Nguồn gốc họ Nguyễn và Cao tổ Nguyễn Bặc
Họ Nguyễn từ thời Hồng Bàng - Lạc Long Quân Âu Cơ
Nguồn gốc họ Nguyễn ở Việt Nam được nghiên cứu qua các tác phẩm như Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú và Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Kỳ Xuyên Theo đó, Nguyễn Tuấn - Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh) được xem là vị Đệ Nhất Phúc Thần của nước Việt, đứng đầu trong tứ bất tử, bao gồm Thánh Tản Viên, Thánh Gióng, Thánh Chử Đồng Tử và Thánh mẫu Liễu Hạnh, trong thời kỳ Hùng Vương (2879 TCN - 256 TCN) Ông được coi là "hạo khí anh linh của trời đất sinh ra," với chữ "hạo" mang nghĩa bao la trong văn hóa Việt, hoặc là một trong 50 người con của Lạc Long Quân.
Theo quan niệm dân gian, Thánh Tản Viên là con của ông Nguyễn Cao Hạnh và bà Đinh Thị Đen, quê ở Động Lăng Xương, nay là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ Ông Nguyễn Tuấn, con của Thánh Tản Viên, đã lấy Ngọc Hoa công chúa, con của Hùng Huệ Vương, vị vua đời thứ 18, để đánh lại Thục Phán Thánh Sơn Tinh, mang họ Nguyễn, được coi là vua cuối cùng của kỷ Hùng Vương Hiện nay, nhiều người họ Nguyễn đã lập Hội Họ Nguyễn Việt Nam và tôn vinh Đức Thánh Sơn Tinh làm Ông Tổ của họ Nguyễn tại Việt Nam.
Tổ tiên của Thánh Tản Viên được tìm về trước thời Hùng Vương, bắt đầu từ Đế Minh, cháu ba đời của Viêm Đế Thần Nông Đế Minh có con là Kinh Dương Vương (Lộc Tục), được coi là Thủy Tổ dân tộc Việt, người đã thành lập nhà nước sơ khai Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất - 2879 Tr.CN, với đô thành ban đầu ở Hồng Lĩnh và sau đó dời ra Ao Việt - Việt Trì Theo "Cổ Lôi Ngọc Phả Truyền Thư" và "Bách Việt Tộc Phả", bà Đỗ Thị Ngoan, công chúa Đoan Trang, là người họ Đỗ đầu tiên, kết hôn với Nguyễn Minh Khiết (Đế Minh) và sinh ra Kinh Dương Vương Mẹ của Kinh Dương Vương, Thiên Tiên Thánh Mẫu, hay công chúa Đoan Trang, đã kết hôn với Hồng Đăng Ngàn, con gái Động Đình Quân, hoàng hậu nước Xích Quỷ, và sinh ra Lạc Long Quân Hồng Đăng Ngàn được phong là Thượng Ngàn Thánh Mẫu, được thờ phụng bên sông Đuống và sông Hồng Lạc Long Quân sau đó kết hôn với Ấu Cơ, con gái Đế Lai, tại động Lăng Dương, nay thuộc huyện Thanh Thủy - Phú Thọ.
Tổ của giống Tiên - Rồng, được phong thần là Địa Tiên hay Thủy Tiên Thánh Mẫu, là một phần quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt cổ Hiện nay, di tích Đông Linh Bát Nhã Tự chỉ còn lại nền móng và các vật tổ, trong khi Đền Mẫu Âu Cơ, được xây dựng từ thời Hậu Lê, nằm ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ, vẫn giữ được giá trị văn hóa và lịch sử.
Nhiều người hiện nay vẫn cho rằng nguồn gốc dòng họ ở Việt Nam xuất phát từ Trung Quốc, nhưng điều này là sai lầm Thực tế, các dòng họ đã tồn tại trước thời Hùng Vương, như dòng họ Nguyễn với nhân vật Nguyễn Minh Khiết và dòng họ Đỗ với công chúa Đoan Trang, mẹ của Kinh Dương Vương, tổ tiên của dân tộc Việt Nam Sau này, An Dương Vương thành lập nước Âu Lạc nhưng đã thất bại trước Triệu Đà, dẫn đến việc đất Giao Chỉ bị Bắc thuộc Các dòng họ như Mai, Phùng, Lý, và Trưng đã đứng lên khởi nghĩa giành độc lập, chứng minh rằng dòng họ đã có từ lâu trước khi Hồ Hưng Dật đến cai trị.
Một số gia phả dòng họ Nguyễn tự nhận là con cháu của cụ Tổ Nguyễn Ông Trọng, người từ nước Tần đến Việt Nam Tuy nhiên, có thể người viết phả chưa nắm rõ về sự tích của cụ Tổ này Theo các tài liệu như Lĩnh Nam Chích Quái, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt Sử Tiểu Án và Việt Điện U Linh, cụ Tổ Nguyễn Ông Trọng có liên quan đến thời kỳ cuối của Hùng Duệ Vương.
Vào thời kỳ Hùng Vương thứ 18 (256 TCN) và đầu thời An Dương Vương (257 TCN - 207 TCN), có một nhân vật tên là Lý Ông Trọng, quê ở làng Chèm, Từ Liêm, Giao Chỉ Ông nổi tiếng vì sự cương trực, đã đánh chết một tên lính ác ôn tàn nhẫn, nhưng sau đó bị trưởng quan đánh đuổi và phải sang nước Tần làm quan Tại đây, Lý Ông Trọng được vua Tần trọng vọng, thậm chí còn gả công chúa cho ông Sau khi qua đời, ông được triều đình cho đúc tượng để trấn giữ vùng biên giới Hung Nô Tuy nhiên, sử sách Trung Quốc sau này đã biến họ Lý thành họ Nguyễn, gọi ông là Nguyễn Ông Trọng, trở thành tổ tiên của họ Nguyễn tại Việt Nam, hiện chiếm hơn 40% dân số Người Việt Nam luôn tôn trọng lịch sử và hiền tài, nên sau khi ông mất, từ thời Bắc Thuộc (603 - 938), nhân dân đã lập đền thờ và tôn vinh ông là Đức Thánh Chèm tự tại Thị Điềm, Thụy Phương, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội.
Xét về yếu tố thời gian họ Nguyễn Việt Nam xuất hiện từ thời Hùng Vương
Họ Nguyễn ở Việt Nam có nguồn gốc từ rất xa xưa, từ khoảng 2879 TCN, liên quan đến các nhân vật lịch sử quan trọng như Kinh Dương Vương và các truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh Nguyễn Tuấn, hay còn gọi là Tản Viên Sơn Thánh, và Nguyễn Minh Thuyết, cha của Sùng Lãm, đều là những nhân vật nổi bật trong dòng họ này, góp phần hình thành nhà nước sơ khai vào năm Nhâm Tuất Điều này chứng tỏ rằng họ Nguyễn đã tồn tại hơn 5.000 năm, trước cả thời kỳ Ngũ Đại Nghiêu Thuấn Khi văn minh nhân loại ngày càng phát triển, hy vọng rằng những bí ẩn về tổ tiên của Cao Tổ Nguyễn Bặc và các khoảng trống trong phả hệ sẽ được khám phá rõ hơn.
Theo các nhà nghiên cứu, họ Nguyễn có nguồn gốc từ thời Hồng Bàng - Văn Lang - Âu Lạc và trải qua 25 đời cùng 100 đại chi họ Tộc Trưởng Đại Tông là Nguyễn Sùng Lãm (Nguyễn Cầm), được biết đến với hiệu Lạc Long Quân, Hùng Hiền Vương Thủy tổ Đế Hòa, còn gọi là Hy Phúc, là người sáng lập lịch âm Việt Nam theo thuyết âm dương, trong khi Tổ bà là Nữ Hoàng Anh, hiệu Diệu Quang Mộ của hai cụ được táng tại Thôn Thượng Lao, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ.
