1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng suy thoái và phục hồi đất

153 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Suy Thoái Và Phục Hồi Đất
Người hướng dẫn Lê Đình Huy
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Tài nguyên Đất và MTNN
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 9,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng chính vì có xói mòn nên đã tạo ra các loại mẫu chất: tàn tích, sườn tích và phù sa, từ đó hình thành nên các loại đất khác nhau ở vùng đồi núi và đồng bằng.. Vì vậy trong hệ thống p

Trang 1

THUYẾT MINH ĐỀ TÀI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM Khoa Tài nguyên Đất và MTNN

BÀI GIẢNG SUY THOÁI VÀ PHỤC HỒI ĐẤT

Giảng viên: Lê Đình Huy Đơn vị: Bộ môn Quản lý Đất đai, Khoa Tài nguyên Đất và MTNN

Thừa Thiên Huế, ngày 09 tháng 09 năm 2019

Trang 2

khí hậu và tuổi địa phương

V.R.Viliam cho rằng ðất là lớp tơi xốp của vỏ lục ðịa, có ðộ dày khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng

- Tổng hợp và phân giải chất hữu cơ: Thực vật lấy thức ăn từ đất chủ yếu ở dạng

vô cơ hòa tan trong dung dịch đất Một tỷ lệ rất lớn các chất vô cơ này nhờ vi sinh vật phân giải từ các hợp chất hữu cơ, gọi là quá trình khoáng hóa chất hữu cơ Đồng thời cũng tổng hợp nên chất hữu cơ mới rất đặc biệt đó là mùn, được gọi là quá trình mùn hóa Chính mùn

là nguồn dự trữ chất dinh dưỡng rất tốt cho thực vật và vi sinh vật phát triển Đặc biệt vi sinh vật có một chức năng rất quan trọng là phân giải các hợp chất hữu cơ chứa cacbon và chứa đạm, để đảm bảo ổn định vòng tuần hoàn cacbon và vòng tuần hoàn đạm trong tự nhiên Nếu không có vi sinh vật phân giải, thì cacbon và đạm sẽ bị tích lũy vào xác hữu cơ, làm cho lượng cacbon và đạm trong tự nhiên sẽ bị cạn dần, hai nguyên tố này không còn thì cây xanh cũng sẽ chết và sự sống trên hành tinh bấy giờ sẽ bị tuyệt diệt

- Tạo nên đạm cho đất: Trong đá và khoáng không có đạm, nên trong mẫu chất hình thành đất cũng không có nguyên tố đạm, mà đạm trong đất đầu tiên là nhờ các vi sinh vật cố định đạm từ nitơ khí trời Đây là một khả năng đặc biệt chỉ có ở một số vi sinh vật,

Trang 3

chúng được gọi là vi sinh vật cố định đạm Các vi sinh vật này có thể cố định đạm tự do (như Azotobacter), hoặc cố định đạm nhờ sống cộng sinh với một số loài thực vật như: vi khuẩn Rhizobium cộng sinh với các cây họ đậu, vi khuẩn Azotobacter cộng sinh với bèo

hoa dâu, Nhờ vậy mà đất được bổ sung đạm và ngày càng màu mỡ hơn

Vai trò của thực vật

Phải nói thực vật là nguồn cung cấp chất hữu cơ chủ yếu cho đất (chiếm tới 4/5 tổng

số chất hữu cơ của đất) Nhờ khả năng quang hợp, hàng năm thực vật đã để lại cho đất hàng tấn, thậm chí hàng chục tấn chất xanh có chất lượng khác nhau tùy thuộc vào loài thực vật

Thảm thực vật khác nhau đã hình thành nên các loại đất có tính chất khác nhau Nếu thảm thực vật là đồng cỏ hay xen kẽ đồng cỏ với rừng cây lá rộng thì hình thành nên loại đất đen có hàm lượng mùn rất cao; Ngược lại dưới rừng cây lá kim đã hình thành nên phần lớn các loại đất vừa nghèo dinh dưỡng vừa chua

Vai trò của thực vật còn xúc tiến quá trình phong hóa đá tạo ra mẫu chất Rễ cây làm tăng độ tơi xốp và tăng độ phì nhiêu cho lớp đất mặt Thực vật còn có tác dụng giữ ẩm cho đất, hạn chế sự xói mòn rửa trôi các chất trong đất

Trong đó phải kể đến vai trò của giun đất Trong đất có thể có nhiều giống giun và

số lượng của chúng cũng rất nhiều Theo Russell trong 1 ha đất tốt có thể có tới 2.500.000 con giun Mỗi năm đã có một khối lượng đất rất lớn (có thể tới 34 tấn) đi qua cơ thể giun

để rồi sau đó trở nên có kết cấu viên bền vững và giàu chất hữu cơ Vì thế Đacwin đã ví giun đất là “anh thợ cày” của nhà nông

1.2.2 Khí hậu

Các yếu tố khí hậu một mặt có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hình thành và phát triển của đất, mặt khác khí hậu đã có tác động gián tiếp qua sinh vật, nên nhiều khi khó phân biệt được ảnh hưởng của hai yếu tố khí hậu và sinh vật tới đất

 Ảnh hưởng trực tiếp cụ thể là: Các yếu tố mưa (tạo ra nước), nhiệt độ, gió, đã đẩy mạnh quá trình phong hóa đá tạo ra mẫu chất

Trang 4

Nước và nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong quá trình phá hủy đá Nước còn là điều kiện tiêu quyết cho sự xói mòn rửa trôi và điều kiện cho các phản ứng hóa học và biến đổi chất hữu cơ xảy ra trong đất

Mưa nhiều đã gây ra sự rửa trôi mạnh, nhất là các ion kiềm và kiềm thổ làm cho đất trở nên chua; Mưa ít, nắng kéo dài, nước bị bốc hơi nhiều, làm cho đất trở nên khô hạn, ở những vùng đất mặn muối bốc lên làm cho cây trồng bị chết

Nước còn làm ảnh hưởng tới màu sắc của đất

 Ảnh hưởng gián tiếp là các điều kiện của khí hậu có tác dụng đẩy mạnh hay kìm hãm sự phát triển của sinh vật Ví dụ: Khí hậu ôn hòa thì sinh vật phát triển mạnh và ngược lại

Vì vậy ở mỗi đới khí hậu sẽ có những loại đất đặc thù rất riêng biệt

Cũng chính vì có xói mòn nên đã tạo ra các loại mẫu chất: tàn tích, sườn tích và phù

sa, từ đó hình thành nên các loại đất khác nhau ở vùng đồi núi và đồng bằng

Ảnh hưởng gián tiếp là ở độ cao khác nhau thì sự phân phối chế độ mưa, ẩm, nhiệt,

sẽ khác nhau, từ đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình phong hóa đá tạo ra mẫu chất, đồng thời làm cho quá trình tích lũy các chất trong đất cũng theo các chiều hướng khác nhau Độ cao khác nhau thì sự phát triển cũng như phân bố chủng loại sinh vật nói chung và thực vật nói riêng ở đó cũng khác nhau Cụ thể là: Càng lên cao thì nhiệt độ càng thấp (bình quân cứ lên cao 100m thì nhiệt độ hạ thấp 0,5 - 0,60C) và ẩm độ càng cao Do đó hệ sinh vật cũng thay đổi để thích ứng với điều kiện nhiệt độ thấp Vì vậy sự phân bố đất cũng có quy luật theo chiều thẳng đứng của độ cao địa hình Ở Việt Nam, quy luật các vành đai đất đồi núi như sau:

từ 25 đến 900 m (miền Bắc) hoặc 50 đến 1000 m (miền Nam) có đất feralit

từ 900 m hoặc 1000 m đến 1700 hoặc 1800m có đất mùn vàng đỏ trên núi

từ 1700 hoặc 1800 m đến 2800m có đất mùn alit trên núi

Trang 5

1.2.4 Đá mẹ

Các loại đất được hình thành từ đá mẹ khác nhau sẽ có thành phần cấp hạt và các tính chất lý hóa học khác nhau Sự ảnh hưởng này thể hiện rõ nhất là ở các loại đất vùng đồi núi

Nếu không có xói mòn rửa trôi thì có thể nói đá giàu nguyên tố nào cho ta đất giàu chất đó Ví dụ: Đá bazan là một loại đá kiềm giàu ôgit và fenpat, dễ phong hóa, nên hình thành loại đất đỏ có tầng đất rất dày, có tổng hàm lượng dinh dưỡng cao, phù hợp cho nhiều loại cây công nghiệp Ngược lại đất được hình thành từ đá granit lại có tầng đất mỏng, nghèo dinh dưỡng, dễ bị khô hạn Tuy vậy, trong điều kiện nhiệt đới ẩm như ở nước ta do mưa nhiều, sự xói mòn rửa trôi mạnh nên đôi khi cũng khó chứng minh được điều đó, chẳng hạn đất feralit phát triển trên đá vôi ở Ninh Bình vẫn nghèo canxi nên bị chua vì canxi đã bị rửa trôi mạnh

Vì vậy trong hệ thống phân loại đất Việt Nam từ trước đến nay người ta vẫn chia nhóm đất đồi núi ra các loại đất khác nhau dựa vào các nhóm đá mẹ, như đất feralit hình thành trên đá macma bazơ, đất feralit hình thành trên đá macma axit hoặc đất feralit hình thành trên đá cát,

1.2.5 Thời gian ( tuổi của đất)

Sự hình thành đất phải trải qua một thời gian dài, với những sự biến đổi cực kỳ phức tạp dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố Thời gian được tính từ khi đất bắt đầu được hình thành, nghĩa là từ khi sản phẩm phong hóa bắt đầu có tích lũy chất hữu cơ cho đến

hiện tại, gọi đó là tuổi tuyệt đối Tuổi tuyệt đối được tính bằng năm Người ta quy định đối

với đất đồi núi thì tính tuổi tuyệt đối từ khi mẫu chất có chất hữu cơ, còn đối với đất đồng bằng tuổi tuyệt đối được tính từ khi đất thoát khỏi ảnh hưởng của thủy triều sông, biển Thông thường người ta dùng phương pháp cacbon phóng xạ để định tuổi của mùn rồi suy ra tuổi tuyệt đối của đất Ví dụ đất Hoàng thổ của Úc theo Devrics (1958) có tuổi tuyệt đối là 32 - 42 ngàn năm

Trong thổ nhưỡng học người ta còn dùng khái niệm tuổi tương đối Tuổi tương đối

của đất là sự chênh lệch về giai đoạn phát triển của các loại đất trên cùng một lãnh thổ có tuổi tuyệt đối như nhau Nó phản ánh mức độ phát triển của đất trong những điều kiện ngoại cảnh nào đó Ví dụ đất đỏ bazan ở Phủ Quỳ được hình thành từ đá bazan là loại đá trẻ nhất

so với các loại đá macma khác, nhưng nhiều nơi đã xuất hiện kết von hay đá ong, điều này chứng tỏ đất đỏ bazan đã phát triển tới giai đoạn cao

Trang 6

1.2.6 Yếu tố con người

Từ khi con người biết khai thác sử dụng đất trồng trọt đã tác động vào đất rất sâu sắc, làm cho đất thay đổi rất nhanh chóng Sự tác động của con người vào đất có thể làm cho đất ngày càng màu mỡ hoặc thoái hóa đi

Tính chất và độ phì nhiêu của đất phụ thuộc rất lớn vào phương thức canh tác và chế

độ xã hội của con người Con người có thể nắm bắt các quy luật thiên nhiên, lợi dụng và cải tạo thiên nhiên, phát huy mặt tốt, khắc phục mặt xấu, phục vụ cho mục đích của mình Con người có thể xúc tiến sự hình thành đất trồng trọt sớm hơn; có thể cải tạo, phục hồi đất xấu thành đất tốt, nhưng cũng có thể có tác động ngược lại Một ví dụ điển hình là dưới thời nhà Nguyễn, do chủ trương của Nguyễn Công Trứ, nhân dân ta ở miền Bắc đã quai đê lấn biển, thau chua, rửa mặn để khai thác vùng đất còn chịu ảnh hưởng ngập mặn của thuỷ triều biển và đã thành lập nên 2 huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) cho đến ngày nay

Ngược lại, một số đồng bào ta sống ở miền núi có cuộc sống du canh du cư đã phát rừng làm rẫy, sau vài vụ gieo trồng đất bị kiệt quệ không cho năng suất đã bỏ đi nơi khác

Việc sử dụng và khai thác đất hợp lý hay không hợp lý còn do trình độ khoa học và chế độ chính trị xã hội quyết định Ngày nay chúng ta đề ra chủ trương sử dụng đất hợp lý

và có hiệu quả, áp dụng các biện pháp tác động tích cực vào đất để làm cho đất cung cấp nhiều sản phẩm nhất mà vẫn ngày càng nâng cao độ phì nhiêu của đất

1.3 Hình thái đất

Kết quả của quá trình hình thành và phát triển của mỗi một loại đất dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh khác nhau đã tạo ra cho đất các đặc trưng hình thái riêng biệt của

nó mà ta có thể quan sát được Các đặc trưng hình thái được thể hiện rõ nhất qua phẫu diện

đất Phẫu diện đất (profile) là lát cắt thẳng đứng từ mặt đất đi sâu vào lòng đất Quan sát

phẫu diện đất là một công việc hết sức quan trọng trong nghiên cứu đất, giúp ta sơ bộ nắm được quá trình hình thành và đánh giá tính chất của đất

1.3.1 Các tầng đất

Trong quá trình hình thành đất, các vật chất được tạo ra vì những lý do khác nhau

sẽ có sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác và được tích lũy lại ở các vị trí khác nhau Kết quả đã tạo ra các tầng đất khác nhau mà ta có thể quan sát dễ dàng Những tầng đất như

vậy người ta thường gọi là tầng phát sinh

Trang 7

Trong thổ nhưỡng học, một phẫu diện đất rừng tự nhiên (đất địa thành) thường được chia ra bốn tầng là: O, A, B, và C theo thứ tự từ mặt đất xuống sâu

Tầng O là tầng hữu cơ được hình thành từ các tàn tích hữu cơ (xác thực vật và động

vật); có thể được chia ra 2 tầng phụ là O1 và O2

O1 - là tầng hữu cơ chứa chủ yếu các tàn tích sinh vật hầu như còn nguyên vẹn O2 - là tầng hữu cơ chứa các sản phẩm bán phân giải, các tàn tích sinh vật không còn nguyên vẹn nữa

Tuy nhiên tầng O chỉ có ở đất rừng chưa khai thác, còn ở vùng đất đã được khai thác thì tầng này xem như không có, ngay cả ở trên thảo nguyên cũng vậy

