1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng kinh tế môi trường

239 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Kinh Tế Môi Trường
Tác giả ThS. Chu Thị Thu
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 2020
Định dạng
Số trang 239
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG (18)
    • 1.1. Hệ thống môi trường (18)
      • 1.1.1. Môi trường (Environment) (18)
      • 1.1.2. Tài nguyên (21)
      • 1.1.3. Vai trò của môi trường đối với con người (22)
    • 1.2. Phát triển bền vững (23)
      • 1.2.1. Khái niệm về phát triển bền vững (23)
      • 1.2.2. Nội dung phát triển bền vững (23)
      • 1.2.3. Các chỉ tiêu đo lường phát triển bền vững (25)
      • 1.2.4. Những nguyên tắc của một xã hội bền vững (25)
    • 1.3. Liên kết giữa kinh tế và môi trường (26)
      • 1.3.1. Kinh tế môi trường và kinh tế tài nguyên thiên nhiên (26)
      • 1.3.2. Cân bằng vật chất và chất lượng môi trường (27)
    • 1.4. Nhập môn Kinh tế môi trường (31)
      • 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế môi trường (31)
      • 1.4.2. Vai trò của khuyến khích trong việc giải thích các vấn đề môi trường (32)
      • 1.4.3. Vai trò của quyền tài sản (Property rights) (32)
      • 1.4.4. Sự bền vững của môi trường và của nền kinh tế (33)
      • 1.4.5. Đánh đổi và sự bền vững (34)
      • 1.4.6. Các biểu hiện kinh tế của suy thoái môi trường (37)
    • 1.5. Tổng quan về các vấn đề môi trường ở Việt Nam và thế giới (38)
      • 1.5.1. Ô nhiễm nước và không khí (38)
      • 1.5.2. Thoái hóa đất (40)
      • 1.5.3. Cạn kiệt tài nguyên rừng, thủy sản và khoáng sản (43)
      • 1.5.4. Những quan tâm toàn cầu: thay đổi khí hậu và đa dạng sinh học (45)
      • 1.5.5. Phát triển bền vững (46)
  • Chương 2. KINH TẾ HỌC CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG (49)
    • 2.1. Mô hình thị trường và hiệu quả kinh tế (49)
      • 2.1.1. Cung, cầu và cân bằng thị trường (49)
      • 2.1.2. Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất (52)
      • 2.1.3. Hiệu quả Pareto (57)
    • 2.2. Những nguyên nhân của các vấn đề môi trường từ giác độ kinh tế (59)
      • 2.2.1. Thất bại thị trường và suy thoái môi trường (59)
      • 2.2.2. Thất bại chính sách (70)
      • 2.2.3. Những hàm ý về kiểm soát suy thoái môi trường thông qua cải cách chính sách (77)
    • 2.3. Kinh tế học ô nhiễm (81)
      • 2.3.1. Ô nhiễm môi trường là ngoại ứng (81)
      • 2.3.2. Mức ô nhiễm tối ưu (82)
      • 2.3.3. Định lý Coase và quyền tài sản (90)
      • 2.3.4. Cơ sở kinh tế của các giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường (92)
      • 2.3.5. Tiêu chí đánh giá công cụ chính sách môi trường (110)
  • Chương 3. PHÂN TÍCH KINH TẾ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG (120)
    • 3.1. Những khái niệm cơ bản (120)
      • 3.1.1. Hàng hóa chất lượng môi trường (120)
      • 3.1.2. Tầm quan trọng của định giá môi trường (123)
      • 3.1.3. Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value - TEV) (127)
      • 3.1.4. Đo lường thay đổi phúc lợi (131)
    • 3.2. Tổng quan về các phương pháp định giá môi trường (139)
      • 3.2.1. Phân loại về các phương pháp định giá môi trường (139)
      • 3.2.2. Các bước trong định giá ảnh hưởng môi trường (140)
    • 3.3. Các phương pháp định giá môi trường dựa vào thị trường (Market - Based Techniques) (148)
      • 3.3.1. Khái niệm (148)
      • 3.3.2. Các bước đo lường tác động của phương pháp dựa vào thị trường (148)
      • 3.3.3. Ứng dụng của phương pháp (149)
      • 3.3.4. Các vấn đề và hạn chế của phương pháp thị trường (149)
      • 3.3.5. Các phương pháp cụ thể (150)
    • 3.4. Nhóm các phương pháp bộc lộ sự ưa thích (158)
      • 3.4.1. Phương pháp du lịch phí (TCM) (159)
      • 3.4.2. Phương pháp đánh giá hưởng thụ (HPM - Hidonic Pricing Method) (162)
      • 3.4.3. Phương pháp chi tiêu bảo vệ (Defensive expenditure method (167)
      • 3.4.4. Ưu điểm và hạn chế (170)
    • 3.5. Nhóm các phương pháp phát biểu sự ưa thích (170)
      • 3.5.1. Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) (170)
      • 3.5.2. Phương pháp mô hình lựa chọn (CM - Choice Modeling) (177)
    • 3.6. Phương pháp chuyển đổi giá trị (Benefit tranfer) (181)
      • 3.6.1. Chuyển đổi giá trị là gì? (181)
      • 3.6.2. Các bước thực hiện chuyển đổi (181)
      • 3.6.3. Ba phương pháp thực hiện chuyển đổi (181)
      • 3.6.4. Khó khăn khi thực hiện chuyển đổi giá trị (182)
  • Chương 4. QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG (186)
    • 4.1. Tổng quan về quản lý môi trường (186)
      • 4.1.1. Quản lý môi trường (186)
      • 4.1.2. Quản lý nhà nước về môi trường (190)
      • 4.1.3. Cộng tác công cộng - tư nhân (public private partership - PPP) trong quản lý môi trường (192)
      • 4.1.4. Các nguyên tắc quản lý môi trường (202)
    • 4.2. Các công cụ quản lý môi trường (203)
      • 4.2.1. Công cụ luật pháp và chính sách (203)
      • 4.2.2. Công cụ kinh tế (205)
      • 4.2.3. Công cụ kỹ thuật quản lý môi trường (207)
      • 4.2.4. Công cụ giáo dục nâng cao nhận thức và truyền thông môi trường (208)
    • 4.3. Phân tích lợi ích - chi phí trong quản lý môi trường (209)
      • 4.3.1. Tổng quan về phân tích lợi ích chi phí (209)
      • 4.3.2. Các bước trong CBA (218)
      • 4.3.3. Các vấn đề trong CBA (222)
    • 4.4. Hạch toán môi trường (228)
      • 4.4.1. Các khái niệm cơ bản (228)
      • 4.4.2. Hạch toán môi trường doanh nghiệp (230)
      • 4.4.3. Hạch toán môi trường quốc gia (234)
  • Tài liệu tham khảo (239)

