Trước những vấn đề bất cập trên, trong thời gian thực tập ở chi cục thuếhuyện Gia Lâm, với kiến thức lĩnh hội được cùng với sự hướng dẫn tận tình của cán bộ chi cục và các thầy cô giáo,
Trang 1Lời Mở Đầu
Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nước Nó vừa đảm bảo nguồn thucho Ngân sách nhà nước, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là cơ sở đảmbảo công bằng xã hội, thúc đẩy cạnh tranh phát triển Để sử dụng có hiệu quả công
cụ thuế về cơ bản hệ thống chính sách thuế gồm thuế trực thu và thuế gián thu.Thuế gián thu như: Thuế GTGT, Thuế TTĐB, Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu.Thuế trực thu như: Thuế thu nhập cá nhân, Thuế thu nhập doanh nghiệp Với mụcđích động viên nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, là công cụ giúp Nhà nước điềuchỉnh cơ cấu giữa tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư Thuế GTGT xứng đáng là một sắcthuế tiêu biểu, quan trọng trong hệ thống thuế Việt Nam Do vậy, việc cải cáchchính sách thuế, nhất là thuế GTGT là rất cần thiết để đảm bảo công bằng hợp lýtrong phân phối thu nhập của dân cư, góp phần điều tiết thu nhậ xã hội, đảm bảoyêu cầu động viên của NSNN
“Thuế GTGT là sắc thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịchphụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.Luật thuế GTGT được quốc hội khóa IX kỳ hợp thứ 11 thông qua ngày 10/05/1997
và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 Sau hơn 10 năm đi vào cuộc sống, thuếGTGT đã phát huy tích cực trong việc khuyến khích phát triển sản xuất kinhdoanh, thúc đẩy xuất khẩu và đầu tư tạo nguồn thu lớn cho NSNN Nhưng đây làmột luật thuế mới nên việc áp dụng sắc thuế này ở nước ta đã gặp không ít khókhăn, vướng mắc Trong quá trình thực hiện đã phải điểu chỉnh một số quy định tạicác văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế GTGT như: Điều chỉnh về phạm vi ápdụng, về thuế suất, về khấu trừ thuế, hoàn thuế, Mặc dù việc sửa đổi này đã làmcho sắc thuế hoàn thiện hơn, nâng cao khả thi, góp phần tháo gỡ khó khăn cho các
Trang 2cơ sở sản xuất kinh doanh Tuy nhiên việc sửa đổi bổ sung một số điều của luậtthuế GTGT chưa thật sự cơ bản, còn mang tính tình thế và cũng còn một số điểmchưa phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam.
Năm 2013, trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn những diễn biến bấtthường về kinh tế, giá cả thị trường liên tục biến động đã ảnh hưởng không nhỏđến kinh tế cả nước nói chung và địa bàn Hà Nội, huyện Gia Lâm nói riêng Nênviệc triển khai nhiệm vụ thu Ngân sách, nhiệm vụ thu thuế trên địa bàn trong nămvừa qua gặp nhiều khó khăn Mặc dù vậy tập thể cán bộ công chức chi cục thuếhuyện Gia Lâm luôn nỗ lực phấn đấu triển khai đồng bộ nhiều biện pháp nên trongnăm vừa qua chi cục đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Bên cạnh nhữngmặt tích cực không thể phủ nhận, cũng nhận thấy có những mặt bất cập trong côngtác quản lý thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng Còn nhiều hạn chế trong côngtác quản lý thuế GTGT như: Tình trạng trốn lậu thuế, tạo khe hở cho các tổ chức cánhân gian lận ở khâu hoàn thuế GTGT, công tác quản lý nợ thuế còn nhiều hạnchế Trước những vấn đề bất cập trên, trong thời gian thực tập ở chi cục thuếhuyện Gia Lâm, với kiến thức lĩnh hội được cùng với sự hướng dẫn tận tình của
cán bộ chi cục và các thầy cô giáo, em đã tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “Giải pháp tăng cường quản lý thuế GTGT đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Gia Lâm”
Mục đích của đề tài là qua nghiên cứu tình hình quản lý thu thuế GTGT đốivới Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên đại bàn huyện Gia Lâm từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế GTGT
Đề tài bao gồm các nội dung sau:
Chương I: Thuế GTGT và sự cần thiết phải tăng cường quản lý thu thuế
GTGT đối với DNNQD trên địa bàn huyện Gia Lâm
Trang 3Chương II: Thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT đối với DNNQD
trên địa bàn huyện Gia Lâm
Chương III: Các giải pháp tăng cường quản lý thu thuế GTGT đối với
DNNQD trên địa bàn huyện Gia Lâm
Là một sinh viên năm cuối, kiến thức lý luận và thực tiễn còn hạn chế Dovậy, em cũng không thể tráng khỏi những sai sót, khiếm khuyết trong nội dung,phương pháp nghiên cứu Em kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của thầy côgiáo, các cán bộ thuế, bạn đọc để tài liệu được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, năm 2014 Sinh viên
Đỗ Quốc Trưởng
Trang 4CHƯƠNG I: THUẾ GTGT VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DNNQD TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
GIA LÂM.
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT
1.1.1 Những vấn đề cơ bản của thuế GTGT
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT
a, Khái niệm
Thuế GTGT là sắc thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch
vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
b, Đặc điểm
- Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp
Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanhnhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn Tổng số thuế thuđược của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêudùng cuối cùng Do vậy, việc thu thuế trên GTGT ở từng giai đoạn tương đươngvới số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng
- Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao
Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêmngoài giá bán của người cung cấp hành hóa, dịch vụ Thuế GTGT không bị ảnhhưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi quá trình tổ chức
và phân chia các chu trình kinh tế; sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ítgiai đoạn thì tổng số thuế GTGT của tất cả các giai đoạn không thay đổi
- Thuế GTGT là sắc thuế thuộc loại thế gián thu
Trang 5Đối tượng nộp thuế GTGT là người cung ứng hàng hóa, dịch vụ, người chịuthuế là người tiêu dùng cuối cùng Thuế GTGT là khoản tiền được cộng vào giábán hàng hóa, dịch vụ mà người mua phải trả khi mua hàng.
- Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập
Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
là người trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả sốthuế như nhau Như vậy, nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thìngười nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này thấp và ngược lại
- Thuế GTGT có tính lãnh thổ
Đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng trongphạm vi lãnh thổ quốc gia
1.1.1.2 Đối tượng chịu thuế và nộp thuế
a, Đối tượng chịu thuế GTGT
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinhdoanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cánhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT
b, Đối tượng không chịu thuế GTGT
Tại các văn bản pháp luật về thuế GTGT quy định một số nhóm hàng hóa,dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT Nhìn chung các hàng hóa, dịch vụ nàythường có một số tính chất cơ bản sau đây:
- Là các hàng hóa, dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ nhu cầu đờisống sản xuất cộng đồng không đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng
Trang 6- Là hàng hóa, dịch vụ không thuộc các hoạt động ưu đãi vì mục tiêu xã hội,nhân đạo, không mang tính chất kinh doanh
- Các hàng hóa, dịch vụ của một số ngành cần khuyến khích
- Hàng nhập khẩu nhưng thực chất không phục vụ cho sản xuất kinh doanh
và tiêu dùng ở Việt Nam
- Một số loại hàng hóa, dịch vụ khó xác định giá trị tăng thêm như dịch vụtài chính
- Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quânhàng tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng cho tổ chức, doanh nghiệptrong nước theo quy định của chính phủ về mức lương tối thiểu vùng đối với ngườilao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ giađình, cá nhân và tổ chức khác của Việt Nam thuê mướn lao động
c, Đối tượng nộp thuế GTGT
Là các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuếGTGT ở Việt nam không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh (gọi
là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhạp khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nướcngoài chịu thuế GTGT (gọi là người nhập khẩu)
Trang 7* Đơn vị tiền tệ xác định giá tính thuế:
Giá tính thuế được xác định bằng đồng tiền Việt Nam Trường hợp ngườinộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giágiao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nướccông bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế
b, Thuế suất thuế GTGT
Thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hàng hóa, dịch vụ ởcác khâu nhập khẩu, sản xuất gia công hay kinh doanh thương mại Thuế GTGThiện hành có 3 mức thuế suất là: 0%, 5%, 10%
- Thuế suất 0%.
