1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài giảng Kinh tế môi trường: Phần 2 ĐH Phạm Văn Đồng

60 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 873 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(NB) Tiếp nối phần 1, phần 2 Bài giảng Kinh tế môi trường trình bày về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư phát triển, quản lý nhà nước về môi trường. Mời các bạn cùng tham khảo

Trang 1

CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ

ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

5.1 Khái quát về đánh giá tác động môi trường

5.1.1 Sự cần thiết phải đánh giá tác động môi trường

Đánh giá tác động môi trường mang lại rất nhiều lợi ích, cụ thể là:

- Là công cụ cho việc xem xét thấu đáo các vấn đề môi trường ngang bằng với các yếu tố về kinh tế, xã hội trong quá trình xây dựng, thiết kế dự án nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững

- Là căn cứ để chủ dự án lựa chọn phương án đầu tư, bao gồm vị trí, quy mô, công nghệ, nguyên vật liệu, sản phẩm của dự án một cách phù hợp, đạt hiệu quả kinh tế

và khả thi nhất, đồng thời tiết kiệm tiền của và thời gian cho chủ dự án

- Chủ động phòng tránh và giảm thiểu một cách hiệu quả nhất các tác động xấu của dự án đến môi trường

- Cung cấp thông tin chuẩn xác, tin cậy về những vấn đề môi trường của dự án cho cơ quan thẩm quyền trong việc xem xét ra quyết định đầu tư dự án một cách minh bạch và có tính bền vững cao

- Tránh được những xung đột với cộng đồng dân cư trong quá trình thực hiện dự

án

- Việc tiến hành đánh giá tác động môi trường giúp cho doanh nghiệp biết được

sự ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của dự án lên môi trường sống xung quanh doanh nghiệp Các yếu tố đánh giá được so sánh với những tiêu chuẩn quy định để xác định

rõ những yếu tố cần phải thay đổi hoặc giảm thiểu để nâng cao tính tích cực cho dự án

và quyết định xem dự án có thể được thực hiện hay không

- ĐTM ràng buộc doanh nghiệp với trách nhiệm đối với môi trường xung quanh, tạo sự chủ động trong việc ý thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp Đây cũng là yêu cầu từ các thủ tục hành chính mà doanh nghiệp phải thực hiện để có thể thực hiện

dự án của mình và hợp thức hóa các hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 2

5.1.2 Khái niệm về đánh giá tác động môi trường

Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa về ĐTM; những định nghĩa đó về nội dung

cơ bản thống nhất với nhau, trong nhiều cách diễn đạt khác nhau là do sự chú ý nhấn mạnh của từng tác giả tới một khía cạnh nào đó trong ĐTM

Trên cơ sở xem xét những định nghĩa đã được nhiều nhà nghiên cứu đề xuất, và căn cứ vào sự phát triển về lý luận và thực tiễn của ĐTM trong thời gian qua, có thể đưa

ra một định nghĩa đầy đủ về ĐTM như sau:

"ĐTM của một hoạt động phát triển kinh tế - xã hội là xác định, phân tích và dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài mà việc thực hiện hoạt động đó có thể gây ra cho tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống của con người tại nơi có liên quan đến hoạt động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng, tránh, khắc phục các tác động tiêu cực"

Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và được ban hành theo lệnh số 29/2005L-CTN của Chủ tịch Nước ngày 12 tháng 12 năm 2005 định nghĩa rằng: “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”

Tác động môi trường là vấn đề cốt lõi của những sự quan tâm tới phát triển bền vững Đánh giá tác động môi trường là một công cụ giúp cho sự phòng ngừa và ngăn chặn những ảnh hưởng tới môi trường trong chính sách môi trường và đây là công cụ lồng ghép trong quá trình kế hoạch hoá về môi trường Mục đích của ĐTM là xem xét bao quát toàn diện và đánh giá những ảnh hưởng môi trường tiềm năng của những dự

án công cộng hay cá nhân đã được đề xuất trong lựa chọn ưu tiên thực hiện Một ĐTM cần phải được xem xét tât cả những ảnh hưởng mong đợi đối với sức khoẻ con người,

hệ sinh thái (bao gồm thực vật và động vật), khí hậu và khí quyển Một ĐTM cần phải đảm bảo rằng tất cả những hậu quả cần phải được xem xét trong suốt quá trình thiết kế, thực hiện và vận hành của dự án

Tương tự, một ĐTM bao gồm những sự quan tâm của các đảng phải và tổ chức (có nghĩa là cộng đồng địa phương, các nhà chính trị, các nhà đầu tư) và lồng ghép

Trang 3

những ảnh hưởng xã hội liên quan đến những giải pháp về giới hoặc liên quan tới các nhóm xã hội đặc biệt trong các dự án (có nghĩa là tái định cư của người dân bản địa vì

sự thay đổi cảnh quan hoặc môi trường, vị trí khảo cổ học, đài tưởng niệm)

Một ĐTM đòi hỏi phải ưu tiên cho những dự án là nguyên nhân của những thay đổi đáng kể đối với nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh, sự thay đổi có ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn của nghề đánh cá và nghề nông và xem xét tới khai thác tài nguyên thuỷ điện Các dự án hạ tầng, hoạt động công nghiệp, các dự án đổ bỏ và quản

lý chất thải cũng cần một ĐTM

Tất cả những hậu quả có hại tới môi trường cần phải được tính toán bằng biện pháp giảm nhẹ, biện pháp bảo vệ môi trường hoặc thay thế Những biện pháp giảm nhẹ này thường được trình bày bằng một kế hoạch quản lý môi trường Một kết luận của ĐTM cần phải được xem xét lại, sau đó các nhà làm kế hoạch dự án có thể thiết kế đề xuất dự án với mục tiêu tối thiểu hoá tác động tới môi trường

5.1.3 Mục đích của đánh giá tác động môi trường

Mục đích của đánh giá tác động môi trường là bảo vệ môi trường bằng cách đảm bảo rằng cơ quan quản lý môi trường của địa phương chấp thuận trước khi quyết định cấp giấy phép quy hoạch hoặc giấy phép đầu tư cho một dự án, trong đó có thể có tác động đáng kể đến môi trường, làm như vậy trong sự hiểu biết đầy đủ về khả năng đáng

kể hiệu ứng, và mất này vào tài khoản trong quá trình ra quyết định Các quy định đặt

ra một thủ tục để xác định những dự án mà cần phải chịu một đánh giá tác động môi trường, và để đánh giá, tư vấn và đi đến quyết định về những dự án mà có thể có những tác động môi trường đáng kể

Mục đích của đánh giá tác động môi trường cũng là để đảm bảo rằng công chúng được cho sớm và có hiệu quả các cơ hội để tham gia vào quy trình ra quyết định Xem Trước khi nộp hồ sơ và tham vấn và trước khi quyết định vấn đề này Đánh giá tác động môi trường không phải là một rào cản đối với tăng trưởng và sẽ chỉ áp dụng cho một phần nhỏ của dự án xem xét trong chế độ phố và quốc gia kế hoạch cơ quan quy hoạch địa phương có trách nhiệm nói chung cũng được thành lập để xem xét các tác động môi trường của sự phát triển đó có thể kiểm soát quy hoạch Quy định báo vệ môi trường

