhất với kỉ niệm của cháu Nếu “Bếp lửa củi rơm” gắn với cảm

nhận “mùi khói”, với kỉ niệm “khói hun nhèm mắt cháu”, với d vị “sống mũi còncay” thì ngời bà gắn với tuổi thơ cháu vừa nh một ngời biết chăm sóc, vừa nh mộtngời bạn lớn Những kí ức nh ùa vào trong tâm tởng cháu Đó là từ năm : "lên bốntuổi cháu đã quen mùi khói”, lại cả những năm “đói mòn đói mỏi”, những lúc bàhay kể chuyện những ngày ở Huế những khi “giặc đốt nhà cháy tàn, cháy trụi”

Từ lúc nào tuổi thơ nhỏ bé của cháu đã đợc truyền hơi ấm từ bếp lửa, từ bà ! Một

điều không thể ngẫu nhiên là : mỗi khi nhắc về bếp lửa thì lại thấy xuất hiện ngời

bà và mỗi khi xuất hiện ngời bà lại thấy công việc của bà xoay quanh bếp lửa

Nhóm bếp lửa nghĩ thơng bà khó nhọc.

Không nói mà tình cảm vẫn dạt dào, không hô hào, bồng bột mà ngời ta vẫnkhông thể làm ngơ trớc sự chân thành Đó có lẽ là những gì Bằng Việt đã làm khi

dựng lên hình ảnh song song mà hoà hợp với nhau giữa “Bếp lửa” và “ngời bà”.

Trong kỉ niệm, trong cảm xúc của mỗi nỗi nhớ, lí trí đã nhờng chỗ cho tình cảm

và cái rõ ràng, minh bạch đã nhoè đi để đợc thêm những cái mơ màng, chập chờncủa hồi ức Hình ảnh bà và bếp lửa qua tâm trạng ấy đã đồng nhất, hoà quyện vớinhau Tuy một mà hai tuy hai mà một để chỉ còn hiện lên trong tâm tởng ngờicháu của một cái gì thật ấp iu, nồng đợm

Hình ảnh bếp lửa trong bài thơ xét cho kĩ thì chính là điểm gợi hứng, là cầunối để đứa cháu phơng xa ngàn dặm gửi tình thơng nỗi nhớ về bà, về quê hơng.Nhng qua dòng hồi tởng nhẹ nhàng tơi mát của cháu, bếp lửa của củi rơm kiacũng không còn là bếp lửa bình thờng nh cái nhìn trớc đó Nó trở thành một hình

ảnh cứ trở đi trở lại trong bài thơ, trong tâm trí ngời cháu và không lần nào cáibếp lửa bình dị ấy không gắn với hình ảnh ngời bà tảo tần, đầy thân thơng Và vì

lẽ đó mà ngời ta có cảm giác bếp lửa kia chính là tình cảm của ngời bà đôn hậu

Nếu có một bếp lửa quê nhà vẫn “chờn vờn sơng sớm” thì cũng có một ngọn lửa tình bà “ấp iu nồng đợm” Có lúc hai thứ lửa ấy cùng tách ra, lại có khi hợp

cùng nhau Khi tách ra nó gợi về những kỉ niệm : kỉ niệm về bếp lửa củi rơm

(“khói hun nhèm mắt cháu , sống mũi còn cay” “ ”) kỉ niệm về bếp lửa tình bà (“Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế , bà dạy cháu làm bà chăm cháu học” “ ”) Nhngkhi đã hoà hợp với nhau nó trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng, kì lạ biết baotrong cái bình dị Sống mũi còn cay là thực của ngày xa ngồi cạnh bếp lửa, bên bà

và là thực của hôm nay (và chắc là mãi mãi) của tình bà cháu

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đợm

Nhóm niềm yêu thơng khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm hồn tuổi nhỏ

Ôi kì lạ và thiêng liêng - Bếp lửa ”Trong cái hoà quyện tuyệt vời, ngời ta thấy cái nóng cái đợm của bếp lửa củi

rơm cũng nh cái nồng cái ấm áp của bếp lửa lòng ngời “Bếp lửa” kì lạ, thiêng

liêng ấy nhóm “khoai sắn ngọt bùi”, “nồi xôi gạo mới” cũng dành nhóm cả “niềmyêu thơng”, “tâm tình tuổi thơ” Thực là diệu kì Tại sao nói đoạn thơ trên là mộttrong những đoạn hay nhất của bài thơ, câu trả lời có lẽ nằm ở cái tình ấm lửatrong đó mà lúc nào cũng đợc ấp ủ

Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng

Trang 26

Tình cảm của bà rõ ràng đã đợc tợng trng hoá với “ngọn lửa” Nếu nói “Bếp lửa” e cha thật trúng, còn nói “ngọn lửa” thì ngời ta cảm thấy cái linh hồn, tình

cảm đã nằm ngay ở đó Ngọn lửa ấy phải chăng là tâm huyết, nhiệt huyết (chứa

niềm tin dai dẳng) phải chăng là tình yêu (lòng bà luôn ủ sẵn) Từ “Bếp lửa” đến

“ngọn lửa” có lẽ là hành trình từ cái đơn sơ giản dị đến những cái thiêng liêng cao cả, từ cái thực đến cái linh hồn Một lần nữa hình ảnh “Bếp lửa” hay “ngọn lửa”

đã tiếp tục tôn cao lên tấm lòng chân chất, tình thơng giản dị sâu sắc mà đôn hậu

của bà Có thể chấp nhận đợc chăng khi ta hình dung “Bếp lửa” trong kí ức tuổi

thơ của tác giả chính là hiện hữu của một tình yêu nồng nàn, đợm đà bà dành cho

cháu ? Cái chính là bà lúc nào cũng ấp ủ một ngọn lửa vô hình song “dai dẳng ,

thiêng liêng

” để lúc nào cũng vậy hễ nhắc tới “Bếp lửa” thì tác giả và ngời đọc

luôn cảm thấy có bà trong đó

Chẳng phải vô tình mà trong suốt bài thơ, hình ảnh “Bếp lửa” cứ ám ảnh tâm

trí Bằng Việt nh vậy Không dới mời lần tác giả nhắc tới hình ảnh đó và lần nàocũng kèm theo sự xuất hiện của bà Tác giả đang làm cái công việc của ngời đi so

sánh, thí dụ giá trị hai vẻ đẹp “Bếp lửa” và “ngời bà” chăng ? Không hẳn nh vậy !

Đọc kĩ lại ta thấy Bằng Việt đã làm một mĩ từ pháp có hiệu quả cao nhất: ẩn dụ.Hình ảnh bếp lửa là ẩn dụ của ngọn lửa nồng hậu nơi ngời bà, và tình cảm ngời bà

chính là ẩn dụ ngọn lửa - một thứ tình yêu cao cả nhất Ta đã biết “ngời bà” và

“Bếp lửa” là hai giá trị chẳng thể nào tách rời trong hồi ức của tác giả thì lẽ nào

tác giả lại đi làm công việc trái ngợc nhau : phân tích hai hình ảnh để so sánh ?

