1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LỊCH SỬ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH QUẢNG NAM

600 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 600
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • II. Truyền thống đoàn kết đấu tranh chống phong kiến, thực dân trước khi có Đảng (34)
  • Chương 1. Các hình thức tổ chức Mặt trận Dân tộc Thống nhất ở Quảng Nam và cuộc vận động Nhân dân đấu tranh giành chính quyền (1930 -1945) I. Sự ra đời và hoạt động của các tổ chức quần chúng ở Quảng (54)
    • II. Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương và Mặt trận Dân chủ Đông Dương với phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của Nhân dân Quảng Nam (1936 - 1939) (70)
    • III. Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương và Mặt trận Việt Minh tỉnh Quảng Nam trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám (1939 - 1945) (89)
  • Chương 2. Tập hợp rộng rãi lực lượng dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng hậu phương, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) I. Tăng cường sức mạnh đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1946) (118)
    • III. Mặt trận Liên Việt tỉnh Quảng Nam cùng cả nước chuyển (160)
  • Chương 3. Đấu tranh giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1954 - 1965) I. Sắp xếp tổ chức, chuyển đổi phương thức hoạt động, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng (1954 - 1960) (183)
    • II. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Quảng (214)
  • Chương 4. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt (251)
    • II. Vận động Nhân dân đấu tranh chống “bình định” giành dân, góp phần làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của địch (1969 - 1972) (282)
    • III. Đoàn kết toàn dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris, tiến lên giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Nam (1973 - 1975) (308)
  • Chương 6. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng vận động Nhân dân bước đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 1996) I. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đường lối đổi mới của Đảng vào cuộc sống (1986 - 1990) (325)
    • II. Xây dựng hệ thống chính trị, củng cố tổ chức, đổi mới công tác vận động quần chúng (1990 - 1996) (423)
  • Chương 7. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam (395)
    • II. Tiếp tục mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam (2003 - 2008) (490)
    • III. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thế giới (2009 - 2015) (515)
  • Kết luận (556)
  • Phụ lục (578)

Nội dung

Truyền thống đoàn kết đấu tranh chống phong kiến, thực dân trước khi có Đảng

1 Ý chí quật khởi, truyền thống đoàn kết của Nhân dân

Sau hàng trăm năm khai phá và định cư, cư dân Quảng Nam đã phải đối mặt với nhiều thử thách khắc nghiệt từ thiên nhiên và xã hội Họ kiên cường chống chọi với thú dữ, bão lũ, hạn hán, cùng với sự đe dọa từ giặc giã và bệnh tật để duy trì cuộc sống và tồn tại trên vùng đất đầy khó khăn này.

Theo thống kê từ sách Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn, trong khoảng thời gian 82 năm (1802 - 1884), Quảng Nam đã trải qua 33 trận bão lũ, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự khốn cùng của người dân là chế độ phong kiến chuyên chế khắc nghiệt, sự bất công lộng hành và nạn tham nhũng trong bộ máy cai trị Quan lại thời bấy giờ bị xem như giặc cướp công khai, khi họ câu kết chặt chẽ với địa chủ địa phương, áp đặt thuế khóa và lao dịch nặng nề lên dân chúng.

Con ơi! Nhớ lấy câu này, Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan!

Theo quy định, mỗi năm một dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch, làm việc nặng nhọc dưới thời tiết khắc nghiệt và trong điều kiện ăn uống kham khổ Để xây dựng kinh thành Phú Xuân (Huế), vua Gia Long đã huy động đến 80.000 người từ khắp nơi trong cả nước lao động trong suốt nhiều năm Tác giả John White ghi nhận rằng “Nhà vua (Gia Long) ”.

Long đã chi tiêu một số tiền khổng lồ và hy sinh mạng sống của hàng chục ngàn người dân, vì họ phải lao động vất vả trên các bức tường của kinh thành.

Các vua kế vị Gia Long đã sử dụng ngân sách quốc gia và sức lực của nhân dân để xây dựng các cung điện và lăng tẩm hoành tráng, đồng thời thực hiện những chuyến tuần du tốn kém đến nhiều địa phương để khám phá các thắng cảnh Trong suốt 20 năm trị vì, vua Minh Mạng đã tiếp tục chính sách này.

(1820 - 1840) đã 3 lần tổ chức ngự du và chiêm bái Ngũ Hành Sơn, một danh thắng bậc nhất của Quảng Nam vào các năm

Năm 1831, Quảng Nam trải qua hạn hán nghiêm trọng dẫn đến mất mùa, nhưng vua Minh Mạng vẫn quyết định thực hiện chuyến tuần du Ngũ Hành Sơn Quan hiệp trấn Phan Thanh Giản đã dâng sớ khẩn thiết yêu cầu vua hoãn chuyến đi do tình hình đói kém của dân chúng, nhưng vua vẫn tiếp tục hành trình Kết quả là Phan Thanh Giản bị giáng chức và bị sung quân ở đồn Trà My vì tội “phạm thượng” Trong chuyến tuần du này, trên đường trở về kinh đô Huế, có một thư sinh tên Nguyễn Tiến từ huyện Duy Xuyên.