Hà Nội là nơi ghi dấu ấn của nhiều thế hệ Thủy tổ, bắt đầu từ Thủy tổ Phục Hy (vua Cả) và vợ là bà Chính Nương, mộ của họ nằm ở xóm Đông, xã Tiên Phượng, Quốc Oai Thủy tổ Đế Viêm, được tôn vinh là Đế Thần (Thần Nông), có đền thờ tại Tiên Lữ, huyện Quốc Oai Đế Tiết Vương, cùng vợ Nữ Hoàng Vân (Diệu Lan), được thờ tại xã Quý Lâm, huyện Quốc Oai Đế Quý Công, đứng đầu Cửu Chân, có mộ và miếu thờ tại xã Quý Lâm, cùng vợ Đại Nương (Diệu Diên) Đời thứ 6 có Đại Vương Nguyễn Minh Khiết, còn gọi là vua cha Ngọc Hoàng Thượng đế, lãnh đạo 72 bộ lạc, mộ tại làng Định Công Khương Thượng, vợ là bà Đỗ Thị Ngoan (Quý) Dòng họ Nguyễn Vọng Cảnh đã hỗ trợ Đế Minh trong cuộc chiến chống Hồ Tôn và giúp Kinh Dương Vương trị vì Đời thứ 7 có hai chi, chi Nguyễn Nghi Dân và Kinh Dương Vương Nguyễn Lộc Tục.
Nguyễn Nghi Dân, còn được gọi là Đế Hy, và Lộc Tục là hai anh em cùng cha khác mẹ, con của Đế Minh Đế Nghi đã được vua cha giao nhiệm vụ lãnh đạo nước Sở.
Theo truyền thuyết, vào năm 2879 trước Công nguyên, Lộc Tục, con trai thứ hai của Đế Minh, đã giúp phụ vương đánh bại giặc Ma Mạc và thống nhất ba nước, được vua cha phong làm vua nước Nam Ông được gọi là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Quỷ Kinh Dương Vương cai quản vùng đất rộng lớn ở phương Nam, với biên giới phía Bắc giáp hồ Động Đình, phía Nam giáp Hồ Tôn của Chiêm Thành, phía Tây giáp Tứ Xuyên - Trung Quốc, và phía Đông giáp biển Đông.
Kinh đô nước Xích Quỷ nằm tại núi Hồng Lĩnh, ngọn núi cao nhất vùng Ngàn Hống, Hà Tĩnh Kinh Dương Vương được coi là Thủy Tổ của nước Việt, với bức đại tự “Thủy Tổ Nam Bang” trong đền thờ Ông có tên là Nguyễn Vọng Cảnh và được hỗ trợ bởi 8 em trai của mẹ, Bát Bộ Kim Cương Vợ của ông là Đăng Ngàn, hiệu Thượng Ngàn, sau này được tôn là Đệ Nhị Thượng Ngàn Thánh Mẫu Mộ của Kinh Dương Vương nằm tại núi Hoa Cái, trong khi mộ của bà ở Xích Hậu thôn Văn La, cả hai đều thuộc núi Nghĩa Lĩnh Phong Châu Theo TS Nguyễn Hùng Hậu, trong cuốn sách lịch sử của Tư Mã Thiên và sách về các nền văn minh thế giới của Almanach, ông được nhắc đến trong đời thứ 8.
Đế Hy, vua nước Sở, có các con là Đế Chuyên, Đế Húc, Đế Lai, Đế Cốc và Đế Chi Sau khi ông qua đời, các con của Đế Hy trở về quê hương và được chôn cất tại Khương Thượng Đại La (nay là Hà Nội), nơi có đền thờ Sùng Nghiêm để tưởng niệm Các con còn lại của Đế Hy, cùng với các con của Đế Lai, Đế Cốc và Đế Chi, tiếp tục sống tại nước Sở.
- Kinh Dương Vương có 5 con Hùng Nghiêm, Hùng Quyền, Sùng Lãm tức Nguyễn Cầm (Lạc Long Quân) Hùng Huế và Hùng Tôn
Theo truyền thuyết, Kinh Dương Vương được coi là người sáng lập nhà nước sơ khai đầu tiên vào năm Nhâm Tuất 2879 trước Công nguyên, đánh dấu sự xuất hiện của họ Nguyễn tại Việt Nam cách đây hơn 5.000 năm.
Cao Tổ Nguyễn Bặc và các đời
Khai Quốc Công Thần Nguyễn Bặc ( 1) sinh năm 923 (đồng niên với Đinh
Bộ Lĩnh), mất 979 thọ 56 tuổi ngài là khai quốc nhà Đinh, phù tá triều Đinh Tiên Hoàng (968 -979)
Họ Nguyễn Triệu Cơ khởi nguồn từ gốc Tể Tướng Định Quốc Công Nguyễn Bặc dòng họ ở làng Đại Hữu huyện Gia Viễn Hội họ Nguyễn Việt
Nam đã chọn Định Quốc Công Nguyễn Bặc làm Cao Tổ vì ông là nhân vật xuất sắc nhất với lịch sử rõ ràng Trong giới sử học, vẫn còn tranh luận về khoảng thời gian giữa các đời, thường từ 20 đến 30 năm, nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, như những người có gia thế vẫn có thể sinh con ở độ tuổi trên 70.
Nguyễn Bặc, con trai Nguyễn Thước, là Nha Tướng dưới triều Tiết Độ Sứ Dương Đình Nghệ, thuộc dòng Lạc tướng ở Phong Châu Di tích mộ của ông và Đinh Bộ Lĩnh hiện còn tại thôn Văn Hà, xã Gia Phương, Ninh Bình Ông đã cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và được vua Đinh Tiên Hoàng phong làm Thái Tể, đứng đầu Nhà nước Đại Cồ Việt Tuy nhiên, Lê Hoàn đã tự xưng làm Phó Vương và có ý định chiếm đoạt ngai vàng nhà Đinh Các trung thần như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, và Phạm Hạp đã nổi dậy chống lại Lê Hoàn nhưng thất bại và bị hành quyết vào ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão (7-11-979) tại Ngô Khê Thượng Sau khi bị xử án, gia đình đã đưa thi thể ông về an táng tại gò Con Cá Chép, nay thuộc thôn Vĩnh Ninh, xã Gia Phương Mộ và đền thờ của Định Quốc Công được xây dựng từ thời nhà Lý, và ông được truy phong là Phúc thần.
Ngài Nguyễn Bặc có hai con trai là Nguyễn Đê và Nguyễn Đạt Sau khi ngài Nguyễn Bặc qua đời, sư Vạn Hạnh đã nuôi dưỡng Nguyễn Đê, người sau này trở thành quan triều Lê Nguyễn Đê không quên mối thù của cha và đã cùng Chi Hậu Đào Cam Mộc nổi dậy lật đổ Lê Ngọa Triều, giúp Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế Con cháu của ngài Nguyễn Bặc sau này trở thành các bậc Tam công của các triều Lý, Trần, Lê và Nguyễn Tính từ tổ tiên Nguyễn Bặc đến Thái Thủy tổ họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi Nguyễn Thạc là 11 đời Di huấn của họ Nguyễn Triệu Cơ, do cụ Nguyễn Huy đời thứ 3 ghi chép, cho biết “từ tằng tổ (Nguyễn Bặc) đến cố (Nguyễn Bính) đã bảy tám đời”.
Hữu Thân Vệ triều Tiền Lê Nguyễn Đê con trai đầu Định Quốc Công
Nguyễn Bặc là Khai Quốc công thần nhà Lý Á Khanh Hầu Đô Kiểm Điểm Nguyễn Đê phù tá các triều Lý Thái tổ (1010 -1028) Lý Thái Tông (1028 -
Nguyễn Quang Lợi, một Thái Úy dưới triều Lý Thái Tông (1028 - 1054), có ba người con trai Con trưởng của ông là Tiến sỹ Đại Tư Đồ Nguyễn Quốc Dĩ, người đã bị Đỗ Anh hãm hại.