Nội dung

MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG

Hệ thống môi trường

- Môi trường là một khái niệm rất rộng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt sau hội nghị Stockhom về môi trường năm 1972

Theo S V Kalesnik (1959 - 1970), môi trường không chỉ là phần địa lý bao quanh con người mà còn là yếu tố có mối quan hệ tương tác trực tiếp với xã hội loài người trong một thời điểm nhất định.

MT có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người

Môi trường xung quanh đóng vai trò quan trọng trong lao động, cuộc sống cá nhân và nghỉ ngơi của con người, theo I P Gheraximov (1972) Môi trường tự nhiên không chỉ là khung cảnh mà còn là nền tảng thiết yếu cho sự tồn tại của nhân loại.

Theo Magnard (1980) định nghĩa môi trường là tổng hợp của các trạng thái vật lý, hóa học, sinh học và các yếu tố xã hội tại một thời điểm nhất định Những yếu tố này có khả năng gây ra tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, ngay lập tức hoặc theo thời gian, đối với các sinh vật và hoạt động của con người.

Theo Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được định nghĩa là tổng thể các hệ thống tự nhiên và nhân tạo mà con người sống và làm việc trong đó Con người khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo để đáp ứng nhu cầu của mình.

- Như vậy ta thấy khái niệm về môi trường được cụ thể hóa trong từng đối tượng và mục đích nghiên cứu khác nhau:

Môi trường vật lý, bao gồm các yếu tố vô sinh như đất, nước, không khí và khoáng chất, được nghiên cứu qua các quy luật lý hóa Đây là lĩnh vực nghiên cứu của các ngành khoa học tự nhiên như vật lý, hóa học, thủy văn, địa chất và khí tượng.

Nghiên cứu tương tác giữa các cơ thể sống hoặc quần thể với nhau được gọi là nghiên cứu sinh thái, một lĩnh vực thuộc môi trường sinh thái Môi trường sinh thái là chủ đề quan trọng trong các ngành khoa học như sinh thái học, sinh học và y học.

Môi trường tự nhiên là tổng thể các thành phần tự nhiên, bao gồm yếu tố vô sinh và hữu sinh, tương tác với nhau trong vũ trụ Đây là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của nhiều ngành khoa học như thiên văn học, vật lý vũ trụ và địa lý tự nhiên.

Môi trường địa lý đề cập đến ảnh hưởng của con người đối với môi trường tự nhiên, bao gồm các bộ phận tự nhiên bị biến đổi và những bộ phận do con người tạo ra từ vật chất thiên nhiên Theo Iu G Xauskin, những bộ phận này, như thành phố và cánh đồng, không có khả năng tự phát triển Môi trường địa lý chịu ảnh hưởng của các quy luật tự nhiên và mạnh mẽ từ các quy luật kinh tế xã hội, trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học địa lý, đặc biệt là địa lý kinh tế.

Theo UNEP (1980), môi trường bao gồm các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế và xã hội xung quanh, có tác động đến đời sống và sự phát triển của cá nhân, quần thể và cộng đồng.

Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam, được ban hành vào ngày 27/02/1993, nhấn mạnh rằng môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của con người mà còn quyết định sự tồn tại và phát triển của cả con người lẫn thiên nhiên.

Môi trường trong nghiên cứu kinh tế môi trường được định nghĩa bởi UNEP là môi trường địa lý hoặc môi trường sống của con người, bao gồm hệ thống các hoàn cảnh thể hiện mối quan hệ phức tạp giữa các thành phần tự nhiên, kinh tế và con người trong không gian và thời gian cụ thể.

Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố khách quan như không khí, đất, nước, ánh sáng mặt trời, cùng với động thực vật, mà con người không thể kiểm soát Những thành phần này cung cấp các nguồn tài nguyên tự nhiên quý giá cho con người.

MT xã hội là sự kết hợp của các mối quan hệ giữa con người, bao gồm luật lệ, thể chế, cam kết, quy định và hương ước Những mối quan hệ này tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau, từ Liên Hợp Quốc, hiệp hội các quốc gia, cho đến các cấp địa phương như tỉnh, huyện, xã, làng, họ tộc, gia đình và tổ nhóm.