Trang 4

dụng cho những dự án mà có thể có ảnh hưởng đáng kể đến môi trường chính quyền địa phương lập kế hoạch và phát triển nên xem xét cẩn thận nếu một dự án nên phải chịu một đánh giá tác động môi trường Nếu cần thiết, họ sẽ giới hạn phạm vi đánh giá những khía cạnh của môi trường có khả năng bị ảnh hưởng đáng kể Cơ quan quản lý cũng có thể đóng một vai trò trong việc xác định khi một đề nghị nên kiểm tra giám sát kết quả đánh giá tác động môi trường

Các mục đích cụ thể:

(1) ĐTM nhằm cung cấp một quy trình xem xét tất cả các tác động có hại đến môi trường của các chính sách, chương trình và của các dự án Nó góp phần loại trừ cách “đóng cửa” ra quyết định như vẫn thường làm trước đây, không tính đến ảnh hưởng môi trường trong các khu vực công cộng và tư nhân

(2) ĐTM tạo ra cơ hội để có thể trình bày với người ra quyết định về tính phù hợp của chính sách, chương trình, hoạt động, dự án về mặt môi trường, nhằm ra quyết định có tiếp tục thực hiện hay không

(3) Đôi với các chương trình, chính sách, hoạt động, dự án được chấp nhận thực hiện thì ĐTM tạo ra cơ hội trình bày sự phối kết hợp các điều kiện có thể giảm nhẹ tác động có hại tới môi trường

(4) ĐTM tạo ra phương thức để cộng đồng có thể đóng góp cho quá trình ra quyết định, thông qua các để nghị bằng văn bản hoặc ý kiến gửi tới người ra quyết định Công chúng có thế’ tham gia vào quá trình này trong các cuộc họp công khai hoặc trong việc hòa giải giữa các bên (thường là bên gây tác động và bên chịu tác động)

(5) Với ĐTM, toàn bộ quá trình phát triển được công khai để xem xét một cách đồng thời lợi ích của tất cả các bên: bên đề xuất dự án, Chính phủ và cộng đồng Điều

đó góp phần lựa chọn được dự án tốt hơn để thực hiện

(6) Những dự án mà vể cơ bản không đạt yêu cầu hoặc đặt sai vị trí thì có xu hướng tự loại trừ không phải thực hiện ĐTM và tất nhiên là không cần cả đến sự chất vấn của công chúng

(7) Thông qua ĐTM nhiều dự án được chấp nhận nhưng phải thực hiện những điều kiện nhất định, chảng hạn chủ dự án phải đảm bảo quá trình quan trắc, giám sát,

Trang 5

lập báo cáo hàng năm, phải có phân tích sau dự án và kiểm toán môi trường độc lập

(8) Trong ĐTM phải xét cả đến các khả năng thay thế, chẳng hạn như công nghệ, địa điểm đặt dự án phải được xem xét hết sức cẩn thận

(9) ĐTM được coi là công cụ phục vụ phát triển, khuyến khích phát triển tốt hơn, trợ giúp cho tăng trướng kinh tế

(10) Trong nhiều trường hợp, ĐTM chấp nhận sự phát thải, kể cả phát thải khí nhà kính cũng như việc sử dụng không hợp lý tài nguyên ở mức độ nào đấy, nghĩa là chấp nhận phát triển tăng trường kinh tế

5.1.4 Các nguyên tắc đánh giá tác động môi trường

Việc đánh giá tác động môi trường phải đảm bảo phát triển bền vững là để đạt được sự hài hòa và cân bằng bảo tồn và phát triển

Kế hoạch bảo tồn môi trường và thay thế nó cần được cung cấp trong một loạt các nghiên cứu khoa học, và kết quả dự đoán trên cơ sở chạy về kinh tế và kỹ thuật

Sẽ cố gắng để bao gồm trong quá trình đánh giá tác động môi trường, vv Bằng cách cung cấp đầy đủ thông tin về các kế hoạch hoặc dự án đó là chủ đề của tác động môi trường đánh giá người dân có thể tham gia thông suốt

Kết quả của việc đánh giá tác động môi trường nên được viết ngắn gọn và đơn giản để hiểu được người dân địa phương và các nhà sản xuất quyết định

Đánh giá tác động môi trường nếu các kế hoạch, dự án sẽ tập trung vào một khu vực hoặc thời gian cụ thể được thực hiện có tính đến các tác động tích lũy của này

Công tác ĐTM nói chung và báo cáo ĐTM nói riêng, phải đạt được các yêu cầu sau:

+ Phải thực sự là một công cụ giúp cho việc thực hiện quyết định của cơ quan quản lý Thực chất của ĐTM là cung cấp thêm tư liệu đã được cân nhắc, phân tích để

cơ quan có trách nhiệm ra quyết định có điều kiện lựa chọn phương án hành động phát triển một cách hợp lý, chính xác hơn

+ Phải đề xuất được phương án phòng tránh, giảm bớt các tác động tiêu cực, tăng

Trang 6

Có thể nói rằng, không có hoạt động phát triển nào có thể đáp ứng những lợi ích và yêu cầu cấp bách trước mắt của con người mà không làm tổn hại ít nhiều đến TNMT ĐTM phải làm rõ điều đó, không phải để ngăn cản sự phát triển kinh tế - xã hội mà để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các hoạt động đó Vì vậy ĐTM có trách nhiệm nghiên cứu, góp phần đề xuất biện pháp bảo vệ, thậm chí cải thiện được tình hình TNMT Khi phương án đã đề xuất không thể chấp nhận được vì gây tổn hại quá lớn về TNMT thì phải đề xuất phương hướng thay thế phương án

+ Phải là công cụ có hiệu lực để khắc phục những hiệu quả tiêu cực của các hoạt động đã được hoàn thành hoặc đang tiến hành Trong thực tế, nhất là tại các nước đang phát triển nhiều hoạt động phát triển đã được tiến hành hoặc đã được hoàn thành, nhưng lúc đề xuất chưa hề có ĐTM Do đó, hình thành những tập thể khoa học có đủ kiến thức, kinh nghiệm và phương pháp luận cần thiết, phù hợp với nội dung và yêu cầu của ĐTM trong từng trường hợp cụ thể là hết sức quan trọng

+ Báo cáo ĐTM phải rõ ràng, dễ hiểu Khoa học môi trường rất phức tạp, nội dung khoa học được xem xét trong ĐTM rất phong phú Tuy nhiên người sử dụng kết quả cuối cùng của ĐTM có khi không phải là nhà khoa học, mà là người quản lý Vì vậy báo cáo ĐTM phải rõ ràng, dễ hiểu, dùng ngôn ngữ , thuật ngữ phổ thông Cách diễn đạt và trình bày phải cụ thể, thiết thực, có sức thuyết phục, giúp cho người quyết định nhìn thấy vấn đề một cách rõ ràng, khách quan, từ đó quyết định đúng đắn, kịp thời

+ Báo cáo ĐTM phải chặt chẽ về pháp lý, báo cáo ĐTM không những là cơ sở khoa học, mà còn là cơ sở pháp lý giúp cho việc quyết định những vấn đề quan trọng

về phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong cả nước, hoặc một vùng, một địa phương

+ Hợp lý trong chi tiêu cho ĐTM ĐTM là việc làm tốn kém, đòi hỏi nhiều thời gian Kinh nghiệm ở các nước đã phát triển cho thấy việc hoàn thành một báo cáo ĐTM

ở cấp quốc gia đòi hỏi thời gian từ 10 đến 16 tháng, chi phí từ hàng chục nghìn đến hàng triệu đô la