Vũ Thanh đã hãm hại con thứ hai của Tả Quốc Công Tham Tri Chính Sự Nguyễn Viễn, người đã phò tá các triều đại Lý Thái Tông (1028 - 1054) và Lý Nhân Tông (1072 - 1127) cùng với Nguyễn Phúc Lịch Các con của Nguyễn Đê đã hình thành ba dòng họ, và con cháu của họ sau này rất phát đạt qua các triều đại, sinh ra nhiều nhân vật lịch sử nổi bật như Nguyễn Ứng Long, Nguyễn Trãi, Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng Đặc biệt, Nguyễn Hoàng, con trai của Nguyễn Kim, là người khai sáng ra nhà Nguyễn sau này.
Nguyễn Viễn, con thứ hai của Nguyễn Đê và em của Nguyễn Quang Lợi, là một nhân vật quan trọng trong triều đại Lý Mặc dù năm sinh của ông chưa được xác định, nhưng ông đã phục vụ trong triều Lý với vai trò Tả Tướng Quốc dưới thời Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông Ông được phong tước Tả Quốc Công, thể hiện sự tín nhiệm của triều đình đối với tài năng và đóng góp của mình Nguyễn Lợi, anh của ông, cũng giữ chức vụ quan trọng dưới triều vua Lý Thái.
Tông cùng cháu Nguyễn Trường Nghĩa dưới triều Lý Nhân Tông (1072 -
1127) Nguyễn Viễn sinh Nguyễn Phụng
Cụ Nguyễn Viễn đã có một cuộc đời đầy sự kiện quan trọng, đặc biệt là trong chiến dịch phò giá Lý Thánh Tông Ông đã tham gia vào cuộc Nam chinh đánh Chăm Pa, nơi ông bắt được vua Chiêm là Chế Củ và thu phục được ba châu: Bố Chánh, Mai Linh và Địa Lí Trong bối cảnh Nhà Tống gây khó dễ cho dân Giao Châu, vào cuối năm Ất Mão (1075), cụ Nguyễn Viễn đã cầm quân tham gia chiến dịch Ung Liêm dưới sự chỉ huy của Thái Uý Lý Thường Kiệt.
Vào tháng 12 năm Bính Thìn (1076), quân nhà Tống đã xâm lấn lãnh thổ nước ta Để đối phó, năm Đinh Tỵ (1077), triều Lý đã cử Lý Thường Kiệt dẫn quân chặn đánh quân Tống tại sông Như Nguyệt Trong chiến dịch này, cụ Nguyễn Viễn đã lập công lớn và bài thơ "Nam quốc sơn hà" đã xuất hiện, được coi là bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng của dân tộc Cụ Nguyễn Viễn, với chức vụ cao nhất là Tả Tướng Quốc, sau đó giữ chức Tả Quốc Công Tham Tri Chính Sự Theo phả cũ, cụ Nguyễn Viễn sinh năm Lý Nhân Tông (1072-1127) và là tổ tiên đời thứ 4 của dòng họ Nguyễn Phụng.
Tả Đô Đốc Nguyễn Phụng con trưởng Tả Quốc Công Tham Tri Chính Sự
Nguyễn Viễn Ngài làm quan chức Tả Đô Đốc dưới triều vua Lý Anh Tông
Nguyễn Nộn sinh ra vào khoảng năm 1138 - 1175 Năm Ất Sửu (1145), ông đã dâng lên vua một con rùa có mắt 6 ngươi và 4 chữ "Vương dĩ công pháp" (Vua theo việc công) Tuy nhiên, ông đã bị sát hại vào năm Canh Ngọ (1150) do liên quan đến việc chống Đỗ Anh Vũ, cùng với Nguyễn Quốc và Nguyễn Dương.
Cháu Nguyễn Quang Lợi gọi Nguyễn Viễn bằng ông chú, theo thần phả đền Phù Đổng, ghi nhận Nguyễn Nộn là con của Nguyễn Quốc và cháu của Nguyễn Nghĩa Tường Dòng họ Nguyễn Quang Lợi và Nguyễn Viễn có nguồn gốc từ Nghệ Tĩnh, trong khi Nguyễn Phụng được xác định là Thủy Tổ đại chi họ Nguyễn ở Chi Ngại, thuộc trấn Kinh Bắc, nay là huyện Chí Linh, Hải Dương Chủ từ đền Phù Đổng cho biết thần phả của chùa đã được Viện Hán Nôm mượn nhiều lần nhưng chưa được trả lại Các thầy cho rằng sau khi cụ Nguyễn Phụng bị hại, con trai Nguyễn Nộn đã làm nghĩa tử của Nguyễn Quốc Tôi ghi lại thông tin này để bà con có thể tìm hiểu thêm.
Cụ Nguyễn Nộn, sinh năm 1155 mất năm 1229, quê ở xã Phù Dực, huyện Tiên Du, Bắc Ninh, là cư sĩ tại hương Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội Ông là chồng của công chúa Ngoạn Thiềm, con gái của Phụ Quốc Thái Úy Trần Thủ Độ, và là em gái của vua Trần Thái Tông Trần Thủ Độ đã gả con gái cho Nguyễn Nộn nhằm mục đích cầu hòa và thăm dò tình hình khu vực ông chiếm giữ Trong thời kỳ loạn lạc giữa triều Lý và Trần, Nguyễn Nộn tự xưng là Hoài Đạo Vương, chống lại Trần Lý và tướng Trần Thủ Độ Vào tháng 3 năm 1229, ông tự xưng là Đại Thắng Vương nhưng nhận thấy không thể đối đầu với nhà Trần, dự định vào chầu vào tháng 10 nhưng chưa quyết định Cuối năm đó, ông qua đời sau khi khuyên các con trở về với nhà Trần Nguyễn Nộn có 6 con trai, trong đó Nguyễn Văn lánh ẩn ở Chiêm Thành, còn các dòng khác như Nguyễn Thức và Nguyễn Diễn bị thất truyền Hậu duệ của ông hiện còn 3 dòng: Nguyễn Thế Tứ, Nguyễn Hiến và Nguyễn Văn Đời thứ 6 của dòng Nguyễn Thế Tứ đã phục vụ triều Lý Chiêu Hoàng vào năm Kỷ Sưu.
1229 ở độ tuổi khoảng 40 - 50 cụ về với nhà Trần làm tướng dưới quyền Hưng Đạo Vương (1228 - 1300) triều Trần Thái Tông (1225 -1258) Không rõ cụ mất năm nào
Năm Quý Dậu (1209), cụ Nguyễn Nộn, 54 tuổi, lãnh đạo khởi nghĩa ở Bắc Giang chống lại thế lực tiếm quyền nhà Lý, tự phong Đại Thắng Vương dưới triều Lý Huệ Tôn (1211 - 1224) Cụ Nguyễn Thế Tứ, khoảng 30 tuổi, sống trong thời kỳ loạn lạc và kháng chiến chống giặc Nguyên xâm lược Năm 1228, cụ Nguyễn Nộn giết Đoàn Thượng và được Thái Tông Hoàng Đế nhà Trần phong chức Hoài Đạo Vương Tuy nhiên, năm Kỷ Dậu 1229, Hoài Đạo Vương qua đời, và cụ Nguyễn Thế Tứ theo lời cha về phục vụ nhà Trần với chức tướng Đô Hiệu Điểm dưới quyền Bình Bắc Đại Nguyên Soái Trần Hưng Đạo trong cuộc chiến chống giặc Chiêm Thành và 3 cuộc xâm lược của quân Nguyên.
Trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên, cụ Nguyễn Thế Tứ đã trải qua nhiều thất bại vào các năm 1258, 1285 và 1288 Ở độ tuổi từ 70 đến 100, câu hỏi đặt ra là liệu cụ có còn sống để tham gia vào các cuộc chiến lần thứ hai và thứ ba hay không Theo phả hệ, Nguyễn Thế Tứ có chín người con trai, trong đó hai người nổi bật là Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn Cảnh Di Huấn của họ Nguyễn Triệu Cơ ở làng Quỳnh Đôi vào năm Quý Mão - 1303 ghi nhận Nguyễn Bính là cha của Nguyễn Cảnh, em của Nguyễn Nạp Hòa Giáo sư Nguyễn Thế Nguyên nhận định rằng Nguyễn Nạp Hòa thuộc thế hệ sau của Nguyễn Thế Tứ và cho rằng sau khi Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho nhà Trần, một số con cháu của Nguyễn Thế Tứ đã phải đi ở ẩn, trong đó có Nguyễn Khoan.