Tầng A - còn gọi là tầng rửa trôi (eluvial): Tầng A có hàm lượng chất dinh dưỡng

rất cao, nhất là mùn Tuy vậy ở tầng này có rất nhiều chất bị rửa trôi xuống sâu, ngay cả sét, chính vì thế người ta gọi là tầng rửa trôi Người ta thường chia ra các tầng phụ A1, A2, A3

A1 - là tầng đất trên cùng, chứa nhiều mùn nên có màu sẫm hơn các tầng dưới A2 - là tầng có sự rửa trôi sét, sắt, nhôm và các chất hữu cơ mạnh mẽ Do đó thạch anh và các khoáng vật bền vững được giữ lại ở đây Tầng A2 thường có màu sáng hơn ở tầng A1 và tầng dưới

A3 - là tầng chuyển tiếp tầng A sang tầng B nhưng giống với tầng A2 hơn là tầng

B Đôi khi trong phẫu diện không có tầng này

Tầng B - gọi là tầng tích tụ (iluvial) Các hợp chất như oxyt sắt, nhôm, khoáng sét

bị rửa trôi từ trên xuống và được tích lũy lại ở đây Cũng có trường hợp các chất này được hình thành tại chỗ hoặc từ những tầng phía dưới đi lên (ví dụ do nước ngầm đưa lên)

Tầng B ở một số loại đất có thể được chia ra các tầng phụ B1, B2, B3

B1 - là tầng chuyển tiếp từ A sang B nhưng gần với tầng B hơn; nghĩa là bắt đầu có

sự tích lũy

B2 - là tầng đặc trưng, tích lũy nhiều khoáng sét và secquioxyt

B3 - là tầng chuyển tiếp từ tầng B sang tầng C nhưng vẫn giống tầng B hơn tầng C

Tầng C - là tầng chứa đựng mẫu chất, gồm các sản phẩm được phong hóa từ đá Tầng D - là tầng đá mẹ

Trong thực tế, các loại đất rừng đã được khai thác sử dụng vào nông nghiệp thì phẫu diện đất đã bị biến đổi đi rất nhiều Còn loại đất phù sa (đất thủy thành) thì các tầng trong

Trang 8

phẫu diện đất cũng không tuân theo đúng qui luật mô tả ở trên, nó phụ thuộc vào chế độ nước và chế độ canh tác mà phẫu diện của các loại đất khác nhau hoặc ở những vị trí khác nhau sẽ rất khác nhau Ví dụ, đặc trưng cho một phẫu diện đất lúa nước điển hình ở vùng đồng bằng thường có các tầng như sau:

Tầng Ac - tầng canh tác dày 15 - 20cm

Tầng P - tầng đế cày dày 10 - 15cm

Tầng B - tầng tích tụ có màu loang lổ, màu đỏ vàng hoặc màu nâu

Tầng G - tầng glây màu xám xanh

1.3.2 Màu sắc đất.

Màu sắc đất là dấu hiệu hay là một chỉ tiêu giúp ta phân biệt các tầng đất trong phẫu diện hoặc giữa các loại đất với nhau Màu sắc đất đã thể hiện phần nào thành phần hóa học của đất Trong thực tế người ta vẫn thường quen gọi tên đất theo màu sắc như đất đỏ vàng, đất đen, đất xám

Trong thực tế không có một loại đất nào đồng nhất một màu và luôn luôn có sự pha trộn của các màu khác nhau, trong đó có một màu là chủ đạo Màu sắc đất khá phong phú, tuy vậy nó cũng chỉ được tạo nên bởi 3 màu chính là: đen, đỏ và trắng

Màu đen chủ yếu là do mùn tạo nên Mùn càng nhiều thì đất có màu càng đen Đất

càng đen thì khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, chế độ nước, không khí và nhiệt nói chung càng tốt Tuy vậy đôi khi màu đen còn do oxyt mangan (MnO2) tạo nên, trường hợp đó thì đất không tốt

Màu đỏ của đất chủ yếu do oxyt sắt ba (Fe2O3) tạo nên Nếu oxyt sắt ngậm nước thì

có màu vàng Màu đỏ vàng của đại bộ phận đất đồi núi nước ta hoặc tầng loang lổ đỏ vàng trong phẫu diện đất đồng bằng đều do oxyt sắt và oxyt sắt ngậm nước (Fe2O3, Fe2O3.nH2O) tạo ra

Màu trắng chủ yếu là do khoáng sét (kaolinit), thạch anh (SiO2) hay canxi cacbonat (CaCO3) tạo nên Nói chung đất càng trắng chứng tỏ tỷ lệ mùn trong đất càng thấp, càng nghèo dinh dưỡng

Ở các vùng đất thừa nước (do mạch nước ngầm nông hay do nước đọng trên bề mặt như đất lúa), màu sắc đất ở đó thường có màu xanh xám rất đặc trưng Đó là màu của

Trang 9

Nâu sáng Nâu Nâu tối

FeO.nH2O do kết quả của quá trình sắt hóa trị 3 bị khử thành sắt hóa trị 2, người ta gọi là

quá trình "glây hóa"

Màu sắc của đất đậm hay nhạt còn phụ thuộc vào độ ẩm đất lúc quan sát, ẩm càng

cao màu càng đậm Chính vì lẽ này mà khi đánh giá màu của đất bằng phương pháp

FAO-UNESCO, TAXONOMY hay phát sinh học người ta cũng chú thích độ ẩm kèm theo

Trên cơ sở phối hợp giữa các màu đã cho ta nhiều loại đất có màu sắc khác nhau

Zakharốp đã xây dựng sơ đồ hình tam giác phối hợp giữa 3 màu tạo ra các loại màu sắc

khác nhau của đất, gọi là Tam giác màu Zakharốp

Hình 1 - Sơ đồ tam giác màu của Zakharốp

1.3.3 Chất xâm nhập và chất mới sinh

Trong quá trình nghiên cứu phẫu diện đất người ta có thể gặp những vật liệu khác

nhau, cần phân biệt ra 2 loại:

Đỏ

Fe2O3.nH 2 O

Trắng

SiO2 , Al2O3, CaCO3

Đen (mùn)

Hung

Hạt dẻ sáng

Da cam

Trang 10

Chất xâm nhập là các chất (hoặc vật liệu) mà không có nguồn gốc từ quá trình hình

thành và phát triển của đất tạo ra, còn được gọi là chất lẫn vào Ví dụ: mảnh sành, gạch vụn

Chất mới sinh là các chất (hoặc vật liệu) được sinh ra có nguồn gốc (hay là kết quả)

của quá trình hình thành và phát triển của đất Dựa vào nguồn gốc hình thành người ta chia các chất mới sinh ra:

Chất mới sinh có nguồn gốc hóa học như các oxyt sắt, mangan (kết von, đá ong); các muối tan (NaCl, CaCO3 );

Chất mới sinh có nguồn gốc sinh học như phân giun, tổ mối,

Trên cơ sở chất mới sinh ta mới có thể sơ bộ nhận định được quá trình xảy ra trong đất và tính chất đất, ví dụ gặp kết von sắt ta biết được đất đã có quá trình tích lũy sắt Nếu gặp muối trắng ở lớp mặt, ta biết đất bị nhiễm mặn; v.v

Trang 11

CHƯƠNG 2 ĐẶC TÍNH VÀ PHÂN BỐ CÁC NHÓM ĐẤT CHÍNH Ở VIỆT NAM

2.1 Đất đồi núi Việt Nam

Đất vùng đồi núi nước ta có diện tích khoảng 26,5 triệu ha (chiếm khoảng 4/5 diện tích

tự nhiên của cả nước), phân bố rất phức tạp suốt từ Bắc vào Nam đã tạo nên các điều kiện

tự nhiên hết sức phong phú và đa dạng Các yếu tố hình thành đất thay đổi theo từng vùng thể hiện rõ nhất về các mặt đá mẹ, địa hình, khí hậu và thảm thực vật Mặt khác vùng đồi núi nước ta đã có những tác động sâu sắc của con người Nhưng tác động tiêu cực như khai thác rừng bừa bãi, đốt phá rừng làm nương rẫy, không thực hiện tốt các biện pháp chống xói mòn đất đã làm cho nhiều diện tích đất vùng đồi núi bị thoái hóa nghiêm trọng Theo tính toán của một số nhà khoa học đất Việt Nam, vùng đồi núi nước ta hiện nay có trên 13

triệu ha đất “có vấn đề” (xói mòn trơ sỏi đá, thoái hóa sản xuất không có hiệu quả, đất

trống đồi núi trọc)

Tuy nhiên có nhiều loại đất qúy có thể trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, một số cây đặc sản, cho năng suất cao và phẩm chất tốt Để khai thác đất đồi núi và sử dụng có hiệu quả, đòi hỏi phải nắm vững đặc tính, tính chất đất để có biện pháp kỹ thuật tác động hợp lý nhằm thu được hiệu quả kinh tế cao, lại vừa bồi dưỡng và không gây thoái hóa đất

2.1.1 Điều kiện hình thành

Đất đồi núi việt nam được hình thành cũng chịu tác động tổng hợp của 6 yếu tố hình

thành đất nói chung, tuy nhiên nổi bật nhất là các yếu tố địa hình, đá mẹ, thảm thực vật rừng và khí hậu

a Địa hình:

Địa hình vùng đồi núi, cao nguyên nhìn chung là cao, dốc và bị chia cắt nhiều, do đó ảnh hưởng rất lớn tới chế độ nước của đất Về mùa mưa thì làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh, nhiều nơi đất mất cả tầng mặt, thậm chí cả tầng dưới, chỉ còn trơ ra tầng đá và không còn khả năng sản xuất nữa

Ngược lại, về mùa khô thì không có nước ngầm nên bị khô hạn nghiêm trọng, nhiều khi thiếu nước cho sinh hoạt của con người và nước uống của gia súc

Chiều hướng hình thành đất vùng đồi núi phụ thuộc vào độ cao tuyệt đối của địa hình:

- Độ cao từ 25-900m (ở miền Bắc) và từ 50-1.000m (ở miền Nam) đã hình thành vành đai đất vàng đỏ

- Độ cao từ 900 (ở miền Bắc) hoặc1.000m (ở miền Nam) lên tới 1.700 (ở miền Bắc) hoặc1.800m (ở miền Nam) hình thành nên vành đai đất mùn vàng đỏ trên núi

- Độ cao từ 1.700 (ở miền Bắc) hoặc1.800m (ở miền Nam) lên tới 2.800m hình thành nên loại đất mùn Alit trên núi

- Độ cao trên 2.800m hình thành loại đất mùn thô trên núi cao

Mặt khác, địa hình cũng ảnh hưởng tới khí hậu như: Phân phối nhiệt lượng, độ ẩm, hướng gió, tốc độ gió, Ngay trong một vùng nhỏ, địa hình khác nhau đã tạo nên tiểu khí hậu khác nhau (như ở thung lũng khác với ở sườn và đỉnh núi) Từ đó ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của sinh vật (chủ yếu là thực vật) tạo nên thảm thực vật khác nhau và ảnh hưởng tới đất đai

Địa hình phức tạp, núi non hiểm trở hoặc độ dốc lớn cũng gây nên khó khăn, trở ngại lớn cho việc giao thông đi lại, cơ giới hóa khi làm đất

Tuy nhiên địa hình khác nhau cũng tạo nên những mặt lợi nhất định:

- Tạo nên nhiều thác nước, sông suối chảy xiết có thể xây dựng được các trạm thủy điện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống

Trang 12

- Có thể đắp đập, ngăn sông suối tạo nên những hồ lớn chứa nước dự trữ cho các vùng đồng bằng vào mùa khô

- Địa hình khác nhau tạo nên những tiểu vùng khí hậu mang tính chất cận nhiệt và

ôn đới cho phép trồng được các loại cây đặc sản có giá trị

b Đá mẹ:

Vùng đồi núi nước ta có lịch sử địa chất lâu đời, với một tập đoàn đá mẹ phong phú, ngay trên một vùng các loại đá mẹ có thể nằm xen kẽ nhau nên đã hình thành các loại đất khác nhau

Ở Việt Nam, các loại đá mẹ khác nhau đã hình thành nên các loại đất khác nhau rất

rõ rệt, có thể chia thành các nhóm sau:

- Đá macma siêu axit và macma axit: có tỷ lệ SiO2 > 65% đã hình thành loại đất feralit vàng đỏ, tầng mỏng, nghèo dinh dưỡng, thành phần cơ giới nhẹ

- Đá macma bazơ và macma trung tính: tạo nên các loại đất nâu đỏ, nâu tím, nâu

vàng có tầng dày, thành phần cơ giới nặng, hàm lượng sét cao và giàu lân

- Đá vôi: Tạo nên đất đỏ nâu, thành phần cơ giới nặng và tầng dày

- Đá sét và đá biến chất: tạo nên đất đỏ vàng, thành phần cơ giới trung bình - nặng,

tầng đất dày

- Đá cát: tạo nên đất vàng nhạt, xám vàng, tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ

và nghèo dinh dưỡng

Yếu tố nóng ẩm đã làm cho quá trình phân hủy đá và khoáng diễn ra nhanh chóng, triệt để là tiền đề cho việc tạo ra tầng đất dày Đồng thời khí hậu nóng ẩm là điều kiện tốt cho thảm thực vật xanh tốt quanh năm, bổ sung nguồn chất hữu cơ cho đất

Trái lại, do mưa nhiều và tập trung theo mùa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành đất do gây ra xói mòn và rửa trôi nghiêm trọng

2.1.2 Qúa trình hình thành

Do nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên quá trình hình thành đất

đồi núi chủ yếu là quá trình tích lũy Fe, Al

Quá trình tích lũy Fe, Al được các nhà nghiên cứu Thổ nhưỡng học nhiệt đới chia làm 2 quá trình: Quá trình tích lũy Fe, Al tuyệt đối và quá trình tích lũy Fe, Al tương đối

a Quá trình tích lũy Fe, Al tuyệt đối:

Trang 13

Fe, Al có nguồn gốc từ trong bản thân đất và từ nhiều nơi khác được di chuyển tới rồi tích lũy lại trong đất Kết quả của sự tích lũy đó đã hình thành nên các loại kết von và

đá ong trong đất

Con đường vận chuyển Fe, Al có thể đi từ trên xuống và từ dưới lên theo sự bốc hơi của nước ngầm có chứa Fe, Al hoặc di chuyển theo mạch ngang

 Quá trình tạo đá ong:

Theo hình dạng, người ta phân ra làm 3 loại đá ong: đá ong tổ ong, đá ong hạt đậu

và đá ong phiến

Về mùa mưa do nhiệt độ cao, môi trường đất chua nên các chất Fe bị hòa tan trong nước dưới dạng oxyt và hydroxyt Fe hóa trị 2, rồi trôi xuống nước ngầm Đến mùa khô nước ngầm theo khe mao quản bốc lên tầng mặt đất, rồi bị oxy hóa thành oxyt và hydroxyt

Fe hóa trị 3 kết tủa lại thành vệt sắt Các vệt sắt này được tích lũy rồi lớn dần lên và nhiều

ra nối liền lại với nhau làm thành một mạng lưới dày đặc, bao bọc ở giữa nhiều ổ keo Kaolinit (Al2O3.2SiO2.2H2O) hoặc các chất khác Khi ở dưới đất, đá ong còn mềm, khi lộ trần ra ngoài mặt đất các vệt oxyt Fe bị oxy hóa thêm và bị khử nước, nên tiếp tục kết tinh

cứng rắn lại, các ổ kaolinit mềm nên bị ăn mòn đi để lại những lỗ như tổ ong gọi là “đá ong tổ ong”

* Đá ong tổ ong: thường phổ biến ở các vùng đồi núi thấp tiếp giáp với đồng bằng

Đồi càng trọc, càng trơ trụi thì đá ong càng nhiều và càng nông, thậm chí tạo thành các bãi

đá ong lộ thiên

Càng lên cao trên núi, địa hình dốc, nước ngầm không tích lũy được nên không có

đá ong Ở vùng đồng bằng tuy nước ngầm có chứa Fe nhưng thường xuyên có nước trên

bề mặt nên hạn chế sự bốc hơi của nước ngầm, đá ong khó hình thành

* Đá ong hạt đậu: gồm nhniều hạt kết von Fe, Al, Mn hình tròn như hạt đậu gắn kết

với nhau, đá ong hạt đậu thường được hình thành ở những vùng đồi núi đá vôi hoặc nước ngầm chứa vôi, khi Fe gặp môi trường trung tính hay kiềm sẽ kết tủa lại rồi lâu ngày gắn kết lại tạo thành đá ong hạt đậu

* Đá ong dạng phiến: trong trường hợp nhiều lớp sắt chồng chất lên nhau thì tạo ra

đá ong dạng phiến Loại này thường ít gặp và nguyên nhân chưa rõ

 Quá trình kết von:

Về cơ chế hình thành cũng do hợp chất Fe hóa trị 2 oxi hóa thành hợp chất hóa trị 3, nhưng nguồn gốc không chỉ từ nước ngầm, mà có thể ngay từ dung dịch đất, vì đất vùng nhiệt đới ẩm (như đất Việt Nam) vốn dĩ chứa nhiều Fe do quá trình tích lũy Fe, Al chi phối chủ yếu trong quá trình hình thành đất

Theo hình dạng và nguyên nhân hình thành, kết von ở Việt Nam thường có các dạng sau: kết von tròn, kết von ống, kết von giả và kết von dạng khác

* Kết von tròn: Thường có nhân ở giữa, Fe làm thành những vòng tròn đồng tâm

bao quanh nhân Fe kết tủa ở đây là từ dung dịch đất, ít có liên quan tới nước ngầm Ở đất chua thì kết von tròn chủ yếu là Fe, còn ở đất ít chua, đất đá vôi thì ngoài Fe ra còn có Mn nên hơi mềm và có màu đen đến nâu đen

* Kết von ống: Thường gặp ở đất cát biển, đất phù sa cổ chua, do Fe ngưng tụ quanh

các thân, cành cây nhỏ vùi trong đất, sau đó thân cây bị mục nát đi làm cho kết von có dạng ống rỗng

* Kết von giả: Những mảnh vụn của đá mẹ hay khoáng vật nguyên sinh chưa bị

phong hóa bị các oxit Fe bao bọc xung quanh một màng mỏng, khi đập vỡ ra mới thấy đá

và khoáng là chủ yếu Loại này thường gặp ở đất Feralit vùng trung du

Trang 14

* Kết von dạng khác: Tùy theo hình dạng rễ cây, cành cây mà oxit Fe bao bọc tạo

ra kết von có nhiều hình thù khác nhau như: hình củ gừng, hình gạc nai,

 Anh hưởng của đá ong và kết von đối với đất và cây trồng:

Đá ong và kết von nhiều sẽ làm cho đất dí chặt, cằn cỗi, đất chua, tầng canh tác mỏng, nghèo dinh dưỡng Lân bị giữ chặt ở dạng khó tiêu, đất bị ngăn cách với mực nước ngầm nên thường xuyên khô hạn Nếu tầng đá ong mà tiến sát lên mặt đất thì mất hẳn tầng canh tác, cây trồng không thể sử dụng được

Nếu kết von còn ít từ 10-15% và ở sâu thì chưa ảnh hưởng lớn, thậm chí một số cây lại mọc tốt trên loại đất này (như cây dứa)

Để khống chế việc tạo thành đá ong và sự trồi lên tầng mặt, biện pháp chủ yếu là hạn chế sự bốc hơi của nước ngầm vào mùa khô

Biện pháp cụ thể là không để đất trống, đồi núi trọc, trồng cây che phủ đất, tưới nước giữ ẩm cho đất

b Quá trình tích lũy Fe, Al tương đối (còn gọi là quá trình Feralit):

Quá trình tích lũy Fe, Al tương đối là một quá trình điển hình của đất nhiệt đới nóng

ẩm Trong điều kiện mưa nhiều, nhiệt độ cao, các khoáng vật Aluminosilicat và Ferosilicat

bị phá hủy mạnh mẽ tạo ra các oxit: SiO2, Al2O3, Fe2O3 Các oxit Fe, Al khi ẩm thì ngưng

tụ và kết tinh thành các oxit ngậm nước: Fe2O3.nH2O (Limonit), Al2O3.nH2O (Boxit), còn SiO2 thì bị thủy phân thành H2SiO3 bị rửa trôi cùng với các cation kiềm và kiềm thổ khác

R2O3 cũng bị rửa trôi nhưng ít hơn làm cho tỷ lệ Fe và Al trong đất tăng lên Có thể gọi đó

là sự tích lũy tương đối

Bảng 38 - Thành phần hoá học của đá bazan và đất feralit hình thành trên đá bazan Loại SiO 2 (%) CaO (%) MgO(%) Al 2 O 3 (%) Fe 2 O 3 (%)

Vì thế người ta thường dựa vào tỷ lệ SiO2/Al2O3, SiO2/Fe2O3 để đánh giá cường độ quá trình Feralit Nếu các trị số này càng bé thì quá trình Feralit càng mạnh

Tóm lại: Quá trình Ferralit là quá trình tích lũy Fe,Al tương đối đồng thời với quá

trình rửa trôi Si, các cation kiềm, kiềm thổ trong đất Quá trình Feralit đã tạo ra đất Feralit

* Các đặc điểm chính của đất Feralit:

- Không có tầng thảm mục hoặc nếu có thì cũng rất mỏng

- Trong khoáng sét thì Kaolinit chiếm ưu thế

- Dung tích hấp phụ thấp (T= S + H) vì cation kiềm S bị rửa trôi mạnh

- Hạt kết được gắn bởi cầu nối R2O3 nên khá bền, chính vì thế tạo cho đất đồi núi tơi xốp va có kết cấu tốt

- Trong mùn thì axit fulvic nhiều hơn axit humic, vì thế tỷ lệ axit humic/axit fulvic < 1

* Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh tới cường độ quá trình feralit:

- Ảnh hưởng của độ cao tuyệt đối (độ cao so với mặt nước biển): Càng lên cao thì

khí hậu càng lạnh và ẩm hơn so với vùng thấp đã làm thay đổi sinh vật cũng như quá trình

Trang 15

hình thành đất, do đó quá trình feralit giảm Quá trình feralit xay ra ở độ cao 25-900m (ở miền Bắc) và 50-1000m (ở miền Nam)

- Anh hưởng của địa hình: Địa hình dốc, dễ thoát nước sẽ đẩy mạnh quá trình feralit

Tuy nhiên nếu ở nơi đó mà thực vật vật mọc tốt, đá mẹ vụn bở, dễ phong hóa, giải phóng canxi nhiều, đất ít chua hoặc trung tính thì quá trình feralit yếu Địa hình trũng, khó thoát nước, đất có màu đen, tích lũy nhiều canxi thì quá trình feralit yếu hoặc không xẩy ra

- Anh hưởng của đá mẹ: Đá mẹ cứng rắn, nhiều silic, hoặc đá mẹ giàu Ca, Mg, Fe,

Al (như đá bazan, đá spilit) nhưng hình thành nơi địa hình dốc, dễ rửa trôi thì tỷ lệ Fe, Al

sẽ tăng nhanh nên quá trình feralit mạnh

- Anh hưởng của thảm thực vật rừng: Thảm thực vật thưa thớt thì sự rửa trôi càng

mạnh nên quá trình feralit tăng lên

2.1.3 Một số loại đất đồi núi điển hình

Theo bảng phân loại đất Việt Nam năm 1996 của Hội Khoa học đất Việt Nam vùng

đồi núi Việt Nam có những nhóm đất và một số đơn vị đất chính là: Đất đá bọt, đất đen, đất nâu bán khô hạn, đất tích vôi, đất Podzolie, đất xám, đất đỏ đất mùn alit núi cao và đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá Trong đó nhóm đất xám và nhóm đất đỏ có diện tích khá lớn

Sau đây là phần mô tả đất theo nhóm và đơn vị:

I NHÓM ĐẤT ĐÁ BỌT (RK) - Andosols (An)

Diện tích toàn nhóm:171.402 ha, chiếm tỷ lệ 0,5% diện tích toàn quốc

1 Về đơn vị và phân bố:

Đất đá bọt được phân thành 2 đơn vị là:

- Đất đá bọt - Ký hiệu là: RK - Haplic Andosols - ANh

- Đất đá bọt mùn - Ký hiệu là: Rkh - Mollic Andosols - ANm

Nhưng chỉ có 1 đơn vị là đất đá bọt điển hình, phân bố rõ rệt nhất ở vùng Định Đồng Nai

Quán-Đất đá bọt hình thành trong điều kiện đặc biệt chung quanh hoặc sát miệng núi lửa cũ phun trào bazan, vì vậy chỉ tập trung ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

1 Hình thành và phân loại

Đất hình thành trên đá bọt bazan, là loại đá macma bazơ điển hình có cấu tạo xốp, nhiều lỗ hổng, nhẹ và rất dễ bị phá hủy Hàm lượng các chất kiềm trong đá cao, riêng (CaO% + MgO% trên dưới 20%) Quá trình phá hủy đá giải phóng nhiều Ca, Mg được tích lũy ở địa hình thuận lợi cùng với các tàn tích hữu cơ tạo thành màu đen của đất Theo Castagnol (1934) và Fritland (1964) thì màu đen ở đây còn do sự có mặt của manhêtit (vì vậy trong phân loại theo phát sinh có tên là đất đen trên đá bọt bazan) Trong phẫu diện thường lẫn nhiều mảnh đá bazan dạng lỗ hổng hoặc đá bọt Tầng đất mỏng, nhiều đá lộ đầu, phẫu diện

có cấu tạo của tầng A và tầng C)

Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000 nhóm đất này chỉ có một đơn vị điển hình là đất đá bọt điển hình có tên theo FAO-UNESCO là Haplic Andosols (ANh)

2 Tính chất

a Cấu tạo phẫu diện

Đại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện DQ 09 đào tại ấp 2 xã Phú Hoa, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, địa hình núi thấp, cạnh miệng núi lửa, độ dốc > 40O, độ cao 200m,

có đá lộ đầu và trồng nhiều loại cây như đậu tương, thuốc lá, chuối, đu đủ, ngô

0 - 20cm: Nâu đen (10YR 2/2M), thịt pha sét lẫn nhiều mảng đá bọt bazan bán phong hóa (kích thước thay đổi từ 1 - 10cm, chiếm khoảng 65% thể tích), chuyển lớn từ từ về màu sắc và độ chặt

Trang 16

20 - > 70cm: Màu nâu thẫm (5YR 4/5M), thịt pha sét, nhiều mảnh đá bọt bazan bán phong hóa (khoảng 80% thể tích), kết cấu viên, ẩm, ít chặt, rất xốp, ít rễ cây (2 -3 % thể tích)

Như vậy đất trên đá bọt có tầng đất hữu hiệu mỏng, do bị hạn chế bởi tỷ lệ mảnh đá cao (> 80%)

6.7 5.6 Tổng số (%)

1.21 0.10 0.62 0.96

8.40 12.35 Cation trong đất

24.9 6.9 2.00 0.96 39.28

23.2 9.28 1.88 2.60 37.35

Tỷ lệ %

cấp hạt

> 0.05mm 0.05 - 0.002mm

< 0.002mm

39.8 51.9 8.3

60.7 24.9 14.4

Số liệu bảng trên cho thấy: Đất lẫn đá bọt và có nơi cả đá mẹ bazan phong hóa yếu, nhược điểm lẫn đá có khi trên 40-50% Đất có màu nâu thẫm, tầng mặt giàu mùn, độ xốp khá cao, CEC khá, V% cao, trong thành phần CEC thì Ca2+, Mg2+ cao, đất có pH trung tính hoặc ít chua, hàm lượng P2O5 và K2O tổng số và dễ tiêu ở mức trung bình và khá, sét có chiều hướng tăng theo độ sâu

c Về tính thích nghi và hướng sử dụng:

Trồng các cây nông nghiệp ngắn ngày hoặc cây lâm nghiệp Ở đây là vùng trồng ngô và

đỗ tương rất tốt Đây là hướng sử dụng phù hợp, nếu được tăng cường giống mới và những loại đậu đỗ giá trị cao sẽ có hiệu quả khá cao và phục vụ làm thức ăn gia súc Chú ý chống xói mòn

II NHÓM ĐẤT ĐEN (R) - Luvisols (LV)

Diện tích toàn nhóm: 112.939 ha, chiếm 0,34% diện tích toàn quốc (chưa thống kê được những diện tích hẹp phân bố xen kẽ)

Phân bố: Gặp ở các tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Hòa Bình, Hà Giang, Nghệ An, Gia Lai

1 Hình thành và phân loại

Theo phân loại hiện nay có 5 đơn vị đất (trong đó 2 đơn vị đất chiếm diện tích lớn nhất là: Đất đen cacbonat và Đất nâu thẫm trên bazan):

- Đất đen có tầng kết von dày - Ký hiệu là: Rf - Ferric Luvisols - LVf

- Đất đen glây - Ký hiệu là: Rg - Gleyic Luvisols - LVg

- Đất đen cacbonat - Ký hiệu là: Rv - Calcic Luvisols - LVk

Trang 17

- Đất nâu thẫm trên bazan - Ký hiệu là: Ru - Chromic Luvisols - LVx

- Đất đen tầng mỏng - Ký hiệu là: Rq - Lithic Luvisols - LVq

Hai đơn vị: Đất đen cacbonat và Đất nâu thẫm trên bazan phân bố trong hoàn cảnh khác nhau gắn với các khối đá vôi hoặc bazan (có cả andezit, pocfirit) Đất do sản phẩm của đá vôi thường ở địa hình bằng hơn tập trung ở các vùng Ninh bình, Hòa Bình, Thanh Hóa, Cao Bằng,

Là nhóm đất hình thành trong hoàn cảnh bão hòa bazơ hoặc sản phẩm phong hóa tại chỗ trong hoàn cảnh tốc độ khử kiềm chậm hơn tốc độ phong hóa ở vùng đá mẹ bazan, đá vôi, hoặc trong hoàn cảnh địa hình thấp được tập trung nước cacbonat (thung lũng vùng

đá vôi)

Đất đen được hình thành ở những nơi có địa hình thuận lợi cho sự tích lũy các chất kiềm và các chất hữu cơ, vì vậy thường gặp ở vùng chân các dãy núi đá vôi, các đá giàu chất kiềm như đá bazơ và siêu bazơ

2 Tính chất đất đen

Phần này chỉ mô tả tính chất đất đen cacbonat Đất được hình thành trên sản phẩm phá hủy của đá vôi, gặp chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như Sơn La, Lai châu, Cao Bằng, Hà Giang, Nghệ An

a Cấu tạo phẫu diện

Phẫu diện C28 đào tại bản Nà Vường, xã Độc Lập, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng, đất trồng ngô, đậu tương Tầng đất mặt màu đen hoặc xám đen

0 - 22cm: Xám đen hơi nâu (5YR 1/4M), hơi ẩm, viên nhỏ, thịt trung bình pha cát, nhiều

rễ cỏ và rễ ngô, có ít mảnh đá vôi đường kính 10 - 20cm, chuyển lớp từ từ theo màu sắc

22 - 37cm: Nâu thẫm (5YR 4/4M), viên nhỏ, thịt trung bình pha cát, hơi ẩm, còn nhiều

rễ ngô, nhiều mảnh đá mẹ đang phong hóa, chuyển lớp từ từ

37 - 60cm: Nâu sẫm (5YR 4/4M), ẩm, kết cấu viên, tơi xốp, thịt trung bình pha cát, nhiều

mảnh đá mẹ đang phong hóa

60 - 120cm: Nâu sẫm (5YR 4/4M), ẩm, thịt trung bình pha cát, kết cấu viên, nhiều mảnh

đá vôi đang phong hóa

b Tính chất đất

Một số tính chất lý hóa học của đất đen cacbonat được trình bày ở bảng sau:

Bảng 40 - Kết quả phân tích lý hóa học P.D C28

8.0 7.6

8.0 7.6

0.72 0.07 0.09 0.83

0.65 0.05 0.07 0.75 CEC

(lđl/100g)

Ca2+

Mg2+

10.4 4.2

6.2 2.9

6.8 3.7

Thành phần cơ giới

(%)

> 0.05mm 0.05 - 0.002mm

Trang 18

< 0.002mm 12 18 20 Tổng hợp kết quả nghiên cứu đất đen ở nhiều địa phương cho thấy: Đất có phản ứng trung tính hoặc kiềm yếu, bão hòa bazơ, màu đen hoặc nâu thẫm, hàm lượng chất hữu cơ trong tầng đất mặt rất cao, mùn từ 7 - 8% Hàm lượng đạm và lân tổng số trung bình và khá Đất có phản ứng trung tính và hơi kiềm Thành phần cơ giới trung bình và nặng Đất thường có kết cấu viên tơi xốp, ở các tầng phía dưới có thể gặp kết von CaCO3 thứ sinh Riêng đất đen cacbonat ở địa hình thấp thoát nước không tốt, thường xuất hiện glây ở tầng dưới và lượng Ca2+, Mg2+ khá cao

Đây là nhóm đất có chất lượng khá nhưng phải khắc phục một số nhược điểm thường gặp phải như úng và mức độ lẫn đá tầng mỏng ở một số nơi

c Về tính thích nghi và hướng sử dụng:

Đất thường khô hạn nên chủ yếu thích hợp trồng các cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn, các cây công nghiệp như mía, bông, các loại đậu đỗ và các loại cây ăn quả Ở địa hình bằng thoát nước kém nếu có đủ nước có thể cấy lúa Chú ý sử dụng các dạng phân bón phù hợp trong môi trường trung tính và kiềm, giàu Ca2+, Mg2+

III NHÓM ĐẤT NÂU (XK) - Lixisols (LX)

Diện tích toàn nhóm: 42.330 ha, chiếm tỷ lệ 0,12% diện tích toàn quốc

Phân bố: Gặp chủ yếu ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận

1 Hình thành và phân loại

Đất nâu được chia thành 3 đơn vị là:

- Đất nâu vùng bán khô hạn - Ký hiệu là: XK - Haplic Lixisols - LXh

- Đất đỏ vùng bán khô hạn - Ký hiệu là: XKđ - Chromic Lixisols - LXx

- Đất nâu vàng vùng khác - Ký hiệu là: XKh - Haplic Luvisols - LVh trong đó chủ yếu là đất nâu vùng bán khô hạn chiếm diện tích đến 95% diện tích của nhóm Đất thường trên sản phẩm của phù sa cổ hoặc đá mẹ giàu thạch anh

Trước đây có tên là đất nâu vùng bán khô hạn Nhóm đất này hình thành trong hoàn cảnh đặc biệt ở vùng khí hậu khô của Việt Nam tại 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận

Ở đây lượng mưa thấp hơn lượng bốc hơi; mức độ rửa trôi, xói mòn yếu Do địa hình đặc biệt, chung quanh được bao bọc bởi các dãy núi nên tuy gần biển nhưng lượng mưa hàng năm thấp từ 600 - 1200mm, số ngày mưa trong năm 50 - 70 ngày Mùa khô kéo dài

từ 6 - 9 tháng, lượng bốc hơi cao hơn hẳn lượng mưa (thường lớn hơn 1500mm) làm cho đất thường xuyên khô hạn Quá trình rửa trôi, xói mòn các chất rất ít xảy ra, các chất kiềm, sắt, nhôm được tích lũy trong đất làm cho đất có màu nâu vàng Đá mẹ chủ yếu là Granit, thứ đến là Anđêzit và mẫu chất phù sa cổ Thảm thực vật tự nhiên đặc trưng cho vùng bán khô hạn gồm các trảng cỏ, cây bụi, rừng thưa với các cây thân gai như cây chim chích, các cây họ dầu

Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000, nhóm đất này có 2 đơn vị đất là: đất nâu vùng bán khô hạn (XK) - Haplic Lixisols (LXh) và đất đỏ vùng bán khô hạn (XKd) - Chromic Lixisols (LXx)

Trang 19

45 - 95cm: Màu vàng nâu (10YR 6/4M), thịt pha sét có cát, khối tảng lớn, ít chặt hơn tầng trên, nhiều vảy mica và lẫn hạt thạch anh, có màng sét màu xanh (5Y5/1M)

95 - 140cm: Màu nâu vàng (10YR 6/4M), đất sét pha cát, không dẻo, không dính, ít chặt hơn tầng trên

Đất có phản ứng hơi chua ở tầng mặt; các tầng dưới có phản ứng kiềm yếu Các chất dinh dưỡng như mùn %, N%, P2O5%, K2O trung bình và nghèo, K2O trao đổi khá, P2O5 dễ tiêu rất cao, độ no bazơ cao, thường thiếu nước vào mùa khô nếu không có biện pháp bảo

7.47 6.15

8.15 6.47

8.30 7.30

0.91 0.11 0.06 0.58

0.19 0.03 0.04 0.65

0.10

0 0.04 0.50

21.35 31.3

7.95 32.1

11.12 17.3 CEC

10.30 4.30 0.16

9.46 5.26 0.10

10.48 5.10 0.10

< 0.002mm

37.4 37.0 25.6

28.8 37.2 34.0

25.0 40.4 34.6

25.6 40.6 33.8

3 Về tính thích nghi và hướng sử dụng:

Đất thích hợp với nhiều loại cây trồng, với độ pH trung tính hoặc ít chua Hiện tại đất chủ yếu trồng cây trồng cạn, nếu giải quyết đủ nước tưới thì có thể trồng lúa nước Cây bông rất thích hợp với vùng này nếu giải quyết được nước tưới, ngoài bông ra thì đậu đỗ cũng phát triển tốt

Đây là vùng ít mưa nhất, đất thường thiếu nước vào mùa khô, vì vậy cần áp dụng mọi biện pháp giữ ẩm cho đất, xây dựng hệ thống thủy lợi ở vùng đồng bằng và phủ xanh ở vùng đồi trọc

IV NHÓM ĐẤT TÍCH VÔI (V) - Calcisols (CL)

Trước đây gọi là đất đen cacbonat Đất chiếm diện tích ít Toàn nhóm có 5.527 ha, chiếm tỷ lệ 0,016% so với diện tích cả nước

Phân bố: Đất phân bố chủ yếu ở vùng đá vôi Cao Bằng như Hà Quảng, Quảng Hòa, Hà Giang, Sơn La Nhóm này hình thành ở các vùng núi đá vôi hoặc trên sản phẩm phong hóa tại chỗ hoặc trên sản phẩm dốc tụ

1 Hình thành và phân loại

Đất được hình thành ở thung lũng đá vôi, nguồn canxi thường xuyên được cung cấp

do quá trình phong hóa học được tích lũy trong đất ở dạng kết von trứng cá hoặc tyf vôi, nếu nhỏ HCl 10% đất sủi bọt

Trong phân loại hiện nay, nhóm đất tích vôi được chia ra 2 đơn vị là:

Trang 20

- Đất vàng tích vôi - Ký hiệu là: V - Haplic Calcisols - CLh

- Đất nâu thẫm tích vôi - Ký hiệu là: Vu - Luvic Calcisols - CLl

Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000 nhóm đất này có một đơn vị là đất tích vôi (Vu) Haplic Calcisols (CLh)

2 Tính chất đất

a Cấu tạo phẫu diện

Minh họa cho đơn vị đất nâu thẫm tích vôi là phẫu diện C18 đào tại cánh đồng Bơ Lùng, xã Hồng Định, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng Địa hình thung lũng khá bằng phẳng Đất trồng ngô Lớp đất trên mặt đã gặp các ổ kết von CaCO3 thứ sinh, sủi bọt mạnh với HCl 10%

0 - 20cm: Màu vàng nhạt (2,5YR 7/4M), kết cấu cục, có nhiều rễ ngô, có một số kết von Fe, Mn đường kính 5 - 10mm và ít ổ kết von CaCO3 chuyển lớp rõ về mức độ kết von

20 - 40cm: Màu vàng (2,5YR 7/6M), kết von Mn khoảng 10%, sét, cục, có ít rễ ngô, nhiều ổ kết von CaCO3, chuyển lớp rõ về màu sắc và kết von

40 - 78cm: Màu nâu vàng (10YR 7/6M), ít chặt, sét, tỷ lệ kết von giảm, ẩm, kết cấu cục, chuyển lớp từ từ về màu sắc

78 - 120cm: Màu vàng sẫm (10 YR M), có ít kết von Fe, Mn, nhiều vệt vôi, sét, cục

7.8 7.0

7.2 7.0

7.4 7.0

43

15.4 0.4

38

13.9 0.1

138

12.0 0.3

3 Về tính thích nghi và hướng sử dụng:

Đất này mới sử dụng một phần để trồng ngô, đậu đỗ hay lúa Phải có hệ thống bờ mương thoát nước và ngăn bớt sự xâm nhập của cacbonat

Trang 21

Hiệu lực các loại phân N, P bón vào đất thấp do hiện tượng mất đạm hoặc cố định lân theo các phản ứng sau:

1 Về đơn vị và phân bố:

Trong phân loại hiện nay có 3 đơn vị là:

- Đất có tầng sét loang lổ chua - Ký hiệu là: Lc - Dystric Plinthosols - PTd

- Đất có tầng sét loang lổ bị rửa trôi mạnh - Ký hiệu là: La - Albic Plinthosols - PTa

- Đất có tầng sét loang lổ giàu mùn - Ký hiệu là: Lu - Humic Plinthosols - PTu Các đơn vị đất khác nhau do sự phân hóa của địa hình, độ chua, rửa trôi và tích lũy mùn

Những vùng đồng bằng cao tiếp giáp với trung du thường có nhóm đất này

2 Về tính chất:

Đất có tầng loang lổ thường dày có khi chiếm hết cả tầng B và xuống sâu, có khi nằm sát tầng đá ong Đất chua, độ bão hòa bazơ thấp Các chất dinh dưỡng thường nghèo

3 Về tính thích nghi và hướng sử dụng:

Đất trồng được các loại hoa màu, cây họ đậu, tuy nhiên cần chú ý giữ ẩm

Để ngăn cản tình trạng dễ hình thành tầng đá ong chặt, cần có hệ thống thủy lợi cung cấp nước thường xuyên để trồng 2 vụ lúa, hoặc thêm một vụ màu đông

VI - NHÓM ĐẤT PODZOLIC (O) - Podzoluvisols (PD)

Đất Podzolic hay còn gọi là Podzol rửa trôi (Podzoluvisols), là nhóm đất điển hình ở vùng ôn đới được hình thành trong những điều kiện khá đặc biệt, lượng mưa hàng năm không lớn (500 - 600mm), nhưng lượng bốc hơi thấp (300 - 400mm), nên trong đất thường diễn ra quá trình rửa trôi, trong phẫu diện có tầng tích sét (argic) với ranh giới phía trên không đồng đều do có lưỡi rửa trôi bạc trắng xâm nhập vào tầng này Thực vật chủ yếu là cây lá kim, các tàn tích sinh vật bị phân hủy sinh ra nhiều axit acrenic hòa tan được Fe, Al

ở tầng A2 rửa trôi xuống phía dưới Kết quả là ở tầng A2 được tích lũy tương đối SiO2 làm cho tầng này có màu xám trắng, người Nga gọi là tầng Pôtzôl Đất có tầng Pôtzôl gọi là đất Pôtzôlic, đây là một loại đất xấu

Trong quá trình hình thành, phần trên của phẫu diện đất dần dần bị rửa trôi cấp hạt sét

và keo sét, các secquioxyt (oxyt sắt, oxyt nhôm) và các chất dễ tan

Phẫu diện đất Podzolic phát triển đầy đủ, thường có 4 tầng đặc trưng: tầng mùn hoặc tàn tích thực vật; tầng xám tro hoặc bạc trắng (tầng rửa trôi); tầng tích tụ; tầng mẫu chất,

đá mẹ Nhìn chung đây là nhóm đất có hàm lượng mùn thấp, phản ứng chua, độ no bazơ

và dung tích hấp phụ thấp Quá trình hình thành và phát triển của nhóm đất này phụ thuộc nhiều vào điều kiện nhiệt ẩm, sự rửa trôi, mẫu chất, đá mẹ và thảm thực vật

Ở Việt Nam, một số nơi như Tây Côn Lĩnh, Sìn Hồ, Tây Nguyên, các nhà thổ nhưỡng gặp loại đất có tầng A2 trắng xám giống tầng Pôtzol ở các vùng ôn đới Nghiên cứu kỹ cho thấy tầng A2 không có sự tích lũy SiO2, do vậy các nhà thổ nhưỡng tạm đề nghị gọi tên đất

là giả Podzolic Vì vậy trong đất có chứa nhiều mùn thô nên có tác giả còn đề nghị mùn thô giả Podzolic trên núi

Trang 22

Diện tích nhóm đất này không lớn nên không có ý nghĩa trong sản xuất nông lâm nghiệp

Đất podzolic có thể chia ra 2 đơn vị:

- Đất podzolic chua - Ký hiệu là: Oc - Dystric Podzoluvisols - PDd

- Đất podzolic glây - Ký hiệu là: Og - Gleyic Podzoluvisols - PDg

VII NHÓM ĐẤT XÁM (X) - Acrisols (AC)

Phần lớn nhóm đất đỏ vàng theo phân loại phát sinh ở vùng đồi núi và nhóm đất xám bạc màu ở vùng đồng bằng các tầng B Argic nằm ở nhóm đất Acrisols

Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000, nhóm đất xám có 5 đơn vị sau:

- Đất xám bạc màu (X) - Haplic Acrisols (ACh)

- Đất xám glây (Xg) - Gleyic Acrisols (ACg)

- Đất xám Feralit (Xf) - Ferralic Acrisols (ACf)

- Đất xám mùn trên núi (Xh) - Humic Acrisols (ACu)

2 Mô tả các đơn vị đất:

a Đất xám bạc màu (X) - Haplic Acrisols (ACh)

Diện tích: 1.791.021 ha

Phân bố: Gặp ở Đông Nam bộ, Tây Nguyên, trung du và vùng núi Bắc bộ Đá mẹ

là macma axit (granit), đá cát và mẫu chất phù sa cổ

+ Cấu tạo phẫu diện

Có thể lấy phẫu diện BL4 đại diện cho đơn vị đất này Phẫu diện đào tại xã Chơn Thành, huyện Bình Long, tỉnh Sông Bé Địa hình đồi lượn sóng, đất trồng cây điều

0 - 19cm: Màu xám trắng (10YR 6-7/2M), cát pha, khô, chặt, kết cấu hạt nhỏ, nhiều

rễ cây điều, lẫn ít than củi nhỏ, chuyển lớp rõ về màu sắc

19 - 68cm: Màu xám vàng (10YR 6-7/3M), khô, cát pha, chặt, nếu bóp thì tơi, ít rễ cây, kết cấu hạt to, cục hoặc tảng, có hang kiến mối

68 - 150cm: Màu nâu xám vàng (10YR 6-8/6M), ẩm, thịt nhẹ, hơi chặt, kết cấu tảng đến hạt

+ Tính chất lý hóa học:

Nhìn chung, tầng đất mặt có thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu kém, dễ bị chặt, bí, thường bị khô hạn

Đất có thành phần cơ giới nhẹ; dung trọng 1,3 - 1,5 g/cm3, tỷ trọng 2,65 - 2,7 g/cm3,

độ xốp 43-45%; sức chứa ẩm đồng ruộng 27-31%; độ ẩm cây héo 5-7%; nước hữu hiệu 24%; độ thấm nước lớp đất mặt 68 mm/giờ, lớp đất sâu 25 mm/giờ

22-Đất có phản ứng chua ít đến rất chua, pHKCl biến động từ 3.0 - 4.5, chủ yếu từ 4.0 - 4.5, hàm lượng Ca2+, Mg2+ trao đổi rất thấp (Ca2+ + Mg2+ < 2 lđl/100 g đất); độ no bazơ và dung tích hấp phụ thấp; hàm lượng mùn tầng đất mặt từ nghèo đến rất nghèo (0,50-1,50%); mức

độ khoáng hóa diễn ra mạnh (tỷ lệ C/N < 10) Các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu đều nghèo

Tầng B đạt các tiêu chuẩn chủ yếu của B Argic: có ít nhất 8% sét, hàm lượng sét ở tầng B Argic lớn hơn tầng trên 1 - 2 lần

Bảng 43 - Kết quả phân tích lý hóa học phẫu diện BL4

Độ sâu tầng đất (cm)

Trang 23

0 - 19 19 - 68 68 - 100 100 - 150

KCl

4.40 3.79

4.44 3.80

4.38 3.77

4.40 3.70 Tổng số

0.91 0.09 0.01 0.03

0.34 0.04 0.01 0.30

0.38 0.04 0.01 0.03

1.00 4.5

1.05 5.6

1.00 4.5 CEC

0.7 0.4 1.5

0.8 0.6 1.8

0.9 0.3 1.8

< 0.002

67.4 15.0 17.6

55.0 16.6 28.4

50.6 18.8 30.6

49.0 21.4 29.6

Nhược điểm chính của đất xám bạc màu là chua, nghèo chất dinh dưỡng, thường xuyên khô hạn Tuy nhiên do ở địa hình bằng, thoải, thoáng khí, thoát nước, đất nhẹ dễ canh tác nên loại đất này thích hợp với nhu cầu sinh trưởng, phát triển của nhiều loại cây trồng cạn như: khoai lang, sắn, đậu đỗ, rau quả, lúa cạn, cây ăn quả, cao su, điều,

b Đất xám có tầng loang lổ (XL) - Plinthic Acrisols (ACp)

Diện tích: 221.360 ha

Phân bố: Chủ yếu tập trung ở Trung du Bắc Bộ Đa số diện tích đất xám có tầng loang lổ nằm ở địa hình bằng, thoải hoặc lượn sóng với độ dốc < 15O, đất phát triển trên mẫu chất phù sa cổ

+ Cấu tạo phẫu diện

Phẫu diện ĐA6 đào tại thôn Thụy Hà, xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh, thành phố

Hà Nội Địa hình cao, độ cao tuyệt đối 10m Đất trồng lúa, khoai tây, khoai lang

0 - 10cm: Màu xám sáng (5YR 8/1 M), thịt pha limon, nhẹ, viên nhỏ không rõ góc cạnh, nhiều lúa, cỏ dại, ẩm, chuyển lớp từ từ

10 - 17cm: Màu xám hơi nâu nhạt (5YR 7/1 M), thịt pha limon trung bình, kết cục

bé hơi rõ góc cạnh, còn ít rễ lúa, ẩm, chặt, chuyển lớp từ từ

17 - 30cm: Màu xám xanh nhạt hơi nâu (5YR 7/2 M), thịt pha limon trung bình, cục vừa rõ góc cạnh, chặt, glây trung bình, chuyển lớp rõ

30 - 38cm: Màu xám xanh nhạt (7,5YR 5/1 M), thịa pha limon nặng, cục to chặt, glây mạnh, chuyển lớp rõ

Trang 24

38 - 100cm: Màu đỏ vàng loang lổ (5YR 8/1 M), sét, tảng, kết von sắt 5 - 10%

100 - 125cm: Màu xám nhạt (7.5YR 8/1 M), gỉ sắt (7.5YR 8/6 M), sét, tảng, dẻo,

Đất có phản ứng chua, pHKCl thay đổi từ 3,5 - 5,5, nghèo mùn (<1,0%); độ no bazơ và dung tích hấp phụ thấp; các chất tổng số và dễ tiêu đều nghèo

Trong tầng loang lổ đỏ vàng (đặc tính Plinthic) thường gặp kết von sắt tròn

Bảng 44 - Số liệu phân tích lý hóa học phẫu diện ĐA6

Độ sâu tầng đất (cm)

0 -10 10 -17 17 - 30 30 - 38 38 - 100 100 – 125 Tổng số (%) C

N

P2O5

K2O

0.90 0.08 0.04 0.17

0.80 0.05 0.04 0.18

0.23 0.02 0.02 0.13

0.23 0.01 0.03 0.60

0.42 0.01 0.04 0.63

0.19 0.01 0.02 0.94

Al3+ (lđl/100g đất) 0.09 0.08 0.06 0.09 1.52 1.65

Fe3+ (lđl/100g đất) 4.2 2.6 1.6 4.2 4.8 5.2 Thành phần cơ giới

(%)

> 0.05mm 0.05 - 0.002

Để cải tạo các tính chất xấu cần bón đủ các loại phân theo yêu cầu của cây trồng và cung cấp đủ nước, tốt nhất là được tưới bằng phù sa, bón phù sa, bùn ao, cày sâu

c Đất xám glây (Xg) - Gleyic Acrisols (ACg)

Trang 25

Tầng đất mặt có màu xám trắng khi khô, rời rạc phía dưới gặp các tầng đất có đặc tính Plinthic và Gleyic

Đại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện HN3 đào tại xã Hiền Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Độ cao tuyệt đối > 10m Địa hình bậc thang (vùng bán sơn địa), thoát nước tốt Đất trồng 1 vụ lúa, 2 vụ màu, cấu tạo phẫu diện HN3 như sau:

0 - 25cm: Màu xám (10YR 7/1 M), có ít đốm vàng nâu (7,5YR 6/78 M), ẩm, nhiều

rễ lúa, chuyển lớp rõ về màu sắc

25 - 33cm: Màu xám vàng (10YR 3/2 M), có đốm vàng (7,5YR 6/78 M), còn ít rễ lúa, hơi ẩm, glây trung bình, cục to, chuyển lớp từ từ

33 - 70cm: Màu đỏ vàng loang lổ (10YR 6/8 M), xám hơi xanh (10YR 7/1 M), sét, glây trung bình, dẻo, chặt, kiến trúc tảng

70 - 110cm: Màu loang lổ đỏ vàng xen xám xanh, ướt, sét, glây trung bình, có mạch nước ngầm

0.15 0.06 0.02 0.07

0.33 0.08 0.01 0.31

0.32 0.08 0.01 0.60

1.15 0.77 0.22

1.44 1.15 2.22

1.06 0.76 2.28

< 0.002

40.2 51.6 8.2

33.8 55.4 10.8

30.2 41.0 28.8

26.4 35.8 37.8

Về mặt lý tính, đất có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, không có kết cấu hoặc kết cấu rất kém Các tầng đất dưới có thành phần cơ giới nặng, kết cấu to hoặc tảng Phẫu diện đất có tầng đế cày và tầng glây rõ

Các tính chất hóa học thay đổi tùy từng vùng Phản ứng đất thay đổi từ chua đến rất chua, pHKCl từ 4.0 - 5.5; nghèo mùn; độ no bazơ và dung tích hấp phụ thấp; nghèo các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu Đây cũng là một đơn vị đất xấu ở nước ta

Đất xám glây ở các vùng khác nhau có khác nhau về tính chất, nhưng đều ở địa hình thấp, hứng nước ở các khu vực lân cận và thường được trồng lúa nước Hiện tại được sử dụng gieo trồng một số cây ngắn ngày như lúa, ngô, khoai, sắn Năng suất các loại cây trồng thấp Hiệu lực các loại phân bón trên đơn vị này đất này rất cao

Cần lưu ý bố trí mùa vụ để tránh ngập úng trong mùa mưa Một số nơi vượt đất để trồng cây ăn quả thu hiệu quả cao như ở Lái Thiêu, Sông Bé

d Đất xám Feralit (Xf) - Ferralie Acrisols (Acf)

Diện tích: 14.789.505 ha

Trang 26

Phân bố: Gặp ở hầu hết các tỉnh trung du và miền núi trong toàn quốc (Là nhóm đất đỏ vàng theo phân loại theo phát sinh của nước ta)

- Hình thành và phân loại

Đất xám feralit chia ra 5 đơn vị phụ:

- Đất feralit trên phiến thạch sét (Xfs): 6.876.430 ha

- Đất feralit trên đá macma axit (Xfa) 4.646.474 ha

- Đất feralit trên đá cát (Xfq) 2.651.337 ha

- Đất feralit trên phù sa cổ (Xfp) 455.402 ha

- Đất feralit biến đổi do trồng lúa (Xfl) 159.882 ha

Đất xám Feralít được hình thành do trong đất diễn ra một số quá trình hình thành đất chính như: Quá trình tích lũy mùn, quá trình tích lũy sét ở tầng B, quá trình tích lũy tương đối Fe, Al Quá trình tích lũy tương đối Fe, Al diễn ra rất điển hình làm cho tầng B có màu vàng Lớp đất mặt được tích lũy mùn nên có màu xám, nâu xám hoặc nâu

Mô tả các đơn vị phụ của đất xám feralit:

Đất xám Feralit phát triển trên đá phiến thạch sét (Xfs)

Diện tích: 6.876.430 ha

Phân bố: Việt Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên

Đá mẹ: Đá sét, đá phiến biến chất, gnai, phiến mica

Đây là đơn vị phụ có diện tích lớn nhất trong đất xám feralit

+ Cấu tạo phẫu diện

Phẫu diện có đủ 3 tầng A, B, C, tầng B tích sét và có đặc tính của B Argic khá điển hình

Phẫu diện TQ9 đào tại xã Yên Nguyên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, đá

mẹ phiến sét, độ dốc chung 20 - 250, đất trồng chè, thoát nước tốt

0 - 25cm: Màu đỏ vàng (5YR 5-4/2M), thịt pha sét, ẩm, không chặt, cục bé, xốp, nhiều rễ cây, chuyển lớp rõ về độ chặt

25 - 65cm: Màu đỏ vàng (2.5YR 5/6M), thịt nặng, ẩm hơi chặt, còn nhiều rễ cây, cục lớn, chuyển lớp không rõ

65 - 125cm: Màu đỏ (2.5YR 5/8M), thịt nặng pha sét, ẩm, rắn chắc, cấu trúc tảng lớn, còn ít rễ cây

+ Tính chất đất

Đất này có thành phần cơ giới trung bình và nặng, thường có kết cấu cục, lớp đất mặt khá tơi xốp Độ dốc thay đổi từ 15 - 300, tầng dày trên dưới 1m Dung trọng đất thấp (0,96-1,26 g/cm3); tỷ trọng đất cao (2,73-2,80 g/cm3); độ xốp 55-64%; độ ẩm cây héo 19-23%; nước hữu hiệu 12-17%; khoáng sét phổ biến là kaolinit, halozit và gơtit

Hàm lượng mùn khá nhưng các chất dinh dưỡng khác như lân và kali tổng số và dễ tiêu ở mức nghèo, riêng đất trên phiến thạch mica có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu ở mức khá Phản ứng của đất chua và rất chua (pHKCl phổ biến từ 3,6-4,8); độ no bazơ < 50%

Bảng 46 - Số liệu phân tích lý hóa học phẫu diện TQ9

0.99 0.13 0.05 0.50

0.56 0.09 0.05 0.62 CEC

(lđl/100g) - Trong đất - Trong keo sét

11.2 21.3

7.9 15.1

5.3 9.0

Trang 27

1.4 0.1 10.98 14.2

1.6 0.3 6.48 22.4

< 0.002mm

38.88 28.60 32.52

28.84 25.94 45.22

37.62 9.78 52.60 Đơn vị này có diện tích khá lớn hiện đang được sử dụng rất có hiệu quả trong sản xuất nông lâm nghiệp Các cây công nghiệp có chè, trẩu, sở, sơn; các cây ăn quả có dứa, cam, quít đều phát triển rất tốt Cần thực hiện tốt các biện pháp chống xói mòn, các mô hình nông lâm kết hợp để hạn chế sự thoái hóa đất

Đất xám Feralit đá macmaaxit (Xfa) - Ferralic Acrisols

Diện tích: 4.646.474 ha

Phân bố: Gặp ở nhiều tỉnh như Lào Cai, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Nam, Tây Nguyên

Đá mẹ: Chủ yếu là granit, riolit, phoocphia thạch anh

+ Cấu tạo phẫu diện

Phẫu diện điển hình có đủ 3 tầng A, B, C

Phẫu diện QT14 đào gần cầu Dakrong, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Độ cao nơi đào phẫu diện 400m, sườn dốc 25O Thảm thực vật gồm cỏ tranh, sim mua, lau lách

0.89 0.05 0.09 0.37

0.41 0.05 0.08 0.30 CEC

2.40 1.64 0.52

2.32 1.84 0.60

Trang 28

Thành phần

cơ giới

(%)

> 0.05mm 0.05 - 0.002

< 0.002mm

82.9 14.0 3.2

85.4 12.2 2.4

80.6 17.4 2.0 Đơn vị đất này đã được sử dụng trồng nhiều loại cây như chè, sở, hồi, quế, ngô, khoai, sắn, lúa nương và trồng rừng Đặc biệt cần thực hiện tốt các biện pháp chống xói mòn và các mô hình nông lâm kết hợp

Đất xám Feralit phát triển trên đá cát (Xfq) - Feralit Acrisols (ACf)

Diện tích: 2.651.337 ha

Phân bố: Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Quảng Bình, các tỉnh Tây Nguyên

Đá mẹ: Cát kết các loại, quăczit, phiến silic

Đơn vị đất này có một số tính chất chung như sau: Thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cát trong đất cao, đất không có kết cấu hoặc kết cấu rất kém Tầng đất mỏng, độ dày thường dưới 1m

Phẫu diện đất điển hình cũng có đủ 3 tầng A, B, C trong tầng B và tầng C chứa nhiều tinh thể thạch anh còn sắc cạnh

Hàm lượng mùn % thấp, xung quanh 1% ở lớp đất mặt, P2O5% và dễ tiêu rất thấp (0,02 - 0,06% và 0,5 - 8,4mg/100g đất), K2O% và trao đổi thấp và trung bình Đất có phản ứng rất chua, pHKCl từ 3,8 - 4,3

Tóm lại đất xám feralit phát triển trên đá cát có nhiều tính chất khá giống đất xám feralit phát triển trên đá macma axit

Những nơi có độ dốc nhỏ có thể dùng vào sản xuất nông nghiệp, còn lại nên trồng rừng Cần thực hiện các biện pháp bảo vệ và chống thoái hóa đất như chống xói mòn đất, bón đủ phân và giữ ẩm cho đất

Đất xám Feralit phát triển trên phù sa cổ (Xfp) - Feralit Acrisols (ACf)

Diện tích: 455.402 ha

Phân bố: Nơi tiếp giáp giữa đồng bằng với trung du và miền núi Phía Bắc gặp ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây Phía Nam gặp ở Đông Nam bộ như tỉnh Đồng Nai, Tây Nguyên gặp ở Đắc Lắc

+ Cấu tạo phẫu diện

Đại diện cho đơn vị đất là phẫu diện D.54 đào tại xã Tân Tiến, huyện Krong Pắc, tỉnh Đắc Lắc Đất trồng lạc, ngô, điều Địa hình lượn sóng, thoát nước tốt, độ dốc 8O

0 - 30cm: Màu nâu xám (7,5YR 3/2 M), ẩm, thịt pha cát, khá xốp, bở tơi, hạt rời, ranh giới tầng đất rõ ràng Chuyển lớp rõ về màu sắc, từ từ về độ chặt và độ xốp

30 - 50cm: Màu nâu vàng (7,5YR 5/4 M), ẩm, chặt, thịt pha limon, xốp, rất bở, kết cấu hạt nhỏ

50 - 80cm: Màu nâu vàng (7,5YR 5/4 M), thịt pha limon, ẩm, xốp, bở, kết cấu hạt rời, chuyển lớp từ từ

80 - 120cm: Màu nâu vàng (7,5YR 6/6 M), thịt pha limon, ẩm, xốp, bở, kết cấu hạt rời

Ở những vùng khác nhau, cấu tạo phẫu diện có những nét khác nhau khá rõ Ví dụ:

ở phía Bắc, trong tầng B thường có kết von sắt, thậm chí gặp đá ong, điều này chứng tỏ trong đất đã diễn ra cả quá trình tích lũy tuyệt đối Fe Những bằng chứng về nguồn gốc phù

sa cổ, lũ tích cổ còn để lại trong đất thường là tầng cuội sỏi tròn nhẵn có kích thước khác nhau và có thành phần không giống đá gốc

+ Tính chất đất

Đất này có thành phân cơ giới nhẹ, kết cấu kém hoặc không có kết cấu, tầng đất mặt

dễ bị rửa trôi hay xói mòn, nên hàm lượng cấp hạt sét ở tầng dưới cao hơn tầng đất mặt

Trang 29

Đất có phản ứng chua, độ no bazơ thường < 50% Hàm lượng mùn % thấp xung quanh 1% P2O5% và dễ tiêu rất thấp, K2O% và trao đổi cũng rất thấp

Bảng 48 - Kết quả phân tích lý hóa học phẫu diện D.54

0.47 0.08 0.02 0.19

0.19 0.06 0.02 0.23

0.12 0.06 0.02 0.20 CEC

(lđl/100g đất) - Trong đất -Trong keo sét

(lđl/100g đất)

Ca2+

Mg2+

1.6 0.2

1.8 0.2

1.8 0.2

2.0 0.8

Thành phần

cơ giới (%)

> 0.05mm 0.05 - 0.002

< 0.002

73.64 17.14 9.22

70.36 15.00 14.64

68.40 15.24 16.36

66.96 13.48 19.56 Trên đất này hiện đã được sử dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp với hàng loạt các loại cây trồng khác nhau như chè, ngô, khoai, lúa nương, cà phê và trồng rừng Chú ý chống xói mòn và bón bổ sung các loại phân bón cho cây trồng nông nghiệp

e Đất xám mùn trên núi (Xh) - Humic Acrisols (ACu)

Ở độ cao > 700m, cường độ quá trình feralit giảm dần theo độ cao, tuy nhiên ở tầng

B vẫn diễn ra quá trình tích lũy sét khá điển hình để tạo nên tầng B.Argic Mặt khác, khi

độ cao tăng thì nhiệt độ giảm và độ ẩm tăng, tạo điều kiện thuật lợi cho sự tích lũy mùn Kết quả hình thành nên đất xám mùn trên núi Đơn vị đất này ứng với nhóm đất mùn vàng

đỏ trên núi cao trong bảng phân loại đất theo phát sinh học của Việt Nam

Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000 đơn vị đất này được chia thành:

- Đất xám mùn trên núi phát triển trên đá phiến sét (Xhs) - Humic Acrisols (ACu)

- Đất xám mùn trên núi phát triển trên đá philit (Xhp) - Humic Acrisols (ACu)

- Đất xám mùn trên núi phát triển trên đá macma axit (Xha) - Humic Acrisols (ACu) Trong 3 đơn vị đất phụ trên đây, đất xám mùn trên núi trên sản phẩm phong hoá của đá macma bazơ và trung tính, đá sét và biến chất có độ phì và khả năng sản xuất cao hơn cả

+ Tính chất đất:

Lấy đơn vị đất xám mùn trên núi phát triển trên macma axit đại diện cho đất xám mùn trên núi

- Cấu tạo phẫu diện đất:

Đại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện LC25 đào tại đỉnh đèo Fanxipan, huyện Sa

Pa, tỉnh Lào Cai, rừng tự nhiên, độ dốc 20O

0 - 25cm: Màu xám đỏ thẫm (7,5YR 4/1 M), thịt pha limon, kết cấu hạt có đường kính 1 - 2mm, khá xốp, chuyển lớp từ từ

25 - 42cm: Màu xám đỏ thẫm, thịt pha limon, kết cấu viên đường kính 1 - 2mm, không chặt, khá xốp, 15 - 40%, chuyển lớp từ từ theo màu sắc

Trang 30

42 - 60cm: Màu đỏ xám, thịt pha limon, kết cấu hạt đường kính 1 - 2mm, bở, khá xốp

> 60cm: Gặp đá gốc tươi

- Tính chất đất:

Thay đổi tùy thuộc vào đá gốc và vị trí khác nhau Nếu đá mẹ là phiến sét thì đất có thành phần cơ giới nặng, nếu là đá macma axit đất có thành phần cơ giới trung bình và nhẹ Hàm lượng mùn % trong đất cao, lân tổng số cao, lân dễ tiêu giàu, kali tổng số và trao đổi thay đổi tùy thuộc vào đá mẹ Đất phát triển trên đá phiến philit có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu rất cao Phản ứng chua và chua ít

Bảng 49 - Kết quả phân tích lý hóa học phẫu diện LC.25

7.76 0.43 0.25 0.08

6.96 0.32 0.21 0.07

Dễ tiêu

16.0 4.2

12.6 3.0 CEC

-

2.8 1.1

-

1.6 1.6

< 0.002mm

53.36 19.26 22.38

57.84 18.62 23.54

64.08 14.48 21.44

+ Về tính thích nghi và hướng sử dụng:

Đất xám mùn trên núi hiện được sử dụng trồng rừng là chủ yếu, ngoài việc phát triển cây rừng với nhiều loại đặc sản như pơmu, quế, có thể trồng một số cây trồng nông nghiệp như lúa nương, ngô, các loại cây ăn quả hoặc trồng cỏ để chăn nuôi Chú ý chống xói mòn, bảo vệ đất

VIII - NHÓM ĐẤT NÂU TÍM (B) - Nitisolds (NT)

Diện tích 99.199 ha Phân bố thành các vệt nhỏ xen kẽ với đất nâu đỏ, tập trung nhất ở đất Đắc Lắc - Tây Nguyên

Về đơn vị đất có:

- Đất nâu tím (B) - Haplic Nitisolds (NTh)

- Đất nâu tím đỏ (Bd) - Rhodic Nitisolds (NTr)

Nhóm đất nâu tím đặc trưng bởi cấu trúc hạnh nhân Phẫu diện đất rất đồng nhất, rang giới giữa các tầng đất rất mờ nhạt Nhóm đất này chủ yếu phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá macma bazơ và trung tính

Đất có phản ứng chua vừa (pHKCl = 4.0 - 4.7) Hàm lượng mùn từ trung bình đến khá (2 - 4%) Lân tổng số trung bình đến khá (0.08 - 0.12%) Mức độ phân giải chất hữu cơ

Trang 31

mạnh (C/N = 5 - 12) Lân dễ tiêu nghèo (trung bình khoảng 5 mg/100g đất) Lượng canxi, magiê trao đổi trong đất thấp (2 - 4 lđl/100g đất)

Đất nâu tím là nhóm đất tốt, nên ưu tiên cho việc phát triển cây lâu năm có giá trị như cao su, cà phê, ca cao, hồ tiêu, chè, cây ăn quả Để sử dụng đất có hiệu quả lâu bền cần quan tâm đến các biện pháp chống xói mòn, che phủ, giữ ẩm đất vào mùa khô, bón nhiều phân nhất là lân và kali

IX NHÓM ĐẤT ĐỎ (F) - Ferralsols (Fr)

Diện tích: 3.014.594 ha Nhóm đất đỏ chiếm gần 10% diện tích tự nhiên cả nước Phân bố: Gặp ở độ cao tuyệt đối từ 50 - 900 - 1000m nên khá phổ biến ở vùng đồi núi nước ta Tập trung nhiều nhất ở Tây Nguyên Và Đông Nam bộ, ở độ cao 50 đến 900 - 1000

m

1 Hình thành và phân loại

Đất đỏ nằm ở địa hình cao, dốc hoặc thoai thoải, chia cắt mạnh, phong hóa nhanh, đá

mẹ điển hình là bazan, ngoài ra còn có các đá khác như phiến sét, đá biến chất và đá vôi Quá trình tích lũy tương đối Fe, Al diễn ra rất điển hình Tầng B mang các đặc tính của B Feralit nên nằm trong nhóm Ferralsols

Theo khái niệm của FAO-UNESCO đất Ferralsols là đất có tầng B feralit với các đặc trưng sau:

- Có thành phần cơ giới là thịt pha cát hay mịn hơn

- Tầng trên dày ít nhất 30 cm

- Có dung tích hấp phụ (CEC) bằng hoặc nhỏ hơn 16 lđl/100g sét

- Có dưới 10 % khoáng có thể phong hoá trong cấp hạt 50 - 200 m

- Có dưới 10% sét phân tán trong nước

- Có tỷ lệ limon/sét bằng hoặc nhỏ hơn 0.2

- Không có đặc tính tro núi lửa

- Có dưới 5% đá chưa phong hoá

Nhóm đất này có 4 đơn vị:

- Đất nâu đỏ (Fd) - Rhodic Ferralsols (FRr)

- Đất nâu vàng (Fx) - Xanthic Ferralsols (FRx)

- Đất mùn vàng đỏ trên núi (Fh) - Humic Ferralsols (FRu)

- Đất đỏ vàng có tầng sét loang lổ (Fl) - Plinthic Ferralsols - FRp

Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000 nhóm đất này chỉ có 3 đơn vị đầu tiên

2 Mô tả các đơn vị đất

a Đất nâu đỏ (Fd) - Rhodic Ferralsols (FRr)

Diện tích: 2.425.288 ha, chiếm 7.33% diện tích đất tự nhiên

Phân bố: Các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Quảng Trị, Nghệ An, Thanh Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Sơn La

Loại đất này có tầng phong hoá dày, màu đỏ thẫm, cấu trúc tốt, độ xốp cao, dung trọng thấp, tỷ lệ khoáng đang phong hoá và chưa phong hoá thấp Đất có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng sét cao Độ ẩm cây héo khá cao (27-30%); sức chứa ẩm đồng ruộng cao (50-60%); nước hữu hiệu cao (28-32%); phản ứng của đất chua; độ no bazơ thấp; dung tích hấp phụ thấp ( 16 lđl/100g đất)

Trang 32

Đá mẹ: Chủ yếu là đá bazan (trong phân loại đất theo phát sinh là đất nâu đỏ trên đá bazan) Ngoài ra trong đơn vị đất này còn có đất đỏ nâu phát triển trên đá vôi

Đất nâu đỏ trên đá bazan

+ Cấu tạo phẫu diện

Đất có đủ 3 tầng A, B, C, tầng đất rất dày, màu đặc trưng đỏ nâu, nâu đỏ

Đại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện Đ29 đào tại buôn Chung, xã Eapô, huyện Cưfut, tỉnh Đắc Lắc Độ cao tuyệt đối 350m, độ dốc 3O, địa hình lượn sóng, đất trồng hoa màu, đậu xanh Trong khu vực còn trông nhiều cây khác như cao su, cà phê

Cấu tạo phẫu diện Đ29 như sau:

0 - 25cm: Màu nâu đỏ (10R 2,5/2 M), sét, tơi xốp, kết cấu hạt và viên, nhiều rễ cây, chuyển lớp từ từ theo màu sắc nhưng rõ về độ chặt

25 - 60cm: Màu nâu đỏ (10R 3/4 M), ẩm, sét, xốp, chặt hơn tầng trên, kết cấu viên, chuyển lớp từ từ về màu sắc

60 - 120cm: Màu nâu đỏ (10R 3/6 M), ẩm, sét, kết cấu viên, chặt hơn tầng trên

K2O% và trao đổi trung bình và nghèo

Bảng 50 - Kết quả phân tích lý hóa học phẫu diện Đ29

0.83 0.11 0.47 0.07

0.58 0.07 0.38 0.07 CEC

(lđl/100g đất)

Ca2+

Mg2+

5.0 1.8

2.0 1.0

2.6 1.2

< 0.002mm

20.6 25.8 57.7

30.0 6.9 63.0

18.0 11.2 70.5 Đất nâu đỏ bazan được đánh giá là đơn vị đất vào loại tốt nhất so với các đơn vị đất khác ở vùng đồi núi Việt Nam Những ưu điểm nổi bật của đất là độ dốc nhỏ, tầng đất dày, tơi xốp, chứa khá nhiều các chất dinh dưỡng Nhược điểm chính của đất này là thường bị hạn, đặc biệt trong mùa khô

Đơn vị đất này hiện đang được trồng nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như cao

su, cà phê, chè, cam, hồ tiêu, mía Khi sử dụng loại đất này vào sản xuất nông lâm nghiệp cần thực hiện tốt biện pháp chống xói mòn, che phủ giữ ẩm cho đất trong mùa khô, áp dụng

Trang 33

phương pháp làm đất tối thiểu để bảo vệ kết cấu đất Cần bón thêm các loại phân khoáng

N, P, K đặc biệt là phân lân

Đất đỏ nâu trên đá vôi:

Gặp ở các tỉnh có đá vôi như Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Ninh Bình, Thanh Hóa )

+ Cấu tạo phẫu diện

Đại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện C.142, đào ở sườn núi đá vôi cách đường

đi Chí Viễn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng khoảng 100m, dốc 10O, trồng ngô, xói mòn trung bình

0 - 18cm: Màu đỏ sẫm (5YR 4/3 M), khô, thịt nặng, kết cấu viên, nhiều rễ ngô và

cỏ, hơi chặt, có lẫn mảnh đá nhỏ, chuyển lớp từ từ về màu sắc

18 - 44cm: Màu đỏ sẫm (5YR 4/6 M), sét, kết cấu viên, ẩm

44 - 80cm: Màu đỏ nâu sẫm (5YR 4/3 M), sét, kết cấu viên, ẩm

+ Tính chất đất

Thành phần cơ giới nặng, kết cấu tơi xốp Đất có phản ứng chua cho thấy quá trình rửa trôi chất kiềm trong đất diễn ra rất mạnh trong điều kiện nhiệt đới ẩm, pHKCl 4,5-6,0 Hàm lượng mùn trong đất khá Đất thường xuyên khô hạn và nhiều đá lộ đầu, đá ngầm

Bảng 51 - Kết quả phân tích lý hóa học phẫu diện C.142

(lđl/100g đất)

Ca2+

Mg2+

3.7 0.3

2.7 0.5

1.3 0.4

1.5 0.8

b Đất nâu vàng (Fx) - Xanthic Ferralsols (FRx)

Diện tích: 421.159 ha, chiếm 1.27% diện tích đất tự nhiên Phân bố tập trung ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Lạng Sơn, Cao Bằng, Sơn La, Nghệ An,

Đất phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá macma bazơ, macma trung tính và

đá vôi

+ Cấu tạo phẫu diện

Đại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện TN 226 đào tại xã Trảng Bom 1, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Đá mẹ bazan, thực vật tự nhiên có cỏ heo, cỏ sậy, cỏ tạp, cây trồng nông nghiệp là điều, sắn

0 - 15cm: Màu nâu vàng sẫm (7,5 YR 3,5/4 M), thịt pha sét, kết cấu viên, xốp tơi, chuyển lớp rõ về màu sắc

Trang 34

15 - 35cm: Màu nâu vàng (7,5YR 4/6 M), thịt pha sét, kết cấu von tròn khá nhiều (30

- 40% thể tích), kết cấu viên, ẩm hơi xốp, còn ít rễ cây

35 - 80cm: Màu nâu vàng sẫm (7YR 4,5/6 M), thịt pha sét, lẫn nhiều hạt kết cấu von tròn (60 - 70% thể tích), kết cấu viên và cục nhỏ, ẩm, chặt, ít xốp, ít rễ cây, chuyển lớp từ

dễ tiêu thấp, K2O % và trao đổi thấp

Bảng 52 - Kết quả phân tích lý hóa học phẫu diện TN226

1.67 0.10

- 0.60

1.38 0.08 0.11 0.58

0.69 0.05 0.14 0.45

1.10 2.14

1.28 1.20

1.45 1.27

2.12 2.40

2.37 4.80

2.62 2.40

< 0.002

20.2 17.6 62.2

18.4 14.5 67.2

19.1 14.5 66.6

26.9 28.3 45.8

Một số nơi đất đã bị rửa trôi xói mòn, thoái hoá do không sử dụng hợp lý, trong phẫu diện đất xuất hiện lớp đá ong hoặc loang lổ đỏ vàng, đất trở nên khô, rắn, nghèo dinh dưỡng Nhìn chung các loại đất này có phản ứng chua, độ no bazơ và dung tích hấp phụ thấp Đặc trưng tầng tích tụ đáp ứng yêu cầu của tầng B feralit

c Đất mùn vàng đỏ trên núi (Fh) - Humic Ferralsols (FRu)

Diện tích: 168.247 ha

Phân bố: Nằm ở vùng núi, trong độ cao tuyệt đối từ 700 - 900m đến 2000m Khí hậu lạnh và ẩm, nhiệt độ bình quân trong năm từ 15 - 200C Thảm rừng xanh tốt Do ở địa hình

Trang 35

cao, dốc, hiểm trở nên đất thường bị xói mòn mạnh, mặt khác do quá trình phong hoá yếu nên đa số đất có phẫu diện không dày

Đây là loại đất feralit phát triển trên đá macma bazơ, trung tính hoặc đá vôi có tầng A tích lũy nhiều mùn (>5%), xám đen tơi xốp, không có kết von, đá ong

+ Cấu tạo phẫu diện

Đại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện KT19 đào tại lâm trường Mang Kành 1 Rừng cây lá rộng, địa hình lượn sóng, độ dốc 4O, đá mẹ bazan, độ cao tuyệt đối trên 800m

0 - 25cm: Màu đỏ hơi vàng (7,5YR 3/4 M), xốp, nhiều rễ cây, khối tảng có kích thước 6 - 20mm góc cạnh rõ, chuyển lớp từ từ

25 - 45cm: Màu đỏ vàng (7,5YR 3/4 M), tảng vừa có góc cạnh, sét, hơi xốp, chuyển lớp từ từ, còn ít rễ cây

45 - 80cm: Màu nâu đỏ sẫm (2,5YR 3/4 M), sét, tảng có góc cạnh, chặt, chuyển lớp

Bảng 53 - Kết quả phân tích lý hóa học phẫu diện KT19

4.65 0.19 0.07 0.40

1.0 0.4 0.1

4.7 1.6

+ Về tính thích nghi và hướng sử dụng:

Đất mùn vàng đỏ trên núi thích hợp cho việc sử dụng theo phương thức nông lâm kết hợp Để sử dụng có hiệu quả và bền vững loại đất này, cần đặc biệt quan tâm bảo vệ đất, chống xói mòn

Đất này nên để trồng rừng hoặc rừng tự nhiên phát triển

X NHÓM ĐẤT MÙN ALIT NÚI CAO (A) - Alisols (AL)

Trang 36

lũy mùn và than bùn diễn ra mạnh hình thành trên cùng là tầng thảm mục mùn thô hoặc than bùn trên núi

Nhóm đất này gồm 3 đơn vị:

- Đất mùn alít trên núi cao (A): Haplic Alisols hay Humic Alisols (ALu)

- Đất mùn thô than bùn trên núi cao (AT): Histic Alisols (ALh)

- Đất mùn alit núi cao glây (Ag) - Gleyic Alisols - ALg

Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000 nhóm đất này chỉ có 2 đơn vị đầu tiên

2 Tính chất đất

a- Đất mùn alit núi cao (A) - Humic Alisols (ALu)

+ Cấu tạo phẫu diện

Loại đất này có cấu tạo phẫu diện rất đặc biệt, điển hình là kiểu A, C, tầng B rất mỏng

và có thể coi như không có Phẫu diện FXP9 đào ở độ cao 2.350m dãy Hoàng Liên Sơn, sườn dốc 400 Rừng cây to và các cây nhỏ ở tầng dưới

0 - 2cm: Lớp thảm mục, lá cây, rêu, tơi xốp, chuyển lớp rõ

2 - 14cm: Màu đen, mùn thô lẫn nhiều rễ cây, ẩm, chuyển lớp rõ

14 - 36cm: Màu đen, mùn thô lẫn nhiều rễ cây, ít mảnh đá granit chuyển lớp rõ

36 - 63cm: Xám vàng, ẩm, ít rễ cây, lẫn nhiều mảnh đá hơn, thịt trung bình

63 - 90cm: Màu vàng xám, ẩm, lẫn nhiều mảnh đá và khoáng chưa phong hóa, thịt trung bình, chuyển lớp rõ

90 - 123cm: Màu vàng nâu, ẩm, rễ con ít hơn tầng trên, chuyển lớp rõ

123 - 141cm: Màu vàng hơi xám, ẩm, lẫn nhiều mảnh đá chưa phong hóa

> 141cm: Đá mẹ granit phong hóa yếu

+ Tính chất

Có tầng đất mỏng; phản ứng chua (pHKCl = 3,9 - 4,1); độ no bazơ thấp (28-43%); giàu mùn (4,8-15,5%) nhưng chủ yếu là mùn thô (C/N > 15); giàu đạm tổng số (0,16-0,32%) Thành phần chất hữu cơ của đất phần lớn là axit fulvic và hàm lượng tương đối của axit này càng xuống sâu càng tăng, tỉ lệ axit humic/axit fulvic = 0,31-0,57

Kết quả phân tích thành phần tổng số cho thấy:

- Phần mất khi nung tương ứng với hàm lượng mùn cao

- Lượng oxit sắt trong đất thấp, trái lại lượng oxit nhôm cao Tỉ lệ SiO2/R2O3 tăng dần

từ 3,4-4,86 theo chiều sâu phẫu diện đất, chứng tỏ đất chứa nhiều ôxit nhôm tự do và ôxit silic bị rửa trôi

Bảng 54 - Kết quả phân tích lý hóa học phẫu diện F.X.P.9

Độ sâu tầng đất (cm)

2 - 14 14 - 36 36 - 63 63 - 90 90 - 123 123 - 141 Chất mất khi

5.02 0.33 0.04 0.16

1.31 0.12 0.02 0.10

1.95 0.12 0.03 0.22 Tổng số

66.2 28.4 3.0

-

-

-

68.4 27.3 2.5

65.9 28.8 3.0

67.0 28.2 3.2

Tỷ lệ phân tử SiO2/Al2O3

SiO2/Fe2O3

4.0 22.5

4.0 15.0

-

-

4.3 17.3

3.9 15.5

4.3 13.5 Đất này chủ yếu dành cho lâm nghiệp

b - Đất mùn thô than bùn núi cao (AT) - Histric Alisols (ALh)

Trang 37

Phát triển trên các đỉnh núi cao nhất nước ta với các đặc trưng chủ yếu: Càng lên núi cao cho đến đỉnh Fanxipan (3.143m), độ ẩm cao và nhiệt độ thấp, thực vật phát triển yếu

và nổi bật là thực vật ưa ẩm (trên mặt đất và thân cây) là những yếu tố trội khác xa các đới nhiệt đới ẩm bên dưới Đất phát triển trong điều kiện phong hoá yếu và luôn luôn ở trong môi trường không khí loãng (yếm khí) nên ở đỉnh núi Fanxipan chỉ có tầng hữu cơ than bùn nằm trên tầng đá mẹ

Đất mùn alit núi cao cần được sử dụng hợp lý để phát triển rừng và bảo vệ môi trường sinh thái

XI NHÓM ĐẤT XÓI MÒN MẠNH TRƠ SỎI ĐÁ (E) - Leptosols (LP)

2 Tính chất đất

Đây là những đất hạn chế do độ sâu đến tầng đá cứng hoặc kết von, đá ong liên tục hay

có tầng vật liệu tích vôi cao hay lớp gắn kết chặt ở độ sâu 0 - 30cm hoặc có dưới 20% đất mịn ở tầng đất 0 - 75cm, không có tầng B biến đổi hoặc không có tầng chẩn đoán nào khác ngoài tầng A tơi mềm, sáng màu hay tối màu

Trên đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá thường có lớp thảm thực vật thưa thớt, sỏi đá nổi lên mặt và đang bị tác động mạnh của xói mòn và gây hậu quả xấu đối với vùng đất thấp bên dưới Các chương trình trồng rừng mới giải quyết một phần nhỏ trồng thông và một số cây chịu hạn Đây cũng chính là đối tượng cần phủ xanh sớm nhưng phải đầu tư cao hơn các nhóm đất đồi núi khác

XII - NHÓM ĐẤT NHÂN TÁC (N) - Anthrosols (AT)

Đất nhân tác là đất hình thành do tác động của con người Tầng đất do con người tạo

ra như đào, đắp, cày, bừa, tưới, tiêu, cải tạo phải dày từ 50cm trở lên Những đất được chất dống ở các thành phố, khu dân cư, khu công nghiệp hay khai thác mỏ, xây dựng các cơ sở

hạ tầng có độ dày từ 50cm trở lên cũng được coi là đất nhân tác

Trên bản đồ đất có tỷ lệ lớn hơn 1/1.000.000 nhóm đất nhân tác có thể chia ra 4 đơn vị:

- Đất canh tác (NTct) - Aric Anthrosols (ATar)

- Đất chất đống (NTcđ) - Cumulic Anthrosols (ATc)

- Đất màu mỡ (NTf) - Fimic Anthrosols (AFT)

- Đất nhân tác đô thị (NTđt) - Urbic Anthrosols (ATur)

Đất nhân tác thường có hình thái phẫu diện không đồng nhất Đặc điểm rất phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc đất được khai thác để chất đống, lên líp, và kỹ thuật canh tác, thâm canh, chăm sóc, tưới nước của con người Tầng đất được đào, đắp, lên líp, chất đống và xới xáo, thâm canh thường dày hơn 50cm, vì vậy đạt tiêu chuẩn để xếp vào nhóm đất canh tác Nhóm đất này có sự thay đổi về chế độ nhiệt, chế độ không khí, chế độ nước, chế độ dinh dưỡng và hàng loạt các đặc tính sinh học khác so với các nhóm đất tự nhiên khác Tuy nhiên ở các tầng đất sâu hơn 50cm thường chưa hoặc ít bị xới xáo nên còn giữ được đặc trưng của mẫu chất ban đầu

XIII - NHÓM ĐẤT ĐÁ TƠI (ĐT) - Regosols (RG)

Nhóm này trong các bảng phân loại của ta chưa xếp, nhưng đã phát hiện rải rác ở một

số vùng trung du Đất đá tơi là đất có tầng mặt sáng màu hay có đặc trưng khô rắn, không

Trang 38

có tầng mới biến đổi hay không có các tầng và đặc trưng nào khác đại diện cho các nhóm đất khác Đây là nhóm đất thường thoát nước tốt, thành phần cơ giới trung bình lẫn nhiều hạt thô tầng đất dày, cấu tạo từ những vật liệu không gắn kết khác nhau

Đất đá tơi thuộc các nhóm đất phát triển rất yếu, giai đoạn đầu phát sinh trầm tích hiện đại Ở Việt Nam đất đá tơi được hình thành do hoạt động lũ tích, rửa trôi và bồi tụ

Nhóm đất này chiếm diện tích nhỏ, phân tán ở vùng trung du, đồi, núi thấp

Đất đá tơi có thể chia ra các đơn vị:

- Đất đá tơi thay đổi do các hoạt động nhân tác

- Đất đá tơi có vật liệu tro núi lửa ở độ sâu 0 - 30cm

- Đất đá tơi có vật liệu nhiễm vôi ở độ sâu 20 - 50cm

- Đất đá tơi không bão hoà

- Đất đá tơi bão hòa

Các đơn vị đất phụ của nhóm đất đá tơi có thể là:

Đến cuối Pleixtoxen muộn - đầu holoxen sớm (< 1,5 triệu năm) đã xảy ra một đợt biển tiến, làm cho lãnh thổ các đồng bằng bờ biển Việt Nam biến thành vùng biển nông như vịnh Hạ Long bây giờ), tích tụ nhiều trầm tích biển

Đến cuối holoxen giữa (4.000 - 5.000 năm) có một đợt biển lùi, mực nước biển hạ thấp 1,5 - 5 m, tạo ra thềm lục địa (đó là trầm tích biển) và một hệ thống sông suối chằng chịt, các lòng sông bị đào sâu dần Chính các con sông ấy mang phù sa từ đồi núi đổ về phủ lên trên lớp trầm tích biển, hình thành nên những đồng bằng hiện tại

Như vậy đất đồng bằng được hình thành là do sự bồi đắp phù sa của các con sông

(nên còn gọi là đất thuỷ thành)

Sự bồi đắp phù sa tuân theo quy luật lắng đọng phù sa (hay nói cách khác

phụ thuộc vào tính chất của sông):

- Sông càng lớn, càng dài, ít dốc thì sẽ lắng đọng những sản phẩm mịn, ít thô và tạo

lập nên đồng bằng bằng phẳng, thành phần cơ giới đất nặng hơn và ngược lại

Trang 39

- Ở đầu nguồn bao giờ cũng sẽ lắng đọng những sản phẩm thô hơn xa thượng nguồn,

nên thành phần cơ giới đất nhẹ hơn và ngược lại

- Ở trên cùng một đoạn sông thì càng xa lòng sông, càng tích đọng được những sản

phẩm mịn, ít thô nên thành phần cơ giới đất nặng hơn và ngược lại

 Thành phần hoá học của đất phụ thuộc vào loại phù sa thành tạo đất: Mẫu chất phù sa được đưa từ những vùng đồi núi có các loại đá dễ phong hoá, giàu dinh dưỡng, thì vùng đất đồng bằng của hệ thống sông đó cũng giàu dinh dưỡng và ngược lại

 Các điều kiện hình thành đất đồng bằng:

- San phẩm tạo thành đất đồng bằng là trầm tích trẻ, gồm các loại phù sa sông, biển

hồ, thung lũng hoặc dốc tụ Các châu thổ được hình thành là các vũng hồ, đầm lầy lấp đầy bởi phù sa

- Về địa hình nói chung bằng phẳng, chỉ trừ một số vùng bậc thềm phù sa cổ, bậc thềm sông suối và bậc thềm biển

- Về khí hậu, đồng bằng có tính chất nóng ẩm điển hình, thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển với đặc trưng là nhiều gió bão và mưa phùn

- Về thực vật, chủ yếu là các cây lương thực, cây hoa màu, cây ăn quả, Rừng tự nhiên tồn tại ít, chỉ ở vùng ven biển thường có một số rừng cây chịu mặn (sú, vẹt, )

- Đất đồng bằng chịu nhiều tác động của con người như: trồng trọt, cày bừa xới xáo, thau chua rửa mặn, tưới tiêu, nên ngay cùng một loại đất nhưng tính chất có sự thay đổi rất khác nhau

 Do điều kiện hinh thành nên tính chất đất đồng bằng khác với tính chất đất đồi núi Đất đồi núi được hình thành tại chỗ, còn đất đồng bằng hình thành chủ yếu là đất thủy thành Chính vì thế hình thái phẫu diện đất đồng bằng thường có lớp và trong đất thường không có quá trình feralit hoặc có ở mức độ không rõ

 Do sự tích tụ sắt yếu nên đất thường có màu nâu xám hay vàng xám Đất tồn tại nhiều khoáng nguyên sinh do sự phong hóa không triệt để, ít gặp hiện tượng kết von, đá ong, có thể do tuổi đất còn trẻ, địa hình thấp, mực nước ngầm cao và thường xuyên bị ngập nước Vì thế, đất vùng đồng bằng có vỏ phong hóa sialit, còn ở đất đồi có vỏ phong hóa feralit

 Ở vùng đồng bằng đất thường có hiện tượng glây, có nơi bị glây mạnh như đất vùng chiêm trũng, đất sú vẹt Đặc điểm đó phản ánh chế độ nước và điều kiện địa hình

ở vùng đồng bằng khác hẳn với vùng đất đồi núi Biểu hiện đầu tiên đó là sự thừa nước, ngập úng thường xuyên hay từng giai đoạn là nguyên nhân hình thành glây và đây cũng là một tiêu chuẩn trong việc phân loại đất đồng bằng

 Quá trình glây:

Quá trình glây là hiện tượng đặc trưng xảy ra trong đất yếm khí, đất ngập nước dài ngày (đất thừa ẩm), hay do nước ngầm dâng cao gần mặt đất Quá trình này rất phổ biến ở vùng đất đồng bằng và một số đất ngập nước vùng đồi núi như: đất lầy thụt, đất thung lũng dốc tụ trồng lúa nước,

Bản chất của quá trình glây là quá trình khử sinh vật rất phức tạp trong điều kiện yếm khí, với sự tham gia của vi sinh vật yếm khí

Một đặc điểm quan trọng của quá trình glây là sự tích lũy các sản phẩm khử: Fe3+

thành Fe2+ do kết quả hoạt động của vi sinh vật yếm khí (nhóm vi sinh vật khử Fe và vi

khuẩn Clostridium), cùng với sự khử Mn4+ thành Mn2+ và các sản phẩm phân giải chất hữu

cơ trong điều kiện yếm khí (CH4, H2, H2S, ) Fe2+ sau khi được hình thành, nếu đất tiếp tục bị yếm khí thì nó cùng với silicat và khoáng sét tái tổng hợp ra silicat thứ sinh, trong đó

Fe ở dạng hóa trị 2 làm cho các khoáng này có màu xanh, xanh lơ, hay xanh thẫm Tùy theo mức độ glây mạnh hay yếu, nhiều hay ít, sâu hay nông mà mức độ biểu hiện màu sắc

Trang 40

cũng khác nhau Tầng đất chứa nhiều khoáng thứ sinh này sẽ có màu xanh đặc trưng và có mùi tanh hôi, gọi là tầng glây (tầng sét gan trâu)

Nếu tình trạng ẩm của đất không kéo dài thì tầng glây không hình thành mà chỉ hình thành những vệt glây, tầng đất có rải rác những vệt glây gọi là tầng bị glây hóa

Sản phẩm xuất hiện đầu tiên trong quá trình khử sắt là Fe(HCO3)2 Hợp chất sắt Fe(HCO3)2 rất dễ di động và háo khí, khi gặp oxy nó bị oxyhóa thành Fe3+

4Fe(HCO3)2 + O2 + 2H2O  4Fe(OH)3 + 8CO2

Quá trình này nó tạo nên lớp váng có màu đỏ trên mặt ruộng ngập nước lâu ngày và những vệt đỏ vàng loang lổ xen kẽ với các vệt xám xanh trong đất có điều kiện khô và ẩm xen kẽ Nếu điều kiện khô hạn kéo dài thì tạo thành kết von rải rác với các vệt glây Trong quá trình glây còn sinh ra Mn2+ là ion dễ bị rửa trôi như sắt Đó là hiện tượng tầng canh tác của đất phù sa bị nhạt dần từ màu nâu sang màu nâu nhạt, là do Fe2+ và Mn2+

bị rửa trôi nhiều, tạo ra đất gọi là đất "bạc điền" hay đất "gan gà"

Trong quá trình glây còn tạo ra H2S và FeS H2S tạo ra nhiều trong điều kiện đất có nhiều chất hữu cơ, lúc đó sẽ gây độc cho cây Đó là hiện tượng xảy ra ở đất bạc màu nếu vùi nhiều cây phân xanh mà cấy ngay thì sẽ làm cho rễ lúa bị thối đen FeS sinh ra nhiều hay ít phụ thuộc vào lượng Fe trong đất, nhưng FeS không hại cho cây trồng nhiều vì nó rất khó tan

Trong quá trình glây còn hình thành một số khoáng rất khó bị oxyhóa như FeCO3

(xiđêrit), Fe3(PO4)2.8H2O (vivianit), gây ra hiện tượng đất giàu lân tổng số nhưng nghèo lân dễ tiêu

Trong quá trình glây, đạm cũng bị biến đổi nhiều: NO3- bị khử thành N2 gây ra hiện tượng mất đạm của đất Còn đối với lân thì phôtphat sắt 3 bị khử thành phôtphat sắt 2 dễ tan hơn lại có lợi cho cây Vì vậy bón dạng lân khó tan (như apatit, phôtphorit) một lượng lớn sẽ có tác dụng lâu dài cho nhiều vụ sau

Như vậy: Quá trình glây xảy ra mạnh ở những đất ngập nước lâu ngày, như đất lầy, đất phù sa úng nước, đất phèn, Ở những đất như đất cát, đất bạc màu, đất đỏ vàng trồng lúa nước, đất trồng một vụ lúa và một vụ màu thì trong phẫu diện đất có thể xuất hiện tầng

bị glây hóa mà thôi

Tùy theo thời gian ngập nước, mức độ yếm khí trong đất và độ sâu của mực nước ngầm mà tầng glây dày hay mỏng và ở nông hay sâu

Đặc điểm chung của tầng đất glây là có thành phần cơ giới nặng, dẻo, dính, bí chặt, không có kết cấu, đất chua, nhiều chất độc cho cây trồng như CH4, H2S, PH3,

Đất bị glây mạnh, tầng glây ở nông thì ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển của cây, kể cả những cây ưa nước như lúa Vì vậy muốn đạt năng suất cao, ở những đất bị glây mạnh phải thay đổi môi trường đất từ trạng thái khử sang trạng thái oxyhóa, bằng cách tiêu nước phơi ruộng, cày ải phơi đất, bón vôi,

Hiện tượng glây là có hại, tuy nhiên đối với đất trồng lúa nước nếu không có hiện tượng glây chứng tỏ mực nước ngầm ở quá sâu, đất thoát nước rất nhanh dễ gây ra khô hạn Đồng thời tầng glây sẽ hạn chế sự rửa trôi các chất dinh dưỡng và thấm nước xuống tầng sâu Đối với đất lúa nước có tầng glây ở độ sâu 60-80cm là phù hợp và không gây ảnh hưởng gì xấu cho sự phát triển của cây lúa

b Sự phân bố:

Vùng đồng bằng nước ta có diện tích khoảng 8.308.000ha (chiếm gần 25% diện tích

tự nhiên toàn quốc, trong đó có khoảng 4.401.000ha đất cần cải tạo)

Phân bố ở vùng ven biển, nhiều nhất là các đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và một phần diện tích ở vùng duyên hải miền Trung Mặc dầu có diện tích ít hơn vùng đồi núi nhưng nó giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Đây là địa bàn chủ yếu

Ngày đăng: 27/06/2021, 10:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w