“Bếp lửa” tợng trng cho cái đơn sơ, khiêm nhờng Đã bao giờ chúng ta nghĩ về

bếp lửa nhà mình nh thế này cha : nó giản dị, đơn sơ (chỉ vài que củi, một ômrơm, một cái kiềng là thành một bếp lửa) Nó cũng thật khép nép khi thu mìnhvào trong góc bếp chật chội Nhng bếp lửa cũng là một cái gì đó rất ấm áp nồng

đợm (những ngày đông lạnh thấu da thấu thịt) Ngời bà cũng vậy : thật chân chất,mộc mạc, dân dã, quê kiểng song ẩn chứa tình yêu vô bờ, tha thiết, chan chứa.Qua con mắt nhà thơ, bếp lửa và bà bình dị, cao quí, thiêng liêng Lấy hình ảnhcủa bếp lửa để nói về tình cảm của bà dành cho mình, thiết tởng Bằng Việt phảinặng lòng với bà, với quê hơng lắm

Một đứa con xa quê hơng, một đứa cháu xa bà luôn luôn thờng trực trong nỗi

nhớ về “Bếp lửa” - về tình yêu ấm nồng tởng nh cái lạnh cái cô đơn ở quê ngời cũng đôi chút vợi đi vậy Nhng nhớ về cái “Bếp lửa” phải chăng cũng đồng nghĩa

với việc nhớ quê nhà, nhớ về bà đồng nghĩa với việc nhớ về tổ ấm gia đình vớiniềm vui sum họp

Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà Niềm vui trăm ngã

Nhng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở Sớm mai này bà nhóm bếp lên cha? ”

Trong tình cảm của bà có tình cảm của đất nớc, tác giả nhớ đến tình bà cũng

là nhớ đến đất nớc quê hơng Có ngời từng nói: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm,yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc” Nói nh vậy có nghĩa là tình cảm của bàtrở nên lòng yêu Tổ quốc là một ẩn dụ của tình cảm của đất nớc dành cho những

ngời xa quê Hành trình từ “Bếp lửa” đến “Bếp lửa” là hành trình của giọt nớc hoà vào suối và đổ ra sông Càng ngày càng thiêng liêng, cao cả “Bếp lửa” là một

dòng hồi tởng “chờn vờn”, “nồng đợm”, rực sáng mãi không thôi trong lòngnhững ngời dù chỉ đến với nó một lần Làm sao chúng ta sống lại tuổi ấu thơ cảm

động bên ngời bà yêu dấu với tình thơng bao la, sâu đậm ở một miền quê cònnhiều đau khổ Một ngọn lửa mãnh liệt nh vậy liệu có bao giờ vụt tắt đợc chăng ?

Trang 27

Đề số 14

1 Phân tích hình ảnh ngời mẹ trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lng

mẹ của Nguyễn Khoa Điềm

2. Phân tích đoạn thơ :

Em Cu Tai ngủ trên lng mẹ ơi

Lng đa nôi và tim hát thành lời

(Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ)

Đáp án Đề số 14

1 Phân tích hình ảnh ngời mẹ trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn

trên lng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm

Bài làm

Khúc hát ru những em bé lớn trên l

vào ngày 25 tháng 3 năm 1971, là một trong số những bài thơ hay của ông Nổibật trong bài là hình ảnh ngời mẹ Tà Ôi nh là biểu tợng về ngời mẹ Việt Nam anhhùng Đó là một con ngời rất mực thơng con nhng cũng vô cùng yêu nớc Dờng

nh đứa con yêu quí và đất nớc thân thơng nuôi con nên ngời và đánh giặc giảiphóng quê hơng là những gì trọng đại nhất cao quí nhất của ngời mẹ này trongnhững năm đất nớc phải gồng mình chống đế quốc Mĩ xâm lợc

Bài thơ đồng thời là lời hát ru Tác giả ru em Cu Tai ngủ ngoan (đồng thờimiêu tả hình ảnh ngời mẹ) Ngời mẹ trong bài ru em ngủ ngoan nhng đó là lời ru

thầm, lời ru trong tim (Lng đa nôi và tim hát thành lời) Lời ru của tác giả và lời

ru của ngời mẹ nối tiếp nhau, đan cài, hoà quyện vào nhau làm nên những khúchát ru vừa đằm thắm, dịu dàng, vừa trầm t, sâu lắng Vì kết cấu bài thơ nh nhữngkhúc hát ru nên bài thơ cứ trở đi trở lại một số khúc giống nhau nh những nétnhạc chủ đạo trong một bài hát Bài thơ có ba khúc ru Mỗi khúc hát ru là một

đoạn thơ ở đoạn thơ thứ nhất, ngời mẹ ru con khi địu con trên lng và giã gạo nuôi bộ đội Giấc ngủ của em nghiêng nghiêng theo nhịp chày, thấm mồ hôi lao

động vất cả của mẹ Ngời mẹ Tà Ôi thơng con nhất mực không lúc nào chịu rời

con đã lấy lng làm nôi và đôi vai gầy làm gối cho con Và lời ru con của mẹ cất

lên bên cối gạo giữa sàn nhà cũng chính là lời tâm sự, lời tự nhủ, lời mẹ thầm nóivới chính mình Lòng yêu con của mẹ gắn liền với tình thơng yêu bộ đội :

Mẹ th

ơng A Kay, mẹ thơng bộ đội Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần Mai sau con lớn vung chày lún sân ”

Ước mơ của ngời mẹ nối liền với giấc mơ của con và cùng hội tụ lại trongtình thơng yêu sâu sắc những anh bộ đội Trong đoạn thơ thứ hai, bà mẹ Tà Ôi địucon đi tỉa bắp trên núi Ka Li Tình thơng yêu và niềm hi vọng vô bờ của ngời mẹ

đối với đứa con đợc thể hiện bằng lời và những hình ảnh độc đáo :

Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ con nằm trên lng.”

Trong câu thơ trên hình ảnh mặt trời là một hình ảnh thực Mặt trời đem lại

ánh sáng, sự sống cho cây cỏ, làm cho cây cỏ thêm tơi tốt, nh cây ngô bắp to, hạtmẩy Hình ảnh mặt trời ở câu thơ sau là ẩn dụ Tác giả so sánh ngầm Cu Tai là

mặt trời của mẹ Coi con nh mặt trời thì quả là lòng mẹ yêu quí con vô hạn, mong

đợi ở con rất nhiều Đó là ánh sáng, là nguồn sống, là niềm vui, là niềm hạnh

Trang 28

phúc, là tất cả tơng lai của mẹ Hai câu thơ, hai hình ảnh tôn nhau lên, đối ý vớinhau, đã làm nổi bật tình thơng yêu sâu sắc và niềm hi vọng lớn lao của ngời mẹ

đối với đứa con Lời ru của ngời mẹ Tà Ôi ngân nga trong trái tim mẹ khi mẹ địucon đi tỉa bắp vẫn hớng về đứa con thơ yêu quí của mình Lòng thơng yêu con của

mẹ trong hoàn cảnh này gắn liền với tình thơng yêu dân làng - những ngời dân lao

động nghèo đói :

Mẹ th

ơng A Kay, Mẹ thơng làng đói Con mơ cho mẹ hạy bắp lên đều Mai sau con lớn phát mời Ka Li

Trong đoạn thơ thứ ba, ngời mẹ địu con trong t thế đang chuyển lán , đạp“ ” “

rừng” Bà mẹ băng rừng, địu con trên lng đa con đi để giành trận cuối“ ” Lòng

yêu con của mẹ đến đây gắn liền với lòng yêu nớc : “Mẹ thơng A Kay mẹ thơng

đất nớc” Ngời mẹ gửi gắm vào giấc mơ của con niềm khao khát đợc gặp Bác Hồ

tim của mẹ khi mẹ địu con giã gạo, tỉa bắp trên núi, khi mẹ chuyển lán , đạp“ ” “

rừng” hoặc trên đờng ra chiến trờng để giành trận cuối Nh vậy, bà mẹ Tà Ôi là

một ngời mẹ lao động, trực tiếp sản xuất, phục vụ cho chiến đấu của toàn dân tộc.Tình thơng con, thơng bộ đội, thơng dân làng, thơng đất nớc hoà quyện vào nhautrong tấm lòng của một ngời mẹ miền núi yêu nớc trong những năm tháng chống