Cụ Nguyễn Khoan ( 12) sinh năm 1192 vào thời Lý Cao Tông 1176 - 1210 Phả cổ ghi Nguyễn Khoan hy sinh vào năm 1257 thọ 65 tuổi Trong thời kỳ
Vào năm 1209, Nguyễn Nộn lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa, giành quyền kiểm soát toàn bộ vùng Bắc Giang Trong số những người tham gia, có Nguyễn Thế Tứ và Nguyễn Khoan, người vẫn đang lẩn trốn Dựa vào sức mạnh của phong trào, họ đã tạo ra ảnh hưởng lớn trong khu vực.
Vào năm Giáp Tuất 1214, cụ Nguyễn Khoan nhậm chức Khâm Sai Đô Úy tại Lạng Sơn, nổi bật với phẩm chất thanh liêm và trung nghĩa Dưới sự lãnh đạo của ông, người dân vùng biên giới Việt Hoa sống an cư lạc nghiệp Tuy nhiên, khi Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi, cụ Nguyễn Khoan đã từ quan và trở về quê hương Bình Lệ Nguyên, sống cuộc sống nông trang cùng gia đình Trước sự xâm lăng của quân Mông Cổ, cụ Nguyễn Khoan và các con đã phối hợp với quân triều đình để chống lại kẻ thù Ông đã hy sinh vào năm Bính Thìn 1257, hưởng thọ 65 tuổi, và được vua Trần Nhân Tông truy phong Trung Lương Tướng Đẳng thần Cụ Nguyễn Khoan là cha của Liệt hầu Nguyễn Khoái và tướng Nguyễn Khả Lập.
Cụ Nguyễn Khoái con Trung Lương Tướng Đẳng thần Nguyễn Khoan
ĐẠI TỘC NGUYỄN TRIỆU CƠ LÀNG QUỲNH ĐÔI
Tiểu sử An Hòa Hầu Nguyễn Thạc
Theo Tiền phả Đại Tộc Nguyễn Triệu Cơ làng Quỳnh Đôi do Sinh đồ Nguyễn Lân đời thứ tư khởi biên năm 1501 có ghi “阮 硕
Nguyễn Thạc là người khởi đầu chi phái thứ 7 của dòng họ Nguyễn, có nguồn gốc từ cụ Nguyễn Bính Dòng trưởng Nguyễn Nạp Hòa có 5 con trai, hình thành 5 chi phái, trong khi dòng thứ Nguyễn Cảnh cũng có 5 con trai, trong đó Nguyễn Thực và Nguyễn Giang là những người nổi bật Nguyễn Thành có thể được xem là chi phái thứ 6 và Nguyễn Thạc là chi phái thứ 7 Di huấn của họ Nguyễn Triệu Cơ do cụ Nguyễn Huy, đời thứ 3, ghi chép lại và được sinh đồ Nguyễn Lân, đời thứ 4, sao chép vào năm 1490 Nguyễn Thạc xuất thân từ gia đình vọng tộc, với cha là quan võ nhiều đời Bác ruột của ông, Nguyễn Nạp Hòa, là cử nhân võ và được phong chức đại tướng, có 2 con trai là Nguyễn Luật và Nguyễn Đa Phương, cả hai đều đạt cử nhân võ và được phong chức cao quý Nguyễn Luật có 3 con, trong đó có các tướng quân nổi tiếng như Nguyễn Sách, Nguyễn Hồ.
Hổ Nguyễn Minh Du (3) (ông tổ dòng họ vua Gia Long) Nguyễn Đa Phương sinh ra tướng quân Nguyễn Cảnh Chân là cụ tổ dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ
Cụ Nguyễn Thạc, con của Thái Bảo Cảnh Quận Công, là hậu duệ của nhiều danh nhân trong lịch sử Ông có năm anh em trai, trong đó anh cả Nguyễn Thành sinh năm Kỷ Sửu 1349, đã thi đậu cử nhân võ và được thăng chức Thái Úy nhờ công lao đánh giặc Chăm Pa Ông nổi tiếng với tính chính trực và đã vạch tội Hồ Quý Ly, người sau đó không thể trả thù do uy tín của ông Cùng với các cháu và người bác, ông đã âm thầm giúp vua Nghễn nhưng không thành công và bị Hồ Quý Ly truy bức Không có con ruột, ông nhận nuôi Nguyễn Lang Cụ Nguyễn Thạc qua đời vào năm Kỷ Mão 1399, thọ 51 tuổi, và các em trai ông bị liên lụy phải tản cư mỗi người một nơi Anh thứ hai, Nguyễn Thực, sinh năm Tân Mão 1351, đã tản cư nhưng nơi ở hiện tại chưa rõ, trong khi hai em trai còn lại cũng đã đi về hướng không xác định.
Nguyễn Thạc, sinh năm Giáp Ngọ (1354), hiệu Trần Dụ Tông, quê gốc tại thôn Hàn Huyên, Nam Sách, Hải Dương Ông được cha mẹ chăm sóc và giáo dục chu đáo, học hành xuất sắc và thi cử đỗ đạt cao Tại trường, ông được thầy trò yêu mến và kính trọng, đặc biệt là Nguyễn Hàn Thuyên Cha của ông là Thái Bảo Cảnh Quận Công Nguyễn Cảnh, một viên quan liêm khiết và chính trực Khi vua Trần Dụ Tông qua đời, triều đình rơi vào hỗn loạn, các tướng lĩnh phải ẩn dật Nguyễn Thạc cùng các tướng lĩnh đã cải trang thành ngư dân, xuôi thuyền về hướng Nam, đến sông Mai Giang, lạch Quèn, rồi tới Nghĩa Lý thôn Thanh Lương, ấp Đa.
Kỳ ngoại Đa Kỳ nội Xuân Úc đã chuyển đến Mạnh Sơn và Kim Lưu, nơi Thượng Yên Tốt Động xã Hoàn Hậu Tại đây, Nguyễn Thạc cùng cụ Hoàng Khánh, Hồ Hồng và hai con gái cụ Hồ Kha đã hợp lực khai hoang, cày cấy, đắp đê lấn biển và biến đất hoang thành đồng ruộng rộng lớn Thổ nhưỡng tốt và long mạch hội tụ đã thu hút các dòng họ cùng nhau xây dựng hậu cứ vững chắc, giúp dân cày ấm no Nguyễn Thạc cùng các tướng lĩnh đã tạo nên thế chân vạc, biến trang Thổ Đôi thành hậu phương lương thảo cho triều đình Sau khi Lê Lợi bình định thiên hạ năm 1428, Nguyễn Thạc được phong tặng chức “Ma Lãnh” và danh hiệu An Tâm Cư Sĩ.
Vào ngày 4 tháng 4 năm Giáp Dần dưới triều vua Lê Thái Tổ, Nguyễn Thạc đã qua đời Nhận thấy công lao to lớn của ba cụ tổ Nguyễn, Hoàng, Hồ trong việc khai phá đất đai, vào ngày 15 tháng 7 năm 1805, vua Gia Long đã phong tặng ba vị tổ tiên với danh hiệu “họ Triệu Cơ” và thần hiệu “Bảo Dực Trung Hưng”.
Họ Triệu Cơ có nghĩa là họ lấy việc xây dựng cơ nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu
An Hòa Hầu đã cống hiến hết mình cho triều đình trong suốt cuộc đời, và sau khi mất, Tiên Thế Tổ Nguyễn Thạc vẫn tiếp tục phù hộ cho đất nước Năm Giáp Tý, trong năm thứ tư của triều đại Đại Khánh, vua Khải Định đã phong sắc hiệu thần phù cho ông.
