+ Tổ chức kinh tế trong nước, hộ gia đình cá nhân vμ người Việt Nam định cư ở nước ngoμi sử dụng đất vμo mục đích kinh doanh đã thuê đất của nhμ nước nay có thể chuyển sang hình thức gia
Trang 1IV Các vấn đề về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
1 Về các hình thức giao đất vμ cho thuê đất
Nhìn chung, xét về mặt hình thức thì giữa Luật đất đai năm 2003
so với Luật đất đai năm 1993 vμ các Luật đất đai sửa đổi bổ sung về cơ bản không có nhiều sự thay đổi lớn Các thay đổi chỉ lμ, họ có quyền lựa chọn hình thức giao đất hoặc cho thuê đất Điều 108 xác định:
+ Tổ chức kinh tế, hộ gia đình vμ cá nhân sử dụng đất lμm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, sử dụng đất để xây dựng công trình công cộng vì mục đích kinh doanh; tổ chức kinh tế sử dụng đất vμo mục đích đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê, sử dụng đất vμo mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản vμ lμm muối được lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền hoặc thuê đất
+ Người Việt nam định cư ở nước ngoμi thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được quyền lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền hoặc thuê đất trả tiền hμng năm hoặc trả tiền một lần cho toμn bộ thời gian thuê
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoμi sử dụng đất vμo các mục đích khác nhau có quyền lựa chọn hình thức trả tiền thuê hμng năm hoặc trả tiền một lần
+ Tổ chức kinh tế trong nước, hộ gia đình cá nhân vμ người Việt Nam định cư ở nước ngoμi sử dụng đất vμo mục đích kinh doanh đã thuê đất của nhμ nước nay có thể chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền nếu có nhu cầu vμ thực hiện nghĩa vụ tμi chính đối với nhμ nước
Sự thay đổi lớn thứ hai lμ, không còn hình thức cho thuê trả tiền thuê nhiều năm như trước đây
2 Chuyển mục đích sử dụng đất
Theo quy định tại Điều 36 thì việc chuyển mục đích sử dụng đất
được chia thμnh 2 loại: chuyển mục đích phải xin phép vμ chuyển mục
đích không phải xin phép cơ quan nhμ nước có thẩm quyền
Khoản 1 quy định các trường hợp phải xin phép bao gồm:
+ Chuyển từ đất chuyên trồng lúa nước sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng vμ đất nuôi trồng thuỷ sản
+ Chuyển đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ sang sử dụng vμo mục đích khác
+ Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
Trang 2+ Chuyển đất phi nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất sang
đất phi nông nghiệp có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất
+ Chuyển đất phi nông nghiệp không phải lμ đất ở thμnh đất ở
Đối với việc chuyển mục đích cần phải lưu ý những điểm sau:
- Đối với những trường hợp không quy định tại khoản 1 Điều 36 thì không phải xin phép cơ quan nhμ nước có thẩm quyền nhưng phải
đăng ký tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc uỷ ban nhân dân cấp xã
- Khi chuyển mục đích thì nghĩa vụ tμi chính vμ thời hạn cũng như các quyền vμ nghĩa vụ được áp dụng cho loại đất đã được chuyển mục đích sử dụng mới
- Đối với loại đất khi chuyển mục đích mμ phải nộp tiền sử dụng
đất thì người sử dụng phải nộp tiền theo mục đích sử dụng
V Vấn đề quy hoạch vμ kế hoạch sử dụng đất đai
Từ trước đến nay, vấn đề quy hoạch sử dụng đất được nói đến nhiều tại các diễn đμn, hội nghị song dường như công tác quy hoạch vẫn chưa đáp ứng được các nhu cầu của sự phát triển, đó lμ sự xa rời thực tiễn của nhiều quy hoạch, quy hoạch thường đi sau một bước so với thực trạng nhμ ở, đất ở đã vμ đang sử dụng, khi thực hiện quy hoạch thường gây nhiều tốn kém trong giải phóng mặt bằng vμ đôi khi không thể thực hiện được đúng quy hoạch, còn bê trễ trong quản lý quy hoạch khiến các quy hoạch không thống nhất có tính cục bộ vùng miền, không thống nhất giữa quy hoạch ngμnh vμ lãnh thổ