MT xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định;

MT nhân tạo bao gồm các yếu tố do con người tạo ra, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tiện nghi cho cuộc sống, chẳng hạn như hệ thống kết cấu hạ tầng.

- Theo quy mô: Phân theo không gian địa lý như MT toàn cầu, MT khu vực,

MT quốc gia, MT vùng, MT địa phương

+ Theo thành phần của tự nhiên người ta thường chia ra: MT không khí, MT đất, MT nước, MT biển;

+ Theo thành phần của dân cư sinh sống người ta chia ra: MT thành thị, MT nông thôn

1.1.1.3 Bản chất hệ thống của môi trường

Môi trường được cấu thành từ nhiều thành phần khác nhau, bao gồm tự nhiên, kinh tế và con người, mỗi thành phần đều có chức năng riêng nhưng lại có mối quan hệ tương hỗ, tạo thành một cấu trúc thống nhất.

Phát triển bền vững

1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững

Theo nhà kinh tế học Herman Daly, một thế giới bền vững cần phải sử dụng các nguồn tài nguyên tái sinh một cách hợp lý, đảm bảo rằng quá trình tái sinh diễn ra nhanh hơn tốc độ khai thác và tìm kiếm các loại thay thế Đồng thời, thế giới này cũng phải ngăn chặn việc thải ra môi trường các chất độc hại với tốc độ nhanh hơn khả năng hấp thụ và vô hiệu hóa của trái đất.

Năm 1987, Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển đã công bố báo cáo mang tên “Tương lai của chúng ta”, trong đó nhấn mạnh và phân tích mối liên hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển bền vững.

"MT là nơi chúng ta sống, và phát triển là nỗ lực cải thiện mọi thứ trong môi trường đó; do vậy, hai yếu tố này không thể tách rời Tuyên ngôn này nhấn mạnh rằng nếu chúng ta phá hủy môi trường sống, sự phát triển sẽ không thể tồn tại Thuật ngữ phát triển bền vững (PTBV) được giới thiệu trong báo cáo này, định nghĩa là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai."

Phát triển bền vững (PTBV) được định nghĩa là sự phát triển lành mạnh, trong đó lợi ích cá nhân và cộng đồng được bảo vệ Điều này có nghĩa là sự phát triển của một cá nhân không gây hại đến lợi ích của cá nhân khác, cũng như không ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng Hơn nữa, sự phát triển của thế hệ hiện tại không được xâm phạm đến lợi ích của các thế hệ tương lai, và sự phát triển của nhân loại cần bảo vệ sự sống còn của các loài khác trên hành tinh.

1.2.2 Nội dung phát triển bền vững

Phát triển bền vững là quá trình phát triển toàn diện và có hệ thống, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường Việc áp dụng quan điểm hệ thống giúp các nhà môi trường học hiểu rõ hơn về mối liên kết và tương tác giữa các yếu tố này, từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả cho phát triển bền vững.

Canada là Jacobs và Sadler trình bày mối quan hệ biện chứng giữa phát triển và môi trường theo hình dưới đây:

Hình 1.2 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trường

Mô hình trên đã được Mohan Munasingle, chuyên gia của WB phát triển vào năm 1993 như sau:

- Công bằng giữa các thế hệ - Đánh giá tác động môi trường

- Mục tiêu trợ giúp việc làm - Tiền tệ hóa tác động môi trường

- Giảm đói nghèo XÃ MÔI - ĐDSH và thích nghi

- Xây dựng thể chế HỘI TRƯỜNG - Bảo tồn TNTN

- Bảo tồn di sản văn hóa - Ngăn chặn ô nhiễm

- Công bằng giữa các thế hệ

- Sự tham gia của quần chúng

Hình 1.3 Tiếp cận phát triển bền vững

Sự phát triển bền vững của xã hội cần phải giải quyết các thách thức mà môi trường đặt ra Trong mọi kế hoạch quy hoạch phát triển, việc tính toán mối quan hệ tương tác giữa con người và thiên nhiên là điều thiết yếu để đảm bảo sự phát triển kinh tế hài hòa và bền vững.

10 xã hội không làm suy thoái hoặc hủy diệt MT, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn ô nhiễm

Cực kinh tế, theo quan điểm của trường phái PTBV, cho rằng sinh lực kinh tế của xã hội phụ thuộc vào khả năng giải quyết vấn đề giá trị thặng dư Điều này được thực hiện thông qua việc sử dụng giá trị thặng dư để trao đổi và bù đắp những thiệt hại do sự phát triển kinh tế đơn thuần gây ra, bao gồm nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ và chế tạo sản phẩm thay thế Để đạt được cực kinh tế, cần đảm bảo sự tăng trưởng, hiệu quả và ổn định.

Sự phát triển kinh tế cần gắn liền với phát triển xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người Điều này đòi hỏi sự phát triển phải xuất phát từ nội lực của xã hội, không phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài.

1.2.3 Các chỉ tiêu đo lường phát triển bền vững

1.2.3.1 Chỉ số về sinh thái

Chỉ số phát triển bền vững rất khó đo lường do phụ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên của từng vùng lãnh thổ Nói chung, sự phát triển được coi là đạt yêu cầu khi vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế, vừa bảo vệ các hệ sinh thái cơ bản Để xác định chỉ số này, người ta thường xem xét sự đa dạng sinh học và mức độ khai thác các nguồn tài nguyên tái sinh cũng như không tái sinh.