Sắc phong thần Nông tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, vinh danh Nguyễn Ma Lĩnh, cư sĩ An Tâm, An Hòa Hầu, người nổi tiếng với sự linh thiêng và tài năng giúp đỡ đất nước Nhân dịp mừng thọ 40 tuổi, triều đình đã ban tặng thần hiệu "Dực Báo Trung Hưng" và tổ chức cúng tế long trọng cho các bậc anh linh tổ tiên trong vòng 10 ngày Nhờ ơn thần, dân làng được che chở, sống ấm no và an bình.
Ngày 2 tháng 7 năm thứ 9 vua Khải Định (1916 - 1925)
Cháu đời thứ 14 Nguyễn Tri Dũng tuân chỉ sao chép”
Theo bản Tiền phả, năm Mậu Ngọ, Trần Phế Đế Nguyễn Thạc đã kết hôn với bà Hồ Nhất Nương, hiệu Từ Thuận, con gái đầu của cụ Hồ Kha Họ đã sinh ra một cô con gái đầu lòng tên Nguyễn Thị Thu (Thơm), nhưng cô đã qua đời sớm Ngoài ra, họ còn có bảy con trai theo thứ bậc.
1 Nguyễn Long sinh năm Quý Hợi mất khi 10 tuổi
2 Nguyễn Tỉnh tự Khánh Duệ sinh năm Bính Dần 1386
3 Nguyễn Tu tức Yên sinh năm Mậu Thìn 1388
4 Nguyễn Lai tục gọi là Lại sinh năm Canh Ngọ 1390
5 Nguyễn Láng tức Lam sinh năm Quý Dậu 1393
6 Nguyễn Hàn tức Hải sinh năm Ất Hợi 1395
7 Nguyễn Huyên sinh năm Đinh Sửu 1397
Về sau phát triển thành 6 Đại tôn 1, 2, 3, 4, 5, 6
Tông đồ Đại tộc Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi
Nguyễn Cảnh Đòi thứ 1 (nhà Trần - Lê Sơ) Đòi thứ 2
Nguyễn Dương Ảnh số 3 Tiểu sử về Nguyễn Thạc tờ số 2.2.1 bản Tiền Phả Đại tộc do Tiến Sỹ Nguyễn Xuân Mạnh phục chế
Theo cuốn Tiền Phả Đại Tộc Nguyễn Triệu Cơ, bà Hồ Thị Thuận có 7 con trai, trong đó một người mất sớm và 4 người còn lại đã thất truyền Vào đầu thế kỷ 20, danh nhân họ Nguyễn Đức Châu đã tìm tổ tông dòng họ Nguyễn Hữu Bằng (nay gọi là họ Nguyễn Sơn Bằng) tại Quỳnh Đôi và gặp cụ Nguyễn Danh Hoà Cụ cho biết 5 người con trai cụ Thạc đều tham gia quân Lê Lợi, trong đó chỉ có Nguyễn Tu trở thành quan triều, còn 4 người còn lại không trở về và đã thất truyền.
Tổ tiên và bà con bên ngoại của họ Nguyễn Triệu Cơ
Ngài Hồ Kha, hậu duệ họ Hồ ở Trung Hoa, sinh tháng 10 năm Bính Dần và mất tháng 10 năm Kỷ Mùi dưới triều Trần Minh Tông, là tổ tiên bên ngoại của họ Nguyễn Triệu Cơ Ông từng giữ chức quan Hải Giám dưới triều Trần Thánh Tông và được truy phong thần Hải Giám dưới triều Trần Nhân Tông Vợ ông, bà Nguyễn Thị Cúc, đã sinh ba con gái: Hồ Thị Thuận, Hồ Thị Minh và một con gái thứ ba.
Hồ Thị Sinh và hai con trai Hồ Hồng, Hồ Cao thuộc dòng họ Hoàng ở Quỳnh Đôi Theo bản Thế phổ, Hoàng Khánh và Nguyễn Thạc là con rể của cụ Hồ Kha, trong đó Nguyễn Thạc lấy bà Hồ Thị Thuận và Hoàng Khánh lấy bà Hồ Thị Sinh Cụ Hoàng Khánh là con của Hoàng Thanh, cháu của Hoàng Tá Thốn, người được phong thần Hải giám và tặng Ngọc Minh Triều lão tướng quân Cụ có năm con trai và hai con gái sống phân tán ở năm xứ khác nhau Hoàng Thanh, con trưởng, thừa kế chức Tổng Quản lĩnh lộ, trong khi Hoàng Khánh thi đậu Hương cống và giữ chức quan Hành khiển cai quản ở châu Hoàng Khánh có hai con trai và hai con gái; con trai cả là Hoàng Chung, con trai thứ là Hoàng Duy, và hai con gái lần lượt là Hoàng Thi Phương và Hoàng Thị Tuệ, người sau lấy cụ Nguyễn Lai, con thứ ba của ngài An Hòa Hầu Nguyễn Thạc Bà Hoàng Thị Tuệ là mẹ của Thủy Thống Đốc Nguyễn Lâm Đức, khởi tổ Đại tôn Nguyễn Triệu Cơ Thanh Uyên Sơn Bằng.
Thủy Tổ An Hòa Hầu Nguyễn Thạc sinh ra các Thiên mã
Ngạn ngữ "Hổ Phụ sinh Hổ Tử" phản ánh đúng thực tế trong dòng họ Nguyễn, với Nguyễn Bính là cha của Nguyễn Cảnh, người được phong chức Trấn Thủ Kinh Bắc và sau đó là Thái Bảo Năm Giáp Ngọ (1354), Nguyễn Thạc, con trai của Nguyễn Cảnh, nổi bật với tài năng văn võ, được biết đến với danh xưng Nguyễn Hàn Thạc Ông nối nghiệp cha, giữ chức Thái Bảo và cùng các tướng lĩnh xây dựng hậu cứ tại Quỳnh Lưu để chống giặc Minh Nguyễn Thạc đã hợp tác với các cụ Tổ Hoàng Khánh và Hồ Hồng để khai hoang lập nên Trang Thổ Đôi, nơi cung cấp lương thực cho triều đình Sau khi Lê Lợi thống nhất đất nước năm 1428, ông được phong tặng danh hiệu “An Tâm Cư Sĩ” và tước An Hòa Hầu Vua Gia Long vào năm 1805 đã công nhận công lao của ba cụ Tổ Nguyễn, Hoàng, Hồ, phong tặng danh hiệu “họ Triệu Cơ” và thần hiệu “Bảo Dực Trung Hưng” Vua Khải Định cũng đã phong tặng Nguyễn Thạc sắc hiệu “Dực bảo trung hưng” vào năm Giáp Tý 1924.
Từ năm 1386 đến 1397, An Hòa Hầu Nguyễn Thạc và bà Hồ Thi Thuận đã sinh ra 8 người con, trong đó có trưởng nữ và con trai đầu mất sớm, để lại 6 con trai Trong số 6 con trai này, 5 người đã trở thành võ tướng theo Tả Ao, người được coi là thánh địa lý của Việt Nam, được gọi là Ngũ Mã đăng trình, và mồ mã dòng họ Nguyễn có ngôi kết phát quan Thiên mã.
Thiên Mã thứ nhất là cụ Nguyễn Tĩnh tự Khánh Duệ sinh năm Bính Dần
Nguyễn Tri Phương, tên thật là Nguyễn Văn Chương, là một vị tướng nổi bật trong lịch sử Việt Nam, được phong làm Đô Đốc Tổng quản sau khi có công đánh dẹp Tàu Ô Ông hy sinh ở tuổi 49 và được truy phong Thống Đốc Quận Công Trong thời phong kiến, gia đình ông có 11 vị tướng trung quân ái quốc, trong đó có ông Nguyễn Đức Thạc, người được vua phong 2 sắc rồng Ông Nguyễn Hằng (Nguyên) giữ chức vụ Phó đô thống chế Vào tháng 8 năm 1872, theo lệnh vua Tự Đức, ông được phái ra Bắc giữ thành Hà Nội nhưng đã bị trọng thương và tuẫn tiết Hiện nay, con cháu của ông, như Phó Giáo Sư Nguyễn Thường Ngô, tiếp tục giữ gìn và phát triển di sản của danh nhân Nguyễn Tri Phương.