Trang 7

5.1.5 Các phương pháp đánh giá tác động môi trường

Đánh giá tác động môi trường là việc hết sức phức tạp, đòi hỏi nhiều cán bộ chuyên môn của nhiều khoa học khác nhau, và phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau mới thực hiện được Các phương pháp được sử dụng trong ĐTM được gọi là các phương pháp ĐTM Các phương pháp mang tính kỹ thuật, các phương pháp đó đánh giá tác động môi trường thông qua các thông số môi trường được lựa chọn, bao gồm các phương pháp:

+ Phương pháp liệt kê số liệu về thông số môi trường

+ Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường

+ Phương pháp ma trận môi trường

+ Phương pháp chập bản đồ môi trường

+ Phương pháp sơ đồ mạng lưới

đề cập ở giáo trình này

5.2 Phân tích lợi ích – chi phí

5.2.1 Các yêu cầu cơ bản trong phân tích lợi ích chi phí mở rộng

Phân tích chi phí - lợi ích mở rộng là một phương pháp phân tích kinh tế, so sánh những lợi ích thu được do thực hiện các hoạt động phát triển đem lại với những chi phí

và tổn thất do việc thực hiện các hoạt động đó gây ra Để nhấn mạnh chi phí và lợi ích môi trường thường người ta tách phần môi trường ra gọi là Et , công thức hoá như sau:

∑(𝐵𝑡− 𝐶𝑡± 𝐸𝑡)/(1 + 𝑟)𝑡

Trang 8

Chi phí và lợi ích ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả chi phí và lợi ích

về tài nguyên, môi trường và các thành viên khác trong xã hội cho nên có thể gọi phân tích CP – LI là phân tích CP - LI mở rộng

Mặc dù phương pháp này có vẻ như khá đơn giản, nhưng khó khăn thì vấn cứ nảy sinh bởi vì lợi ích và chi phí xã hội cần phải được tính toán Điều đó có nghĩa là phương pháp phân tích chi phí - lợi ích mở rộng có tính phạm vi toàn xã hội Chẳng hạn, nếu như chúng ta có yêu cầu các nhà đầu tư gỗ xẻ đánh giá vấn đề có tính chính sách như đã nêu ở trên, thì việc mà họ đưa ra đánh giá đầu tiên sẽ là liệu rằng đầu tư của họ có mang lại lợi nhuận hay không Điều này thực sự là một sự phản hồi rất có lý

về một phần tính toán của nhà đầu tư Việc đánh giá như thế gọi là phân tích tài chính, bởi vì nó chỉ liên quan đến chi phí và lợi ích ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà đầu tư Việc phân tích chi phí - lợi ích mở rộng có liên quan đến phạm vi xã hội Điều này có

ý nghĩa là chúng ta cần phải xác định xem đâu là chi phí và lợi ích ảnh hưởng đến mọi thành viên trong xã hội Việc thực hiện thường xuyên phương pháp phân tích rộng rãi toàn xã hội này là một điều khó có thể thực hiện được Tuy nhiên, các nhà kinh tế đều

cố gắng mở rộng phạm vi của phương pháp này theo khả năng có thể Ví dụ, đối với một trong các giải pháp đã nêu ở trên, ngoài việc đáp ứng được lợi nhuận của các nhà đầu tư, một loạt các câu trả lời cho các câu hỏi dưới đây cũng cần phải được xem xét trong phân tích chi phí - lợi ích mở rộng

Liệu hoạt động kinh doanh gỗ xẻ có khuyến khích hoạt động kinh tế của vùng ven biển Nam Trung Bộ hay không

Liệu rằng sự khuyến khích hoạt động kinh tế này có lan rộng ra các vùng khác ngoài vùng ven biển Nam Trung Bộ hay không

Chi phí môi trường để bù đắp cho sự ô nhiễm do hoạt động kinh doanh gỗ xẻ gây ra là bao nhiêu?

Sau khi có được mọi sự giải đáp, hãy quy giá trị của chúng ran thành tiền, và đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng Ví dụ: phạm vi ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh gỗ xẻ có thể sẽ lan rộng ra tận các vùng xa như Tây Bắc, Đông Bắc Bắc Bộ của Việt Nam Việc tính giá trị các chi phí môi trường, đặc biệt là những chi phí liên quan đến việc bảo tồn các loài động - thưc vật quý hiếm là rất khó khăn Điều lý tưởng nhất

là chúng ta nên xem xét tất cả các chi phí có thể tính được của mỗi một phương pháp

Trang 9

vào việc ước tính lợi ích thực, điều này trong thực tế không phải lúc nào cũng có thể làm một cách dễ dàng Chúng ta có thể tóm tắt về bản chất và phạm vi áp dụng của phân tích chi phí - lợi ích mở rộng như sau:

Phân tích chi phí - lợi ích mở rộng là một phương pháp mà qua đó có nhiều các giải pháp thay thế khác nhau cạnh tranh với nhau, có liên quan đến một quyết định có tính chính sách được thẩm định trên phương diện lợi ích thực mang lại cho xã hội

5.2.2 Trình tự các bước tiến hành phân tích chi phí lợi ích

(1) Xác định các giải pháp thay thế

Như chúng ta đã trình bày ở phần trên, bước đầu tiêu là xác định các giải pháp khác nhau cho một quyết định chính sách Với những quyết định có những tác động môi trường nghiêm trọng thì bảo vệ môi trường luôn luôn là một giải pháp riêng biệt

Ví dụ như với việc tôn trọng quyết định về khai thác gỗ ở khu vực xung quanh vùng ven biển Nam Trung Bộ, bảo vệ rừng có nghĩa là giữ nguyên vẹn, không khai thác chúng

là một giải pháp rõ ràng

(2) Phân định chi phí và lợi ích

Việc phân định rạch ròi toàn bộ các chi phí và lợi ích tác động đến mỗi thành

(1) Xác định các giải pháp thay thế

(2) Phân định chi phí và lợi ích

(3) Đánh giá chi phí và lợi ích

(4) Tính toán giá trị các chỉ tiêu liên quan (giá trị hiện tại ròng, tỷ lệ lợi ích – chi phí, và hệ số hoàn vốn nội tại)

(5) Sắp xếp thứ tự các giải pháp thay thế

Hình 5.1 Sơ đồ các bước thực hiện phân tích lợi ích chi phí

Trang 10

phải lập một danh mục đầy đủ về các khoản chi phí có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các hành động của một giải pháp thay thế Ví dụ, khi chúng ta cân nhắc giải pháp đầu tiên trong năm giỉa pháp đã liệt kê ở trên liên quan đến việc khai thác gỗ để sản xuất

gỗ xẻ Danh mục các lợi ích cũng cần được kể ra, bao gồm:

Một lần tăng thu nhập nhờ bán gỗ xẻ, và

Sự tăng lên thu nhập ngoài ngành công nghiệp gỗ xẻ Như vậy, trong việc xem xét những lợi ích, không chỉ xét riêng trong ngành gỗ xẻ mà còn xem xét ảnh hưởng tăng lên trong các hoạt động kinh tế khác ngoài ngành gỗ xẻ

Danh mục liệt kê đối với các khoản chi phí bao gồm:

Vốn đầu tư

Tiền lương và nguyên liệu thô, và

Những chi phí môi trường như chi phí bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm, chi phí để chống xói mòn đất