Mĩ khó khăn, gian khổ

Theo lời ru (và cũng là tình yêu thơng của mẹ), theo bớc chân của ngời mẹ

Tà Ôi, không gian cũng đợc mở rộng dần: từ sân (khi mẹ giã gạo) đến ngọn núi

Ka Li (khi mẹ đi tỉa bắp) rồi đến những rừng những suối khi mẹ chuyển lán đạprừng Và ớc mơ, khát vọng của ngời mẹ gửi gắm qua lời hát ru tha thiết, nặng tình

nặng nghĩa ấy cũng mỗi lúc một lớn dần : “Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần”

đến “Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều” Từ mong muốn “Mai sau con lớn vung chày lún sân” đến “Mai sau con lớn phát mời Ka Li” cuối cùng cũng bùng lên thành một khát vọng cháy bỏng “Mai sau con lớn làm ngời tự do” Tinh thần,

không khí sục sôi của đất nớc trong những năm tháng đánh Mĩ đã đi vào lời hát rucủa những bà mẹ Cuộc chiến tranh nhân dân khiến cả đến những bà mẹ miền núi

có con nhỏ vào cuộc chiến đấu hi sinh, gian khổ Biết bao em bé đã “lớn trên lng mẹ” đi đến chiến trờng” và trong số họ không ít những ngời đã thành những anh

hùng dũng sĩ Qua những khúc hát ru với những điệp khúc đã trở đi trở lại nhngvẫn có sự biến hoá phát triển, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện thật sinh động, ám

ảnh đầy sức mạnh nghệ thuật khát vọng mãnh liệt độc lập tự do của toàn dân tộc

2 Phân tích đoạn thơ :

Em cu Tai ngủ trên lng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lng mẹ

Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng

Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lng đa nôi và tim hát thành lời.

(Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ, Nguyễn Khoa Điềm)

Bài làm

Nhà thơ Nguyễn Duy đã viết :

Ta đi trọn kiếp con ngời

Trang 29

Vẫn cha đi hết những lời mẹ ru

Lời ru của mẹ chính là nguồn năng lợng tinh thần để giúp mỗi chúng ta ởng thành nên ngời Bởi thế cảm xúc về lời ru của mẹ đã đi vào nghệ thuật và thơ

tr-ca Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng xuất phát từ truyền thống này nhng có sự

sáng tạo rất mới với Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ.

Bài thơ đợc viết năm 1971 in trong tập "Đất và khát vọng" Cảm xúc bao

trùm bài thơ là tình cảm chân thành của tác giả về hình ảnh ngời mẹ dân tộc Tà

Ôi với tình thơng con, thơng bộ đội, yêu đất nớc

Đoạn thơ mở đầu chính là lời hát ru của tác giả nói về hình ảnh mẹ giã gạo nuôi

bộ đội và rất yêu thơng con :

Em cu Tai ngủ trên lng mẹ ơi

Lng đa nôi và tim hát thành lời

Mở đầu là điệp khúc ngọt ngào tha thiết: Em Cu Tai ngủ trên lng mẹ ơi/ Em ngủ cho ngoan đừng rời lng mẹ.Tác giả vỗ về em Cu Tai ngủ bởi vì : mẹ giã gạo

mẹ nuôi bộ đội, nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng Tiếng ru con ngủ

"nghiêng" theo nhịp chày làm cho giấc ngủ của em cũng "nghiêng" theo Concũng đang chia sẻ theo công việc của ngời mẹ Công việc giã gạo nuôi bộ độikhông chỉ là công việc đơn thuần mà nó thật sự có ý nghĩa cao cả, hớng về sựnghiệp chung của cuộc kháng chiến chống Mĩ của toàn dân tộc

Sự vất vả của mẹ đợc diễn tả trong câu thơ :

Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lng đa nôi và tim hát thành lời

Hàng loạt các hình ảnh hoán dụ : mồ hôi, vai, lng, má, tim, đợc sử dụng rất

đắt để thể hiện trái tim yêu thơng mênh mông của ngời mẹ nghèo đặc biệt là hình

ảnh "má em nóng hổi" vì giọt mồ hôi tuôn rơi của mẹ, lng mẹ là chiếc nôi để conlớn lên, tim mẹ dạt dào tình mẫu tử đã hát thành lời đó là tiếng hát từ trái tim, từcảm xúc yêu thơng con của ngời mẹ Đây là một câu thơ đặc sắc, chứa hai hình

ảnh đẹp : Lng đa nôi và tim hát thành lời

Qua đoạn thơ thứ nhất, khúc hát ru của tác giả, ta thấy đợc tình cảm chân thànhcủa ngời mẹ nghèo vất vả, lam lũ nhng có lòng thơng con, yêu nớc Ngời mẹ Tà

Ôi đã trở thành biểu tợng của đất nớc

Đề số 15 1.

Viết về những kỉ niệm sâu sắc với một ngời bà kính yêu trong đó có sử dụng yếu

Trang 30

việc nội trợ, bếp núc Bà tôi bảo : Đối với con ngời, hạt gạo là quí giá nhất !”.

Mỗi lần đong gạo từ thùng ra cái rá, bà tôi thờng làm rất thong thả, cẩn thận :không bao giờ để vơng vãi hạt nào ra ngoài Một lần bà tôi bị mệt nên tôi phải lochuyện cơm nớc Khi tôi bê cái rá gạo ra cửa, chẳng may trợt chân, nhng vẫn g-ợng gạo đi, chỉ có vài ba hạt gạo văng ra ngoài Tôi thản nhiên đi xuống bếp nấucơm Xong việc, tôi định bụng khoe với bà về cái sự giỏi giang của mình thì Tôi bỗng đứng sững Bà tôi đang chống gậy dò đi từng bớc để nhặt các hạt gạo

vơng vãi trên nền nhà Tôi vội chạy lại đỡ bà, nói : “Bà ơi có mấy hạt gạo bõ bèn gì mà bà phải khổ sở thế ?” Bà tôi thều thào : Cháu ơi thóc gạo là Đức Phật

đấy Không có nó thì cũng chẳng có ai hơng khói nơi cửa Phật đâu ” Lúc ấy,tôi cha hiểu câu nói của bà lắm, nhng bây giờ tôi đã hiểu Suốt một đời tần tảolam lũ, bà tôi không có gì cả đâu, ngoài những hạt thóc do chính bà làm ra bằngmột nắng hai sơng và cũng chính do bà xay, giã, giần, sàng ?

Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ đợc Nguyễn Khoa Điềm sáng tác

năm 1971, là một tợng đài bằng thơ khắc hoạ hình ảnh ngời mẹ Việt Nam anhhùng trong chống Mĩ cứu nớc Tình yêu nớc thiết tha, tình mẹ con ruột thịt sâunặng là sức hấp dẫn của những vần thơ và một trong những câu thơ nh thế đã làmrung động hàng triệu trái tim bạn đọc :

Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ em nằm trên lng

Điều lí thú ở đây là cách t duy rất cụ thể của bà mẹ Tà Ôi Trong suy nghĩcủa mẹ, mặt trời là của bắp và con là mặt trời của mẹ Những cây bắp đang lớnlên từng ngày trên nơng rộng lớn kia là nhờ công sức của mẹ, nhờ có nguồn sáng,hơi ấm vô tận nhận đợc hàng ngày từ mặt trời tự nhiên Còn em Cu Tai, đứa con

bé bỏng, nhng lại là nguồn sáng, nguồn năng lợng to lớn không thể thiếu đợc của

đời mẹ Nhờ có đứa con ngủ yên trên lng này, mà với sức vóc dù nhỏ yếu, mẹ vẫnlao động hăng say, vẫn giã gạo, để nuôi bộ đội Ta hiểu những hạt gạo nuôi quântrắng trong nhờ nhịp chày của mẹ đã góp phần không nhỏ cho những chiến côngcủa các chiến sĩ ngoài mặt trận Rồi cũng nhờ có em Cu Tai ngủ ngoan không rời

lng mẹ, mà dù lng núi thì to, lng mẹ thì nhỏ, mẹ vẫn kiên trì gieo tỉa để những hạt

bắp mọc xanh núi Ka Li

Phép tu từ so sánh và tu từ ẩn dụ khiến cho hình ảnh thơ hiện lên thật giản dị

mà cũng thật giàu ý nghĩa Trên cái nền xanh của cây bắp mênh mông lng núingút ngàn, lồng lộng một ngời mẹ lng địu con đang lao động say sa Trên cao làmặt trời toả sáng, trên lng mẹ là gơng mặt đứa con cũng đang ngời sáng tronggiấc ngủ say sa

Hình ảnh mặt trời của mẹ sẽ mãi đi vào thơ ca nh biểu tợng nghệ thuật về

tình mẫu tử, về ngời mẹ - chiến sĩ trong những tháng năm chống Mĩ cứu nớc

Đề số 16

Từ bài thơ ánh trăng của Nguyễn Duy hãy viết về những suy t của ngời

lính sau chiến tranh

Đáp án Đề số 16

Trang 31

Từ bài thơ “ánh trăng của Nguyễn Duy em hãy viết lại những suy t

của ngời lính sau chiến tranh.

Bài làm

Cuộc kháng chiến đã qua đi, ngời lính trong chiến tranh giờ đây đã về vớicuộc sống hàng ngày Tởng nh sự bận rộn hôm nay sẽ khiến ngời ta quên lãng quákhứ Nhng có một lúc nào đó trong đời thờng những kỉ niệm chiến tranh lại nh

những thớc phim quay chậm hiện về Nguyễn Duy gửi tới bạn đọc thi phẩm “ánh trăng” cũng chính là gửi tới bạn đọc thông điệp : Không nên sống vô tình, phải

biết thủy chung nghĩa tình cùng quá khứ

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ

Hình ảnh những đồng, sông, bể, rừng nguyên sơ, thuần hậu trong khổ thơ

đầu này là nơi đã nuôi dỡng, che chở cho tuổi thơ và năm tháng chiến tranh, cảmột quãng đờng dài sống trong tình thơng yêu, gắn bó với thiên nhiên, với những

miền quê ấy, vầng trăng thành tri kỉ Trăng nh mái nhà, nh ngời bạn thân thiết của

tâm hồn ở đó tâm hồn tình cảm con ngời cũng đơn sơ thuần phác nh chính thiênnhiên Trăng và ngời đã tạo nên mối giao tiếp, giao hoà thủy chung tởng nh khôngbao giờ có thể quên đợc

Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện cửa gơng Vầng trăng đi qua ngõ

Nh ngời dng qua đờng

Khi chiến tranh kết thúc Ngời lính trở về bị hấp dẫn bởi đô thị, với ánh điện, cửa gơng, những ánh sáng nhân tạo đã làm họ quên đi ánh sáng tự nhiên hiền dịu

của trăng Cuộc sống hiện đại với nhiều tiện nghi đã làm cho con ngời thờ ơ, vôtình với những ngày gian khổ, cùng đồng đội, đồng chí chung một chiến hào mà

trăng là biểu tợng.

Vầng trăng đi qua ngõ

Nh ngời dng qua đờng”.

Từ hình ảnh vầng trăng “tri kỉ”, vầng trăng tình nghĩa trở thành ngời dng qua

đờng, Nguyễn Duy đã diễn tả đợc cái đổi thay của lòng ngời, cái lãng quên, dửng dng đến phũ phàng Cái so sánh thật thấm thía: “nh ngời dng qua đờng”.

Cũng nh dòng sông có khúc phẳng lặng êm đềm, cũng có khúc ghềnh thácdữ dội Cuộc đời vốn cũng nhiều biến động Ghi lại một tình huống, cuộc sốngnơi thị thành, của những con ngời từ rừng về thành phố, Nguyễn Duy đặt con ngờivào bối cảnh

đại làm cho lòng ngời thay đổi Trớc ngời bạn vô tình ấy, trăng chẳng nói, chẳng

trách khiến ngời lính cảm thấy có cái gì rng rng ánh trăng soi chiếu khiến ngời

Trang 32

Đủ cho ta giật mình

ánh trăng trớc sau vẫn vậy mộc mạc, giản dị và thủy chung Trăng lặng lẽtròn đầy một cách trong sáng, vô t, mặc cho thời gian trôi, mặc cho bạn bầu xa ai

đó quay lng dù trong quá khứ trăng là tri kỉ Nhng trăng cũng khơi gợi niềm xúc

động, đánh thức lơng tâm ở con ngời Cái giật mình đợc diễn tả trong khổ thơ vô

ngôn” thể hiện sự bình tĩnh đáng quí Qua bài thơ Nguyễn Duy đã khám phá ra vẻ

đẹp không bao giờ kết thúc Dờng nh cuộc sống mới đầy đủ hơn khiến cho conngời lãng quên ánh trăng Hành trình đi tìm những hạt ngọc ẩn dấu trong tâm hồncon ngời không bao giờ ngơi nghỉ và việc hoàn thiện mình của chính mỗi con ng-

ời cũng không phải một sớm một chiều

Cuộc đấu tranh hớng thiện âm thầm mà khốc liệt, nó đòi hỏi lòng dũng cảmcủa con ngời Ngời lính năm xa đã dành trọn quá khứ soi mình trong hiện tại để

đấu tranh loại bỏ sự vô tình vô nghĩa của bản thân, hớng tới sự cao cả, tốt đẹp

“ánh trăng” là bài thơ không quên về quá trình hớng thiện, quá trình hoàn

thiện mình của mỗi con ngời trong cuộc sống hôm nay

Đề số 17

1 Phân tích bài thơ ánh trăng của Nguyễn Duy để cảm nhận đợc bài học sâu sắc

mà tác giả muốn gửi gắm

2 Viết lời bình cho đoạn thơ sau :

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trởng thành trong cuộc kháng chiến chống

Mĩ cứu nớc Nguyễn Duy nổi tiếng với các bài thơ nh : “Tre Việt Nam”, “Hơi ấm

ổ rơm”, Hiện nay, Nguyễn Duy vẫn tiếp tục sáng tác, ông viết đều những bài

thơ tài hoa, đậm chất suy t

“ánh trăng” (1978) là một trong những bài thơ của Nguyễn Duy đợc nhiều

ngời a thích bởi tình cảm chân thành, sâu sắc, tứ thơ bất ngờ, mới lạ :

Hai khổ thơ đầu, tác giả nhắc đến những kỉ niệm đẹp :

Hồi nhỏ sống với đồng.

Với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ ”Trăng gắn bó với tác giả ngay từ thời thơ ấu Trăng gắn với đồng ruộng, dòngsông, biển cả Dù ở đâu, đi đâu trăng cũng gắn bó với ngời Nhng phải đến khi ởrừng nghĩa là lúc tác giả sống trên tuyến đờng Trờng Sơn xa gia đình, quê hơng

vầng trăng mới trở thành “tri kỉ” Trăng với tác giả là đôi bạn không thể thiếu

nhau Trăng chia ngọt, sẻ bùi, trăng đồng cam cộng khổ

Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng, khẳng định tình yêu thơng quí trọng củamình với trăng :

Trần trụi với thiên nhiên

Trang 33

Hồn nhiên nh cây cỏ Ngỡ không bao giờ quên Cái vầng trăng tình nghĩa ”Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp mộtcách vô t, hồn nhiên Trăng tợng trng cho vẻ đẹp hồn nhiên nên trăng hoà vàothiên nhiên, hoà vào cây cỏ “Vầng trăng tình nghĩa”, bởi trăng từng chia ngọt, sẻbùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là ngời bạn, tri âm, tri kỉ.