Thiên Mã thứ 2, cụ Nguyễn Tu (Yên, An), năm Giáp Thìn (1424) gia nhập nghĩa quân Lê Lợi Năm Ất Tỵ (1425), cụ thi đậu thủ khoa cử nhân võ và được phong là Thiết Đột Quân Đến năm Quý Hợi, cụ được phong Cấm Vệ Quân, và năm Quý tiếp theo, cụ được phong là Đề Hạt Năm Canh Thìn, cụ được phong Quả Cảm Tướng Quân hoặc Thượng Sỹ Cụ Nguyễn Tu còn được biết đến là Thủy Tổ Đại Chi Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Thời phong kiến, có nhiều danh nhân nổi bật, trong đó có Nguyễn Trạch, đời thứ 5, trúng cử tuyển võ nghệ, phục vụ quân Mạc và phò 4 đời vua Mạc, được phong Phụ Quốc Tướng quân và tước Đoạn Trường Đỏ, cùng với việc được truy phong.
Dòng họ Nguyễn Triệu Cơ, có nguồn gốc từ cụ Nguyễn Hữu Chỉnh, nổi bật với nhiều nhân tài xuất sắc như Nguyễn Sơn, Nguyễn Thời Bá, và Nguyễn Đàn, đều đậu Tú Tài Cụ Nguyễn Hữu Chỉnh không chỉ là một danh nho và nhà thơ, mà còn là một danh tướng thời loạn, giúp Tây Sơn đánh bại Chúa Trịnh và kết hôn cho vua Quang Trung, được phong Tước Quận Bằng bởi cả hai vua Các thế hệ tiếp theo cũng ghi dấu ấn với Nguyễn Tiên Công đậu Phó bảng, Nguyễn Thịnh đậu Hương Cống, và Nguyễn Tri Giai đậu tiến sĩ năm 1844 Nguyễn Tông Lai giữ chức Thượng thư Bộ Lại, trong khi Sinh Đồ Nguyễn Đoài làm Thái Uý kiêm Võ Bá Tông Tri Các con cháu của họ, như Nguyễn Trung Trực, đã lãnh đạo phong trào khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ vào nửa cuối thế kỷ 19, khẳng định sự đóng góp quan trọng của dòng họ này trong lịch sử Việt Nam.
Năm Mậu Thìn, dòng họ Nguyễn tại các vùng Tây Bắc, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Văn Mộ, Hưng Hóa đã ghi dấu ấn với nhiều nhân tài như Nguyễn Tông Tự, Nguyễn Thê và các cử nhân Nguyễn Danh Kiều, Nguyễn Thế Mỹ, Tú Tài Nguyễn Danh Hoà, Nguyễn Trí Dũng, Nguyễn Như Lan Sau cách mạng tháng 8, dòng họ này tiếp tục phát triển với nhiều nhân vật xuất sắc như giáo sư Nguyễn Nhật Tiến và Tiến Sỹ Nguyễn Xuân Mạnh.
Sỹ Nguyễn Danh Đạt, Tiến sỹ Nguyễn Dương, có nhiều cán bộ trung cao cấp, Đại Tá trong quân đội
Thiên Mã thứ 3, cụ Nguyễn Lai (阮來), sinh năm Canh Ngọ (1390), là một nhân vật nổi bật với sức khỏe và trí tuệ từ khi còn nhỏ Ông đã gia nhập quân Hồ Hán Thương để chống lại quân Minh xâm lược, thể hiện tinh thần yêu nước và tài năng quân sự xuất sắc của mình.
Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh và bọn xâm lược, ba triều đại Hồ, Hậu Trần và Lê Sơ đóng vai trò quan trọng Dưới triều đại nhà Hồ, có sự xuất hiện của Đội trưởng, trong khi Hậu Trần có Đô Tổng Quản Năm Giáp Dần (1433), Lê Thái Tông phong chức Tổng Quản Quân Lương cho một nhân vật quan trọng Vào ngày 3 tháng 10 năm Kỷ Mùi (1439), ông hy sinh tại vùng Thanh Nghệ, hưởng thọ 49 tuổi và được truy phong Thống Đốc Tổng Quản Quân Lương Nguyễn Lai kết hôn với bà Hoàng Thị Tuệ, con gái cụ Hoàng Khánh, và sinh ra Nguyễn Lâm, người sau này trở thành Đức Khởi Tổ Đại Chi Nguyễn Triệu Cơ Sơn Bằng Nguyễn Lâm, với trí tuệ xuất chúng, đã đỗ đạt cao và năm 1440 được vua Lê Thái Tông phong chức Thủy Thống Đốc, sau đó vào năm 1470, ông được bổ nhiệm làm Tổng Đốc Tổng Quản Quân Thủy ở Thuận.
Đại Chi Nguyễn Triệu Cơ Sơn Bằng là một dòng họ lớn trong thời phong kiến, nổi bật với nhiều bậc tài giỏi kế thừa nhau qua các kỳ thi khoa bảng Quan Viên Tôn Nguyễn Chanh đã đậu Tam trường và giữ chức xã trưởng, trong khi cháu ông, Nguyễn Năng Võ, đã đậu Hương Cống và được bổ nhiệm làm Ngự Ông nghỉ hưu ở tuổi 77 và sống thọ đến 89 tuổi.
Y Hầu Đại Sứ Viện được truy phong Hoàng Tín Đại Phu Thái Y Viện Đại Sứ Trong dòng họ, Nguyễn Hồng là người đầu tiên đậu Sinh đồ, cha Nguyễn Sản cũng là người có khoa bảng, giữ chức Chánh Vệ Úy và sau đó là Đô Ngự Sử Nhiều thành viên khác như Nguyễn Năng Chính, Nguyễn Năng Nho, và Nguyễn Công Sắc cũng đạt được các chức vụ quan trọng như Phó Sở Sở Sứ và Tri Phủ Trường Khánh Nguyễn Văn Vận, với tư cách Chánh Tông thầy thuốc, đã được phong Tước Nam Minh Đạo Y Các thành viên như Nguyễn Khắc Tiệp và Nguyễn Ánh cũng giữ các chức vụ trong triều đình Sau cách mạng tháng 8, nhiều con cháu trong gia đình đã được học hành và tham gia phục vụ tổ quốc, với 21 Giáo Sư, Phó giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cùng hàng trăm kỹ sư, kiến trúc sư và 30 tướng tá trong quân đội và an ninh.
Cụ Nguyễn Lam, sinh năm Quý Dậu (1393), là Thiên Mã thứ 4, lớn lên với nghề cày cấy và luyện võ nghệ Năm Đinh Mùi (1427), ông gia nhập quân đội Lê Lợi và giữ chức Tả Đột Quân tại Thanh Nghệ Tĩnh Sau đó, cụ đã đưa vợ và hai con trai, Nguyễn Doãn và Nguyễn Văn, vào làm quan ở Hương Giang.
Thiên Mã thứ 5, cụ Nguyễn Huyên “Hưng”, con út của cụ Thạc, là người tráng kiện và giỏi võ nghệ Năm Đinh Dậu 1417, ông giữ chức Phó Tổng Quản Truy Sát, chỉ huy quân đánh giặc tại Thanh Nghệ Con trai đầu của ông, Nguyễn Hương, được bổ làm quan và sống đến cuối năm Canh Tý 1480 Cháu của ông, Nguyễn Sơn, sau khi cha tử trận, đã được nhậm chức ở tuổi 51 để rửa thù cho gia đình.
Cụ Nguyễn Hàn, sinh năm Ất Hợi 1395, đã lớn lên trong cảnh cày cấy Sau khi đánh đuổi giặc Minh, cụ đã hưởng ứng lời kêu gọi của triều đình và đưa vợ con vào miền trong để khai khẩn, mở mang bờ cõi về phía Nam.