Là hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu; hoạt động xây dựng lắp đặt công trình củadoanh nghiệp chế xuất; hàng hóa cho cửa hàng miễn thuế; vận tải quốc tế; hànghóa dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu trừ trường hợp không
áp dụng mức thuế xuất 0%
- Thuế suất 5%
Mức thuế suất 5% áp dụng với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho sảnxuất, tiêu dùng và các hàng hóa dịch vụ ưu đãi như: Nước sạch phục vụ cho sảnxuất và sinh hoạt: thuốc chữa bệnh, phòng bệnh; giáo cụ, đồ dùng để giảng dạy vàhọc tập; dịch vụ khoa học, công nghệ
- Thuế suất 10%
Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộc trườnghợp áp dụng thuế suất 0%, 5%
1.1.1.4 Phương pháp tính thuế GTGT
Trang 8Phương pháp khấu trừ thuế
* Đối tượng áp dụng:
Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở sản xuất kinh doanh thựchiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kếtoán, hóa đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, trừcác đối tượng tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT
* Cách tính thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào đượckhấu trừ
Trong đó:
- Số thuế GTGT đầu ra:
+ Bằng tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơnGTGT
+ Thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế bán ra nhân với thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó
+ Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGTthì thuế GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán – giá tính thuế
- Số thuế GTGT đầu vào:
Bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mau hàng hóa, dịch vụ(bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịuthuế GTGT Số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩuhoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài áp dụng đối với tổ chức,
Trang 9cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam nhưng không thành lậppháp nhân tại Việt Nam.
Phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT
a Đối tượng áp dụng
- Cá nhân, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế
độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư và các tổchức khác (bao gồm cả các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp
và tổ chức khác) không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóađơn, chứng từ theo quy định của pháp luật, trừ các tổ chức, cá nhân nước ngoàicung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hàn hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển vàkhai thác dầu khí
Đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiềnhành hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển và khai thác dầu mỏ, khí đốt, bên ViệtNam chịu trách nhiệm khấu trừ và nộp thay theo tỷ lệ do Bộ Tài chính quy định.Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài đăng ký, khai, nộp theo phương phápkhấu trừ thì số thuế đã nộp theo tỷ lệ theo Bộ Tài chính được khấu trừ vào số thuếphải nộp
- Hoạt động kinh doanh mua bán, vàng, bạc, đá quý
Trường hợp cơ sở kinh doanh vừa có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng,bạc, đá quý, vừa có hoạt động chế tác sản phẩm vàng, bạc, đá quý thì áp dụng tínhthuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
b Xác định thuế GTGT phải nộp
Trang 10Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp trên GTGT bằng GTGTcủa hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất áp dụng đối với hànghóa, dịch vụ đó.
- Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ được xác định bằng giá thanh toáncủa hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ (-) giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vàotương ứng
- Đối với cơ sở kinh doanh (trừ các doanh nghiệp áp dụng phương phápkhấu trừ thuế, hộ, cá nhân kinh doanh) bán hàng hóa, dịch vụ có đầy đủ hóa đơncủa hàng hóa, dịch vụ bán ra theo chế độ quy định hoặc có đủ điều kiện xác địnhđược đúng doanh thu bán hàng, dịch vụ như hợp đồng và chứng từ thanh toánnhưng không có đủ hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ đầu vào thì GTGT được xácđịnh bằng doanh thu nhân (x) vơi tỷ lệ (%) GTGT trên doanh thu
- Hoạt động kinh doanh; hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thực hiệnhoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định củapháp luật thì nộp thuế thoe tỷ lệ (%) GTGT do Bộ Tài Chính quy định
b, Đặc điểm
- Quản lý thuế là quản lý bằng pháp luật đối với hoạt động nộp thuế Hoạt động quản lý của cơ quan thuế cũng như việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức, cá nhân đều phải dựa trên cơ sở các quy định của các luật thuế với đặc trưng
Trang 11có tính bắt buộc cao và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước Việc quản lý thuế bằng pháp luật đảm bảo sự thống nhất, minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước Qua đó, đảm bảo nguồn thu từ thuế vào NSNN được tập trung đầy đủ, kịp thời nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của Nhànước; đồng thời, đảm bảo sự điều tiết qua thuế đối với các tổ chức, cá nhân được công bằng, bình đẳng.
- Quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính Nội dung của phương pháp hành chính trong quản lý thuế là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người, giữa cơ quan thuế với tổ chức, cánhân trong xã hội; giữa cơ quan thuế các cấp với nhau và với các cơ quan Nhà nước khác, trong các quan hệ đó thì cơ quan Nhà nước cấp dưới phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên theo thứ bậc hành chính, đối tượng bị quản lý (người nộp thuế) phải chấp hành mệnh lệnh của các cơ quan Nhà nước trong việc đảm bảo nguồn thu vào NSNN Đồng thời, phương pháp hành chính trong quản lý thuế còn thể hiện trong quy trình, thủ tục thu, nộp thuế, đó là trình tự các bước công việc phải tiến hành và các giấy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Do đó, hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế có ý nghĩa rấtquan trọng trong việc đảm bảo quy trình quản lý thuế rõ ràng, minh bạch, thủ tục thu, nộp thuế đơn giản
- Quản lý thuế là hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ Đặc điểm này thể hiện ở chỗ các thủ tục hành chính và các chứng từ kèm theo phục vụ cho quản
lý thuế có quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc nhau do các yêu cầu kỹ thuật của việc xác định số thuế phải nộp Ví dụ: Tập hợp thuế GTGT đầu vào được khấu trừ trong kỳ tính thuế; xác định các khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế của doanh nghiệp
1.1.2.2 Vai trò của quản lý thuế
Quản lý thuế là một trong các nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyên trong đó có các cơ quan quản lý thuế Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thuế không chỉ đảm bảo sự vận hành thông suốt hệ thống cơ quan Nhà nước, mà có tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuế và NSNN, cụ thể:
Trang 12- Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tậptrung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý thuế có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục về thuế hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo thu thuế đúng luật, đầy đủ và kịp thời vào NSNN.
- Thông quan hoạt động quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế Những điểm còn bất cập trong chính sách thuế và khiếm khuyết trong các luật thuế được pháp hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế Trên cơ sở đó cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề xuất bổ sung, sửa đổi các luật thuế
- Thông qua quản lý thuế, Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Theo quy định của pháp luật thuế, ngươi nộp thuế có trách nhiệm phải kê khai thuế Nội dung kê khai thuế là kê khai các hoạt động kinh tế có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, tức là phải kê khai các hoạt động kinh tế phát sinh, các giao dịch kinh doanh của người nộp thuế Mặt khác, để quản lý thuế, cơ quan thuế phải tổ chức thu thập, nắm bắt, lưu trữ thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế; phải tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế Như vậy, có thể thấy, thông qua quản lý thuế, Nhà nước đã thực hiện kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Từ việckiểm soát các hoạt động kinh tế này, Nhà nước có thể có các chính sách quản lý phù hợp để điều tiết hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước
Quản lý thuế GTGT là hoạt động của cơ quan thuế nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo nguồn thu thuế GTGT cho ngân sách Nhà nước, góp phân phát huy tốt hơn vai trò của luật thuế GTGT
1.1.3 Nội dung quản lý thuế GTGT
Thuế GTGT là một sắc thuế tiên tiến, chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu thuế, song
nó cũng đòi hỏi công tác quản lý phải hết sức chặt chẽ nếu không sẽ dẫn đến thất
Trang 13thu lớn hoặc thậm chí bị thất thoát ngân sách Nhà nước qua hoàn thuế Trọng tâm của công tác quản lý thuế GTGT bao gồm quản lý đối tượng nộp thuế, quản lý hóa đơn chứng từ và quản lý công tác hoàn thuế GTGT.