Nhìn chung các quy định trong Luật đất đai năm 1993 còn chung chung chỉ mang tính nguyên tắc lμ chủ yếu mμ chưa xác định được rõ các nội dung cụ thể như nguyên tắc, căn cứ, thẩm quyền, cơ chế lập, trình duyệt vμ quyết định quy hoạch, việc công bố quy hoạch vμ thực thi quy hoạch Trên thực tế, Chính phủ đã có Nghị định số 68/2001/NĐ-CP ngμy 1/10/2001 về quy hoạch vμ kế hoạch sử dụng đất đai, song với phạm vi điều chỉnh chỉ lμ lập, xét duyệt vμ quản lý quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất thì văn bản nêu trên vẫn chưa đáp ứng được quá trình xây dựng quy hoạch cho công cuộc phát triển đất nước Vì vậy, Luật đất đai năm 2003 từ Điều 21 đến Điều 30 dμnh một mục trong chương quản lý nhμ nước về đất đai để quy định về quy hoạch vμ kế hoạch sử dụng đất
đai với những điểm cần lưu ý sau đây:
Trang 3+ Các quy định đã chính thức luật hoá vμ mở rộng phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 68/2001/NĐ-CP ngμy 1/10/2001 tạo khuôn khổ pháp lý để xây dựng vμ quản lý quy hoạch sử dụng đất có nề nếp vμ kỷ cương hơn
+ Lần đầu tiên chúng ta quy định tại Điều 21 về nguyên tắc lập quy hoạch vμ kế hoạch sử dụng đất đai Đây lμ quy định mang tính chỉ
đạo về mặt đường lối khi xây dựng quy hoạch, vì thiếu nó chúng ta sẽ thiếu các định hướng có tầm vĩ mô khi hoạch định chính sách Quy hoach sử dụng đất trước hết phải có cái nhìn tổng thể, hướng tới tương lai trong sự phát triển, lμ sự hμi hoá giữa kinh tế vμ môi trường sống, lμ
sự bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống vμ văn hoá đương đại Cho nên khi lập quy hoạch sử dụng đất, các nhμ xây dựng chính sách phải xuất phát từ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước được đề cập trong các văn kiện của Đảng, được xây dựng có tầm bao quát rộng
về mặt không gian vμ thời gian
+ Cơ chế lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, nội dung, thẩm quyền quyết định quy hoạch vμ kế hoạch sử dụng đất được xây dựng một cách đồng bộ từ trung ương đến các địa phương, có sự phân công phân nhiệm rõ rμng giữa các cơ quan quyền lực nhμ nước, cơ quan hμnh chính nhμ nước vμ hoạt động chuyên ngμnh của cơ quan chuyên môn
+ Một vấn đề mμ nhiều người quan tâm không chỉ lμ người dân thuần tuý mμ ngay cả nhiều tổ chức quản lý sử dụng đất đai đều mong muốn lμ quy hoạch khi xây dựng, khi công bố quy hoạch chi tiết phải có tiếng nói của nhân dân đóng góp ý kiến Thông qua quá trình nμy, chắc rằng quy hoạch sử dụng đất không chỉ gắn với một không gian rộng lớn của sự phát triển mμ có sự hμi hoμ về truyền thống, nét đẹp về văn hoá
được gìn giữ cho muôn đời sau Với việc góp ý cho việc giữ gìn lμng đμo truyền thống của người Hμ nội hay tôn tạo, bảo vệ các khu phố cổ ở Hμ Nội, Huế, Hội An không chỉ giữ gìn các giá trị văn hoá mμ còn lμ điểm hẹn du lịch hấp dẫn cho du khách trong nước vμ nước ngoμi lμ những ví
dụ cụ thể về chiến lược nμy
+ Trong quy định của Luật đất đai năm 2003 đã có cái nhìn dứt khoát đối với những quy hoạch được xây dựng nhưng không mang tính khả thi thì cần xem xét lại để điều chỉnh hoặc huỷ bỏ quy hoạch Bởi vì, những người sử dụng đất nằm trong quy hoạch luôn chịu một sức ép từ quy hoạch được phê duyệt nhưng không biết bao giờ thực hiện Nhiều
Trang 4người dân phản ánh lμ đất đai của họ nằm trong quy hoạch vμ quy hoạch đó được vạch ra từ hμng chục năm qua, bản thân gia đình họ không được nhập hộ khẩu vì đất quy hoạch, không được xây dựng cải tạo cơi nới nhμ ở vì không được phép xây dựng trên đất quy hoạch, bán nhμ không ai mua vì khu vực quy hoạch Tình hình đó không biết sẽ kéo dμi đến bao giờ vμ bao giờ thì quy hoạch được triển khai, người dân chỉ biết chờ đợi trong sự thất vọng Cho nên quy hoạch treo lμ hiện tượng phổ biến ở nhiều nơi, nếu sau 3 năm kể từ ngμy công bố thu hồi
đất để thực hiện dự án mμ không thực hiện được thì cơ quan nhμ nước
có thẩm quyền phải điều chỉnh hoặc huỷ bỏ quy hoạch đó vμ công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng
VI Về quyền của người sử dụng đất