1 John White, A history of a voyage to the China sea, Boston, 1823

Chương đã quỳ giữa đường để đón xa giá của nhà vua, dâng sớ phản ánh nỗi thống khổ của người dân và chỉ trích cuộc tuần du trong bối cảnh dân chúng đang đói khổ Ngay lập tức, anh bị bắt và giao cho Bộ Hình với tội danh “trảm giảm hậu” theo luật “Yêu ngôn” của triều đại Nguyễn.

19 năm sau dưới triều Nguyễn, quan đại thần Phạm Phú Thứ đã dũng cảm dâng sớ lên vua Tự Đức, chỉ trích sự ham chơi và lơ là việc triều chính của nhà vua trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với nguy cơ xâm lược Ông thẳng thắn nêu rõ sự thiếu sót trong việc tổ chức lễ đại định, âm nhạc và các hoạt động triều đình, đồng thời nhấn mạnh rằng thần tử và các phủ huyện lâu không nhận được chỉ thị từ triều đình.

Ông bị nhà vua cách chức và đày đi cắt cỏ ngựa hơn một năm ở phía nam kinh đô Huế Kể từ khi thực dân Pháp đô hộ nước ta vào năm 1884, triều đình nhà Nguyễn trở thành bù nhìn, hợp tác với thực dân để bóc lột nhân dân Để làm suy yếu sức mạnh dân tộc, thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị, chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau; Trung Kỳ là xứ bảo hộ, nơi có bộ máy cai trị của người Pháp và bộ máy tay sai Nam Triều.

1 Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, trang 455.

Quốc sử quán triều Nguyễn ghi nhận rằng bộ máy cai trị tại địa phương bao gồm tri phủ, tri huyện và các chức danh khác, có nhiệm vụ kiểm soát Nhân dân và thu thuế, trong khi người dân bị cấm chống đối và không có tự do, đặc biệt là phụ nữ Dưới áp lực của thiên tai và chế độ phong kiến thực dân, người dân phải chịu đựng nạn cường hào nhũng lạm, với địa chủ chiếm đoạt đất đai và thu tô nặng nề Khi đến mùa thu thuế, người dân thường nhận phần ruộng kém chất lượng và phải đối mặt với việc vay nợ lãi suất cao, dẫn đến tình trạng bi đát như phải bán lúa non, bán ruộng, hoặc làm thuê với mức thù lao cực kỳ thấp, thậm chí có người phải gửi con cho địa chủ làm nô lệ.

Số ruộng đất của địa chủ ở Quảng Nam lên đến 85.220 ha, chiếm một nửa tổng số ruộng đất trong tỉnh Các địa chủ lớn như Thất Sáu (Thăng Bình), Cai Nghi (Quế Sơn), Lê Khâm Duy (Tam Kỳ) và Hồ Lượng (Phú Ninh) sở hữu từ 500 đến 1.000 mẫu mỗi người, trong khi bình quân ruộng đất của mỗi khẩu lao động trong tỉnh lại rất thấp.

Người dân đang phải gánh chịu gánh nặng từ hai loại thuế chính là thuế đinh và thuế điền, bên cạnh đó còn nhiều loại thuế khác như thuế hoa lợi, thuế ma chay, thuế cưới xin, thuế đò và thuế chợ.

Hàng năm, vào thời điểm nộp thuế, tiếng mõ trống vang lên khắp làng, khiến người dân phải nhanh chóng mang tiền đến huyện lỵ để hoàn thành nghĩa vụ thuế Mỗi lần di chuyển để nộp thuế đều tốn thời gian và công sức.

Trong giai đoạn 1897, người dân Trung Kỳ phải chờ từ 3 đến 5 ngày mới nộp được thuế thân, nếu chậm trễ sẽ bị xử phạt nghiêm khắc Mức thuế thân lúc bấy giờ là 2,3 đồng, tương đương với giá 1 tạ gạo, và đến đầu thế kỷ XX đã tăng lên 3,6 đồng Ngoài ra, thuế điền thổ cũng rất nặng nề, với chính quyền thực dân và phong kiến Nam triều phân loại ruộng đất để đánh thuế Đặc biệt, những gia đình có người chết trong năm hoặc gặp thiên tai mất mùa vẫn phải chịu thuế, thậm chí khi họ rơi vào cảnh nghèo đói Một báo cáo chính trị của viên Công sứ Quảng Nam năm 1920 cho thấy sự tàn nhẫn của thực dân khi vẫn thu thuế bình thường mặc dù người dân đang phải đối mặt với nạn đói và mất mùa nghiêm trọng.

Các hình thức tổ chức Mặt trận Dân tộc Thống nhất ở Quảng Nam và cuộc vận động Nhân dân đấu tranh giành chính quyền (1930 -1945) I Sự ra đời và hoạt động của các tổ chức quần chúng ở Quảng

Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương và Mặt trận Dân chủ Đông Dương với phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của Nhân dân Quảng Nam (1936 - 1939)

1 Hoạt động của các đoàn thể quần chúng trong thời kỳ Đảng lãnh đạo Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương

Từ năm 1936, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến đổi nghiêm trọng khi chủ nghĩa phát xít chiếm ưu thế ở một số quốc gia tư bản như Đức, Italia và Nhật Bản, với âm mưu gây chiến tranh thế giới Trước bối cảnh này, Quốc tế Cộng sản đã tổ chức Đại hội lần thứ VII tại Moskva vào năm 1935, quyết định thành lập Mặt trận Nhân dân để chống lại chủ nghĩa phát xít Tại Pháp, Mặt trận Nhân dân đã thành công trong việc ngăn chặn âm mưu phát xít giành chính quyền vào năm 1936, đồng thời Chính phủ Mặt trận Nhân dân ban hành nhiều chính sách có lợi cho cách mạng ở các nước thuộc địa, bao gồm quyền tự do báo chí, quyền lập hội và trả tự do cho tù chính trị.

Trong bối cảnh căng thẳng của tình hình thế giới, đời sống của người lao động ở Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Trong giai đoạn 1929 - 1933, thực dân Pháp tại Quảng Nam tiếp tục khai thác thuộc địa bằng cách nạo vét sông Hàn để cho phép tàu trọng tải 1.500 tấn cập bến, đồng thời mở rộng tuyến đường sắt Đà Nẵng.

Quảng Ngãi đang yêu cầu người dân tham gia làm đường 14 và 16 trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, khiến các tiểu thương ở Quảng Nam gặp nhiều khó khăn Tại nông thôn, địa chủ lợi dụng tình hình khó khăn của nông dân để cho vay nặng lãi, dẫn đến nhiều nông dân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm sinh kế ở Sài Gòn và Đông Nam Bộ Trong bối cảnh chủ nghĩa phát xít đe dọa chiến tranh, người dân cả nước, đặc biệt là Quảng Nam, đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn và khao khát hòa bình, tự do, cùng với cuộc sống được cải thiện.

Ngày 1-5-1936, công nhân mỏ vàng Bồng Miêu bãi công đòi chủ tăng lương 100%, công nhân xưởng chè Phia đấu tranh đòi cải thiện đời sống, công nhân các hãng buôn Quảng Hòa Hưng, Lê Văn Tập, Trương Côn, Sacric (Sa-cơ-rít)…, đấu tranh đòi chủ tăng tiền công bốc vác hàng hoá Cùng thời gian này, trên địa bàn vùng cao, đồng bào Bến Hiên - Bến Giằng bị bắt xâu làm đường 14 đã lãn công, phá hoại công cụ làm đường, dùng ná bắn lính coi xâu, buộc bọn Pháp phải làm thêm hàng rào chạy dọc từ An Điềm đến Hà Tân để ngăn nạn “giặc mùa”, lập đồn Bến Hiên và Bót Xít để canh gác Đồng bào vùng Cady- Tabhing (Bến Giằng), Cadoạt, Giá, Canâng (Phước Sơn) nhờ người làm đơn gửi lên đến tòa khâm sứ Huế phản đối các cai, đội người Pháp đánh đập người đi xâu Tại Trà My, dân các làng bản thuộc các xã Trà Nam, Trà Linh, Trà Cang, Trà Mai , rào làng, làm lễ cúng Giàng, tổ chức lực lượng nổi dậy chống Pháp Có nơi, lính đến bắt xâu đồng bào viện cớ làng “có cữ” không đi, hoặc ban ngày đi làm xâu, ban đêm bắn tên vào đồn lính hù dọa nạn “giặc mùa”.

Tháng 7 - 1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Thượng Hải (Trung Quốc) định ra đường lối, phương pháp cách mạng trong thời kỳ mới, chỉ rõ mục tiêu trực tiếp, trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, cơm áo và hòa bình Hội nghị chủ trương thay đổi nội dung và hình thức đấu tranh cho phù hợp với tình hình mới, triệt để lợi dụng khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp để tập hợp và hướng dẫn quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao nhằm giáo dục, phát triển đội ngũ cách mạng Đặc biệt, ngày 26 - 7 - 1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã thông qua bản Chỉ thị gửi các tổ chức của Đảng Chỉ thị nhấn mạnh: “Việc thành lập Mặt trận Dân tộc Phản đế không thể trì hoãn thêm một phút…Mặt trận Dân tộc Phản đế phải trở thành tổ chức công khai nhất của đông đảo quần chúng…Mặt trận đó phải bao gồm tất cả các đảng phái và tất cả các tầng lớp Nhân dân, không phụ thuộc vào dân tộc nào, dù là người Pháp, người Việt, người Lào hay các dân tộc thiểu số khác, miễn là họ nhất trí tranh đấu để thực hiện những yêu sách đã nêu trên” 1

Về Hội Phản đế, Chỉ thị nêu rõ: “Đến nay tồn tại chỉ theo tên

Số lượng hội viên của Hội rất ít Đảng ta, các tổ chức quần chúng, cũng như các đảng khác đều đặt nhiệm vụ trọng tâm là

1 Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, tập 1 (1930

Tài liệu năm 1954 chỉ ra rằng tên gọi của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam trong giai đoạn 1936-1938 không nhất quán Cụ thể, các tên gọi được nhắc đến bao gồm Mặt trận dân chúng Thống nhất đấu tranh phản đế, Mặt trận Thống nhất đấu tranh phản đế và Mặt trận Thống nhất phản đế.

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến nhiều mặt trận phản đế quan trọng như Mặt trận Dân tộc phản đế, Mặt trận Thống nhất phản đế, Mặt trận Nhân dân phản đế, và Mặt trận Nhân dân Đông Dương, với các trang cụ thể từ 137 đến 172 Ngoài ra, Mặt trận chống đế quốc và Mặt trận Thống nhất Nhân dân cũng được nêu rõ, cùng với Mặt trận Nhân dân Thống nhất Đông Dương và Mặt trận Thống nhất Dân chủ Để đảm bảo tính nhất quán, chúng tôi sử dụng cách gọi tương tự như trong tập sách "Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng (1930 - 1975)".

Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương đã được thành lập với mục tiêu đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, không thành lập tổ chức riêng biệt nào Tại Quảng Nam, các chiến sĩ cộng sản trở về từ tù đã đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hướng lãnh đạo theo chủ trương mới của Đảng Vào giữa năm 1936, khi Quốc hội Pháp cử phái đoàn điều tra tình hình Đông Dương, Đảng đã tổ chức các cuộc họp để bàn về yêu cầu tự do, dân chủ và soạn thảo các bản "dân nguyện" gửi tới phái đoàn, hướng tới việc triệu tập Đông Dương Đại hội Vào khoảng tháng 9-1936, Ủy ban vận động Đông Dương Đại hội Quảng Nam đã được hình thành, dẫn đến Hội nghị toàn kỳ Đại hội Đông Dương diễn ra vào ngày 20-9-1936 tại Huế với sự tham gia của hơn 700 đại biểu, chủ yếu là lao động và các thành phần tiến bộ Hội nghị đã trở thành diễn đàn cho quần chúng lao động bày tỏ nguyện vọng chính đáng và chỉ trích lực lượng tay sai thực dân trong Viện Dân biểu, đồng thời tuyên truyền chủ trương của những người cộng sản.

Sau 2 ngày làm việc, Hội nghị toàn kỳ đi đến quyết định yêu cầu chính quyền để quần chúng thành lập các ủy ban hành động tại các địa phương và cơ sở kinh doanh; các ủy ban này hoạt động công khai để thu thập “dân nguyện” và cử người đại

1 Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, tập 1 (1930

Hội nghị toàn kỳ năm 1954 đã thành lập Ủy ban lâm thời gồm 26 thành viên, bao gồm 9 dân biểu, 17 “chính trị phạm” và đại biểu của giới lao động, nhằm chuẩn bị cho Đại hội toàn kỳ chính thức khi đã tập hợp đủ “dân nguyện” Kết quả bất ngờ của Hội nghị đã khiến chính quyền thực dân và Nam triều hoảng loạn, dẫn đến việc Khâm sứ Trung Kỳ Graffeuit tuyên bố bác bỏ mọi yêu cầu của Hội nghị Ngày 21 - 9 - 1936, thực dân Pháp đã ra lệnh cấm triệu tập Đông Dương Đại hội toàn xứ Trung Kỳ, và tiếp đó, vào ngày 29 - 9 - 1936, giới cầm quyền Đông Dương tiếp tục ra lệnh cấm mọi hội họp công khai cũng như phát truyền đơn cổ động cho Đông Dương Đại hội.

Mặc dù phái đoàn của Quốc hội Pháp không sang và phong trào Đông Dương Đại hội bị cấm hoạt động, quần chúng lao động đã thức tỉnh mạnh mẽ Các đảng viên cộng sản Quảng Nam, sau khi tham gia họp ở Huế, đã tích cực tận dụng các cơ hội hợp pháp để tổ chức các cuộc họp Nhân dân nhằm thu thập nguyện vọng và lấy chữ ký Các cuộc họp được tổ chức rộng rãi ở các huyện như Tam Kỳ, Quế Sơn, Hội An, Duy Xuyên, Điện Bàn và Đà Nẵng Đặc biệt, cuộc họp sôi nổi nhất diễn ra tại nhà Võ Đề ở Trà Kiệu, với sự tham gia của hơn 30 đại biểu, bao gồm cả nhân sĩ và trí thức, do Nguyễn Trác chủ trì Tại đây, bản dân nguyện đã được lập và vận động lấy chữ ký, sau đó lan rộng từ Trà Kiệu sang các khu vực như Chiêm Sơn, Phú Nham, và Thi Lai.

Mã Châu, Chợ Chùa , đâu đâu cũng hừng hực khí thế cách mạng, góp phần cổ vũ giải tỏa tâm lý của Nhân dân sợ địch khủng bố

Cuối năm 1936, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam được thành lập lại, với mục tiêu phát triển thực lực Đảng và quần chúng thông qua các hội ái hữu, hội tương tế, và nhóm đọc sách báo, kết hợp giữa hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp Phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ tại tỉnh đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, diễn ra liên tục ở cả ba địa bàn: rừng núi, đồng bằng và đô thị Đầu năm 1937, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp cử phái đoàn do Justin Godart dẫn đầu sang Việt Nam, và Đảng đã lợi dụng sự kiện này để tổ chức mít tinh "đón rước", huy động quần chúng biểu dương lực lượng, yêu cầu trả tự do cho tù chính trị và giải quyết các vấn đề dân sinh, dân chủ như bỏ thuế thân, tự do nghiệp đoàn và tự do ngôn luận Một ban vận động quần chúng đón tiếp Justin Godart đã được thành lập tại Quảng Nam, với sự tham gia của các nhân vật như Phan Bôi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Sơn Trà và Trịnh Quang Xuân.

Phan Bôi được giao nhiệm vụ dịch các tài liệu sang tiếng Pháp để gửi cho phái bộ Justin Godart, trong khi Lê Văn Hiến viết hồi ký “Ngục Kon Tum” nhằm tố cáo tội ác của thực dân Pháp trong chế độ lao tù Khi biết tin công sứ Pháp và tổng đốc Quảng Nam muốn ngăn cản Nhân dân đón tiếp Justin Godart, Trịnh Quang Xuân cùng một số đảng viên cộng sản đã đến Đà Nẵng nhờ Jean Boneau can thiệp với Đốc lý thành phố để Nhân dân có cơ hội gặp gỡ Justin Godart.

Ngày 22 - 2 - 1937, trước khi phái bộ Justin Godart đến Đà Nẵng, toàn thể công nhân hãng Staca đấu tranh nghỉ việc, yêu cầu chủ tăng lương 30%, ngày làm 8 giờ, đau ốm được lĩnh lương và điều trị, không được đuổi thợ, các ngày lễ và chủ nhật được nghỉ việc Ngày 28 - 2 - 1937, lúc 14 giờ, Nhân dân Đà Nẵng và các phủ, huyện đổ về thành phố, đứng chật cả hai bên đường từ ga xe lửa xuống dọc bờ sông Hàn đến Tòa Đốc lý Có đến 5.000 người đứng thành hàng ngũ với nhiều phù hiệu khác nhau Thợ hớt tóc, thợ may thì đeo phù hiệu có hình chiếc kéo, phù hiệu của thợ đóng giày có hình chiếc giày, công nhân khuân vác có chiếc khăn vải lót trên vai, chị em tiểu thương buộc quai nón màu đen Khi đoàn xe của Justin Godart đến ngã tư đường Pigneau de Béhaine - Jules Fery (nay là ngã tư đường Lê Duẩn - Trần Phú) đổ xuống bờ sông Hàn thì quần chúng tràn ra lòng đường giương cao các khẩu hiệu viết bằng chữ đỏ: “Ủng hộ Mặt trận Bình dân Pháp”, “Tự do lập nghiệp đoàn!” Quần chúng hô vang: “Hoan hô Mặt trận Bình dân Pháp”, “Hoan hô đặc sứ Justin Godart” Đường phố bị tắc nghẽn, Justin Godart phải xuống xe đi bộ Nhân dân tranh thủ đưa tận tay Justin Godart các đơn từ và các bản yêu sách. Khi phái bộ và đoàn biểu tình kéo đến trước khách sạn Morin Frères (Mô ranh Phờ-re, nay là khách sạn Bạch Đằng), có 50 tên Tây đầm do tên Tutier (chủ đồn điền Pháp) dẫn đầu, vung tay hô lớn: “A bas politique de la rue!”, “A bas Front populaire!”, “A bas les profiteurs!”, “A bas Godart!” (Đả đảo chính trị xuống đường! Đả đảo Mặt trận Bình dân! Đã đảo những kẻ lợi dụng! Đả đảo Gô-đa) Lập tức các ông Phan Bôi, Trịnh Quang Xuân áp đảo chúng bằng tiếng Pháp: “A bas le fascism” (Đả đảo phỏt xớt), “Franỗais Front populaire Viva”

Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương và Mặt trận Việt Minh tỉnh Quảng Nam trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám (1939 - 1945)

ĐẾ ĐÔNG DƯƠNG VÀ MẶT TRẬN VIỆT MINH TỈNH QUẢNG NAM TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1939 - 1945)

1 Thực hiện chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, sách lược cách mạng của Đảng, xúc tiến thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất phản đế Đông Dương, đẩy mạnh các phong trào cách mạng của quần chúng (1939 - 1941)

Ngày 1-9-1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Chính phủ cánh tả ở Pháp đổ, bọn tư bản phản động Pháp ra lệnh giải tán Đảng Cộng sản Pháp Ngày 28 - 9 - 1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định giải tán các tổ chức ái hữu, thi hành chính sách thời chiến trên toàn Đông Dương Tiếp đến, ngày 5 - 10 - 1939, vua Bảo Đại ban hành Dụ cấm dân hội họp, tuyên truyền cộng sản Các sự kiện đó đã tác động trực tiếp đến tình hình Đông Dương.

Thực dân Pháp đã thực hiện chính sách thời chiến, gia tăng sự áp bức đối với Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua hàng ngàn vụ khám xét và bắt bớ Lệnh "tổng động viên" cùng với chính sách "kinh tế chỉ huy" được áp dụng để khai thác tài nguyên và sức lao động từ thuộc địa cho cuộc chiến tranh đế quốc Chính sách phản động này đã đẩy nhân dân vào tình cảnh sống ngột ngạt về chính trị và bần cùng về kinh tế, làm gia tăng mâu thuẫn giữa dân tộc và thực dân Pháp cùng tay sai.

Trong bối cảnh đó, từ ngày 6 đến ngày 8 - 11 - 1939, Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, họp tại

Bà Điểm, thuộc huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, đã phân tích tình hình chiến tranh và các giai cấp, tầng lớp Nhân dân Đông Dương, từ đó xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương để đạt được độc lập hoàn toàn Đây là sự chuyển hướng quan trọng trong chỉ đạo chiến lược Để phù hợp với sự thay đổi này, khẩu hiệu cách mạng cũng được điều chỉnh, tạm gác khẩu hiệu ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội, đồng thời chống tô cao và lãi nặng, nhấn mạnh việc lập chính quyền.

Xô viết công, nông, binh được thay thế bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hòa

Phương pháp cách mạng đã chuyển từ việc đấu tranh cho quyền dân sinh và dân chủ sang việc lật đổ chính quyền đế quốc và tay sai Hoạt động đã chuyển từ hợp pháp sang bí mật và bất hợp pháp Để tập trung sức mạnh dân tộc vào nhiệm vụ chống lại chiến tranh đế quốc và ách thống trị phát xít thuộc địa, Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất phản đế Đông Dương, thay thế cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương không còn phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới.

Mặt trận Dân tộc Thống nhất phản đế Đông Dương bao gồm các giai cấp, đảng phái và cá nhân muốn giải phóng dân tộc và thực hiện quyền tự quyết Lực lượng này gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và các địa chủ Hội nghị nhấn mạnh rằng công nông là lực lượng chính và được lãnh đạo bởi giai cấp công nhân.

“Sự đồng minh chặt chẽ của công nông là vấn đề sống chết của cách mệnh” 1

Chủ trương mới của Đảng được truyền đạt đến cán bộ chủ chốt tại Tỉnh ủy Quảng Nam, nhưng chưa kịp triển khai thì thực dân Pháp đã tiến hành đàn áp cách mạng mạnh mẽ Các tổ chức cơ sở Đảng trong tỉnh bị tan rã, hầu hết Tỉnh ủy viên rơi vào tay giặc Mặc dù các tổ chức thành viên của Mặt trận như Đoàn Thanh niên dân chủ, Công hội, Nông hội, Hội Phụ nữ dân chủ và Cứu tế bình dân đã phát triển thêm một số cơ sở, nhưng vẫn hoạt động theo cách thức cũ.

1 Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, Nxb Giáo dục, trang 806. phương châm cũ, lúng túng chưa biết cách chuyển hướng tổ chức và hoạt động, nên địch tập trung bắt bớ gây bể vỡ ở một số nơi Mặt khác, chúng bắt hàng ngàn thanh niên trong tỉnh đưa đi tập luyện cấp tốc ở Chiêm Sơn (Duy Xuyên) rồi đưa sang Pháp làm lính phục vụ chiến tranh; bắt Nhân dân bán dầu, bán lúa với giá rẻ mạt, quy định mỗi gia đình chỉ để lại lúa gạo đủ ăn, còn thừa thì phải bán cho chúng Các sắc thuế cũ tăng lên rất cao Ngoài ra, người dân còn phải chịu thuế cư trú, thuế đảm phụ quốc phòng và hàng chục thứ thuế mới Thêm vào đó, nạn đầu cơ, lạm phát hoành hành, giá cả tăng vọt…, làm cho đời sống các tầng lớp Nhân dân, nhất là nông dân lâm vào cảnh bần cùng, điêu đứng, do đó Nhân dân càng căm ghét đế quốc, phong kiến, hướng về cách mạng.

Ngày 6 - 1 - 1940, chính quyền thống trị mở phiên toà xét xử cộng sản Ngay tại vành móng ngựa của toà án thực dân cũng là nơi để các chiến sĩ cộng sản thể hiện tư tưởng, hành động yêu nước và tiến công địch về mặt tư tưởng Tại phiên toà xét xử của thực dân, phong kiến ở Quảng Nam, những người cộng sản bị kết án là “đã lập hội kín lật đổ chính phủ” Khi trả lời câu hỏi của viên chánh án “Có người nào xin ân giảm không?”, ông Trần Tống dõng dạc: “Là người dân mất nước, mất tự do, chúng tôi phải tổ chức lực lượng cách mạng để giành lại độc lập cho dân tộc Là những chiến sĩ yêu nước, chúng tôi chẳng có tội tình gì cả, nên chẳng cần phải van xin ai cả! Chính các ông và triều đình Huế làm tay sai cho Pháp mới là kẻ có tội! Đảng Cộng sản kiên quyết đánh đổ chế độ các ông!”.

Và ngay tại phiên toà, các chiến sĩ cộng sản đồng thanh hát vang bài ca cách mạng đã được chuẩn bị trước trong nhà lao:

“Gươm mài đi, phất cờ lên! Đồng tâm công nông ta ra sức Mau xông tới cướp lấy chính quyền!

Cùng nhau ta lướt tới xung phong Mau, mau, mau!”

Tiếng hát đã tạo nên không khí phấn khởi cho hơn 200 đồng bào tham dự phiên toà, đồng thời khuyến khích đông đảo Nhân dân trong tỉnh hướng về đường lối giải phóng dân tộc của Đảng.

Tháng 3 - 1940, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam được lập lại do ông Võ Toàn (Võ Chí Công) làm Bí thư Tháng 10 - 1940, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng được tổ chức tại chùa Hang, phủ Tam Kỳ, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ chính thức do ông Hồ

Tại Hội nghị Chùa Hang, dưới sự lãnh đạo của Tỵ, các nhiệm vụ quan trọng đã được đề ra nhằm giải phóng dân tộc và củng cố tổ chức Đảng, bao gồm phát triển đảng viên mới và phát hành tờ báo “Khởi Nghĩa” để tuyên truyền giáo dục quần chúng, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11 năm 1940 Hội nghị quyết định chuyển đổi tất cả các tổ chức quần chúng thành Hội Phản đế và tích cực phát triển hội viên Sự kiện này đánh dấu một cột mốc quan trọng cho Quảng Nam trên con đường hướng tới thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Sau hội nghị, tờ báo “Khởi Nghĩa” đã phát hành hai số và được phân phát đến tận cơ sở, thúc đẩy nhiều hình thức động viên quần chúng chống đế quốc và giành độc lập dân tộc, với hình ảnh công nhân và nông dân cùng nhau phá vỡ xiềng xích đế quốc tại Tam Kỳ Các tổ chức quần chúng đã có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn.

Công nhân phản đế tổ chức thành các nhóm nhỏ để dễ dàng truyền đạt thông tin và ứng phó kịp thời khi có tình huống khẩn cấp, đặc biệt trong lĩnh vực khuân vác và hỏa xa Hội Nông dân phản đế tích cực tuyên truyền và xây dựng tổ chức bí mật, đồng thời lựa chọn những hội viên và quần chúng có tinh thần tích cực để giới thiệu vào Đảng.

1 - 5 - 1940, Hội Nông dân phản đế Tam Kỳ bí mật vận động nông dân đến dự kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động Tháng 8 -

Năm 1940, Hội Nông dân phản đế Điện Bàn đã tổ chức vận động hơn 100 nông dân hợp pháp đi viếng chùa Non Nước và tổ chức mít tinh tuyên truyền về cách mạng Đoàn Thanh niên phản đế ở Tam Kỳ cũng đã khuyến khích thanh niên tổ chức đám cưới theo nếp sống mới, với quà mừng cô dâu chú rể có dòng chữ “Chung tát biển Đông” Phong trào phụ nữ ở một số nơi được củng cố và phát triển, số hội viên nữ và chị em cảm tình cách mạng ngày càng đông, tuy nhiên vẫn chưa đồng đều khắp mọi nơi, đặc biệt tại tổng Thuận.

An (Quế Sơn), thời gian này ta đã thành lập được Hội Phụ nữ phản đế…

Vào tháng 9 năm 1940, khi phong trào cách mạng đang hồi phục, Nhật Bản đã xâm lược Lạng Sơn, và thực dân Pháp đã đồng ý hợp tác với phát xít Nhật để thống trị Đông Dương Điều này khiến nhân dân ta, đặc biệt là nông dân, rơi vào cảnh khốn cùng, khi họ bị tước đoạt những hạt gạo mà họ phải vất vả mới kiếm được, cũng như mảnh vải mà họ dày công dệt Họ sống trong cảnh thiếu thốn, chỉ đủ ăn với hớp cháo nhạt và phải chịu đựng cái lạnh của đêm đông.

Tập hợp rộng rãi lực lượng dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng hậu phương, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) I Tăng cường sức mạnh đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1946)

Đấu tranh giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1954 - 1965) I Sắp xếp tổ chức, chuyển đổi phương thức hoạt động, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng (1954 - 1960)

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng vận động Nhân dân bước đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 1996) I Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đường lối đổi mới của Đảng vào cuộc sống (1986 - 1990)

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam

Ngày đăng: 02/07/2021, 23:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam, Lịch sử LLVT nhân dân tỉnh Quảng Nam, tập II (1954 - 1975), Nxb. QĐND, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử LLVT nhân dân tỉnh Quảng Nam, tập II (1954 - 1975)
Nhà XB: Nxb. QĐND
11. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam, Lịch sử LLVT nhân dân tỉnh Quảng Nam, tập III (1975 - 2005), Nxb. QĐND, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử LLVT nhân dân tỉnh Quảng Nam, tập III (1975 - 2005)
Nhà XB: Nxb. QĐND
12. Cristophorro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb. TP.HCM, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong năm 1621
Nhà XB: Nxb. TP.HCM
13. Công ty Cổ phần Thông tin kinh tế đối ngoại, Quảng Nam thế và lực mới trong thế kỷ XXI, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam thế và lực mới trong thế kỷ XXI
Nhà XB: Nxb. CTQG
16. Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Quảng Nam, Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Quảng Nam 1930 - 2005, Tam Kỳ, 1-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Quảng Nam 1930 - 2005
17. Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến, Nam Trung bộ kháng chiến 1945-1975. Nxb. CTQG. Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Trung bộ kháng chiến 1945-1975
Nhà XB: Nxb. CTQG. Hà Nội
18. Huỳnh Công Bá, “Công cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở bắc Quảng Nam từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII”(Bản tóm tắt luận án tiến sĩ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở bắc Quảng Nam từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII
19. Khuyết danh, Ô Châu cận lục, Văn hoá Á Châu xuất bản, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô Châu cận lục
20. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Nhà XB: Nxb. KHXH
22. Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Nam, Lịch sử phong trào công nhân lao động và Công đoàn tỉnh Quảng Nam (1929 - 2000), Nxb. Lao động, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào công nhân lao động và Công đoàn tỉnh Quảng Nam (1929 - 2000)
Nhà XB: Nxb. Lao động
23. Lý Nhạc, Thành quả 30 năm đổi mới cơ cấu cây trồng của Quảng Nam, Tam Kỳ, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành quả 30 năm đổi mới cơ cấu cây trồng của Quảng Nam
24. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Nhà XB: Nxb. CTQG
25. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2. Nxb. KHXH, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb. KHXH
26. Nguyên Ngọc (chủ biên), Tìm hiểu con người xứ Quảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Quảng Nam xuất bản, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu con người xứ Quảng
27. Nguyễn Xuân Hồng, Phong tục - tập quán - lễ hội, Sở Văn hoá Thông tin Quảng Nam xuất bản tháng 9-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục - tập quán - lễ hội
28. Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb. KHXH, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb. KHXH
30. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb. KHXH, Hà Nội,1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Nhà XB: Nxb. KHXH
31. Phạm Văn Thắng (chủ biên), Lịch sử Quảng Nam từ nguồn gốc đến năm 2005 (công trình NCKH cấp tỉnh), Sở Khoa học &Công nghệ Quảng Nam, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Quảng Nam từ nguồn gốc đến năm 2005
32. Quảng Nam - Đà Nẵng xưa và nay, Nxb. Đà Nẵng, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam - Đà Nẵng xưa và nay
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
33. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, quyển 3, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục
Nhà XB: Nxb. Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w