1.1.3.1 Quản lý ngươi nộp thuế.
Đây là khâu đầu tiên, quan trọng nhằm đưa các cơ sở sản xuất kinh doanh vào diệnquản lý của cơ quan thuế Thực hiện quản lý tốt khâu này vừa góp phần tránh đượcthất thu thuế do không bao quát hết số đối tượng nộp thuế, đồng thời đảm bảo sự đóng góp công bằng giữa các cơ sở kinh doanh Trong điều kiện hiện nay, môi trường kinh doanh ngày một được cải thiện, nhiều cơ sở kinh doanh mới được thành lập, lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngày một đa dạng do đó công tác quản lý đối tượng nộp thuế cần được chú trọng và tăng cường trên tất cả các phương diện như quản lý về số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh, quy mô, ngành nghề, địa bàn, phương pháp nộp thuế GTGT, Để quản lý tốt người nộp thuế GTGT, trước hết cần có sự cố gắng nỗ lực của cơ quan quản lý thu thuế Bên cạnh đó, cân có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan cấp giấy phép đăng ký kinh doanh với cơ quan thuế để có thể nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động của các cơ sở kinh doanh từ đó
có biện pháp quản lý thích hợp, phát hiện và có biện pháp xử lý kịnh thời các vi phạm pháp luật của cơ sở kinh doanh
1.3.1.2 Quản lý hóa đơn chứng từ.
Hóa đơn chứng từ là căn cứ quan trọng ảnh hưởng đến việc xác định nghĩa vụ thuế GTGT Đặc thù của sắc thuế này là việc khấu trừ thuế va hoàn thuế mà hiệu quả của việc thực hiện nó phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý hóa đơn chứng từ làm
cơ sở xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp và sốthuế GTGT được hoàn Nếu công tác quản lý hóa đơn, chứng từ không tốt sẽ có hậu quả không nhỏ, mà nổi cộm nhất là vấn đề trốn lậu thuế gây thất thoát lớn cho NSNN Để quản lý tốt hóa đơn chứn từ, về phía cơ quan quản lý cần có quy định chặt chẽ rõ ràng từ khâu in, phát hành, quản lý, sử dụng hóa đơn; quy định các hìnhthức xử phạt đối với các hành vi vi phạm Ngoài ra, để công tác quản lý hóa đơn chứng từ có hiệu quả, cần tăng cường công tác thanh tra kiểm tra, quản lý chặt chẽ việc cấp phát va sử dụng hóa đơn chứng từ, thực hiện xử lý nghiêm minh và có hình phạt thích đáng đối với các trường hợp vi phạm Hơn nữa, cần có biện pháp
Trang 14thích hợp khuyến khích các đối tượng tiêu dùng, đặc biệt là dân cư khi mua hàng phải lấy hóa đơn.
1.3.1.3 Quản lý công tác hoàn thuế GTGT
Hoàn thuế GTGT là một trong những nội dung rất quan trọng của Luật thuế GTGT,góp phần phát huy tác dụng tích cực của sắc thuế này trong việc khuyến khích và thúc đẩy các cơ sở kinh doanh xuất khẩu, khuyến khích đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, giải quyết khó khăn về vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh Khâu hoàn thuế GTGT là một khâu rất dễ xảy ra các gian lận để chiếm đoạt Do vậy, công tác hoàn thuế phải được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo vừa hoan thuế đúng, kịp thời cho các đối tượng được hoàn, vừa phải kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và ngăn ngừa sự chiếm đoạt tiền thuế của NSNN Để thực hiện tốt việc hoàn thuế GTGT, trươc hết, cần có quy trình hoàn thuế rõ ràng, cụ thể; tăng cường phối kết hợp kiểmtra thanh tra trong nội bộ ngành thuế, nâng cao trình độ trách nhiệm của cán bộ làmcông tác hoàn thuế Ngoài ra, cần chủ động chuyển dần sang áp dụng công nghệ hiện đại, ứng dụng tin học trong quản lý thuế
1.2 QUY TRÌNH QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
Quy trình quản lý thu thuế được xây dựng nhằm cải tiến công tác thu thuếtheo hướng phân công, phân nhiệm rõ ràng cụ thể giữa các bộ phận trong bộ máyquản lý thu thuế, tăng cường công tác kiểm tra thu thuế, phát huy kịp thời cáctrường hợp trốn lậu thuế, giảm thiểu hiện tượng tiêu cực trong công tác quản lý thuthuế Thực hiện ổn định mức thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng nộp thuếyên tâm phát triển sản xuất kinh doanh góp phần đảm bảo sự công bằng xã hộitrong việc thực hiện nghĩa vụ thuế
Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh quy trình quản lý thuế chính làquy trình tự tính, tự khai và nộp thuế vào kho bạc Thực hiện theo quyết định số
1209 TCT/QĐ/TCCB, ngày 29/7/2004 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế
Quy trình quản lý thuế bao gồm:
Quy trình đăng ký thuế và cấp mã số thuế
Trang 15Quy trình xử lý tờ khai, chứng từ nộp thuế
Quy trình xử lý hoàn thuế
Quy trình xử lý miễn thuế, giảm thuế
Quy trình xử lý quyết toán thuế
Nội dung quy trình quản lý thuế giá trị gia tăng
* Quy trình đăng ký thuế và cấp mã số thuế:
Doanh nghiệp mới ra kinh doanh phải liên hệ với cơ quan thuế để nhận và kêkhai đăng ký thuế Sau khi kê khai đầy đủ các chỉ tiêu trên tờ khai, doanh nghiệpgửi tờ khai tới cơ quan thuế để được cấp mã số thuế
- Tiếp nhận đăng ký thuế: Chi cục tiếp nhận tờ khai đăng ký thuế của doanhnghiệp, phân loại tờ khai đăng ký thuế, kiểm tra các chỉ tiêu kê khai trên tờ đăng kýthuế của doanh nghiệp, phát hiện nếu có sai sót thì liên hệ với doanh nghiệp đểchỉnh sửa Sau đó thực hiện nhập các thông tin trên tờ khai đăng ký thuế vào máytính, máy tính sẽ gắn mã số cho đối tượng nộp thuế Sau đó, tiến hành in mã số thuếgửi cho các đối tượng nộp thuế
* Quy trình xử lý tờ khai, chứng từ nộp thuế:
- Đội kê khai – kế toán thuế hướng dẫn và đôn đốc các doanh nghiệp lập các
tờ khai thuế theo mẫu và gửi cơ quan thuế theo đúng hạn quy định ( lập và gửi tờkhai thuế giá trị gia tăng trong 10 ngày đầu tháng )
- Đội kê khai – kế toán thuế kiểm tra và phát hiện lỗi, sau đó tiến hành nhập
tờ khai vào máy tính, in thông báo thuế tính nợ kỳ trước chuyển sang, tính thuếphải nộp kỳ này, dựa vào tờ khai danh sách ấn định thuế Nhập tờ khai ngày nào thì
in ngay thông báo trong ngày đó Thông báo thuế in xong chuyển cho lãnh đạo Chicục ký sau đó chuyển cho phòng Hành chính sao thành hai bản đóng dấu gửi chođối tượng nộp thuế một bản, một bản lưu vào hồ sơ của doanh nghiệp
- Nộp thuế: đối tượng nộp thuế căn cứ vào tờ khai tính thuế của mình để
Trang 16nhận giấy nộp tiền và nộp thuế vào Kho bạc Kho bạc thu tiền thuế và xác nhận vàogiấy nộp tiền, chuyển một bản cho cơ quan thuế để nhập số liệu trên giấy nộp tiềnvào máy tính để theo dõi tình hình nộp thuế của đối tượng nộp thuế
- Lập sổ thuế, báo cáo kế toán, thống kê thuế: Đội kê khai – kế toán thuếlập sổ thuế, báo cáo kế toán, thống kê thuế theo chế độ quy định Thực hiệnđối chiếu số thu với kho bạc, theo dõi tiến độ thực hiện của các đơn vị trongngành, báo cáo lãnh đạo chi cục để phục vụ công tác chỉ đạo thu
* Quy trình xử lý miễn thuế, giảm thuế:
- Đối tượng nộp thuế thuộc diện được miễn, giảm, tạm giảm thuế lập hồ sơ
đề nghị gửi cơ quan thuế Cơ quan thuế kiểm tra xác định số thuế được miễn, giảm,tạm giảm để ra quyết định điều chỉnh số thuế phải nộp trong kỳ của các doanhnghiệp và gửi đến các doanh nghiệp
* Quy trình xử lý quyết toán thuế:
- Đối tượng nộp thuế trong thời gian 90 ngày kể từ khi kết thúc năm dươnglịch, phải lập và gửi quyết toán thuế cho cơ quan thuế Cơ quan thuế kiểm tra xácminh số liệu quyết toán thuế, xác định số thuế còn thừa hoặc thiếu sau đó lập quyếttoán của từng đối tượng nộp thuế
- Điều chỉnh số thuế phải nộp: Cơ quan thuế nhận và lập danh sách kếtquả quyết toán thuế sau đó chuyển sang tiến hành nhập số liệu điều chỉnh sốthuế phải nộp vào tháng hoặc quý hiện tại
1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH.
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận chủyếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Hoạt động của doanh nghiệp nóichung và của DNNQD nói riêng đã có bước phát triển đột biến, góp phần giảiphóng và phát triển sức lao động, huy động và phát triển nội lực vào phát triển kinh
Trang 17tế xã hội, tăng trưởng kinh tế, tăng kim nghạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách vàtham gia có hiệu quả vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xóađói, giảm nghèo Có thể khẳng định khu vực DNNQD là một bộ phận cấu thànhthống nhất của nền kinh tế quốc dân Trong những năm gần đây, Đảng và Nhànước ta đã đưa ra nhiều chính sách mới, sửa đổi bổ sung một số chính sách cũnhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các DNNQDnhư: Luật thuế TNDN, luật doanh nghiệp, luật hợp tác xã DNNQD là một trongnhững động lực của nền kinh tế gồm các loại hình như: Công ty TNHH, công ty cổphần, doanh nghiệp tư nhâ, công ty hợp danh, hợp tác xã Để công tác quản lýthuế GTGT đối với DNNQD đạt hiệu quả cao nhất, chúng ta cần hiểu rõ đặc điểm
- Đặc điểm về sở hữu: Đây là khác biệt cơ bản nhất giữa doanh nghiệp ngoài Quốc doanh với doanh nghiệp Nhà nước và thành phần kinh tế tư bản Nhà nước Toàn bộvốn, tài sản của doanh nghiệp ngoài Quốc doanh đều thuộc sở hữu tư nhân Chủ doanh nghiệp hoặc chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạtđộng SXKD và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đãhoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quy định của Nhà nước hoặc từ cơ quan quản lý Do đó, họ luôn tìm mọi cách để có thể đạt đượclợi nhuận cao nhất
Trang 18- Đặc điểm về trình độ văn hóa, trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ: So với những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài thì phần lớn những người chủ các DNNQD có trình độ văn hóa chưa cao, chưa được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản lý, trình độ chuyên môn chủ yếu là tự phát hoặc thoe kinh nghiệm Vì vậy, nhìn chung hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNQD còn thấp, số đông các cơ sở kinh tế ngoài Quốc doanh hoạt động ở lĩnh vực thương mại và dịch vụ, mục đích chính là mua đi bán lại để hướng chênh lệch giá, một số nhỏ hoạt động ở lĩnh vực sản xuất thì đa số sử dụng máy móc thiết bị cũ kỹ, trình độ công nghệ thấp, trình độ quản lý không cao do đó năng suất lao động đạt thấp, chất lượng hàng hóa sản xuất không cao
Theo quy định của pháp luật thì những người đủ 18 tuổi và có đủ năng lực hành vi dân sự là có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, không yêu cầu về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, đo đó, có nhiều cơ sở kinh doanh lợi dụng cho những người không có đủ trình độ văn hóa, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn
kỹ thuật thậm chí kể cả những người đang trong thời kỳ cải tạo, nghiện hút đứng tên chủ doanh nghiệp hoặc người điều hành doanh nghiệp
- Đặc điểm về ý thức tuân thủ pháp luật: như trình bày ở trên, số đông chủ doanh nghiệp có trình độ văn hóa chưa cao, do đó nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng rất thấp, biểu hiện rõ nhất là số đông cơ sở kinh doanh không thực hiện tốt chế độ kế toán, không thực hiện kê khai theo quy định
Về nguyên tắc khi tiến hành sản xuất kinh doanh, cơ sở sản xuất kinh doanh phải
tự nghiên cứu tìm hiểu các quy định của pháp luật về kinh doanh, nghĩa vụ thuế nhưng đối với các DNNQD thì ngược lại, họ cứ thành lập cơ sở kinh doanh, tiến hành kinh doanh đến khi kiểm tra phát hiện mới thực hiện nghĩa vụ thuế Nhiều cơ
sở kinh doanh ki phát hiện, bị xử lý lại đổ lỗi cho cơ quan thuế không hướng dẫn
Có một số DNNQD hiểu biết về pháp luật nhưng không vì thế mà thực hiện
nghiêm túc các chính sách chế độ mà luôn lợi dụng những sơ hở của chính sách, chế độ để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế
- Đặc điểm về số lượng đối tượng: Số lượng các doanh nghiệp ngoài Quốc doanh rất lớn, hoạt động sản xuất, kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản
Trang 19xuất, gia công, chế biến, xây dựng, vận tải đến các loại hình thương nghiệp, dịch
vụ và được trải rộng trên khắp các địa bàn trong cả nước
Bên cạnh một bộ phận người trực tiếp kinh doanh là người chủ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã hoạt động kinh doanh lâu năm, thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh, còn có một bộ phận không nhỏ là cán bộ công nhân viên nghỉ hưu, nghỉ mất sức, tranh thủ kinh doanh thêm, những đối tượng chính sách như thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng tham gia kinh doanh để cải thiện thêm đời sống Mặc khác, do đặc điểm nhỏ gọn, năng động, nhạy bén nên rất dễ thay đổi các hình thức hoạt động, dễ di chuyển đến các địa điểm khác nhau nên việc quản lý đối tượng thêm khó khăn, phức tạp
1.3.1.2 Vai trò
Các DNNQD có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốcdân, điều này được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
- Thứ nhất, góp phần huy động các nguồn lực trong xã hội, giải quyết công
ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp giúp nền kinh tế phát triển
ổn định Từ đó công tác giữ gìn ổn định trật tự xã hội được củng cố nhờ đó mà tệnạn xã hội giảm đi đáng kể
- Thứ hai, trong điều kiện hiện nay, DNNQD là một thực thể tồn tại để vừacạnh tranh, vừa hợp tác Nó ví như nhân tố xúc tác quan trọng góp phần vào sựphát triển chung của nền kinh tế Xét trong mối quan hệ hợp tác, DNNQD là cácđơn vị dịch vụ trung gian, đại lý tiêu thụ sản phẩm hoặc tham gia sản xuất gia côngmột phần, một công đoạn của quá trình kinh tế Điều đó tạo nên sự tác động tương
hỗ cho các doanh nghiệp cùng phát triển cân đối trở thành động lực phát triển nềnkinh tế, tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm Những năm gần đây, sảnphẩm hàng hóa, dịch vụ do khối DNNQD tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng vềchủng loại, mặt hàng, chất lượng tốt Do đó đã giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùnghàng hóa, dịch vụ ngày càng cao của xã hội, giúp phần nâng cao mức sống vật chất
Trang 20của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hóa xuất khẩu Nhiều sản phẩm trước đâythường phải nhập khẩu cho tiêu dùng thì nay đã được các doanh nghiệp sản xuấtthay thế và được người tiêu dùng trong nước tín nhiệm như: ô tô, xe máy, mặt hàng
đồ điện, may mặc, gia dụng
- Thứ ba, DNNQD là khu vực tạo ra nguồn thu lớn cho NSNN Nguồn thunày tăng nhanh trong những năm qua là cơ sở để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,phát triển các hoạt động xã hội công như: y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo
1.3.2 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thuế GTGT đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Để thuế GTGT phát huy hết vai trò, tác dụng của nó thì chúng ta cần thiếtphải tăng cường công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp đặc biệt làDNNQD Sự cần thiết này xuất phát từ các lý do sau:
- Thứ nhất, xuất phát từ bản chất, vai trò của doanh nghiệp ngoài quốcdoanh
Các DNNQD dần trở thành nhân tố chính sản xuất ra sản phẩm của xã hội,đóng góp những thành quả không nhỏ vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Sức khỏe và sự phát triển của bộ phận các DNNQD ảnh hưởng khôngnhỏ tới tăng trưởng kinh tế, sự phồn vinh của đất nước
- Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước.Ngân sách nhà nước là vấn đề mà tất cả các quốc gia đều quan tâm, nókhông chỉ giúp đảm bảo mà nó còn tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội Để đảmbảo cho nguồn thu ngân sách được ổn định, nhiệm vụ của ngành thuế là hết sứcquan trọng, hàng năm số thu từ thuế chiếm 90% tổng thu ngân sách nhà nước.Thuế GTGT là một sắc thuế đem lại số thu lớn thương xuyên ổn định cho NSNN,
Trang 21hàng năm thu từ sắc thuế này chiểm khoảng 20% tổng thu từ thuế, do vậy tăngcường quản lý thuế GTGT là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa DNNQD với sự pháttriển hết sức đa dạng và quy mô ngày càng lớn thì số thu từ thuế ở khu vực kinh tế
sẽ ngày trở lên quan trọng cần có sự quan tâm đúng mức Do vậy cần thiết phảităng cường công tác quản lý thuế GTGT từ DNNQD để đảm bảo nguồn thu choNgân sách Nhà nước
- Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu đảm bảo công bằng xã hội
Với đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước theo hướng thịtrường thì khuyến khích đa dạng hóa ngành nghề sản xuất, đa dạng hóa loại hìnhsản xuất kinh doanh là một tất yếu đồng thời với công cuộc đổi mới đó với nhữngchính sách vĩ mô đã được thích ứng dần Nhà nước đã khuyến khich được nhữngngười có năng lực có tiềm lực kinh tế mạnh dạn đứng ra làm giàu chính đáng tuynhiên một yêu cầu đặc biệt quan trọng là khuyến khích phải dựa trên cơ sở côngbằng xã hội
Công bằng xã hội không chỉ được hiểu là sự công bằng về vật chất làmnhiều hưởng nhiều mà công bằng còn phải tuân thủ pháp luật, mọi công dân đềuphải tuân thủ luật, phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình,mọi sai phạm sẽ được xử lý nghiêm minh
Tuy nhiên hiện tượng nợ đọng thất thu thuế làm cho vai trò của Nhà nướctrong việc phân phối và thực hiện công bằng xã hội bị hạn chế, gây ra hiện tượngmất công bằng giữa người nghiêm minh chấp hành luật thuế với người trốn lậu,giữa những người kinh doanh với nhau, vấn đề dùng thuế để điều tiết thu nhập củanhững người có thu nhập cao cũng như vấn đề dùng thuế để tài trợ cho ngườinghèo không được thực hiện vì vậy mà công bằng xã hội không được đảm bảo, vaitrò của Nhà nước đối với đời sống xã hội bị giảm sút Vì lý do đó nhằm đảm bảo
Trang 22công bằng trong xã hội thì công tác quản lý thuế GTGT đối với DNNQD là điềuquan trọng cần làm.
Trang 23CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM.
2.1 VAÌ NÉT SƠ LƯỢC VỀ HUYỆN GIA LÂM.
2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Gia Lâm
- Về vị trí địa lý
Huyện Gia Lâm nằm ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội Phía Bắc của Huyện
là huyện Long Biên; phía Tây Nam có địa giới là dòng sông Hồng, bên kia bờ làhuyện Thanh Trì và huyện Hoàng Mai; phía Đông Bắc và Đông giáp với các huyện
Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành của tỉnh Bắc Ninh; phía Nam giáp với huyện VănLâm, tỉnh Hưng Yên
Diện tích: 114,79 km2
Dân số: khoảng 243.957 người (năm 2011)
Huyện Gia Lâm ngày nay gồm 20 xã, 2 thị trấn Đó là các xã: Bát Tràng, Cổ
Bi, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Đặng Xá, Đa Tốn, Đình Xuyên, Đông
Dư, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Phú Thị, TrungMàu, Yên Viên, Yên Thường, Văn Đức và 2 thị trấn: Yên Viên, Trâu Quỳ
Trụ sở cơ quan lãnh đạo Huyện đóng tại thị trấn Trâu Quỳ
Gia Lâm được xác định là vùng kinh tế trọng điểm, là địa bàn quân sự chiếnlược ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội Trên địa bàn huyện có nhiều tuyến đườnggiao thông quan trọng đã và đang được đầu tư xây dựng: Quốc lộ 1A; Quốc lộ 1B;Quốc lộ 3 mới Hà Nội - Thái Nguyên; Quốc lộ 5; Đường ôtô cao tốc Hà Nội - HảiPhòng; đường Hà Nội - Hưng Yên; đường 181 ; đường thuỷ sông Hồng, sôngĐuống, ga Yên Viên và hệ thống đường sắt ngược lên phía Bắc, Đông Bắc và xuôicảng biển Hải phòng Trên địa bàn Huyện có nhiều khu đô thị, khu công nghiệp và
Trang 24các trung tâm thương mại được hình thành; nhiều làng nghề nổi tiếng, thu hút đôngkhách thập phương trong và ngoài nước như làng gốm sứ Bát Tràng, dát vàng, may
da Kiêu Kỵ, chế biến thuốc bắc Ninh Giang Đây chính là những động lực và tiềmnăng to lớn để phát triển kinh tế thương mại, du lịch, dịch vụ giao thông, giao lưuhàng hoá hiện nay và và trong tương lai
- Về kinh tế:
Huyện Gia Lâm có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, vănhóa lớn của cả nước, là vị trí thuận lợi cho các hoạt động giao thông buôn bán vàkinh doanh Huyện Gia Lâm đã trở thành trung tâm kinh tế lớn của thành phố Hànội, tập trung nhiều cơ quan xí nghiệp lớn Với tinh thần đoàn kết nội bộ và cótrách nhiệm trong công việc nên trong những năm vừa qua huyện Gia Lâm luônhoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ thu ngân sách, tăng cường công tácchỉ đạo, khắc phục các tồn tại năm trước Đồng thời với sự quan tâm chỉ đạo củacục thuế Hà Nội, của Huyện Ủy, HĐND, UBND huyện Gia Lâm và sự phối hợpchặt chẽ giữa các phòng ban chức năng nên trong những năm vừa qua chi cục thuế
đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tăng cường công tác chỉ đạo để khắc phụcđược những tồn tại bất cập trong thời gian qua
Kết quả thực hiện thu ngân sách trong thời gian qua như sau:
- Năm 2011, tổng số thu NSNN trên địa bàn thu được 894 tỷ 570 triệu đồng,đạt 186% dự toán pháp lệnh ,đạt 144% DT huyện giao, đạt 156% dự toán phấn đấu
và bằng 120% cùng kỳ năm 2010
- Năm 2012, tổng số thu NSNN trên địa bàn thu được 554 tỷ 987 triệu đồng,đạt 48% dự toán pháp lệnh, đạt 47% DT huyện giao, 45% DT Cục thuế giao vàbằng 63% cùng kỳ 2011
- Năm 2013, tổng số thu NSNN trên địa bàn thu được 546 tỷ 267 triệuđồng, đạt 59% dự toán pháp lệnh, đạt 58% DT huyện giao, và bằng 98% cùng kỳ
Trang 25Như vậy ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới làm ảnh hưởng mạnhđến nền kinh tế huyện Gia Lâm trong những năm gần đây, số thuế động viên vàoNgân sách có xu hướng giảm
Huyện Gia Lâm là địa bàn có tương đối nhiều doanh nghiệp ngoài quốcdoanh trên thành phố Hà Nội Năm 2011 có 1.215 doanh nghiệp hoạt động Năm
2012 có 1.383 doanh nghiệp hoạt động Năm 2013có 2.536 doanh nghiệp trong đó
số doanh nghiệp hoạt động là 1.648 đơn vị
Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn được đẩy mạnh hình thành một
số trung tâm buôn bán sôi động như: Bát Tràng, Kiêu Kỵ, thị trấn Trâu Quỳ
Nói chung huyện Gia Lâm có hoạt động kinh tế xã hội phát triển tren địa bànthành phố Hà Nội Trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa huyện Gia Lâm và cáctỉnh thành phố khác đã được đầu tư xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng, trang thiết bịmáy móc tạo cơ sở tăng thu NSNN, đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý thuthuế trên địa bàn
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức quản lý của chi cục thuế huyện Gia Lâm
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức
Chi cục thuế huyện Gia Lâm có tổng cộng cán bộ trong đó có cán bộnằm trong biên chế còn cán bộ hợp đồng ngắn hạn Mô hình tổ chức của chi cụcbao gồm:
* Ban lãnh đạo chi cục gồm 4 đồng chí, trong đó có:
Trang 26- Đội quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác:
- Đội kiểm tra thuế:
- Đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế:
- Đội Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán - Kê khai kế toán thuế & tin học:
- Đội hành chính - nhân sự - tài vụ:
- Đội kiểm tra nội bộ:
- Các Đội thuế liên xã, thị trấn số 1, 2 và 3
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các đội thuộc chi cục thuế huyện Gia Lâm
a Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế và ấn chỉ:
Giúp Chi cục trưởng thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật thuế; hỗ trợ người nộp thuế và quản lý ấn chỉ trong phạm vi Chi cục thuế quản lý
b Đội quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác:
Giúp Chi cục trưởng quản lý thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyển sử dụng đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuê đất, phí,
lệ phí, các khoản thu về đất bao gồm cả thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản, nhận thừa kế, quà tặng, lệ phí trước bạ và thu khác phát sinh tại địa bàn huyện Gia Lâm
c Đội kiểm tra thuế:
Giúp Chi cục trưởng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế; giảiquyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến người nộp thuế thuộc phạm vị Chi cục quảnlý; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu thuế, phí thuộc khối các doanh nghiệp,
tổ chức, các đơn vị hành chính sự nghiệp
Trang 27d Đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế:
Giúp Chi cục trưởng thực hiện công tác quản lý nợ thuế, cưỡng chế thu tiềnthuế nợ, tiền phạt đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục thuế
e Đội Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán - Kê khai kế toán thuế & tin học:
Giúp Chi cục trưởng hướng dẫn về nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, phápluật thuế cho cán bộ, công chức thuế trong Chi cục thuế, xây dựng và tổ chức thựchiện dự toán thu ngân sách Nhà nước được giao của Chi cục thuế; công tác đăng kýthuế, xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế theo phân cấp quản lý;quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học; triển khai, cài đặt, hướng dẫn
sử dụng các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế và công táckiểm tra, giám sát kê khai thuế thu nhập cá nhân
f Đội hành chính - nhân sự - tài vụ:
Giúp Chi cục trưởng thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, côngtác quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản trị trong nội bộ Chi cục thuế quản lý
g Đội kiểm tra nội bộ:
Giúp Chi cục trưởng thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tínhliêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cảkhiếu nại các quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quantrong nội bộ cơ quan thuế, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hànhcông vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế thuộc thẩmquyền của Chi cục trưởng
h Các Đội thuế liên xã, thị trấn số 1, 2 và 3
Giúp Chi cục trưởng quản lý thu thuế các tổ chức, cá nhân nộp thuế tại Chicục thuế huyện Gia Lâm theo xã, thị trấn được phân công (bao gồm các hộ sản
Trang 28xuất kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ, kể cả hộ nộp thuế thu nhập cánhân; thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên ).
Trang 29Chi cục trưởng
Phó chi cục trưởng
Đội thuế liên xã số 2
Đội THNVDTKK KTT và tin học
Đội kiểm tra nội bộ
Đội hành chính nhân sự và tài vụ Đội QL nợ và cưỡng chế nợ thuế
Đội thuế liên xã số 3 Đội thuế liên xã số 1
Đội kiểm tra thuế Đội QL thu lệ phí trước bạ và thu khác
Đội TTHT NNT và ấn chỉ
Phó chi cục trưởng Phó chi cục trưởng
Trang 302.1.3 Tổng quan về công tác quản lý thu thuế trên đại bàn huyện Gia Lâm
Tại Chi cục thuế huyện Gia Lâm, căn cứ vào số thuế được giao hàng năm từCục thuế thành phố Hà Nội và UBND huyện Gia Lâm, Chi cục thuế xác định kếhoạch thu trên cơ sở NNT, các hoạt động và các thu nhập chịu thuế, bao gồm:
Các DNNQD gồm: Công ty cổ phần, công ty TNHH, DNTN, HTX, cơ sởkinh doanh khác;
Các hộ kinh doanh và các chủ thể kinh doanh khác;
Các NNT theo sắc thuế như thuế TNCN, thuế tài nguyên, lệ phí trước bạ vàcác thuế khác;
Các khoản thu nhập chịu thuế từ các NNT;
Các hoạt động chịu thuế
Sau khi kế hoạch thu thuế được xác lập, Chi cục thuế tổ chức thực hiện kếhoạch trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng đội thuế Căn cứ vào kế hoạch thuthuế do Chi cục giao, các đội thuế tiến hành giao chỉ tiêu cụ thể cho từng cán bộquản lý khu vực
Hàng năm, căn cứ vào dự toán được giao Chi cục thuế Gia Lâm đã xây dựng
kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch hoàn thành nhiệm vụ thu thuế thể hiệnnhư Bảng dưới đây
Bảng 1 Kết quả thực hiện dự toán được giao
Năm Dự toán giao
( triệu đồng )
Thực hiện ( triệu đồng )
So sánh ( % ) Thực hiện /
Trang 31Từ bảng 1 cho thấy số thu thực của Chi cục thuế Gia Lâm giảm mạnh qua 3năm qua Năm sau thấp hơn so với năm trước, cụ thể số thu năm 2012 giảm mạnh
so với năm 2011 là 339 tỷ 583 triệu đồng, tương đương tỷ lệ 63%, số thu năm 2013giảm nhẹ 8 tỷ 720 triệu đồng, tương đương tỷ lệ 98% so với năm 2012 Qua số liệutrên ta có thể thấy ảnh hưởng sâu sắc của khủng hoảng kinh tế thế giới tạo nhiềukhó khăn cho nền kinh tế huyện Gia Lâm, đây cũng là tình trạng chung của các Chicục thuế toàn thành phố Hà Nội làm số thu thực hiện dự toán giảm mạnh, cán bộChi cục thuế Gia Lâm đã cố gắng nỗ lực quản lý hoàn thành tương đối nhiệm vụ dựtoán được giao
Theo tiêu chí phân loại của Tổng cục thuế thì đa số doanh nghiệp trên địabàn huyện Gia Lâm đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp thường cóquy mô nhỏ, thiết bị lạc hậu, vốn ít Vì vậy số doanh nghiệp có kết quả sản xuấtkinh doanh và số thuế nộp và chưa nhiều.Năm 2013 là năm thứ năm thực hiện Luậtthuế TNCN, là năm tiếp tục thực hiện các nội dung sửa đổi của Luật thuế GTGT vàluật thuế TNDN Nhìn cung các doanh nghiệp đều chấp hành tốt các Luật thuế, kêkhai nộp thuế kịp thời vào NSNN Mặc dù các doanh nghiệp còn gặp nhiều khókhăn, lúng túng khi áp dụng hai luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 và luật thuếTNDN số 14/2008/QH12 trong điều kiện kinh tế khó khăn nhưng các doanhnghiệp đặc biệt là doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn đảm bảo tương đối số thutrong năm 2013, điều đó được thể hiện ở biểu 2 dưới đây
Trang 32Bảng 2: Tình Hình Thực Hiện Dự Toán Thu Ngân Sách Năm
2013
Đơn Vị: 1000đ
STT Loại Thu
Dự Toán Pháp Lệnh Năm 2013
Dự Toán Phấn Đấu Năm 2013
Thực Hiện Năm 2013
Tỷ Lệ Đạt % So
DT Pháp Lệnh
So DT Phấn Đấu
So Cùng Kì 2012
Trang 33Nguồn: Chi cục thuế Huyện Gia Lâm
Trong điều kiện nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, khối lượng côngviệc lớn để có được số thu trên Chi cục huyện Gia Lâm đã luôn nỗ lực quản lý tạođiều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp
2.2 THỰC HIỆN CÁC KHÂU TRONG QUY TRÌNH QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DNNQD TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM
Thực trạng quy trình quản lý thu thuế đối với DNNQD tại Chi cục thuế GiaLâm thể hiện qua các khâu như sau:
2.2.1 Công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT.
Công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế luôn được quan tâm thực hiện.Chi cục thuế đã thành lập và đưa vào hoạt động bộ phận “một cửa” nhằm tạo điềukiện thuận lợi cho người nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ thuế cũng như cần tư vấn
và tìm hiểu về chính sách thuế
Trang 34Việc tuyên truyền thuế đã đạt được bề rộng và đang từng bước đi vào chiềusâu Nhiều phương thức phối hợp để phổ biến tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế
đã được triển khai như: báo chí, phát thanh, truyền hình và trang thông tin điện tửngành thuế
Việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho doanh nghiệp đã từng bước được triểnkhai như, tổ chức tập huấn, toạ đàm, hướng dẫn các chính sách thuế, thủ tục về thuếcho các doanh nghiệp Ngoài các hình thức tiếp xúc tại cơ quan thuế, Chi cục còn
cử cán bộ thuế đến tận trụ sở doanh nghiệp để hướng dẫn cung cấp, cài đặt phầnmềm Hỗ trợ kê khai thuế miễn phí và hướng dẫn, giải đáp chính sách thuế chodoanh nghiệp theo quy định
Bộ phận một cửa tại Chi cục thuế được duy trì thường xuyên và phát huyhiệu quả công tác hỗ trợ NNT, thực hiện tốt khẩu hiệu “Biến trí tuệ - Trách nhiệm -Đạo đức thành Chất lượng - Hiệu quả - Niềm tin”
Bảng 3 Kết quả thực hiện tuyên truyền hỗ trợ ST
Đ
vt Số lũy kế
1 Hội nghị đối thoại doanh nghiệp Buổi 21
2 Tập huấn chính sách về thuế, chế độ kế toán Buổi 25
3 Phát thanh trên Đài Phát thanh Lượt 206
5 Đăng tải trên báo, tạp chí, Website ngành thuế Tin 30
6 Trả lời trực tiếp về chính sách thuế Lượt 750
7 Trả lời bằng điện thoại về chính sách thuế Lượt 1.000
8 Trả lời bằng văn bản về chính sách thuế Lượt 150
9 Cung cấp các ấn phẩm, tờ rơi tuyên truyền Lượt 10.900
Trang 35Nguồn: Chi cục thuế huyện Gia Lâm
Qua Bảng 3 cho thấy, luỹ kế giai đoạn 2009-2013, Chi cục thuế đã thực hiệnđược 10 buổi phát sóng truyền hình, 206 buổi phát thanh trên Đài Phát thanh huyệnvới nội dung phản ánh tình hình hoạt động của ngành thuế, tuyên truyền chính sáchpháp luật thuế; đăng tải trên báo, tạp chí, Website ngành thuế với 30 tin, bài liênquan đến chính sách thuế; tổ chức 25 buổi tập huấn chính sách thuế với số ngườitham dự là 4.010 lượt người Tổng số lượt đối thoại doanh nghiệp về quá trình thựcthi các văn bản pháp luật về thuế và thái độ phục vụ của cơ quan thuế, cán bộ thuế:
21 buổi với tổng số lượt người tham dự: 3.560 lượt người Tổng số lượt hỗ trợ bằngvăn bản hỏi về chính sách thuế và hoá đơn: 150 văn bản Trả lời trực tiếp chínhsách thuế tại bộ phận một cửa: 750 lượt Trả lời bằng điện thoại: 1.000 lượt Cungcấp các ấn phẩm, tờ rơi tuyên truyền: 10.900 lượt
Chi cục thuế đã tổ chức mạng lưới làm nhiệm vụ dịch vụ hỗ trợ doanhnghiệp để cung cấp tài liệu, tập huấn, hướng dẫn, giải đáp mọi vướng mắc về thuế
để các tổ chức, cá nhân hiểu rõ chính sách thuế, tự giác thực hiện đúng, đủ nghĩa vụthuế
Qua điều tra khảo sát 120 DN cho thấy, công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT tạiChi cục thuế Gia Lâm tuy có nhiều cố gắng song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của DNcũng như yêu cầu của quản lý thuế hiện đại
Trang 36Bảng 4 Ý kiến đánh giá của DN về công tác tuyên truyền hỗ trợ
Câu hỏi
Tổn
g số ý kiến
Ý kiến đánh giá của DN Không
phù hợp
Ít phù hợp
Tương đối phù hợp
sách thuế 120 20
16,
7 47 39,2 39 32,5 10 8,3 4 3,3Trả lời bằng điện thoại
về chính sách thuế 120 15
12,
5 30 25,0 44 36,7 25 20,8 6 5,0Trả lời bằng văn bản về
chính sách thuế 120 4 3,3 32
26,
7 54 45,0 28 23,3 2 1,7Cung cấp tài liệu, văn
vụ, văn hóa ứng xử của
(Nguồn: Số liệu điều tra của Chi cục Gia Lâm)
Số liệu ở bảng 4 cho thấy, thông tin hỗ trợ từ website ngành thuế có 12,5% ýkiến cho rằng không phù hợp; 37,5% ý kiến đánh giá là ít phù hợp Mặc dù trongnhững năm qua, thông tin hỗ trợ từ Website của ngành thuế đã hỗ trợ đắc lực cho
DN trong việc tìm kiếm thông tin phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN Tuy nhiên, một số chính sách thuế thay đổi, văn bản mới chưa được cập nhậtkịp thời, cho nên việc tra cứu các thông tin từ Website của ngành thuế để phục vụ
DN còn gặp nhiều khó khăn
Trang 37Công tác trả lời chính sách thuế cũng chưa đạt yêu cầu, tỷ lệ phiếu đánh giá
ít phù hợp tương đối cao Trả lời trực tiếp có 16,7% ý kiến không phù hợp, có39,2% ý kiến là ít phù hợp Trả lời qua điện thoại có 25% ý kiến là ít phù hợp
Công tác cung cấp tài liệu, văn bản pháp luật về thuế cho DN, có 43,3% ýkiến đánh giá ít phù hợp Do đó, Chi cục thuế cần thay đổi về cách thức cung cấptài liệu, văn bản, nên cung cấp các loại văn bản có thông tin rõ ràng, các nội dungvăn bản, tài liệu thiết thực cho doanh nghiệp
Công tác tập huấn đối thoại với DN còn sơ sài, chưa thuyết phục được ngườinộp thuế có 41,7% ý kiến đánh giá là ít phù hợp Vì vậy, Chi cục thuế cần phải xâydựng những kịch bản có chất lượng, nội dung phong phú, người truyền đạt có sứcthuyết phục, cơ quan quản lý thuế phải biết DN cần những thông tin gì để tập huấn,
hỗ trợ
Về tinh thần thái độ phục vụ, văn hoá ứng xử của CBCC thuế đối với DN có15,8% ý kiến không phù hợp; 33,3% ý kiến đánh giá ít phù hợp Qua khảo sát đánhgiá này, Chi cục thuế cần phải xem xét chấn chỉnh lại thái độ phục vụ và văn hoáứng xử của CBCC thuế đối với DN Trong tiến trình cải cách và hiện đại hoá ngànhthuế thì DN không phải là đối tượng bị cơ quan thuế quản lý mà là người bạn đồnghành với cơ quan thuế cùng thực hiện tốt chính sách, pháp luật thuế
Về kỹ năng giải quyết công việc của CBCC thuế có 12,5% ý kiến đánh giákhông phù hợp và 37,5% ý kiến ít phù hợp Đây là tỷ lệ khá cao, đòi hỏi ngành thuếcần kiện toàn, tổ chức lại bộ máy, tăng cường mở các lớp nghiệp vụ quản lý chuyênsâu Đây là vấn đề quan trọng trong việc cải cách và hiện đại hoá ngành thuế
Về trang thiết bị phục vụ hỗ trợ DN có 46,7% ý kiến ít phù hợp Vì vậy, Chicục thuế cần phải quan tâm đầu tư hơn nữa về trang thiết bị nhằm phục vụ DN ngàycàng tốt hơn
Trang 38Tồn tại, hạn chế:
Việc tuyên truyền giáo dục, hướng dẫn giải thích chính sách thuế chưathường xuyên, liên tục để nâng cao tính tuân thủ, tự nguyện, nâng cao trách nhiệmpháp luật về thuế; chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ của đối tượng nộp thuế
về tinh thần tự giác, trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước
Nội dung và hình thức tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế cũng như cungcấp dịch vụ hỗ trợ cho DN còn nghèo nàn Các chương trình tuyên truyền về thuếchưa thành hệ thống, chưa có các chiến dịch vào mùa cao điểm (như thời gian nộp
hồ sơ BCTC, khai thuế GTGT) Chưa xây dựng được các chương trình dịch vụ hỗtrợ cho DN theo các phương thức hiện đại như: Trung tâm trả lời điện thoại tự độngcác vướng mắc của DN, thư điện tử tự động; chưa có các dịch vụ cung cấp hướngdẫn trọn gói cho doanh nghiệp cùng với tờ khai thuế
2.2.2 Công tác kê khai và kế toán thuế.
Chi cục thuế Gia lâm xác định công tác kê khai kế toán thuế là một trong bốnchức năng quan trọng của Luật quản lý thuế Thực hiện tốt công tác kê khai kế toánthuế là tiền đề, cơ sở dữ liệu trong quá trình quản lý thuế
Quản lý được số lượng DN là việc đầu tiên để tiến hành triển khai công tácthu thuế, có quản lý được DN thì các công việc tiếp theo để triển khai công tác thuthuế mới tiến hành được tốt Thông qua công tác này giúp cho cơ quan thuế nắmbắt được số lượng DN đăng ký, kê khai nộp thuế, giúp Lãnh đạo Chi cục nắm bắtđược tình hình kinh doanh của các DN, các chỉ tiêu kinh tế - tài chính cơ bản của
DN Từ đó, có thể quản lý thu thuế một cách có hiệu quả Thực chất của việc quản
lý DN đăng ký, kê khai thuế là quản lý bằng mã số thuế Theo quy định của luật thìmỗi đối tượng nộp thuế được cấp một mã số thuế duy nhất trong suốt quá trình hoạtđộng từ khi thành lập cho đến khi chấm dứt hoạt động
Trang 39Đăng kí thuế và quản lý NNT.
Công tác cấp mã số thuế cho hộ, cá nhân kinh doanh và mã số thuế thu nhập
cá nhân được Chi cục triển khai đúng quy định: thường xuyên đối chiếu, rà soátMST, bổ sung thông tin đăng ký thuế đối với người nộp thuế có thông tin thayđổi đảm bảo 100% người nộp thuế được cấp mã số thuế
Từ 01/7/2007 trở về trước, việc đăng ký cấp mã số thuế được coi là côngviệc đầu tiên của quy trình quản lý thu thuế đối với DNNQD Tuy nhiên, từ khithực hiện Luật quản lý thuế, quản lý thu thuế theo chức năng thì công tác đăng kýthuế có quy trình riêng Việc đăng ký cấp mã số thuế được ứng dụng tin học ngay
từ khi có quy định của Chính phủ về tổ chức cấp mã số thuế
Chi cục thuế Gia Lâm thực hiện việc đăng ký mã số thuế đối với NNT theoquy trình đăng ký thuế NNT lập hồ sơ theo quy định gửi Bộ phận một cửa Chi cụcthuế Đội Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán - Kê khai kế toán thuế và tin học nhập tờkhai đăng ký thuế vào Chương trình đăng ký và cấp mã số thuế TINCC (cấp Chicục) Toàn bộ thông tin được truyền lên Cục thuế TP Hà Nội, sau đó truyền lênTổng cục thuế Khi Tổng cục thuế trả về, Cục thuế truyền trả lại cho Chi cục thuế
để Chi cục in và cấp giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế cho NNT
Sau khi cấp mã số thuế, thông tin hồ sơ NNT được chuyển vào các danh bạcủa chương trình ứng dụng quản lý thuế để theo dõi tình hình thực hiện kê khai nộpthuế của từng NNT Tại Tổng cục thuế, thông tin đăng ký thuế của tất cả NNT toànquốc được lưu trữ và được truyền trực tiếp cho Tổng cục Hải quan để sử dụng mã
số thuế chung
Tất cả các NNT ngừng hoạt động đều được chuyển thủ tục hồ sơ về cấp Cụcthuế để xử lý việc ngừng và đóng mã số thuế
Trang 40Trong quá trình thực hiện, cán bộ xử lý đã có nhiều biện pháp xử lý nhanh,chính xác, lập phiếu xử lý hồ sơ để giám sát Vì vậy, thời gian cấp mã số thuế, trảcho NNT luôn sớm hơn so với quy định Một số kết quả đăng ký cấp mã số thuế tạiChi cục thuế huyện Gia Lâm, Cục thuế TP Hà Nội đến nay được thể hiện như Bảng5
Bảng 5 Kết quả đăng ký cấp mã số thuế đến ngày 31/12/2013
Đơn vị: số mã thuế
Loại hình NNT Mã số thuế
đã cấp
Mã số thuế ngừng hoạt động
Mã số đang hoạt động
2 Tổ chức kinh tế của đoàn thể 13 8 5
3 Đơn vị sự nghiệp, vũ trang 253 7 246
5 Hộ kinh doanh cá thể 14.724 8.125 6.599
6 Cá nhân có thu nhập cao 1.528 3 1.525
Nguồn: Chi cục thuế huyện Gia Lâm
Qua Bảng 5 cho thấy, công tác cấp mã số thuế cho hộ, cá nhân kinh doanh và
mã số thuế thu nhập cá nhân được Chi cục triển khai đúng quy định: thường xuyênđối chiếu, rà soát mã số thuế, bổ sung thông tin đăng ký thuế đối với người nộp