So với Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai mới thể hiện một số
điểm mới như sau:
Thứ nhất, lần đầu tiên trong Luật đất đai quyền của mọi người sử
dụng đất, dù đó lμ tổ chức trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoμi, người Việt Nam định cư ở nước ngoμi hay hộ gia đình, cá nhân trong nước đều được quy định chính thức trong luật, không có tình trạng được
điều chỉnh ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật vμ thể hiện sự phân biệt giữa các chủ thể khác nhau
Thứ hai, người sử dụng đất có quyền lựa chọn giữa hình thức giao
đất có thu tiền hoặc được nhμ nước cho thuê đất, từ đó cân nhắc về quyền cụ thể của mình khi tham gia vμo quan hệ pháp luật đất đai
Thứ ba, quyền của người sử dụng đất được mở rộng hơn nhiều so
với quy định trước đây, ví dụ như tổ chức trong nước được nhμ nước giao đất có thu tiền có thêm quyền tặng cho quyền sử dụng đất đối với cộng đồng dân cư sử dụng đất hoặc tặng nhμ tình nghĩa gắn liền với đất cho người có công với nước Riêng đối với hộ gia đình, cá nhân có thêm quyền tặng cho quyền sử dụng đất cho người thừa kế theo quy định của pháp luật vμ cho người Việt Nam định cư ở nước ngoμi thuê đất Đây lμ các quyền lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật đất đai dμnh cho hộ gia đình, cá nhân trong nước
Thứ tư, các thủ tục hμnh chính về thực hiện quyền của người sử
dụng đất được quy định trong luật thay thế các quy định trước đây tại
Trang 5các Nghị định của Chính phủ với cơ chế đơn giản, dễ thực hiện vμ có sự cải cách đáng kể về thủ tục hμnh chính khi thực hiện quyền của người
sử dụng đất Người sử dụng đất tự xác lập hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với các quy định trong Bộ luật dân sự mμ không nhất thiết phải theo các mẫu hợp đồng được quy định trong những văn bản pháp luật đất đai trước đây Mặt khác, hồ sơ của người sử dụng đất
được quy định khá đơn giản, chỉ còn hai loại giấy tờ lμ hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vμ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hồ sơ hợp lệ
được nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất vμ người sử dụng cũng nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ nơi nộp hồ sơ theo cơ chế một cửa
Thứ năm, nếu như trong Luật đất đai năm 1993 vμ các Luật đất
đai sửa đổi bổ sung còn ghi nhận nhiều hình thức cho thuê đất đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước thì nay chỉ còn hình thức cho thuê
đất trả tiền thuê hμng năm Hình thức cho thuê đất trả tiền một lần chỉ
áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoμi khi xây dựng trụ sở lμm việc hoặc thực hiện các dự án đầu tư tại việt Nam Từ đó để xác định quyền cho người sử dụng đất
VII Các quy định về tμi chính đất đai vμ giá đất
Một trong những tiêu chí khi xây dựng Luật đất đai năm 2003 lμ xuất phát từ việc coi đất đai lμ nguồn nội lực, nguồn tμi chính tiềm năng lớn của đất nước trong tiến trình công nghiệp hoá vμ hiện đại hoá đất nước Vì vậy, Nhμ nước cần phải xác định rõ rμng các nghĩa vụ tμi chính của người sử dụng đất để điều tiết nguồn thu cho ngân sách nhμ nước, mặt khác tạo sự công bằng trong việc bồi thường tái định cư khi nhμ nước thu hồi đất vì lợi ích của nhμ nước vμ xã hội
1 Các nguồn thu ngân sách nhμ nước từ đất đai
Cho đến nay, nguồn thu ngân sách nhμ nước từ các khoản thuế, phí vμ lệ phí liên quan đến đất đai mỗi năm thu được khoảng 4500 tỷ
đồng, năm cao nhất đạt 7268 tỷ đồng ( nguồn: Tổng cục thuế- Báo cáo của Bộ tμi chính về đánh gía chính sách thu hiện hμnh đối với đất đai vμ hướng hoμn thiện tháng 4/2003 ) Như vậy, tuy lμ nguồn nội lực quan trọng song trên thực tế các khoản thu từ đất không lớn Tới đây, Nhμ nước tiếp tục miễn thuế cho hộ gia đình, cá nhân trong hạn mức nông nghiệp đến năm 2010 thì nguồn thu tiếp tục giảm, nhμ nước đầu tư
Trang 6nhiều công trình hạ tầng xã hội để cho nhiều người sử dụng đất hưởng lợi mμ không điều tiết nguồn lợi nμy vμo ngân sách nhμ nước thì đây quả