Các chi phí bảo tồn đối với các loài động thực vật quí hiếm có thể xem đó là những chi phí người sử dụng Chúng ta biết rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh Bởi vậy, điều cực kỳ quan trọng là chúng ta phải tiến hành kiểm nghiệm xem phương pháp khai thác gỗ có thể đảm bảo được sự phục hồi của rừng trong khả năng chịu đựng của chúng hay không, hay chúng ta có thể duy trì một tiêu chuẩn rừng bền vững

Trong bối cảnh chúng ta đang xem xét cần phải chú ý rằng một số khoản tiền mà

có thể thường xuyên được xem như là một khoản chi phí hay lợi ích có thể sẽ không được coi là có ý nghĩa xã hội Ví dụ như, một nhà đầu tư của Việt Nam đóng thuế cho Nhà nước, rõ ràng đối với nhà đầu tư này là một khoản chi phí Tuy nhiên, xét về mặt

xã hội, số thuế phải trả này đơn giản chỉ là sự chuyển nhượng thu nhập từ người Việt Nam này (nhà đầu tư) sang cho người dân Việt Nam khác mà thôi Nhưng đối với một nhà đầu tư nước ngoài các thứ thuế mà họ phải đóng góp cho chính phủ Việt Nam thì

đó là một khoản thu nhập có tính xã hội, sở dĩ như vậy là vì các nhà đầu tư nước ngoài

họ sẽ chuyển số tiền lời trong đầu tư về nước họ và việc chia lợi nhuận đầu tư cho Việt

Trang 11

Nam là khoản thuế mà họ phải trả Từ phân tích ví dụ này cho ta thấy việc xác định lợi ích thực phải dựa trên cơ sở phân định rõ ràng lợi ích và chi phí

(3) Đánh giá chi phí và lợi ích

Trong bước này, mỗi khoản chi phí và lợi ích của các giải pháp đã được xác định

ở bước trước cần phải được định giá bằng tiền Đối với những mặt hàng được trao đổi trên thị trường, giá trị của nó có thể được tính đơn giản bằng cách nhân số lượng của mặt hàng đó với giá thị trường của nó Tuy nhiên do tính “qui luật số lượng lẫn giá” để ước tính giá thị trường không đúng do thị trường thường xuyên không hoàn hảo Chỉ khi thị trường đối với một mặt hàng có tính cạnh tranh thì giá thị trường của mặt hàng

đó mới được xem là một chỉ số tốt đối với giá trị xã hội Chính vì vậy, theo khả năng

có thể, chúng ta nên sử dụng giá thị trường thế giới đối với các mặt hàng được trao đổi trên thị trường thế giới Bởi vì thị trường thế giới có tính cạnh tranh mạnh hơn nhiều so với thị trường trong nước, cho nên giá thế giới là những chỉ số tốt hơn về mặt giá trị Hơn nữa, do tính lạm phát hiện thời cho nên việc đánh giá thường được dự tính trên cơ

sở giá thực hoặc giá cố định Điều đó có nghĩa là giá cả phải được thể hiện trên cơ sở nguyên tắc chung và được điều chỉnh bằng một chỉ số giá Đối với những yếu tố ảnh hưởng không có giá thị trường, để đánh giá chúng thường người ta phải sử dụng giá tham khảo

(4) Tính toán giá trị các chỉ tiêu liên quan

Trên cơ sở đánh giá các giá trị liên quan ở bước ba, căn cứ vào các chỉ tiêu chúng

ta sẽ tính toán các giá trị để phục vụ cho xem xét so sánh giữa các giải pháp và nêu ra

ở bước một

Thường những chỉ tiêu thông dụng nhất được sử dụng trong việc phân tích chi phí - lợi ích là giá trị hiện tại ròng (NPV); tỷ suất lợi ích - chi phí (BCR) và hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR)

Trang 12

Đối với chỉ tieu BCR, thường chúng ta dùng giải pháp nào có tỷ suất lớn hơn

1 và sắp xếp giải pháp nào có BCR cao nhất lên đầu

Đối với chỉ tiêu IRR, sắp xếp ưu tiên lên đầu đối với những hệ số hoàn vốn nội

bộ lớn hơn tỷ lệ chiết khấu, bởi lẽ chúng ta đặt ưu tiên chuyển lợi ích cho thế hệ tương lai

5.2.3 Chiết khấu và biến thời gian

Do tính chất đặc biệt quan trọng của việc xác định trục thời gian và hệ số chiết khấu trong phân tích dự án, cho nên dưới đây sẽ đề cập đến một cách tương đối kỹ các công thức tính toán chuẩn và một số biểu bảng quan trọng trợ giúp cho việc tính toán

5.2.3.1 Chọn biến thời gian thích hợp

Về mặt lý thuyết, phân tích kinh tế các dự án phải được kéo dài trong khoảng thời gian vừa đủ để có thể bao hàm hết mọi lợi ích và chi phí của dự án Trong việc lựa chọn biến thời gian thích hợp, cần lưu ý đến hai nhân tố quan trọng sau đây:

Thời gian tồn tại (sống) hữu ích dự kiến (Expected Useful Life) của dự án để

tạo ra các sản phẩm đầu ra và các lợi ích kinh tế cơ sở mà dựa vào đó dự án được thiết

kế

Tỷ lệ chiết khấu được sử dụng trong phân tích kinh tế của dự án

Đối với nhân tố thứ nhất, khi lợi ích đầu ra trở nên rất nhỏ, thì thời gian sống hữu ích dự kiến của dự án (Effective Project Life) có thể xem như đã kết thúc

Đối với hệ sô chiết khấu (Discount Rate), nếu giá trị chọn lựa ngoại ứng này càng lớn, thì thời gian sống hữu ích dự kiến sẽ càng ngắn, bởi vì nó làm giảm đi giá trị tại lợi ích của dự án theo thời gian trong tương lai Vì vậy, đối với một dự án có thời gian sống hữu ích dài, căn cứ vào lợi ích của nó (ví dụ: 100 năm), nhưng với một hệ số chiết khấu cao (ví dụ: 10%), thì biến thời gian sẽ ngắn hơn rất nhiều so với thời gian sống hữu ích dự kiến, bởi vì lợi nhuận ròng trong những năm sau sẽ ảnh hưởng không

đáng kể đến giá trị hiện tại ròng Do đó, quy luật chung là biến đổi thời gian thích hợp cho một dự án sẽ "ngắn hơn" so với thời gian hữu ích dự kiến của dự án hoặc so với thời gian hiệu dụng kinh tế của dự án khi tính đến chiết khấu

Trang 13

Bảng 5.1 cho thấy mối quan hệ giữa hệ số chiết khấu với việc lựa chọn biến thời gian thích hợp, qua đó ta thấy việc lựa chọn hệ số chiết khấu là hết sức quan trọng

Bảng 5.1 Mối quan hệ giữa tỷ lệ chiết khấu và thời gian lựa chọn

Thời gian (năm)

Tỷ lệ chiết khấu (%/năm)

số là một hàm số của tỷ lệ chiết khấu và thời gian xảy ra của kết quả

Tỷ lệ chiết khấu là của lãi suất luỹ tích (còn gọi là lãi kép – tính theo tỷ lệ phần trăm) dùng để điều chỉnh đưa các lợi ích và chi phí trong tương lai về giá trị hiện tại tương đương Quá trình điều chỉnh này gọi là “Chiết khấu”