1.2.3.2 Chỉ số phát triển con người

Chỉ số phát triển con người (HDI) là một thước đo tổng hợp phản ánh sự phát triển con người qua ba khía cạnh chính: sức khỏe, tri thức và thu nhập HDI bao gồm ba chỉ tiêu quan trọng: trình độ giáo dục, tuổi thọ và thu nhập bình quân đầu người.

Chỉ số phát triển giáo dục của mỗi quốc gia được xác định bởi hai yếu tố chính: tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học ở các cấp giáo dục.

- Chỉ số tuổi thọ bình quân

- Chỉ số thu nhập đầu người: Được đo bằng GDP thực tế đầu người theo sức mua tương đương tính bằng USD Mỹ (Purchasing Power Parity - PPP)

1.2.4 Những nguyên tắc của một xã hội bền vững

- Nguyên tắc 1: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng

- Nguyên tắc 2: Cải thiện chất lượng cuộc sống

- Nguyên tắc 3: Bảo vệ sự sống và tính đa dạng của trái đất

- Nguyên tắc 4: Bảo đảm chắc chắn việc sử dụng các nguồn tài nguyên

- Nguyên tắc 5: Giữ vững trong khả năng chịu đựng của trái đất

- Nguyên tắc 6: Thay đổi thái độ và thói quen sống của mọi người

- Nguyên tắc 7: Cho phép các cộng đồng tự quản lý lấy môi trường của mình

- Nguyên tắc 8: Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất cho việc phát triển và bảo vệ

- Nguyên tắc 9: Kiến tạo một cơ cấu liên minh toàn cầu.

Liên kết giữa kinh tế và môi trường

1.3.1 Kinh tế môi trường và kinh tế tài nguyên thiên nhiên

Trong bất kỳ nền kinh tế nào, sản xuất, phân phối và tiêu dùng diễn ra trong thế giới tự nhiên, nơi cung cấp nguyên liệu thô và năng lượng cho quá trình sản xuất Các hoạt động này không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn sinh ra phế thải, quay trở lại môi trường dưới nhiều hình thức khác nhau Mối liên kết giữa kinh tế và môi trường được thể hiện rõ qua mô hình mô tả sự tương tác này.

Hình 1.4 Liên kết kinh tế và môi trường

Mối liên kết mô tả các nguyên liệu thô được chuyển vào quá trình sản xuất và tiêu dùng, đồng thời nghiên cứu vai trò cung cấp nguyên liệu thô từ thiên nhiên, được gọi là Kinh tế tài nguyên thiên nhiên.

Mối liên kết giữa hoạt động kinh tế và chất lượng môi trường tự nhiên rất quan trọng Nghiên cứu về sự vận chuyển chất thải từ các hoạt động kinh tế và tác động tổng hợp của chúng đối với môi trường tự nhiên được gọi là một lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu.

Kiểm soát ô nhiễm là một chủ đề quan trọng trong kinh tế môi trường, nhưng không phải là vấn đề duy nhất Con người ảnh hưởng đến môi trường qua nhiều cách khác nhau, không chỉ liên quan đến ô nhiễm Ranh giới giữa tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên môi trường ngày càng trở nên mờ nhạt trong thế giới hiện đại Các hoạt động như khai thác gỗ và khai thác mỏ có tác động trực tiếp đến chất lượng môi trường Đồng thời, ô nhiễm và suy thoái môi trường cũng ảnh hưởng đến quy trình khai thác tài nguyên, ví dụ như ô nhiễm nước ở cửa sông làm cản trở sự bổ sung nguồn cá Mặc dù khó phân định rõ ràng giữa tài nguyên thiên nhiên và môi trường, nhưng các nhà kinh tế vẫn phân biệt giữa hai dịch vụ của thế giới tự nhiên: cung cấp nguyên liệu thô và chức năng môi trường.

1.3.2 Cân bằng vật chất và chất lượng môi trường

Hình 1.6 thể hiện một phiên bản phức tạp hơn của các mối liên hệ trong hình 1.5, với các yếu tố trong vòng tròn đại diện cho các thành phần của hệ thống kinh tế, tất cả được bao bọc trong môi trường tự nhiên.

(Nguồn: Phiên bản từ Barry Field và Nancy Olewiler,

Hình 1.5 Cân bằng vật chất và quan hệ giữa kinh tế và môi trường

Chất thải (Rp) Thải bỏ (Rp d )

HH(G) Chất thải (Rc) Thải bỏ (Rc d ) Đã tái tuần hoàn (Rc r )

Sản xuất và tiêu dùng tạo ra nhiều loại chất thải có thể xả vào không khí, nước hoặc đất, bao gồm sulfur dioxide, hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, dung môi độc hại, phân động vật, thuốc bảo vệ thực vật, bụi và kim loại nặng Năng lượng thải, như nhiệt và âm thanh, cũng là những dạng chất thải quan trọng trong quá trình sản xuất Thêm vào đó, năng lượng phóng xạ là loại chất thải mang đặc tính của cả vật chất và năng lượng.

Chất thải từ sản xuất và tiêu dùng có thể được phân tích từ góc độ vật lý thông qua một mô hình đơn giản Như hình 1.6 minh họa, nguyên vật liệu và năng lượng (M) được khai thác từ môi trường tự nhiên, trong khi các chất thải từ sản xuất và tiêu dùng (Rp d và Rc d) được thải trở lại môi trường Theo quy luật nhiệt động học thứ nhất, một nguyên lý nổi tiếng về bảo toàn vật chất, khẳng định rằng trong dài hạn, hai dòng vật chất này phải tương đương nhau.

Phát biểu trong dài hạn là cần thiết vì nhiều lý do, bao gồm việc hệ thống phát triển có khả năng lưu giữ một tỷ lệ đầu vào từ môi trường tự nhiên, đặc biệt khi quy mô hệ thống gia tăng do dân số tăng và tích lũy tư bản Tuy nhiên, những chất này sẽ bị thải ra khi hệ thống ngừng phát triển và khi công cụ tư bản hỏng.

Sự tái tuần hoàn có thể làm chậm quá trình tích lũy chất thải, nhưng không thể hoàn toàn khôi phục vật chất Mỗi chu kỳ tái chế đều mất đi một tỷ lệ nhất định, dẫn đến việc cân bằng vật chất chỉ đạt được trong dài hạn Do đó, để giảm thiểu lượng chất thải vào môi trường, chúng ta cần giảm lượng nguyên liệu thô đưa vào hệ thống.

Rp d + Rc d = M = G + Rp – Rp r – Rc r

Lượng nguyên liệu thô (M) được tính bằng tổng sản phẩm đầu ra (G) và các chất thải từ sản xuất (Rp), sau đó trừ đi lượng tái chế từ các nhà sản xuất (Rp r) và người tiêu dùng (Rc r).

Có 3 cách để giảm M và do đó giảm các chất thải vào môi trường tự nhiên:

- Giảm G: Nghĩa là giảm chất thải bằng cách giảm số lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất Có nhiều quan niệm khác nhau:

Nhiều chuyên gia cho rằng giảm sản lượng sản xuất hoặc ít nhất là ngừng tốc độ tăng trưởng sản xuất sẽ là giải pháp hiệu quả nhất để đối phó với sự suy thoái môi trường, từ đó giúp giảm lượng chất thải phát sinh.

(2) Một số người đã tìm kiếm giải pháp để đạt được điều này thông qua chủ trương “dân số không tăng trưởng” (ZPG - Zero Polulation Growth)

Dù dân số không tăng, việc kiểm soát tác động môi trường vẫn gặp khó khăn do hai nguyên nhân chính Thứ nhất, mặc dù dân số ổn định, nhưng sự phát triển kinh tế vẫn làm gia tăng nhu cầu về vật liệu thô Thứ hai, tác động môi trường có thể tích lũy theo thời gian, dẫn đến suy thoái môi trường dần dần Ví dụ, tại Canada, mặc dù lượng phát thải ô nhiễm từ mỗi xe hơi đã giảm nhờ công nghệ kiểm soát thải tốt hơn, nhưng sự gia tăng số lượng xe đã làm tăng tổng lượng phát thải, đặc biệt ở các thành phố lớn.

Giảm Rp là quá trình giảm lượng chất thải trên mỗi đơn vị sản phẩm được sản xuất, có thể thực hiện thông qua hai phương pháp chính Thứ nhất, áp dụng công nghệ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến để giảm cường độ chất thải Thứ hai, thay đổi cấu trúc sản phẩm bằng cách sử dụng vật liệu có tỷ lệ chất thải thấp hơn mà không làm thay đổi tổng thể sản phẩm Ví dụ, chuyển từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất sang nền kinh tế dịch vụ là một bước đi quan trọng trong việc giảm thiểu chất thải.

Tăng tái chế (Rp r + Rc r) nhằm thay thế một phần nguyên liệu đầu vào trong khi vẫn duy trì đầu ra của hàng hóa và dịch vụ Mặc dù tái chế có thể giảm thiểu luồng thải, chúng ta cần lưu ý rằng theo quy luật thứ hai của nhiệt động học, quá trình này không bao giờ hoàn hảo Ngay cả khi đầu tư nhiều nguồn lực cho tái chế, quá trình sản xuất vẫn làm thay đổi cấu trúc vật lý của nguyên liệu, khiến chúng khó sử dụng lại Hơn nữa, chính quá trình tái chế cũng tạo ra chất thải.

Mục tiêu chính của chúng ta là giảm thiệt hại do chất thải trong sản xuất và tiêu thụ Giảm lượng chất thải là phương pháp hiệu quả nhất để giảm thiệt hại, và những phân tích trước đó đã chỉ ra các cách cơ bản để thực hiện điều này Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể giảm thiệt hại bằng cách tác động trực tiếp vào dòng chất thải.

Nhập môn Kinh tế môi trường

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế môi trường

Kinh tế môi trường là một lĩnh vực nghiên cứu kết hợp giữa kinh tế học và các vấn đề môi trường, nhằm phân tích cách con người và các tổ chức đưa ra quyết định về việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên quý giá Thay vì chỉ tập trung vào lợi nhuận trong kinh doanh, kinh tế môi trường xem xét các yếu tố tác động đến hành vi của người tiêu dùng, nhà sản xuất, tổ chức phi lợi nhuận và cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên tự nhiên.

Các nhà kinh tế môi trường đang nỗ lực chứng minh rằng "kinh tế" không chỉ liên quan đến lưu thông tiền tệ trên thị trường, mà còn bao gồm những thay đổi về phúc lợi của con người, điều này cũng được coi là một phần quan trọng của hậu quả kinh tế.

Kinh tế học được phân thành hai lĩnh vực chính: kinh tế vi mô, nghiên cứu hành vi của cá nhân và nhóm nhỏ, và kinh tế vĩ mô, tập trung vào kết quả kinh tế toàn cầu Kinh tế môi trường phát triển từ cả hai lĩnh vực này, nhưng chủ yếu dựa vào các nguyên lý của kinh tế vi mô.

Nghiên cứu kinh tế môi trường tập trung vào việc phân phối các nguồn tài nguyên khan hiếm cho các mục đích sử dụng cạnh tranh, tương tự như các chuyên ngành khác trong kinh tế học.

Các khái niệm như khan hiếm, chi phí cơ hội, đánh đổi, lợi ích biên và chi phí biên là những yếu tố quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các vấn đề môi trường và tìm ra giải pháp hiệu quả cho những thách thức này.

Kinh tế môi trường nghiên cứu tác động của các hoạt động kinh tế đến môi trường tự nhiên, sử dụng các khái niệm quen thuộc trong kinh tế học Nó giải thích tại sao con người thường không tính đến ảnh hưởng của quyết định kinh tế lên môi trường Bên cạnh đó, kinh tế môi trường còn đánh giá và tìm kiếm các phương pháp tối ưu để sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên môi trường.

1.4.2 Vai trò của khuyến khích trong việc giải thích các vấn đề môi trường

- Tại sao con người lại hành xử theo các cách thức gây hủy hoại môi trường?

Có nhiều cách để trả lời câu hỏi về ô nhiễm môi trường Một trong số đó là hành vi vô đạo đức của con người Nếu đúng như vậy, việc nâng cao nhận thức về đạo đức môi trường trong xã hội sẽ là cần thiết để giảm thiểu ô nhiễm Tuy nhiên, phương pháp này gặp nhiều vấn đề, bởi không chỉ sự thiếu ý thức đạo đức dẫn đến phá hoại môi trường, mà còn do cách thức mà chúng ta xây dựng hệ thống kinh tế, trong đó mọi người phải tìm kiếm việc làm để sống.

Cách thứ hai để nghiên cứu nguyên nhân gây ô nhiễm của con người là quan sát sự xây dựng nền kinh tế và thể chế, cùng với cách mà chúng ảnh hưởng đến quyết định của con người trong việc gây hại cho môi trường Các nhà kinh tế học cho rằng con người thường chọn ô nhiễm vì đây là giải pháp rẻ nhất để xử lý chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất và tiêu dùng hàng hóa.

Con người đưa ra quyết định trong bối cảnh các thể chế kinh tế và xã hội cụ thể, những thể chế này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các khuyến khích cho hành vi của họ.

Khuyến khích là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định của con người, dẫn dắt họ hành động theo cách này mà không theo cách khác Thường được hiểu là phần thưởng vật chất, nhưng khuyến khích còn bao gồm cả những yếu tố phi vật chất như lòng tự trọng và mong muốn bảo vệ môi trường Những khuyến khích này có thể thúc đẩy hoặc ngăn cản hành vi kinh tế của chúng ta.

Kinh tế môi trường tập trung vào việc nghiên cứu các quá trình khuyến khích hoạt động và cách thức cấu trúc lại những quá trình này để thúc đẩy mọi người đưa ra các quyết định thân thiện với môi trường.

1.4.3 Vai trò của quyền tài sản (Property rights)

Quyền tài sản là một khái niệm quan trọng để hiểu các khuyến khích liên quan đến môi trường Thiếu quyền sở hữu đối với các nguồn tài nguyên môi trường dẫn đến việc con người ít có động lực để xem xét hậu quả môi trường từ hành động của họ.

Quyền tài sản là yếu tố then chốt để hiểu rõ nguyên nhân các vấn đề môi trường hiện nay Một trong những vấn đề cơ bản là tài nguyên môi trường thiếu sự xác định quyền sở hữu rõ ràng Không ai có thể được coi là chủ sở hữu của khí quyển, đại dương hay các tầng nước ngầm Chính sự không rõ ràng trong quyền tài sản đã dẫn đến những vấn đề môi trường nghiêm trọng mà chúng ta đang phải đối mặt.

Sự phát thải từ phương tiện giao thông tác động tiêu cực đến chất lượng không khí, tương tự như việc chú chó nhà bạn xâm phạm vào vườn hoa của hàng xóm, vì bạn có quyền sở hữu vườn hoa của mình Trong khi đó, không khí được coi là tài nguyên chung, mọi người đều có quyền tiếp cận.

1.4.4 Sự bền vững của môi trường và của nền kinh tế

Các nhà kinh tế học ngày càng nhận thức rõ về mối liên hệ giữa kinh tế và môi trường, khi mà môi trường tự nhiên là yếu tố đầu vào thiết yếu cho sản xuất Tuy nhiên, chỉ có một số ít mô hình thể hiện sự tương tác giữa hệ sinh thái và nền kinh tế Kinh tế sinh thái (Ecological Economics) là một ngành khoa học đã nghiên cứu sâu sắc các tương tác này Mục tiêu chính của ngành này là tìm kiếm các lộ trình phát triển bền vững, đảm bảo rằng các hoạt động kinh tế không làm tổn hại đến hệ sinh thái trong khi vẫn gia tăng thu nhập thực.

Tổng quan về các vấn đề môi trường ở Việt Nam và thế giới

1.5.1 Ô nhiễm nước và không khí

Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì ô nhiễm nước là một trong các nguyên nhân chính gây tử vong từ yếu tố môi trường

Theo điều tra của WHO năm 2008, khoảng 2,6 tỷ người không có quyền truy cập vào các công trình vệ sinh, dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng tại các thành phố Tình trạng này ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và gây ra nhiều bệnh tật như tả, thương hàn, kiết lị, viêm gan A và bệnh giun sán WHO ước tính mỗi năm có khoảng 1,5 triệu người tử vong do nước thải không được xử lý.

Tại Hà Nội, tổng lượng nước thải sinh hoạt và nước thải từ sản xuất công nghiệp trong khu vực nội thành đạt khoảng 500.000 m³/ngày, trong đó khoảng 90% chưa được xử lý và xả thẳng ra nguồn nước mặt Chỉ có khoảng 7% tổng lượng nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn, với chỉ 40 cơ sở sản xuất công nghiệp, 29 cơ sở dịch vụ và 5 bệnh viện có trạm xử lý nước thải Ngoài ra, nguồn nước ngầm cũng bị ô nhiễm amoniac nghiêm trọng, vượt mức cho phép từ 20 đến 30 lần, và mực nước ngầm tại Hà Nội đã giảm xuống 6 mét.

Tại TP HCM, chất lượng nguồn nước trên hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai đạt chuẩn loại B, tuy nhiên, mức độ ô nhiễm vi sinh đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép.

Khi nước dâng, 50% mẫu nước kênh rạch bị ô nhiễm vượt mức cho phép, trong khi khi nước cạn, 100% mẫu đều vượt tiêu chuẩn Nguồn nước ngầm có hàm lượng hợp chất nitơ cao, vượt tiêu chuẩn nước uống, và lượng nước ngầm cũng đang giảm dần.

Khu vực nông thôn đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng do cơ sở hạ tầng lạc hậu Phần lớn chất thải từ con người và gia súc chưa được xử lý, dẫn đến việc thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi Số lượng vi khuẩn Feca coliform trung bình dao động từ 1.500 đến 3.500 MNP/100 ml ở các khu vực ven sông Tiền và sông Hậu, và có thể tăng lên tới 3.800 - 12.500 MNP/100 ml ở các kênh tiêu.

Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cá thế giới chứ không phải riêng của một quốc gia

Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật

Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt

Hoạt động của con người đã thải ra môi trường một lượng lớn chất thải, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của các khí độc hại Mỗi năm, có khoảng 20 tỉ tấn carbon dioxide, 1,53 triệu tấn SiO2, hơn 1 triệu tấn niken, 700 triệu tấn bụi, 1,5 triệu tấn asen, 900 tấn coban, 600.000 tấn kẽm, cùng với hơi thủy ngân, hơi chì và nhiều chất độc hại khác được phát thải vào không khí Điều này tạo ra mối lo ngại lớn cho sức khỏe con người và môi trường.

CO2, NOX, CH4, CFC đã gây hiệu ứng nhà kính

Tạo ra các cơn mưa acid làm hủy diệt các khu rừng và các cánh đồng

Các chuyên gia của WHO ước tính ô nhiễm không khí góp phần gây ra khoảng 800.000 ca tử vong trên toàn thế giới mỗi năm

Lượng khí thải gây ô nhiễm không khí ở Việt Nam hiện vẫn ở mức thấp so với các quốc gia công nghiệp phát triển, với nồng độ khí carbon dioxide chỉ khoảng

125 triệu tấn/năm; sử dụng các hóa chất nhân tạo làm suy giảm tầng ôzôn khoảng

Tổng diện tích đất trên Thế giới hiện nay là 14.777 triệu ha, trong đó có 1.527 triệu ha bị đóng băng Diện tích không bị băng tuyết bao phủ là 13.251 triệu ha, bao gồm 12% đất canh tác, 24% đất đồng cỏ, 32% đất rừng và 32% đất đầm lầy hoang hóa.

- Thực tế có 3.200 triệu ha có tiềm năng canh tác nhưng chỉ được sử dụng 1.500 triệu ha

- Hiện nay, có khoảng 10% đất nông nghiệp có tiềm năng đang bị sa mạc hóa

- Ấn Độ hàng năm bị mất 3,7 triệu ha đất canh tác

Khoảng 30% diện tích trái đất đang ở trong vùng khô hạn và bán khô hạn, đối mặt với nguy cơ sa mạc hóa Mỗi năm, khoảng 6 triệu ha đất bị hoang hóa và mất khả năng canh tác do các hoạt động của con người.

Hiện nay, khoảng 20% hệ sinh thái vùng đất khô trên thế giới đang bị suy thoái, đặc biệt là ở các khu vực như Karo và Châu Phi, các thảo nguyên sa mạc ở Châu Âu, cũng như các bình nguyên ở Bắc Mỹ Tại các khu vực thảo nguyên ở Địa Trung Hải và phía Nam Sahara, tình trạng sa mạc hóa đã ảnh hưởng đến 60% diện tích đất đai.

Trung Quốc hiện đang đối mặt với tình trạng suy thoái đất nghiêm trọng, với tổng diện tích đất bị suy thoái lên tới 280 triệu ha Trong đó, diện tích đất đồi bị xói mòn chiếm 36,67 triệu ha, đất bị chua mặn là 6,67 triệu ha, và 4 triệu ha đất bị úng lầy.

Bảng 1.1 Ước tính đất bị thoái hóa ở các vùng khô hạn trên toàn thế giới ĐVT: Triệu km 2

Lục địa Tổng diện tích Diện tích bị thoái hóa % bị thoái hóa

Châu Á 18,814 13,417 71 Úc và Châu đại dương 7,012 3,759 54

Bảng 1.2 Ước tính quy mô thoái hóa đất toàn cầu ĐVT: Triệu km 2

Loại thoái hóa Nhẹ Trung bình Mạnh và cực mạnh Tổng số

Việt Nam sở hữu tổng diện tích đất lên tới 32.924.061 ha, trong đó khoảng 22 triệu ha hình thành từ quá trình phong hóa, còn gần 11 triệu ha là kết quả của quá trình bồi tụ.

+ Theo quan trắc nhiều năm cho thấy: Trên 50% diện tích đất tự nhiên của cả nước (3,2 triệu ha đất đồng bằng; 13 triệu ha đất đồi núi) bị thoái hóa

Việt Nam hiện có khoảng 9,3 triệu ha đất có nguy cơ sa mạc hóa, chiếm 28% tổng diện tích đất đai quốc gia Trong số này, 5 triệu ha chưa được sử dụng, khoảng 2 triệu ha đang sử dụng nhưng bị thoái hóa nặng, và 2 triệu ha có nguy cơ thoái hóa cao.

Cần đặc biệt chú trọng cải tạo các loại đất như 0,82 triệu ha đất phèn hóa nhẹ, 0,54 triệu ha đất cát, 0,26 triệu ha đất xám bạc màu thoái hóa, 0,5 triệu ha đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá, 0,24 triệu ha đất mặn, 0,47 triệu ha đất lầy úng và 8 triệu ha đất tầng mỏng vùng đồi núi.

Diện tích đất ngập nước tại Việt Nam khoảng 10 triệu ha, tương đương 1/3 tổng diện tích cả nước Các khu vực này chủ yếu tập trung ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, cùng với các hệ sinh thái đầm phá, bãi bùn, cửa sông và vùng ngập mặn dọc bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên.

Bảng 1.3 Diện tích đất trống đồi núi trọc ở các vùng Việt Nam

Khu vực Diện tích (ha)

Trung du Bắc Bộ 5.226.493 Đồng bằng Bắc Bộ 70.653

Tây Nguyên 1.641.851 Đông Nam Bộ 694.300 Đồng bằng sông Cửu Long 774.705

Núi đá không có cây 1.125.821

Vùng đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long (Tứ giác Long Xuyên) vào khoảng 30.000 ha

KINH TẾ HỌC CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG

PHÂN TÍCH KINH TẾ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG

Ngày đăng: 28/06/2021, 13:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá (ed.) (1997). Quản trị môi trường. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị môi trường
Tác giả: Lê Huy Bá (ed.)
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1997
2. Lê Huy Bá và Võ Đình Long (2001). Kinh tế môi trường học. NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế môi trường học
Tác giả: Lê Huy Bá và Võ Đình Long
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
3. Lê Thạch Cán, Nguyễn Duy Hồng và Hoàng Xuân Cơ (2001). Kinh tế môi trường. NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế môi trường
Tác giả: Lê Thạch Cán, Nguyễn Duy Hồng và Hoàng Xuân Cơ
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
4. Nguyễn Thế Chinh (chủ biên) (2003). Giáo trình Kinh tế và quản lý môi trường. NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế và quản lý môi trường
Tác giả: Nguyễn Thế Chinh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
5. Hoàng Xuân Cơ (2005). Giáo trình Kinh tế môi trường. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế môi trường
Tác giả: Hoàng Xuân Cơ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
6. Cục Môi trường, Bộ KH, CN & MT (1997). Các quy định pháp luật về môi trường. Tập II. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định pháp luật về môi trường
Tác giả: Cục Môi trường, Bộ KH, CN & MT
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
7. Barry Field và Nancy Olewiler (2005). Kinh tế môi trường. Tái bản lần 2. EEPSEA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế môi trường
Tác giả: Barry Field và Nancy Olewiler
Năm: 2005
8. Nguyễn Trường Giang (1996). Môi trường và luật quốc tế về môi trường. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và luật quốc tế về môi trường
Tác giả: Nguyễn Trường Giang
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
10. Lê Thị Hường (1999). Kinh tế môi trường. NXB Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế môi trường
Tác giả: Lê Thị Hường
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
11. Trần Thanh Lâm (2006). Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế. NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
Tác giả: Trần Thanh Lâm
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2006
12. Đặng Mộng Lân (2001). Các công cụ quản lý môi trường. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công cụ quản lý môi trường
Tác giả: Đặng Mộng Lân
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2001
13. Theodore Panayotou (1992). Thị trường xanh - Kinh tế của phát triển bền vững. EEPSEA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường xanh - Kinh tế của phát triển bền vững
Tác giả: Theodore Panayotou
Năm: 1992
14. Samuelson, P. A. và Nordhaus, W. D. Kinh tế học (Economics). Viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
15. Kerry Turner, David Pearce và Ian Bateman (2005). Kinh tế môi trường. EEPSEA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế môi trường
Tác giả: Kerry Turner, David Pearce và Ian Bateman
Năm: 2005
9. Trần Thị Thu Hà và cộng sự (2017). Giáo trình Kinh tế tài nguyên và môi trương. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w