ấy mà có những lúc tác giả tự thú nhận là mình đã lãng quên cái “vầng trăng

Nh ngời dng qua đờng

Trớc đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng bây giờ môi trờng đã thay

đổi Từ hồi về thành phố đời sống cũng thay đổi theo : quen ánh điện, cửa gơng

“ánh điện , cửa g” “ ơng” tợng trng cho cuộc sống sung túc, đầy đủ sang trọng dần dần “cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào bị lãng quên “Vầng trăng” ở đây t-

ợng trng cho những tháng năm gian khổ, đó là tình bạn, tình đồng chí đợc hình

thành từ những tháng năm ấy Trăng bây giờ thành ngời dng” Con ngời ta ờng hay đổi thay nh vậy Bởi thế đời vẫn thờng nhắc nhau : “ngọt bùi nhớ lúc

th-đắng cay” ở thành phố vì quen với “ánh điện, cửa gơng” quen với cuộc sống đầy

đủ tiện nghi nên ngời đã không thèm để ý đến “Vầng trăng” - con ngời, mảnh đất

từng là tri kỉ một thời

Phải đến lúc toàn thành phố mất điện :

Phòng buyn đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn”

“Vầng trăng” xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy ngời

lính năm xa mới bàng hoàng trớc vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng Bao nhiêu kỉ

niệm xa bỗng ùa về làm "Con ngời này" cứ “rng rng” nớc mắt.

và độ lợng biết bao ! Tấm lòng bao dung độ lợng ấy đủ cho ta giật mình“ ” mặc dùtrăng không một lời trách cứ Trăng tợng trng cho vẻ đẹp bền vững, phẩm chất caoquí của nhân dân, trăng tợng trng cho vẻ đẹp bền vững của tình bạn, tình đồng đội

trong những tháng năm “không thể nào quên” Tợng trng cho "mảnh đất nuôi ta

thành dũng sĩ

“ánh trăng” của Nguyễn Duy đã gây đợc nhiều xúc động đối với độc giả bởi

cách diễn đạt bình dị nh lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc chân thành Giọng thơ

trầm tĩnh sâu lắng Tứ thơ bất ngờ mới lạ ,“ánh trăng” còn mang ý nghĩa triết lí

về sự thuỷ chung khiến cho ngời đọc phải “giật mình” suy nghĩ, nhìn lại chính

Trang 34

Bài làm

Hàng ngàn năm nay, vầng trăng đã hiện diện trong thơ Trăng nh một biểutợng thơ mộng gắn với tâm hồn thi sĩ Nhng có một nhà thơ cũng viết về trăng,không chỉ tìm thấy ở đấy cái thơ mộng, mà còn gửi gắm những nỗi niềm tâm sự

mang tính hàm nghĩa độc đáo Đó là trờng hợp bài thơ ánh trăng của Nguyễn

Duy viết năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh

Khác với những bài thơ thời chiến tranh mà con ngời chỉ có một lí tởng làchiến đấu và sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, con ngời không có điều kiện để sốngcho những gì thuộc về riêng t, hay chuyện đời thờng Đọc bài thơ này ta nhận racái điều mới lạ ấy Bớc từ chiến tranh sang thời bình, con ngời bắt đầu có nhữngtoan tính, những ham muốn đợc hởng thụ Nguyễn Duy mợn vầng trăng và ngờilính nói về một sự thay đổi trong lòng ngời

Vầng trăng trong thời tuổi thơ và chiến tranh gắn bó đẹp là vậy thế mà dohoàn cảnh con ngời đã lãng quên để rồi từ trong sâu thẳm tâm hồn, con ngời phảiday dứt Hai khổ kết bài thơ này mang hàm nghĩa độc đáo đó :

Trăng cứ tròn vành vạnh

Đủ cho ta giật mình

Vầng trăng vẫn đẹp và tròn đầy nh biểu tợng bao dung, nghĩa tình của nhândân không đòi hỏi đợc đền đáp Nhng trăng cũng "im phăng phắc" với ánh mắtnghiêm nghị, thái độ nghiêm khắc Khiến tình cảm ngời lính trong giây lát đãlãng quên quá khứ, trong sa ngã đời sống đã tự vấn lơng tâm mình, tự sám hối với

lòng mình Cái rng rng muốn bật khóc và cái giật mình tỉnh ngộ là tấm lòng chân

thực của ngời lính vốn cao đẹp không thể khác

Với ý nghĩa này, ánh trăng mang tính chất triết lí sâu sắc, có tác dụng cảnh

tỉnh những ai dễ lãng quên quá khứ tốt đẹp Cần biết sống thủy chung, nghĩa tình

Sau chiến tranh "Thời tôi sống biết bao câu hỏi lớn/ Câu trả lời thật không dễ dàng chi" ánh trăng của Nguyễn Duy giúp mỗi ngời tìm đợc câu trả lời thấm thía trong cái "giật mình", "rng rng" ấy.

Đề số 18

Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

Đáp án Đề số 18 Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc trong

truyện ngắn “Làng của Kim Lân

Bài làm

“Làng” (Kim Lân) thuộc loại truyện có cốt truyện tâm lí, không xây dựng

trên diễn biến sự việc mà chú trọng miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật, từ đó làmnổi rõ tình yêu làng thống nhất trong tình yêu nớc và tinh thần kháng chiến ởnhân vật ông Hai

Là một ngời nông dân suốt cuộc đời sống ở quê, gắn bó máu thịt với từngnếp nhà, thửa ruộng , vì giặc ngoại xâm ông Hai phải đi tản c nhng lòng vẫnkhông thôi đau đáu về quê, ông bày tỏ nỗi nhớ, tình yêu quê của mình trongnhững câu chuyện hàng ngày

Cũng vì quá yêu làng, tự hào về làng, ông lại càng chua xót, tủi khổ hơn khinghe cái tin làng ông làm Việt gian theo Tây mà chính ông nghe đợc từ miệng

những ngời tản c dới xuôi lên Tin đó quá đột ngột khiến ông Hai sững sờ “cổ ông

Trang 35

lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân Ông lão lặng đi, tởng nh đến không thở

đợc ” Trong điều kiện, hoàn cảnh lúc này, ông không thể biết đợc tin này thực

h ra sao Nhng những ngời tản c đã kể quá rành rọt, họ còn khẳng định “vừa ở

d-ới ấy lên”, làm ông không thể không tin, nên càng khiến ông đau buồn, khổ sở.

Tin ấy không chỉ làm cho ông cảm thấy đau về thể xác mà còn xâm chiếm, ám

ảnh , day dứt tinh thần Tiếng cời nói xôn xao của đám ngời mới tản c lên ấy vẫn

cứ dõi theo “Cha mẹ tiên s nhà chúng nó ! Cái giống Việt gian bán nớc thì cứ cho mỗi đứa một nhát!” khiến ông đau đớn, xấu hổ cúi gằm mặt xuống mà đi “ ”

Về đến nhà, ông nằm vật ra giờng, nhìn lũ con, cảm thấy tủi thân, nớc mắt cứ

giàn ra Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ? chúng nó cũng bị ngời ta

rẻ rúng hắt hủi ? ” Tin hay không tin ? Ông ngờ ngợ nh lời mình nói không đợc

đúng lắm ? Nhng rồi nghĩ rằng “ngời ta hơi đâu bịa ra những chuyện ấy” Suốt cả

ngày sau, ông không dám đi đâu, chỉ quanh quẩn trong gian nhà chật hẹp, lắng tai

nghe ngóng động tĩnh bên ngoài “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cời nói xa xa, ông cũng chột dạ Lúc nào ông cũng nơm nớp tởng nh ngời ta

đang để ý, ngời ta đang bàn tán đến cái chuyện ấy “ ” Tác giả đã diễn tả rất cụthể nỗi ám ảnh nặng nề, biến động dữ dội trong nội tâm nhân vật, sự sợ hãi ám

ảnh tâm trạng ông Hai

Càng yêu làng, tự hào về làng, thì khi làng theo Tây càng tỏ nỗi đau, nỗinhục ở ông Hai Cái đau, cái nhục ấy cũng chính là lòng yêu làng, yêu nớc của

ông Hai Bao nhiêu ý nghĩ ghê rợn nối tiếp bời bời trong đầu óc ông, đẩy ông Hai

vào tình huống phải lựa chọn “hay là quay về làng ?”, “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ” Tình yêu quê và tình yêu Tổ quốc xung đột dữ dội trong lòng

ông Cuối cùng ông đã lựa chọn Không thể đợc ! Làng thì yêu thật, nhng làng theo Tây mất rồi thì phải thù” Đối với ngời nông dân thuần phác ấy, tình yêu nớc

rộng lớn, hớng về kháng chiến, cụ Hồ đã bao trùm lên tình yêu quê

Nỗi lòng đó của ông đợc trút vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ:

Thế con có thích về làng Chợ Dầu không? ; Thế con ủng hộ ai ?

cũng chính là lời ông Hai tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng Ông Hai bày tỏnỗi lòng sâu xa, chân thành của ngời nông dân với quê, với Tổ quốc, với cáchmạng mà biểu tợng là Cụ Hồ

Tình yêu làng, lòng tin làng, cùng với nỗi day dứt, đau khổ lo lắng đã đợcgiải toả ở tình huống cuối cùng của câu chuyện Đó là việc ông chủ tịch làng Dầulên cải chính cái tin làng Dầu đi làm Việt gian Bao sung sớng, hạnh phúc, tự hào

về làng trở về với ông Hai Trên khuôn mặt buồn thiu mọi ngày bỗng rạng rỡ lên

Mặc dù biết Tây nó đốt cả nhà mình mà ông không xót xa Cái dáng vẻ lật đật“ ”

đi đâu cũng múa tay lên mà khoe tin ấy, tởng nh không bình thờng nhng hoàntoàn chân thực Ông Hai đã quên sự mất mát riêng để tự hào sung sớng trong vẻ

đẹp, sức mạnh chung của quê hơng đất nớc Tình yêu làng của ông đã mở rộnghoà trong tình yêu nớc

Thành công của Kim Lân là diễn tả diễn biến tâm lý cụ thể ở một con ng ời

-ông Hai, mang tình cảm chung của ngời ông dân Việt Nam đối với làng, với

n-ớc Bên cạnh đó, truyện để lại ấn tợng trong lòng ngời đọc bởi chính cảm xúc,khát khao, vui buồn của nhà văn, tạo d âm vang vọng cho tác phẩm

Đề số 19

1 Viết một đoạn văn kể chuyện theo đề tài tự chọn, trong đó sử dụng cả hình thức

độc thoại và độc thoại nội tâm

Trang 36

2 Hãy chỉ ra các hình thức đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong trích dẫn

dới đây Phân tích tác dụng của các hình thức đó trong mỗi đoạn văn

"Có ngời hỏi :

- Sao bảo làng chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà ?

- ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy !

Ông Hai trả tiền nớc, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cời nhạt một tiếng, vơn vai nói to :

- Hà, nắng gớm, về nào

Ông lão vờ đứng lãng ra chỗ khác, rồi đi thẳng Tiếng cời nói xôn xao của

đám ngời mới tản c lên ấy vẫn cứ dõi theo Ông nghe rõ cái giọng lanh lảnh của ngời đàn bà cho con bú :

- Cha mẹ tiên s nhà chúng nó ! Đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt đợc ngời ta còn thơng Cái giống Việt gian bán nớc thì cứ cho mỗi đứa một nhát !

Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà.

Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giờng, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lén đa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.

Nhìn lũ con, tủi thân, nớc mắt ông lão cứ giàn ra Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ? Chúng nó cũng bị ngời ta rẻ rúng hắt hủi đấy ? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu Ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên :

Chúng mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nớc để nhục nhã thế này."

- Đừng mà mẹ ! Tay mẹ thô quá

Mẹ lặng thinh, nhng từ đó không bao giờ mẹ tôi còn gần gũi, ôm ấp tôibằng những cử chỉ quen thuộc nữa Rất lâu sau đó, tôi cảm thấy hối hận vì nhữnglời nói của mình nhng vì tự ái nên tôi không một lời xin lỗi mẹ

Nhiều năm đã trôi qua, sự việc tối hôm đó vẫn luôn ám ảnh, thoắt ẩn, thoắthiện trong tâm trí tôi Nó khiến tôi mất đôi tay mẹ, mất nụ hôn chúc ngủ ngon củamẹ

Lại bao năm nữa dần trôi, tôi không còn là một cô bé nữa Bây giờ tôi đã đitrọ học ở một nơi rất xa mẹ Mỗi đêm nhìn về phơng trời quê hơng, nơi có ngời

mẹ thân yêu tôi thừơng khóc và tự nói với mẹ :

- Mẹ ơi ! Con biết phải nói làm sao để mẹ hiểu hết nỗi ân hận của con

Ngời ta nói hồi ức về ngời mẹ bao giờ cũng tơi mát và sinh động Ta càng

xa tuổi thơ, hồi ức ấy càng trở nên gần gũi, dễ hiểu và thân thiết Với tôi, hồi ứcbuồn ấy sẽ là bài học trong cuộc đời Mẹ có hiểu cho lòng con không ? Xin mẹhãy yên lòng nơi quê nhà mẹ nhé, con gái mẹ đã lớn khôn rồi Con sẽ sống xứng

đáng với tình mẹ

Trang 37

2 Hãy chỉ ra các hình thức đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong trích dẫn dới đây Phân tích tác dụng của các hình thức đó trong mỗi đoạn văn

"Có ngời hỏi :

- Sao bảo làng chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà ?

- ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy !

Ông Hai trả tiền nớc, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cời nhạt một tiếng,

v-ơn vai nói to :

- Hà, nắng gớm, về nào

Ông lão vờ đứng lãng ra chỗ khác, rồi đi thẳng Tiếng cời nói xôn xao của đám ngời mới tản c lên ấy vẫn cứ dõi theo Ông nghe rõ cái giọng lanh lảnh của ngời đàn bà cho con bú :

- Cha mẹ tiên s nhà chúng nó ! Đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt đợc ngời ta còn thơng Cái giống Việt gian bán nớc thì cứ cho mỗi đứa một nhát !

Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà.

Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giờng, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có

vẻ khác, len lén đa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.

Nhìn lũ con, tủi thân, nớc mắt ông lão cứ giàn ra Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ? Chúng nó cũng bị ngời ta rẻ rúng hắt hủi đấy ? Khốn nạn bằng ấy tuổi đầu Ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên :

- Chúng mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nớc để nhục nhã thế này."

(Làng, Kim Lân)

Bài làm

Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm là những hình thức quan trọng để thểhiện nhân vật trong văn bản tự sự ở đoạn trích trên, đối thoại, độc thoại, độcthoại nội tâm có hiệu quả lớn trong việc tạo không khí của chuyện, đặc biệt giúpnhà văn thể hiện thành công diễn biến tâm lí nhân vật ông Hai

Mở đầu đoạn trích cho thấy có hai ngời trong đó có ít nhất một ngời phụ nữ tản

c đang nói chuyện với nhau Dấu hiệu cho biết đó là đối thoại vì có hai lợt lời qualại, nội dung cùng hớng tới ngời tiếp chuyện và hình thức thể hiện trong đoạn vănbằng hai gạch đầu dòng

Lời đối thoại này tạo nên không khí câu chuyện, làm không khí câu chuyệnnóng lên, xôn xao chuyện "đổ đốn" của làng Dầu theo Tây

Thái độ của ngời tản c trong câu chuyện càng làm ông Hai đau xót, tủi hổ, vội

vàng đánh trống lảng ra về Bằng lời độc thoại "Hà, nắng gớm, về nào" cho ta

thấy ông nói với mình bằng một câu nói bâng quơ, đánh trống lảng để tìm cách

thoát lui, để rồi phải đau đớn, tủi nhục : "Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nớc để nhục nhã thế này".

Tâm trạng dằn vặt, đau đớn của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo

Tây đợc diễn tả sâu sắc hơn bằng những độc thoại nội tâm : "Chúng nó cũng bị ngời ta rẻ rúng hắt hủi đấy ?" Những câu hỏi không phát ra thành tiếng mà chỉ

âm thầm diễn ra trong suy nghĩ và tình cảm của ông Hai Dằn vặt, đau đớn, tủi

hổ Tình yêu làng, tự hào về làng trở thành nỗi đau khiến nớc mắt ông lão giàngiụa

Các hình thức đối thoại làm câu chuyện có không khí nh cuộc sống thật, tạotình huống để đi sâu vào nội tâm nhân vật Hình thức độc thoại, độc thoại nội tâmgiúp nhà văn khắc họa sâu sắc tâm trạng nhân vật ông Hai khi nghe tin làng ChợDầu theo giặc

Đề số 20

Trang 38

1 Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn "Lặng lẽ Sa Pa" của

Nguyễn Thành Long để thấy đợc vẻ đẹp trong cách sống, tâm hồn và những suynghĩ của nhân vật

2 Cảm nhận của em về những điều âm vang từ "Lặng lẽ Sa Pa"

Đáp án Đề số 20

1 Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”

(Nguyễn Thành Long) để thấy đợc vẻ đẹp trong cách sống, tâm hồn và những suy nghĩ của nhân vật.

Bài làm

Trong cái im lặng của Sa Pa [ ], Sa Pa mà chỉ nghe tên, ng

đến chuyện nghỉ ngơi, có những ngời làm việc và lo nghĩ nh vậy cho đất nớc” Có

những ngời làm việc và lo nghĩ cho đất nớc, đó là những con ngời lao động thầmlặng, hi sinh hạnh phúc cá nhân, tìm hạnh phúc trong lao động Nhân vật anh

thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long) là một bức

chân dung kí hoạ đẹp đẽ về con ngời này

Nhân vật anh thanh niên - nhân vật chính của truyện, đợc xuất hiện từ lời

giới thiệu của bác lái xe với ông hoạ sĩ và cô kĩ s : hai mơi bảy tuổi ngời cô độc nhất thế gian, một mình trên trạm khí tợng ở đỉnh núi cao 2.600 m, rất “thèm ng- ời ” Giữa mênh mông đất trời, sơng tuyết, anh thanh niên yêu đời, yêu nghề, có

trách nhiệm với công việc của mình Trong cuộc sống, hạnh phúc mà ngời ta có

đ-ợc là tự bản thân mình biết tạo ra, tìm ra hạnh phúc từ chính cuộc sống riêngmình, công việc mình đang làm Anh thanh niên biết làm chủ, sắp xếp, lo toancho cuộc sống riêng mình Anh nuôi gà, trồng hoa, đọc sách, biết xuống đờng tìmgặp bác lái xe, hành khách để trò chuyện Anh đã tìm đợc hạnh phúc cho cuộcsống riêng Đó là động lực giúp anh vợt qua nỗi cô đơn vắng vẻ, quanh năm trên

đỉnh núi cao, không có bóng ngời Anh chiến thắng hoàn cảnh, tìm hạnh phúc

trong cuộc sống Với anh khi làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một

mình đợc” Quan niệm sống, niềm say mê nghề nghiệp giúp anh vợt qua thử thách cuộc sống, thử thách trong nghề Nửa đêm, đúng giờ “ốp” thì dù ma tuyết, giá

lạnh thế nào cũng phải trở dậy ra ngoài trời làm công việc đã qui định

ở ngời thanh niên này còn có những nét tính cách và phẩm chất rất đángmến nữa Đó là sự cởi mở, chân thành, quí trọng tình cảm, khát khao đợc gặp gỡ,trò chuyện với mọi ngời Sự chu đáo, tình cảm chân thành, giản dị trong từng lờinói, cách quan tâm Một củ tam thất đào đợc, một ổ trứng gà, một bó hoa vànhững câu chuyện làm quà Tất cả gửi gắm tình cảm chân thành của ngời lao

động trẻ tuổi - thế hệ thanh niên trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của

đất nớc ta

Với những ngời đã gặp anh, tiếp xúc với anh, anh thanh niên không chỉ

đáng yêu vì cách sống mà đáng yêu ở cả những suy nghĩ, quan niệm về ngời cô

độc”, về “nỗi thèm ngời”, về vị trí cuộc sống, về ấn tợng mà mỗi ngời tạo ra trong

đời, anh luôn cảm thấy mình nhỏ bé, bình thờng so với những ngời khác Khi ônghoạ sĩ già phác thảo chân dung anh vào sổ tay, anh rất ngợng ngùng, tìm một chândung khác cho tác phẩm của ông hoạ sĩ mà anh cho là có ý nghĩa hơn anh Nào là

ông kĩ s vờn rau, ngày này sang ngày khác rình xem ong thụ phấn cho su hào để nâng cao năng xuất cây trồng, cho đời củ su hào to và ngọt hơn ; một ngời làm

công tác nghiên cứu khoa học, mời năm không một ngày xa cơ quan, luôn trong t

thế sẵn sàng đợi sét để lập ra bản đồ sét ngời tìm ra của chìm dới lòng đất cho đất

nớc

Trang 39

Anh đã gửi gắm tới mọi ngời ý nghĩ : trong im lặng của Sa Pa, nơi ngời ta nghĩ tới nghỉ ngơi còn có những ngời làm việc, lo nghĩ cho đất nớc.

Chỉ bằng một số chi tiết và sự xuất hiện của anh thanh niên trong khoảnhkhắc của truyện - cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa nhân vật ông hoạ sĩ, cô kĩ s trẻ và anhthanh niên làm công tác khí tợng ở Sa Pa, tác giả đã phác hoạ đợc chân dung nhânvật chính với những nét đẹp về tinh thần, tình cảm, cách sống và cả những suynghĩ về cuộc sống, ý nghĩa công việc

2 Cảm nhận của em về những điều âm vang từ Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn

Thành Long

Bài làm

"Chất thơ của văn xuôi thấm vào hồn ta nh hơng vị ngọt ngào của trái Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là một truyện ngắn nh vậy Ngay cái tiêu

táo"-đề đã mang đầy chất thơ Sa Pa lặng lẽ nhng tình ngời ấm áp nhân hậu Tình ngời

ấy sẽ tạo ra những âm vang nh một sức quyến rũ đặc biệt khi đọc xong truyệnngắn này

Trớc hết là những âm vang từ một cuộc đời đẹp Đó là câu chuyện về chàng

trai đáng yêu có cái tên thật ấn tợng : anh thanh niên Nhân vật này hiện lên sinh

động, có cá tính, có đời sống nội tâm, dù không mang tên cụ thể mà ngời đọc sẽ

mãi nhớ về anh Chàng trai "cô độc nhất thế gian" này làm nghề khí tợng, một

mình sống trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 m và âm thầm lặng lẽ với công việc Vẫnyêu đời, nuôi gà, trồng hoa, đọc sách và lấy sự chờ đợi, gặp gỡ những chuyến xelên làm niềm vui

Sống âm thầm nhng anh không lạnh lùng, vô cảm, trái lại, anh rất nhạy cảm,

luôn hớng về cuộc sống, luôn nhớ ngời, thèm ngời Con ngời này biết hi sinh

những lợi ích cá nhân Trong câu chuyện với mọi ngời, anh tiết kiệm từng phútthời gian, chỉ sợ niềm vui gặp gỡ sẽ qua nhanh Và khi phải tiễn khách thì thậtcảm động, một bó hoa toi, một làn trứng gà cho khách Tâm hồn anh đẹp, trongsáng, một cuộc đời đẹp không chỉ là hình thức mà đẹp ở nội tâm Anh thanh niêncòn đẹp trong những suy nghĩ Đó là những âm vang từ suy nghĩ đẹp : anh không

tự đánh giá cao cá nhân, khớc từ họa sĩ vẽ về mình, anh ngợi ca những ngời khác

nh ông kĩ s vờn rau và anh cán bộ bản đồ sét Suy nghĩ từ anh về Sa Pa : Nơi màmới nghe tên, ngời ta đã nghĩ tới sự hởng thụ, nhng lại có những con ngời âmthầm không hề lặng lẽ, làm việc và cống hiến Tất cả cuộc sống và suy nghĩ củachàng trai đã tạo nên chất thơ, chất nhạc âm vang sâu lắng của truyện

Cùng với chàng trai, còn có những nhân vật khác nh bác lái xe, ông già họa

sĩ, cô kĩ s họ đều là những tâm hồn đồng cảm cách sống đẹp

Lặng lẽ Sa Pa là một câu chuyện về tình yêu công việc, nơi gặp gỡ của lí

t-ởng sống và lòng nhân ái trong một xã hội mới tốt đẹp Câu chuyện đã tác độngsâu sắc đến mỗi chúng ta, thắp sáng lên ngọn lửa nhiệt tình và lòng đam mê côngviệc Cuộc đời có những con ngời nh thế sẽ làm ta vững tin hơn, sống đẹp hơn

Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn Bữa cơm dù da muối đầy vơi Chân lí chẳng cần chi đổi bán Tình thơng vô hạn để cho đời

(Tố Hữu)

Đề số 21

Cảm nhận của em về nhân vật ông họa sỹ trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa

Đáp án Đề số 21

Trang 40

Cảm nhận của em về nhân vật ông họa sĩ trong Lặng lẽ Sa Pa

Bài làm

Trong truyện Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long, ngoài nhân vật

chính - anh thanh niên, các nhân vật khác nh ông già họa sĩ, cô kĩ s, bác lái xe,không chỉ tham gia vào câu chuyện, làm rõ nét hơn cho nhân vật chính mà cònlàm phong phú, sâu sắc hơn chủ đề của truyện Trong số nhân vật phụ đó, đángchú ý nhất là nhân vật ông họa sĩ già Ngời kể chuyện trong tác phẩm hầu nh nhậpvai vào cái nhìn, suy nghĩ của ông họa sĩ để quan sát, miêu tả từ cảnh thiên nhiên

đến nhân vật chính trong truyện

Ngay từ phút giây đầu gặp anh thanh niên, cùng trớc đó với những lời giớithiệu của bác lái xe làm nhà họa sĩ già xúc động mạnh về hình dáng một ngời contrai có tầm vóc nhỏ bé, nhng nét mặt rạng rỡ Những phút đầu gặp gỡ, bằng sựtừng trải nghề nghiệp, niềm khao khát của ngời nghệ sĩ đi tìm đối tợng của nghệ

thuật, khiến họa sĩ già xúc động và bối rối "bắt gặp một điều thực ra ông vẫn ao

-ớc đợc biết Một nét thôi đủ khẳng định một tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác, một nét mới đủ là giá trị của một chuyến đi dài"

ở tuổi già, tuổi của những nghỉ ngơi, trái tim ngời nghệ sĩ này bỗng nh trẻ lại,thấy cuộc sống còn bao ý nghĩa, khát khao sống, khát khao sáng tạo Ông họa sĩ

muốn ghi lại hình ảnh anh thanh niên bằng nét bút ký họa : "Ngời con trai ấy

đáng yêu thật nhng làm cho ông nhọc quá Với những điều làm ngời ta suy nghĩ

về anh, và về những điều anh suy nghĩ cuồn cuộn hiện ra khi gặp ngời" Với nhà họa sĩ, vẽ bao giờ cũng là một việc khó nhọc, gian nan Cảm giác "nhọc mệt" mà

ngời thanh niên cho ông chính là niềm vui, hạnh phúc, sung sớng đợc gặp con

ng-ời ngoài đng-ời, chân dung nghệ thuật mà ông khát khao đi tìm Một trái tim nghệthuật, một khát khao tiếp tục đợc sáng tạo, đợc cống hiến sống dậy, thúc dục ôngphải vẽ Giây phút xúc động ấy, ông nhận ra đợc những âm vang đẹp đẽ, ngọtngào của cuộc đời, để rồi vang vọng mãi trong tâm hồn ông, biến thành tac phẩmnghệ thuật

Những lời nói, suy nghĩ, ứng xử, thái độ chân thành của anh thanh niên đãbắt ông suy nghĩ về những cái đã làm và cha làm đợc, cái ông dám nghĩ mà

không dám làm Những nghĩ suy về nghệ thuật với sức mạnh và sự bất lực "có sẵn mà cha rõ hay cha đúng" về mảnh đất Sa Pa mà ông nghĩ đến "nghỉ ngơi trong giai đoạn cuối đời" Cho nên nhân vật hoạ sĩ già còn là hoá thân bằng xơng thực của một tuyên ngôn nghệ thuật

Nhân vật ông họa sĩ già là nét đẹp trong cuộc sống, một con ngời ý thức đợc vịtrí, trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng đất nớc, là ngời nhạy cảm tr-

ớc cái đúng, cái sai, ái đẹp luôn hớng thiện, mong muốn làm điều tốt đẹp cho

cuộc sống Hình ảnh ông cùng các nhân vật khác để lại cho Lặng lẽ Sa Pa những

vang vọng, tác động mạnh đến t tởng, tình cảm của mỗi ngời

Đề số 22

1 Giải nghĩa các thành ngữ sau và cho biết những thành ngữ này có liên quan đến

phơng châm hội thoại nào ?

- Ăn đơm nói đặt - Khua môi múa mép.

- Ăn ốc nói mò - Nói dơi nói chuột.

- Ăn không nói có - Hứa hơu hứa vợn.

- Cãi chày cãi cối.

2 Viết một đoạn văn nghị luận có nội dung liên quan đến ý kiến dới đây Trích

dẫn ý kiến đó theo hai cách : dẫn trực tiếp và dẫn gián tiếp

Ngày đăng: 12/07/2021, 21:16

w