Như vậy chiết khấu là một cơ chế mà nhờ nó ta có thể so sánh lợi ích và chi phí

ở các thời điểm khác nhau trên trục thời gian Đây là một khái niệm thường dễ bị lầm lẫn nhất trong phân tích kinh tế

Chiết khấu có một vai trò hết sức quan trọng, bởi lẽ một sự thay đổi nhỏ của tỷ

lệ chiết khấu sẽ luôn luôn làm thay đổi giá trị hiện tại ròng, và như vậy sử dụng tỷ lệ chiết khấu sai sẽ cho giá trị sai Quan trọng hơn nữa là sự thay đổi về tỷ lệ chiết khấu

sẽ có thể làm thay đổi lợi ích xã hội ròng của một phương án cho biết từ dương sang âm (hay ngược lại), hoặc làm thay đổi thứ tự của nhiều phương án lựa chọn

Trang 14

Trong việc sử dụng chiết khấu, cần bảo đảm hai điều kiện tiên quyết:

Một biến số đưa vào tính toán chiết khấu (ví dụ: chi phí tài nguyên, lợi ích đầu

ra, v.v ) phải được quy về cùng một hệ đơn vị Để thuận tiện, trong tính toán người ta thường dùng đô la làm đơn vị tiền tệ Cũng có thể sử dụng các đồng tiền chuyển đổi khác như Yên, Mác, Phrăng, v.v

Phải thừa nhận giả định cho rằng: giá trị một đơn vị chi phí hoặc lợi ích hiện tại là lớn hơn một đơn vị chi phí hoặc lợi ích trong tương lai

Khi đưa các nhân tố môi trường vào quá trình phân tích, hai điều kiện tiên quyết này sẽ có khó khăn Trong thực tế, có rất nhiều yếu tố chất lượng môi trường không thể định lượng cũng như không thể ấn định giá trị bằng tiền, do đó, không thể đưa vào việc phân tích và xét duyệt dự án một cách rõ ràng, chẳng hạn như giá trị của tài nguyên gen của một khu rừng nhiệt đới hay của việc duy trì nồng độ CO2 trong bầu khí quyển toàn cầu Về điều kiện tiên quyết thứ hai, nhiều người tin rằng các dịch vụ và hàng hoá tạo

ra trong các hệ thống tự nhiên sẽ tăng lên theo thời gian do nhu cầu và mức độ khan hiếm tăng lên Đối với đa số hàng hoá và dịch vụ thì điều này là hoàn toàn đúng, do đó

vấn đề này có thể được xử lý khi phân tích kinh tế bằng cách thay đổi giá tương đối

(Relative Prices) của dịch vụ hay hàng hoá

Như đã nói ở trên, việc phân tích kinh tế của các dự án, thường sử dụng giá trị không thay đổi của đồng đô la, chứ không phải giá trị đã bị thay đổi do lạm phát Bởi

vì chiết khấu không phải là công cụ để điều chỉnh giá lạm phát, vì vậy, chỉ có thể sử dụng giá trị tương đối do sự thay đổi này Ví dụ, như dự án dự kiến sản xuất gỗ xẻ nhiệt đới Do sự tăng lên của nhu cầu trên thế giới về loại gỗ này, nên giá của nó sẽ tăng lên nhanh hơn mức giá chung Vì vậy, trong phân tích kinh tế của dự án, có thể đưa vào nhân tố hiệu chỉnh sự tăng giá thực sự của gỗ được sản xuất ra (ví dụ 2% năm) trong khi tất cả các các giá khác (lợi nhuận cũng như chi phí) vẫn giữ ở mức không đổi, giá của gỗ sẽ tăng lên khoảng 50% trong hai mươi năm, do đó càng làm tăng mức độ hấp dẫn của dự án

5.2.3.3 Tỷ lệ chiết khấu thích hợp

Thế nào là một tỷ lệ chiết khấu thích hợp được sử dụng trong phân tích kinh tế ? Đây là một vấn đề không đơn giản Cần chú ý đến một số điều kiện sau đây:

Trang 15

Trong một phép phân tích kinh tế, chỉ được sử dụng một tỷ lệ chiết khấu, mặc

dù khi phân tích có thể thực hiện lặp đi lặp lại nhiều giá trị khác nhau của tỷ lệ chiết khấu (phép phân tích độ nhạy)

Tỷ lệ chiết khấu không phản ánh lạm phát, mọi giá cả sử dụng trong phân tích

là thực hoặc giá đô la la không đổi

Tỷ lệ chiết khấu thực = Tỷ lệ chiết khấu danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát

Về lý thuyết, tỷ lệ chiết khấu có thể là dưong, “0” hoặc âm Trong phân tích

kinh tế, lãi suất (Interest Rate) được sử dụng để phản ánh một tỷ lệ thị trường đối với

đầu tư và đồng tiền hoạt động và, vì vậy, nó nhạy cảm với tỷ lệ lạm phát hiện tại hay

dự kiến cho tương lai Tỷ lệ chiết khấu sử dụng trong phân tích kinh tế thường không thể quan sát được trong một nền kinh tế Các nhà kinh tế học đã phát triển nhiều phương pháp, xuất phát từ các quan niệm kinh tế và xã hội, để xác định và điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu Đó là:

+ Chi phí cơ hội của đồng tiền: phương pháp tiếp cận này dựa trên việc đoán

nhận một quá trình sản xuất là kết quả của việc đầu tư vào một dự án này mà không phải là dự án khác hoặc là đầu tư của Nhà nước vào một dự án cụ thể nào đó Phương pháp này được Ngân hàng thế giới áp dụng khi cho một dự án nào đó vay tiền, khi dự

án đó thoả thuận một tỉ lệ hoàn trả hàng năm tối thiểu bằng một tỷ lệ nào đó được xác

định dựa trên chi phí cơ hội của đồng tiền

+ Chi phí của việc vay mượn tiền: Chính phủ thường phải vay tiền hoặc từ các

nguồn trong nước hoặc nước ngoài để đầu tư cho các dự án phát triển

+ Hệ thống xã hội về ưu tiên theo thời gian (Time Preference): dựa trên quan

điểm cho rằng, khả năng của xã hội phản ứng chính xác hơn thị trường tư nhân trong cân nhắc sức tiêu thụ giữa hiện tại và tương lai Xét theo quan điểm xã hội, mỗi cá nhân sẽ tiêu thụ quá mức trong hiện tại hơn là tiết kiệm cho đầu tư hay là sản xuất sau này Hệ

số xã hội về ưu tiên theo thời gian sẽ dẫn tới việc đưa ra một tỷ lệ chiết khấu thấp hơn

so với sự lựa chọn của các cá nhân trong thị trường tư nhân (thời gian sống mỗi các nhân ngắn hơn rất nhiều so với trục thời gian của xã hội)

Trang 16

Tóm lại, tỷ lệ thực được sử dụng trong phân tích kinh tế sẽ là đặc trưng cho mỗi quốc gia và có thể được xác lập trên cơ sở các chính sách của chính phủ Nhân tố quan trọng đối với việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu là chi phí cơ hội của tư bản, yêu cầu của tổ chức tài trợ, chi phí cho tiền tệ của Chính phủ, và quan điểm hiện thời của Chính phủ đối với sự tiêu thụ và đầu tư của tư nhân trong mối quan tâm đến các thế hệ tương lai