lμ một khiếm khuyết không nhỏ Vì vậy, theo Điều 54 Luật đất đai năm
2003 nguồn thu ngân sách từ đất đai sẽ bao gồm:
+ Thu từ tiền sử dụng đất đối người được giao đất có thu tiền, người chuyển mục đích từ loại không thu tiền sang loại có thu tiền, từ hình thức thuê đất chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền
+ Tiền thuê đất đối đất do nhμ nước cho thuê
+ Tiền thuế sử dụng đất
+ Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất
+ Tiền thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật đất đai
+ Tiền bồi thường thiệt hại cho Nhμ nước khi gây thiệt hại trong quản lý vμ sử dụng đất
+ Các khoản phí vμ lệ phí trong quản lý vμ sử dụng đất
Bên cạnh những nguồn thu nêu trên, Nhμ nước cần hướng tới việc
điều tiết thu nhập từ việc hưởng lợi của người sử dụng đất khi Nhμ nước lμm quy hoạch hoặc khi Nhμ nước đầu tư lớn vμo cơ sở hạ tầng mμ người
sử dụng đất hưởng lợi từ các công trình nμy Như vậy, một mặt Nhμ nước điều tiết được nguồn thu cho ngân sách của mình, mặt khác thể hiện sự công bằng trong việc thụ hưởng lợi ích từ mọi đối tượng sử dụng
đất
1 Các quy định về giá đất
Từ sau khi có Luật đất đai năm 1993, Chính phủ đã quy định khung giá các loại đất để thực hiện các khoản thu cho ngân sách Nhμ nước vμ bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất khi nhμ nước thu hồi
đất Mặc dù Chính phủ đã điều chỉnh bằng nhiều văn bản khác nhau song giá đất Nhμ nước quy định vẫn thấp hơn nhiều so với giá đất ngoμi thị trường Điều đó dẫn đến một hậu quả lμ, khi Nhμ nước giao đất với giá đất thấp thì người được giao đất hưởng lợi cho nên có thể bao chiếm nhiều đất đai mμ khai thác không hiệu quả để lãng phí đất đai, trong khi đó người bị thu hồi đất không chịu nhận bồi thường với giá đất thấp hơn nhiều so với thị trường gây khiếu kiện rất nghiêm trọng ở nhiều nơi trong cả nước Từ thực tế đó, Luật đất đai năm 2003 quy định từng vấn
đề cụ thể sau đây:
2 Căn cứ xác định giá đất
Trang 7Theo quy định tại Điều 55 vμ Điều 56 Luật đất đai năm 2003 thì giá đất do UBND các tỉnh vμ thμnh phố trực thuộc trung ương công
bố hμng năm vμo ngμy 1/1 căn cứ vμo nguyên tắc, phương pháp vμ khung giá các loại đất đất mμ Chính phủ quy định lμm cơ sở để thực hiện các nghĩa vụ tμi chính của người sử dụng đất vμ bồi thường thiệt hại khi Nhμ nước thu hồi đất Như vậy, UBND cấp tỉnh trên cơ sở các quy định của Chính phủ vμ căn cứ vμo tình hình cụ thể của từng địa phương để xác định giá đất phù hợp với thực tế chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong điều kiện bình thường Điều đó có nghĩa lμ, giá đất mμ
uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố về cơ bản sẽ sát với giá đất thị trường,
để tránh tình trạng có sự chênh lệnh quá lớn giữa gía đất Nhμ nước vμ giá đất thị trường Chúng tôi cho rằng, mục tiêu của Đảng vμ nhμ nước Việt Nam lμ xây dựng một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, giá đất phải phù hợp với thị trường vμ đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường mμ không thoát ly với các định hướng của Nhμ nước vμ thực tế cuộc sống
VIII Vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai
So với các quy định trước đây, cơ chế giải quyết tranh chấp đất
đai có những điểm mới quan trọng cần phải lưu ý
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 159 Nghị định 181/2004/NĐ-CP
ngμy 29/10/2004 của Chính phủ về thi hμnh Luật đất đai, các tranh chấp
đất đai khi xẩy ra trong nội bộ nhân dân thì các bên chủ động gặp gỡ để
tự hoμ giải, nếu không thoản thuận được thì thông qua hoμ giải ở cơ sở
để giải quyết tranh chấp đất đai Trường hợp các bên tranh chấp không hoμ giải được thì gửi đơn đến uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi
có đất để hoμ giải Trong thời hạn 30 ngμy lμm việc UBND cấp xã có trách nhiệm hoμ giải, việc hoμ giải phải được lập thμnh biên bản có chữ
ký của các bên, có xác nhận của uỷ ban nhân dân về hoμ giải thμnh hoặc không thμnh
Như vậy, việc hoμ giải tại uỷ ban nhân dân cấp xã lμ một cơ chế bắt buộc trước khi các bên tranh chấp trong trường hợp hoμ giải không thμnh được quyền yêu cầu cơ quan tư pháp hoặc cơ quan hμnh chính nhμ nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo luật định
Trang 8Thứ hai, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của toμ án
nhân dân đã có sự mở rộng đáng kể so với Luật đất đai năm 1993 Cụ thể, toμ án nhân dân giải quyết các trường hợp sau:
+ Toμ án nhân dân giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất
mμ người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo các Luật đất đai năm 1987, 1993 vμ Luật đất đai năm 2003 với các mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan quản lý đất đai
ở trung ương phát hμnh qua từng thời kỳ
+ Toμ án được mở rộng giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất, mμ người sử dụng đất có những giấy tờ quy định tại khoản 1, khoản 2 vμ 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003
Các tranh chấp nμy trước đây do UBND cấp có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật đất đai năm 1993 Tuy nhiên, với thực tế những loại giấy tờ mμ các bên tranh chấp được quy
định tại khoản 1, 2 vμ 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003, toμ án nhân dân không gặp quá nhiều những khó khăn trong việc xác định quyền sử dụng của các bên đương sự Bởi vì, các giấy tờ đó do các cơ quan nhμ nước cấp trong từng thời kỳ thực hiện các chính sách đất đai của nhμ nước ta hoặc được thừa nhận trong quá trình sử dụng đất Cho nên mở rộng cho toμ án nhân dân giải quyết những trường hợp nμy lμ một bước tiến lớn trong việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa toμ án nhân dân vμ cơ quan hμnh chính nhμ nước
+ Toμ án nhân dân giải quyết những tranh chấp tμi sản gắn liền với quyền sử dụng đất
Đối với loại việc nμy, dù người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì
đều do toμ án nhân dân thụ lý giải quyết theo thủ tục chung Căn cứ vμo các văn bản pháp luật về dân sự vμ pháp luật đất đai, toμ án giải quyết theo từng đường lối cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên
Thứ ba, theo quy định tại Điều 160 Nghị định 181/2004/NĐ-CP thì
trong trường hợp các bên tranh chấp không có các giấy tờ quy định tại khoản 1, khoản 2 vμ 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 thì các bên tranh chấp lμm đơn gửi đến cơ quan hμnh chính nhμ nước để được giải quyết theo trình tự sau:
+ Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thμnh phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu những tranh chấp xẩy ra trong nội bộ nhân dân, giữa hộ
Trang 9gia đình, cá nhân với cộng đồng dân cư sử dụng đất Trường hợp không
đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện, các bên
có quyền lμm đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh Quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh lμ quyết định cuối cùng vμ có hiệu lực pháp luật
+ Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết tranh chấp đất đai xẩy ra giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoμi, tổ chức, cá nhân nước ngoμi với nhau hoặc giữa họ với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, các bên có quyền lμm
đơn xin giải quyết tranh chấp đến Bộ trưởng Bộ Tμi nguyên vμ Môi trường, quyết định của Bộ trưởng lμ quyết định cuối cùng có hiệu lực pháp luật
Như vậy, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất
đai được quy định rõ rμng, dù đó lμ cơ chế tư pháp hay cơ chế hμnh chính Luật đất đai năm 2003 vμ Nghị định thi hμnh đã có bước phát triển mới khi xác định thẩm quyền tư pháp vμ thẩm quyền hμnh chính trong việc giải quyết tranh chấp đất đai, góp phần giải quyết dứt điểm những tranh chấp khiếu kiện đang xẩy ra khá phức tạp trong thời gian vừa qua.