CÁC ĐẠI TÔN TRONG ĐẠI TỘC NGUYỄN TRIỆU CƠ
Đại tôn Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Bảng
Thủy Tổ Đại Tôn Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Bảng, tên thật là Nguyễn Tĩnh, tự Khánh Duệ, sinh năm Bính Dần (1386), là con thứ hai của Đức Khởi Thủy Tổ Nguyễn Thạc Ông đã có công trong việc đánh dẹp Tàu Ô và được phong làm Đô Đốc Tổng Quản Sau khi hy sinh, ông được truy phong Thống Đốc Quận Công, hưởng thọ 49 tuổi Vợ ông, tên tục là Thúy, sinh con trai Nguyễn Vĩnh và một con gái chưa rõ tên tục Con trai ông, Nguyễn Tuấn, có biệt danh An Mộ của ông bà được chôn cất ở Phú Đa thôn Nghĩa Lý Con cháu của ông đã mất liên lạc trong 3-4 đời trước khi nối lại quan hệ tổ tiên.
Tông đồ Đại tộn Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Bảng
Nguyễn Thạc Đòi thứ 2 (nhà Trần - Lê Sơ) Đòi thứ 3
Các chi
Cụ Nguyễn Phú Lương, cháu 4 đời của cụ Nguyễn Khánh Duệ, sinh ra và lớn lên trong thời kỳ Lê Mạc Trịnh Nguyễn phân tranh, đã theo con đường binh nghiệp và trở thành một tướng quân Ông được coi là tổ tiên của dòng họ Nguyễn tại Bình Định Theo gia phả của phái Đèo Ngang Dương Liễu, quê quán của cụ nằm ở Đại Nam Quốc, Nghệ.
An Thừa Thiên Diễn Châu phủ Quỳnh Lưu quận, nguyên Hương cần xã, Cần Miếu thôn Đã nhập họ An Hòa Hầu Triệu Cơ Nguyễn Thạc vào ngày 1 tháng
12 năm 2009; nay mới chắp nối được 3 chi
- Chi 2 Phù Mỹ Bình Định
- Chi 3 Nguyễn Phúc Hoán ở Phương Cần Quỳnh Lưu Nghệ An Đòi thứ 5
Nhánh Nguyễn Chính Đạo
Cụ Nguyễn Đại Lang, tự Phổ Quang Phủ Quân, là con thứ ba của cụ Nguyễn Phúc An Ông có ba con trai, trong đó con trai đầu tiên tên là Xức Hiện tại, chưa có thông tin chi tiết về gia thế của cụ.
Nguyễn Tuấn (An) Nguyễn Vĩnh
Nguyễn Chính Đạo Nguyễn Phú Lương
Nguyễn Phúc Nghiêm Nguyễn Bàng
(Hội Tâm), con thứ 2 tên Thục (Phúc Lợi) mất sớm Con út là ông Bằng (Phúc Nghiêm)
Nhánh Nguyễn Phổ Quang
Cụ Nguyễn Bàng tự Phúc Nghiêm, đời thứ 6 và là con thứ 3 của cụ Nguyễn Phổ, đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống giặc Ông có 4 con trai là Nguyễn Huyết, Nguyễn Sỹ (từ Đạo Thông), Nguyễn Nho (Phúc Khuông) và Nguyễn Phúc Tin Đến đời thứ 7, con của cụ Nguyễn Phúc Nghiêm ở Quỳnh Bảng đã chia thành 2 dòng Trung chi.
3.1.1 Trung chi 1 ông tổ là Nguyễn Sỹ
Cụ Nguyễn Sỹ có 8 con trai: Nguyễn Phúc Tường, Nguyễn Phúc Bàng, Nguyễn Mạo, Nguyễn Tam Lang, Nguyễn Vật, Nguyễn Phúc Hải, Nguyễn Thanh, Nguyễn Liêm Công
3.1.2 Trung chi 2 ông tổ là Nguyễn Nho
Cụ Nguyễn Nho tự Phúc Khuông có con trai là Trung Chất, và từ đó có cháu nội là Nguyễn Cấp cùng với năm cháu trai: Nguyễn Bật, Nguyễn Đức Tiến, Nguyễn Hạp, Nguyễn Thán, và Nguyễn Tô.
Còn cụ Nguyễn Huyết có con là Nguyễn Thám chưa có thông tin
3.1.3 Trung chi 3 phân chi 3 Thanh Hóa
Cụ Nguyễn Văn Thọ, hậu duệ của Nguyễn Phúc Hoán, đã thi đậu tam trường và dẫn dắt ba con, trong đó có ông Nguyễn Thiện, 44 tuổi, vào ấp Tây Sơn Bình Đinh để theo Nguyễn Huệ Dưới chỉ dụ của Tây Sơn, ông mở Văn Trường Giáo Huấn và thu hút nhiều đồ đệ khắp vùng Thuận Quảng Con trai ông, Nguyễn Thiện, được phong Chỉ Huy Soái Bắc Tướng Công bởi Nguyễn Huệ và sau đó được cấp trại ở Yên Mỹ thuộc Chánh Hảo, Quảng Đông, Quảng Xương, Thanh Hóa, đồng thời được vua Minh Mạng phong thành hoàng làng Chánh Hảo.
3.1.4 Trung chi 4 Nguyễn Trọng Công tự Văn Truyền thuộc phái Phương Cần
Về truyền thống khoa bảng
Trong thời phong kiến, có 11 vị tướng trung quân ái quốc, trong đó nổi bật là Nguyễn Tri Phương, tên thật là Nguyễn Văn Chương, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1800 tại làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Ông là một nhân vật kiệt xuất, từng khai hoang lập ấp và tham gia nhiều trận đánh chống lại quân xâm lược Pháp, Xiêm, Miên Năm 1858, ông đã đánh bại chiến lược của tướng Pháp Rigault de Genouilly nhằm chiếm Huế Trong các trận chiến, ông không chỉ thể hiện tài năng quân sự mà còn giữ vững lòng trung thành với đất nước, sống thanh bạch suốt đời Năm 1872, ông bị trọng thương trong trận chiến tại Chí Hòa và tiếp tục giữ thành Hà Nội Sau khi thành thất thủ, ông từ chối điều trị và qua đời vào ngày 1 tháng 11 năm 1873 Mộ ông hiện nằm tại quê nhà ở Chí Long, Phong Điền, và con cháu ông, như Phó Giáo Sư Nguyễn Thường Ngô, tiếp tục giữ gìn truyền thống học vấn.
3.2 Đại Tôn Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi
Thủy tổ Đại Tôn Quỳnh Đôi cụ Nguyễn Tu (Yên, An) sinh năm Mậu Thìn
Nguyễn Tu, con trai thứ ba của cụ Nguyễn Thạc, được biết đến với danh hiệu con Rồng Vàng Năm Giáp Thìn (1424), ông gia nhập nghĩa quân của Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa chống quân Minh Đến năm Ất Tỵ (1425), ông thi đậu thủ khoa cử nhân võ và được phong làm Thiết Đột quân, tham gia trận đánh tại Cửa sông Khuất, tiêu diệt 20.000 quân của Trần Trí Lý An Ông được phong Cấm Vệ Quân vào năm thứ hai triều Lê Nhân Tông và sau đó là Đề Hạt khi chiếm được bốn thành Năm đầu triều Lê Thánh Tông, ông được phong Quả cảm tướng quân Ông mất ngày 2 tháng 6 năm Canh Dần tại Thăng Long, hưởng thọ 82 tuổi, và được an táng tại đỉnh Long Sơn Độ Lộ Vợ ông là bà Trần Thị Biên, sinh được hai con trai Nguyễn Huy và Nguyễn Xuân, cùng một con gái Ông cũng có một thiếp tên Mai Chí Linh, sinh ra hai con trai Nguyễn Phù và Nguyễn Phúc Hậu, cùng một con gái lấy chồng ở Chí Linh Sau khi ông mất, hai con trai đã trở về quê lập nghiệp.
1 Quan viên tử (con quan) Nguyễn Văn Huy sinh năm Giáp Ngọ (1414) con trai Thượng sỹ Long Lĩnh Công Nguyễn Tu Cụ lấy bà Đỗ Thị Châu sinh hạ mười một người con Con trưởng Nguyễn Sầu mất sớm Năm Canh Thìn
(1460) sinh Nguyễn Bộ Các con trai Văn Chiến, Văn Tuyên (Nghi) đều thất truyền
2 Quan viên tử Nguyễn Xuân còn có tên khác là Quỹ sinh năm Bính Ngọ
(1426) là em Nguyễn Huy lấy vợ là Nguyễn Thị Thanh sinh 2 nam Con cả
Thuận Hành mất sớm, để lại con trai thứ là Nguyễn Lân Năm Kỷ Mão (1469), ông Xuân và vợ thứ là Nguyễn Thị Đào đã sinh ra Nguyễn Thị Xuân, người sau này đã kết hôn với gia đình họ Hoàng.
3 Cụ Nguyễn Phù (hoặc là Chi) sinh năm Quý Hợi là con bà Mai Chí Linh là thiếp cụ Nguyễn Tu (Yên) Đến năm Tân Mão cụ trở về quê lập nghiệp ở ven sông Độ Lộ (Đò Lội) nơi Nguyễn Tu lập chùa (đền) “TrầnLưu quận”
4 Cụ Nguyễn Phúc Hậu hoặc Truyền sinh năm Bính Ngọ (1426) con bà Mai Chí Linh là thiếp của cụ Nguyễn Tu (Yên, An) cụ về quê cha rồi chuyển nhà đến thôn bên cạnh lập nghiệp, sau chiến tranh loạn lạc nên thất truyền Đời thứ 4
1 Cụ Nguyễn Văn Bộ con thứ 2 ông Nguyễn Văn Huy do anh cả mất sớm nên cụ kế trương Cụ đậu tú tài năm Quý Mão năm thứ 11 triều Lê Trang Tông(1543) thụ chức Hàn Lâm Viện Tú Lâm cục Cụ lấy bà Võ Thị Tư sinh 2 con trai Văn Tịch và Văn Bạt
2 Cụ Nguyễn Công Nghị con thứ cụ Nguyễn Văn Huy vợ người họ Bùi có con trai là Nguyễn Cổn
3 Cụ Nguyễn Lân, thụy là Phúc, hiệu Mai Khê tiên sinh sinh năm Canh
Dần (1470) con thứ cụ Nguyễn Xuân Cụ đậu tú tài năm Quý Mùi năm thứ 11
Lê Tranh Tông (1543) được bổ nhiệm vào Hàn Lâm Viện Đại Chiếu và kết hôn với bà Hồ Thị Đông, sinh được 3 con gái và 3 con trai, gồm Nguyễn Trạch, Nguyễn Bửu (Bùi) sinh năm Kỷ Tỵ và Nguyễn Hưởng sinh năm Nhâm Thân Ông Nguyễn Hưởng kết hôn với bà Hoàng Thị Đông, cùng tuổi, và có 1 con trai cùng 2 con gái Sau này, thông tin về ông Hưởng không còn rõ ràng.
4 Ngài Nguyễn Văn Tịch con cụ Nguyễn Bộ cháu cụ Huy chắt cụ Tu là cụ tổ của các chi 1,2,3 Cụ là Đạo Sĩ húy Văn Tịch tự Đạo Thành, Thụy Pháp Thắng; lấy bà Hồ Thị Nghị sinh 3 con trai là các ông tổ của 3 trung chi 1,2,3
5 Ngài Nguyễn Văn Bạt húy là Trạt thụy Phúc Quang con cụ Nguyễn Bộ cháu cụ Huy chắt cụ Tu lấy bà Hồ Thị Luận sinh 3 con trai Cụ là ông tổ của chi 4 cũng là ông tổ trung chi 4
6 Ngài Nguyễn Cổn con cụNguyễn Công Nghị cháu cụ Nguyễn Văn Huy chắt cụ Tu Cụ là cụ tổ chi 5
7 Ngài Nguyễn Trạch tên chữ là Phúc Đạt sinh năm Quý Hợi con đầu Tú tài Nguyễn Lân Cụ là cụ tổ chi 6,7,8 Cụ Trạch đậu tú tài làm tướng được phong Phụ quốc Thượng tướng quân, tước Đoạn Trường Đỏ và truy phong Kiến Võ Hầu Cụ Trạch lấy bà Lê Thị Xuyên người ở tổng Hoàng Mai sinh 2 con gái Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Thanh đều lấy chồng người họ Hồ và 4 con trai cụ Nguyễn Phụ là cụ tổ chi thứ 6, cụ Nguyễn Sơn cụ tổ chi thứ 7, cụ Nguyễn Bá, cụ Nguyễn Thời Vụ là cụ tổ chi thứ 8 nay ở xã Kim Cốc Tĩnh Gia Thanh Hóa Cụ Trạch mất ngày 15 tháng 3 năm Mậu Dần
8 Ngài Nguyễn Bùi thụy là Chính Giác sinh năm Kỷ Tỵ con thứ 2 Tú tài Nguyễn Lân cụ là cụ tổ chi 9 hiện ở Cửa Lò Cụ lấy bà Hồ Thị Hạnh cùng tuổi sinh được 2 con trai 3 con gái
9 Ngài Nguyễn Hưởng sinh năm Nhâm Thân con thứ 3 Tú Tài Nguyễn Lân Cụ Hưởng sinh ra chi 10 Cụ lấy bà Hoàng Thị Đông cùng tuổi Ông bà sinh được 1 con trai 2 con gái Về sau ông Hưởng đi đâu không rõ Đời thứ 5 phân ra các chi Đến đời thứ 6 hình thành 10 chi:
Chi 1 con cháu cụ Nguyễn Lội con cụ Nguyễn Tịch
Chi 2 con cháu Ngài NguyễnThế Lộc con thứ 2 cụ Nguyễn Tịch,
Chi 3 con cháu Ngài Nguyễn Mai Giang con cụ Nguyễn Tịch,
Chi 4 con cháu Ngài Nguyễn Bạt con cụ Nguyễn Bộ
Chi 5 con cháu Ngài Nguyễn Cổn con cụ Nguyễn Công Nghị
Chi 6 con cháu Ngài Nguyễn Phụ con cụ Nguyễn Trạch
Chi 7 con cháu Ngài Nguyễn Sơn con thứ 2 cụ Nguyễn Trạch
Chi 8 (Kim Cốc) con cháu Ngài Nguyễn Thời Vụ con cụ Nguyễn Trạch Chi 9 (Cửa Lò) con cháu Ngài Nguyễn Bùi con thứ 2 cụ Nguyễn Lân
Chi 10 con cháu Ngài Nguyễn Hưởng con thứ 3 cụ Nguyễn Lân
Các chi phân ra các trung chi, các trung chi phân ra các Tiểu chi họ
Tông đồ Đại tộn Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi
Nguyễn Thạc Đòi thứ 2 (nhà Trần - Lê Sơ) Đòi thứ 3
(Lê Sơ)Cổn Đòi thứ 5
3.2.1 Về chức sắc khoa bảng
Cụ tổ Nguyễn Sòi, húy là Lội, là con của cụ Văn Tịch và anh của cụ Thế Lộc, có vợ họ Hoàng Cụ tổ có hai con trai, trong đó con cả là ông Bàng, người có ba tiểu chi.
Các ông tổ chi: Nguyễn Lội, NguyễnThế Lộc, Nguyễn Mai Giang, Nguyễn Bạt, Nguyễn Cổn, Nguyễn Phụ, Nguyễn Sơn, Nguyễn Thời Vụ, Nguyễn Bùi, Nguyễn Hưởng
Trong bài viết này, chúng ta khám phá các nhánh của dòng họ Nguyễn, bao gồm con cháu Nguyễn Quán đời thứ 12 tại Nghi Xuân, con cháu ông Nguyễn Trọng Giao đời thứ 11 ở Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, và con cháu Nguyễn Triết đời thứ 11 tại Đông Triều, Quảng Ninh.
Còn có con cháu Nguyễn Danh Dinh Đời thứ 12 ở Thanh Hóa
Em cụ Ổi có là Nguyễn Dõi xiêu bạt ở Xuân Úc Tổng Hoàng Mai nay ở Hoàng Mai năm 1978 con cháu đời 17 mới về Quỳnh Đôi nhận tổ