Những người phân tích dự án cần thiết tìm sự hướng dẫn của cơ quan ra quyết định của Nhà nước đối với tỷ lệ chiết khấu đang được sử dụng Trong trường hợp không

có các hướng dẫn cụ thể, khi thực hiện các phân tích dự án có thể sử dụng các tỷ lệ chiết khấu đã và đang được sử dụng trong nước đối với các dự án đầu tư của tư nhân hay công cộng

5.2.4 Các chỉ tiêu sử dụng khi đánh giá một dự án

Một khi mốc thời gian thích hợp và hệ số chiết khấu đã được lựa chọn, những tính toán thực tế có thể căn cứ vào nhiều dạng công thức khác nhau Trong phần này, sẽ trình bày một số công thức thường dùng

(1) Giá trị hiện tại (Present Value - PV)

Đối với đa số các dự án, việc phân tích, kiểm tra được thực hiện bằng cách so sánh dòng lợi ích và chi phí theo thời gian (xem hình 5.2)

Hình 5.2 Sự thay đổi lợi ích, chi phí của dự án theo thời gian

Trang 17

Một vài giả thiết cơ bản về dòng tiền tệ như sau: (1) Năm khởi đầu của một dự án

có thể được gắn cho cái tên “năm 0” hay “năm 1” (thứ nhất); (2) Tất cả dòng tiền tệ (chi

phí hay lợi ích) xẩy ra vào cuối mỗi năm, có nghĩa là, bất kỳ chi phí hay lợi ích xuất

hiện trong năm sẽ được chiết khấu cho thời gian toàn năm Ví dụ, một chi phí nào đó xẩy ra vào bất cứ thời gian nào ở năm thứ 5 sẽ được chiết khấu theo thời gian 5 năm Giả thiết này sẽ dẫn tới một sai số nhỏ, bởi vì chi phí thực tế hoặc doanh thu phải được chiết khấu từ khi nó xuất hiện; (3) Mọi chi phí và lợi ích cũng được xử lý tương tự như dòng tiền tệ (Cash Flow)

Một số các ký hiệu thường được sử dụng trong các công thức tính toán

r: Tỷ lệ chiết khấu;

n: Số năm trên trục thời gian;

t: Thời gian tương ứng, thường là 1, 2, , n,

Bt: Lợi ích tại năm t,

Ct: Chi phí tại năm t (vốn, chi phí vận hành, bảo dưỡng, thay thế thiết bị), (2) Giá trị hiện tại ròng (NPV)

Công thức hay sử dụng nhất trong phân tích kinh tế là giá trị hiện tại ròng (Net

Present Value) của một dự án Đại lượng này xác định giá trị lợi nhuận ròng hiện thời khi chiết khấu dòng lợi ích và chi phí trở về với năm cơ sở bắt đầu (năm thứ nhất) Hai công thức được sử dụng:

𝑁𝑃𝑉 = ∑ 𝐵𝑡 −𝐶𝑡

(1+𝑟) 𝑡

𝑛 𝑡=0 Hoặc:

Bảng 5.2: Ví dụ về tính giá trị hiện tại ròng với r = 10%

Trang 18

Lợi nhuận 0 600 700 800 700

Giá trị hiện tại ròng = -1000 + 455 + 496 + 526 + 410 = 867$

(3) Tỷ suất lợi ích - chi phí (BCR)

𝐵𝐶𝑅 =

(1 + 𝑟)𝑡

𝑛 𝑡=0

(1 + 𝑟)𝑡

𝑛 𝑡=0

Tỷ suất lợi ích - chi phí là tỷ lệ của tổng giá trị hiện tại của lợi ích so với tổng giá trị hiện tại của chi phí

Tỷ suất này so sánh lợi ích và chi phí đã được chiết khấu Trong trường hợp này, lợi ích được xem là lợi ích thô bao gồm cả lợi ích môi trường, còn chi phí bao gồm vốn cộng với các chi phí vận hành, bảo dưỡng và thay thế cũng như những chi phí môi trường

(4) Hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR)

Hệ số hoàn vốn nội bộ k (Internal Rate of Return - IRR) được định nghĩa như là

hệ số mà qua đó giá trị hiện thời của lợi ích và chi phí là bằng nhau Hệ số k tương đương với tỷ lệ chiết khấu (r), có thể xác định bằng cách suy diễn khi thoả mãn biểu thức sau:

∑ 𝐵𝑡 − 𝐶𝑡(1 + 𝑘)𝑡

Giá trị IRR sau khi tính toán sẽ được so sánh với lãi suất về tài chính hoặc tỷ lệ chiết khấu để xem xét mức độ hấp dẫn về tài chính hoặc kinh tế của dự án

Trang 19

Để xác định IRR, người ta phải giải phương trình trên Nhưng việc giải nó nhiều khi rất phức tạp, nên người ta thường dùng phương pháp nội suy để tính IRR Cách tính như sau:

Gọi 𝑓(𝑥) = ∑ 𝐵𝑡 −𝐶𝑡

(1+𝑥) 𝑡

𝑛 𝑡=0

Ta biết rằng khi f(x) = 0 thì x = IRR;

Chọn x1 sao cho f(x1)>0 và gần bằng 0 và chọn x2 sao cho f(x2) < 0 và gần bằng

0

Rõ ràng, trong khoảng giữa x1 và x2 sẽ có 1 điểm f(x) = 0 Vì f(x1)>0 và f(x2)

< 0 và hàm f(x) là hàm liên tục

Mặc khác, f(x1)≈ 0, f(x2) ≈ 0, tức là khoảng cách từ f(x1) đến f(x2) rất ngắn Như vậy, trong khoảng x1 và x2, hàm số f(x) có thể coi là tuyến tính phương trình f(x) = ax + b có đồ thị là đường thẳng

𝐼𝑅𝑅 = 𝑥1− 𝑓(𝑥1)

𝑓(𝑥1) − 𝑓(𝑥2)(𝑥1− 𝑥2)

Hoặc:

Trang 20

𝐼𝑅𝑅 = 𝑥1+ 𝑓(𝑥1)

𝑓(𝑥1) − 𝑓(𝑥2)(𝑥2− 𝑥1)

Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) có một vai trò rất quan trọng trong việc xác định tỷ

lệ chiết khấu (r) phù hợp cho một dự án hoặc chương trình Đối với những dự án hoặc chương trình môi trường có tính dài hạn, nó lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trong nhiều trường hợp, thông qua việc xác định (IRR), người ta có thể suy đoán các chỉ tiêu khác của dự án hoặc chương trình như giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ suất lợi ích và chi phí (B/C) Mối liên hệ của 3 đại lượng này được thể hiện như sau:

Bảng 5.3 Mối quan hệ giữa ba chỉ tiêu đánh giá dự án

Trang 21

Ba đại lượng trình bày trên đều căn cứ vào giá trị hiện tại (Present Value) của dòng lợi ích và chi phí Giữa chúng có mối liên hệ khăng khít với nhau

Có vẻ như sẽ không có vấn đề gì khi sử dụng ba đại lượng trên trong việc hình thành và chọn lựa các dự án phát triển, bởi vì chúng đều sử dụng đến cùng các giá trị lợi ích và chi phí đã được chiết khấu Tuy nhiên, Gittinger (1982), khi thực hiện việc phân tích so sánh đối với 3 loại dự án:

(1) Các dự án độc lập, không bị giới hạn về chi phí

(2) Các dự án độc lập bị giới hạn chung về chi phí

(3) Các dự án có khả năng loại trừ lẫn nhau (ví dụ, hai ba dự án sử dụng chung một khu vực), đã cho kết quả trình bày trong bảng 5.4

Bảng 5.4 Bảng so sánh các đại lượng của giá trị hiện tại

Chọn mọi dự án với IRR>r

Chọn mọi dự án với B/C>1 không cần xếp hạng

Xếp hạng dự án IRR có thể dẫn tới

sự xếp hạng không đúng

Xếp hạn dự án theo B/C khi C là chi phí hạn định luôn luôn cho kết quả đúng

Chọn lựa phương

án với IRR lớn có thể dẫn tới kết quả không đúng

Chọn lựa phương án với B/C cao nhất có thể cho kết quả không đúng

Hệ số chiết

khấu

Phải sử dụng

hệ số chiết khấu thích hợp

Không cần hệ số chiết khấu

Phải sử dụng hệ số chiết khấu thích hợp

Trang 22

5.2.5 Các phương pháp lượng hóa giá trị môi trường

5.2.5.1 Phương pháp định giá trực tiếp

(1) Định giá ngẫu nhiên (CVM – Contingent Valuation Method)

CVM mô phỏng một thị trường giả định, trong đó hành vi của con người được

mô hình hoá trong một bảng phỏng vấn CVM có thể áp dụng cho cả giá trị sử dụng (ví dụ: đánh giá chất lượng nước, ngắm động vật hoang dã), hoặc giá trị phi sử dụng (giá trị tồn tại)

CVM được sử dụng để tính toán các lợi ích (giá trị) môi trường, mà lợi ích môi trường này được đo lường bằng mức sẵn lòng trả (WTP) hoặc giá sẵn lòng chấp nhận (WTA) của các cá nhân cho một hàng hoá dịch vụ Trong phương pháp này, ta trực tiếp hỏi cá nhân để biết được WTP hoặc WTA của họ

Ví dụ: Chúng ta đánh giá giá trị của một di sản thông qua mức sẵn lòng trả của

cá nhân cho việc bảo tồn di sản này Để xác định mức sẵn lòng trả (WTP) của cá nhân, chúng ta có thể trực tiếp hỏi ý kiến cá nhân: “Ông (Bà) sẵn lòng trả bao nhiêu cho hoạt động này?”

(2) Mô hình hoá lựa chọn (CM – Choice Modelling)

CM tính toán các lợi ích môi trường bằng cách thiết lập một thị trường giả định,

và lợi ích môi trường này được đo lường bằng mức sẵn lòng trả của mọi người Cách thức thực hiện: để xác định mức sẵn lòng trả, người ta đưa ra các thuộc tính khác nhau của vấn đề đang nghiên cứu, mỗi thuộc tính sẽ được chia thành nhiều mức, từ đó chúng

ta tiến hành hỏi ý kiến cá nhân để biết được lựa chọn của họ

Ví dụ: Giá trị bảo tồn của Thánh địa Mỹ Sơn được thể hiện thông qua mức sẵn lòng trả của mọi người cho việc bảo tồn Thánh địa này, để xác định mức sẵn lòng trả của cá nhân, nhà nghiên cứu có thể đưa ra một số thuộc tính: giá (phí vào cổng dành cho người nước ngoài, và phí bảo tồn dành cho người dân trong nước thông qua sự gia tăng trong thuế), kế hoạch bảo tồn, nâng cấp cơ sở hạ tầng, và sự tăng thêm các dịch vụ khác Trong đó, thuộc tính giá có thể có các mức khác nhau như: 5$, 10$, 15$, 19$ (các mức giá này ta thu được qua khảo sát phỏng vấn thử), sau đó yêu cầu đối tượng phỏng vấn lựa chọn

Trang 23

CM gồm có hai dạng thường được sử dụng là: Lựa chọn thực nghiệm (CE – Choice Experiment) và Xếp hạng ngẫu nhiên (CR – Contingent Ranking)

Chú ý: trong một phân tích, có thể sử dụng kết hợp cả CVM và CM, sau đó có thể so sánh kết quả của hai phương pháp định giá này

5.2.5.2 Phương pháp định giá gián tiếp

(1) Định giá gián tiếp sử dụng thị trường thay thế

Phương pháp này sử dụng thị trường thay thế, nghĩa là hàng hoá môi trường đang bàn đến không có thị trường cho nó, nhưng có một thị trường khác thể hiện được giá trị của nó Ta đánh giá giá trị hàng hoá môi trường thông qua việc sử dụng thị trường thay thế này

Ví dụ: đối với hàng hoá “chất lượng môi trường”, đây là loại hàng hoá không có giá thị trường Có hai ngôi nhà có vật liệu và kiến trúc tương tự nhau là (A) và (B) Ngôi nhà (A) gần bãi rác (chịu ảnh hưởng khá lớn của ô nhiễm), ngôi nhà (B) gần công viên (môi trường trong lành) Giá nhà (B) sẽ có phần cao hơn so với giá nhà (A) Chính chất lượng môi trường tạo ra sự khác biệt này Mức chênh lệch trong giá nhà (A) và (B) là

số tiền trả cho chất lượng môi trường Như vậy, chất lượng môi trường không có giá, nhưng thông qua thị trường bất động sản, ta có thể thấy được giá trị của hàng hoá “chất lượng môi trường”

Phương pháp định giá gián tiếp sử dụng thị trường thay thế có hai phương pháp chính:

(1.1) Phương pháp chi phí du hành (TCM – Travel Cost Method)

Phương pháp này dùng để đánh giá các lợi ích môi trường (hay chất lượng môi trường), mà chất lượng môi trường không có giá thị trường Xét trong mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và nhu cầu giải trí, khi chất lượng môi trường được cải thiện thì nhu cầu giải trí tăng lên Như vậy, để đánh giá lợi ích của việc cải thiện môi trường, chúng ta có thể đánh giá thông qua giá trị giải trí của hàng hoá dịch vụ môi trường Bởi

vì các chi phí cho việc giải trí có giá trên thị trường Đây chính là việc sử dụng thị trường thay thế

Trang 24

Như vậy, TCM dùng để đánh giá giá trị giải trí của một tài sản môi trường Ví dụ: khu bảo tồn sinh thái, hay một hồ nước Phương pháp này dựa trên giả định chi phí

bỏ ra để tham quan một điểm giải trí nào đó phản ánh giá sẵn lòng trả cho điểm giải trí

Ví dụ: Nghiên cứu về tác động của tiếng ồn, tiếng ồn không có giá, nhưng khi ta khảo sát thông qua thị trường nhà ở, việc người ta trả giá cho hai loại nhà, một loại nhà gần sân bay (mức độ ô nhiễm tiếng ồn cao), một loại nhà gần khu công viên (có mức

độ yên tĩnh cao) Với điều kiện về kiến trúc và các điều kiện khác của hai ngôi nhà là giống nhau, thì ta sẽ tính được sự chênh lệch trong giá của hai ngôi nhà, chênh lệch đó

do sự ô nhiễm tiếng ồn tạo ra, hay do chất lượng của môi trường yên tĩnh tạo ra

(2) Định giá gián tiếp sử dụng thị trường thông thường

(2.1) Phương pháp thay đổi năng suất (Changes In Productivity)

Phương pháp này xác định giá trị của các tác động (hay các ảnh hưởng) môi trường bằng cách đo lường thay đổi trong sản lượng sản xuất do những thay đổi môi trường gây nên Nói cách khác, chất lượng môi trường được xem như là một đầu vào của quá trình sản xuất Sản phẩm tạo ra phải được trao đổi, mua bán trên một thị trường

cụ thể, thì mới được gọi là phương pháp thay đổi năng suất, còn nếu sản phẩm làm ra

mà không bán thì không gọi là phương pháp thay đổi năng suất

Ví dụ: Việc cải thiện chất lượng nước tưới dẫn đến năng suất cây trồng tăng lên,

từ đó sản lượng tăng lên Sau đó, sản phẩm được mua bán trên thị trường Giá trị của

Trang 25

việc cải thiện chất lượng nước tưới được đo lường bằng phần giá trị sản lượng tăng lên sau khi có sự cải thiện chất lượng nước tưới so với trước khi có sự cải thiện chất lượng nước tưới cho cây trồng

5.3 Quá trình đánh giá tác động môi trường

5.3.1 Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường

Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bao gồm:

(1) Dự án có thứ tự từ mục 1 đến mục 113 Phụ lục II và Phụ lục III của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP; dự án có tên gọi khác nhưng có tính chất, quy mô tương đương các dự án có thứ tự từ mục 1 đến mục 113 Phụ lục II Nghị định số 18/2015/NĐ-CP;

(2) Dự án cải tạo, mở rộng, nâng cấp, nâng công suất của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đăng ký, xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc xác nhận bản đăng

ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc phê duyệt, xác nhận đề án bảo vệ môi trường tới mức tương đương với các đối tượng từ mục 1 đến mục 113 Phụ lục II Nghị định số 18/2015/NĐ-CP;

(3) Đối tượng quy định tại Điều 18 của Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13

Trang 26

- Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

- Dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử - văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh

đã được xếp hạng;

- Dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường

Theo nghị định 18/2015/NĐ-CP tại phụ lục II có quy định các đối tượng phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với việc thực hiện đánh giá tác động môi trường:

- Các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội; thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

- Dự án có sử dụng đất của vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển; dự án có sử dụng đất của khu di tích lịch sử – văn hóa hoặc khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng cấp quốc gia; Dự án làm mất rừng; chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng; chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa

- Các dự án về xây dựng: khu đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp, bệnh viện, khu chế xuất, trung tâm thương mại, khu du lịch, …

- Các dự án sản xuất vật liệu xây dựng: cơ sở sản xuất xi măng, gạch ngói, nguyên vật liệu xây dựng, nhựa, …

- Các dự án về giao thông: giao thông ngầm, cáp treo, đường oto, sân bay, …

- Dự án về điện tử, năng lượng, phóng xạ: nhà máy nhiệt điện, điện hạt nhân, quang điện, thủy điện, …

- Các dự án về khai thác rừng, thủy lợi, trồng trọt: công trình hồ chứa nước, tưới tiêu cấp thoát nước, khai thác rừng, …

- Các dự án về thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản: khai thác cát sỏi, thăm

dò đất khoáng sản, khai thác nước khoáng thiên nhiên, …

Trang 27

5.3.2 Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường

Một ĐTM chỉ có giá trị và phát huy được tác dụng nếu thông báo đến cơ quan

có thẩm quyền kịp thời và đầy đủ Những thông tin này được gửi đi trong một khung quy định của "báo cáo ĐTM" Tuỳ theo quy định, báo cáo ĐTM được gửi về các sở tài nguyên Môi trường, cục BVMT, vụ thẩm định và đánh giá tác động MT

Các cơ quan này sẽ tổ chức thẩm định (không trình bày ở đây) và ra quyết định Trình tự một báo cáo ĐTM gồm có các phần sau đây theo nguyên tắc chung trên thế giới là:

(1) Mở đầu

(1.1) Mục đích của việc lập báo cáo ĐTM

- Tình hình môi trường chung

- Khái quát tình hình môi trường khu vực

- Tầm quan trọng của dự án

- Tính chất quy mô của công trình

- Vấn đề bảo vệ môi trường của dự án đã đặt ra hay chưa

(1.2) Phạm vi triển khai nghiên cứu, tình hình tài liệu, số liệu

- Xác định vùng ảnh hưởng

- Quy mô và mức độ nghiên cứu

- Xác định những thành phần môi trường cần nghiên cứu

- Lựa chọn phương pháp ĐTM

- Nhu cầu về tài liệu, số liệu (nếu là công trình đang hoạt động, có thể thêm) (1.3) Khái quát hoạt động của công trình

- Khái quát quá trình hoạt động

- Quy mô công trình

- Công suất công trình

Trang 28

- Những biện pháp kỹ thuật

(2) Mô tả dự án:

(2.1) Giới thiệu chung

- Loại dự án, công trình

- Cơ quan chủ quản

- Các bên liên doanh

- Nhu cầu phát triển KT-XH

- Vốn đầu tư, thời gian hoạt động

- Hiệu quả kinh tế - kết luận

(3) Mô tả về hiện trạng môi trường

(3.1.) Về điều kiện tự nhiên, tài nguyên vật lý

Trang 29

- Về địa hình khu vực lập báo cáo ĐTM- Tài nguyên đất

- Điều kiện khí hậu - Chế độ thủy văn

- Vấn đề địa chất, địa chất công trình - Địa chấn học

(3.2.) Tài nguyên sinh vật

- Các loài cá - sinh học, thủy văn

- Đời sống hoang dã- Rừng và các loại quý hiếm

- Các khu bảo vệ, bảo tồn, cảnh quan hang động

(3.3.) Về phát triển con người và cơ sở hạ tầng

- Dân số và đời sống cộng đồng

- Các chính sách và thể chế

- Ngành nghề và xu thế phát triển

- Giao thông, quy hoạch đất đai

- Nước uống, sử dụng điện

- Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp

- Phát triển du lịch, thương mại

- Sức khoẻ cộng đồng

(4) Đánh giá tác động đến môi trường của dự án (Các chỉ tiêu để đánh giá) (4.1) Các thành phần môi trường vật lý:

- Khí quyển: Đánh giá tác động của dự án đến chất lượng không khí, đến khí hậu

và thời tiết xung quanh

- Thuỷ quyển: Tác động của dự án đến nguồn nước ( nước măt, ngầm, phân bốnước, khu vực nhạy cảm v.v )

- Thạch quyển: Tác động của dự án đến tài nguyên đất và các tài nguyên không tái tạo khác

(4.2) Các tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái;

Trang 30

- Các hệ sinh thái

- Tài nguyên sinh vật cạn

- Tài nguyên sinh vật dưới nước (thuỷ sinh)

(4.5) Đến chất lượng cuộc sống và sức khoẻ cộng đồng

- Về chất lượng cuộc sống, thu nhập bình quân

- Sức khoẻ y tế, phát triển nguồn lực

- Phát triển văn hoá, thể thao, du lịch

(4.8) Đánh giá và dự đoán tác động đến các nguồn? tài nguyên không tái tạo của quốc gia (các nguồn lực)

- Tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái, các nguồn nước, các vùng nhiên liệu, nguyên liệu, di tích lịch sử hang động, khu giải trí, khu lưu trữ, tập quán sản xuất, văn hoá, kinh tế - xã hội

(4.9) Đánh giá tổn thất chung của dự án:

Ngày đăng: 08/06/2020, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN