Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân.Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân.Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân.Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân.Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân.Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân.
Trang 1HÀ NỘI – 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ THU TRANG
CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA VỢ CHỒNG
TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Thị Mai Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng, luận án tiến sĩ “Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Dữ liệu nghiên cứu định
lượng và định tính được thu thập, xử lý một cách trung thực, đảm bảo tính bảo mật
và quyền được thông tin của người tham gia nghiên cứu Các dẫn chứng và kết quả
từ những nghiên cứu khác để so sánh, phân tích đều được chỉ rõ nguồn trích dẫn.Kết quả trong phần nghiên cứu chính thức chưa được công bố trong bất kì côngtrình nghiên cứu nào từ trước đến nay
Hà Nội, ngày… tháng … năm 2021
Tác giả luận án
Đặng Thị Thu Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Từ những ngày bắt đầu đặt tên đề tài cho đến khi cuốn luận án được thành hình hài, tôi luôn có Cô cùng đồng hành – Người Thầy của tôi PGS.TS Phan Thị Mai Hương Với tất cả lòng biết ơn, sự tôn trọng và lòng kính mến dành cho Cô, tôi muốn gửi tới Cô lời cảm ơn chân thành và sâu sắc Cô – một người làm khoa học nhiệt tâm đã giúp cho tôi có được tư duy khoa học và minh bạch trong việc làm nghiên cứu nói chung cũng như trong việc thực hiện luận án này Cô không chỉ là người truyền tri thức, mà hơn hết còn là người truyền cảm hứng và động lực để tôi mong muốn, tìm kiếm những ý tưởng thú
vị cho đề tài và nỗ lực hoàn thành chúng Và vô cùng cảm ơn Cô, bởi không chỉ là một người Thầy, Cô còn là người đồng hành như một người bạn lớn, đã giúp tôi thêm lạc quan để vượt qua những thách thức, khó khăn và hoàn thành
kế hoạch.
Lời cảm ơn sâu sắc của tôi cũng xin được gửi tới các nhà khoa học: GS.TS Vũ Dũng, GS.TS Nguyễn Hữu Thụ, PGS.TS Lã Thị Thu Thuỷ, PGS.TS Trương Thị Khánh Hà, PGS.TS Lê Văn Hảo, PGS.TS Nguyễn Đức Sơn, PGS.TS Nguyễn Thị Mai Lan, PGS.TS Trần Thu Hương Nhờ có sự góp ý của các Thầy Cô trong quá trình từ việc xây dựng và bảo vệ đề cương cho đến vòng bảo vệ cơ sở mà nghiên cứu của tôi được thể hiện một cách khoa học, chặt chẽ và thuyết phục hơn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn vô cùng đến PGS.TS Nguyễn Hữu Minh, Thầy đã cho tôi những buổi học thú vị về xử lý số liệu trên phần mềm SPSS.
Và hơn cả, Thầy và Cô Phan Thị Mai Hương đã tạo điều kiện để tôi có được
bộ số liệu định lượng vô cùng giá trị.
Tôi xin cảm ơn Khoa Tâm lý – Giáo dục, đặc biệt cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Mai Lan và TS Vũ Thu Trang Cô và Chị đã luôn nhắc nhở,
Trang 5động viên tôi trong quá trình học tập và sẵn sàng hỗ trợ tôi trong quá trình hoàn thiện hồ sơ và các thủ tục hành chính phục vụ cho bảo vệ luận án này Tôi xin cảm ơn những người bạn, người đồng nghiệp: TS Đỗ Thị Lệ Hằng, Phạm Phương Thảo và những người bạn, đồng nghiệp khác Họ không chỉ lắng nghe những chia sẻ của tôi về nghiên cứu của đề tài, mà còn cho tôi những cổ vũ tinh thần.
Cuối cùng, lòng biết ơn lớn nhất tôi dành cho gia đình mình: Bố, Mẹ, Em Gái, người Chồng của tôi và Cây – chàng trai của mẹ Dù không trực tiếp giúp tôi hình thành lên những luận điểm lý luận hay nghiên cứu thực tiễn của đề tài nhưng họ là những người đồng hành vĩ đại, luôn sát cạnh, luôn hiện diện trong mọi khoảnh khắc dù là lúc vui hay lúc khó khăn, thất bại Nhờ có họ, tôi thêm mạnh mẽ, thêm vững vàng.
Xin vô cùng biết ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2021
Tác giả luận án
Đặng Thị Thu Trang
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA VỢ CHỒNG TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN 8
1.1 Nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 8
1.1.1 Các nghiên cứu về hạnh phúc hôn nhân đa chiều cạnh 8
1.1.2 Các nghiên cứu hạnh phúc hôn nhân một chiều cạnh 10
1.1.3 Cảm nhận về mức độ hạnh phúc hôn nhân 12
1.2 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 13 1.2.1 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội của cá nhân và đặc điểm cuộc hôn
nhân đối với cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 14
1.2.2 Hoạt động chung giữa vợ và chồng trong gia đình và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 19
1.2.3 Mối quan hệ giữa yếu tố tâm lý trong đời sống vợ chồng và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 21
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA VỢ CHỒNG TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN 28
2.1 Các luận điểm về cảm nhận hạnh phúc 28
2.1.1 Các quan điểm về hạnh phúc 28
2.1.2 Một số bàn luận về hai trường phái tiếp cận chủ quan và tiếp cận khách quan trong nghiên cứu hạnh phúc 31
2.2 Các luận điểm lý thuyết về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân 35
2.2.1 Khái niệm cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân 35 2.2.2 Cấu trúc của hạnh phúc hôn nhân 40
2.3 Luận điểm về các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 51
2.3.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 52
Trang 72.3.2 Ảnh hưởng của yếu tố hoạt động chung của vợ chồng trong gia
đình đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 59
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 67
3.1 Thiết kế và tổ chức nghiên cứu 67
3.1.1 Thiết kế nghiên cứu 67
3.1.2 Tổ chức nghiên cứu 67
3.2 Phương pháp nghiên cứu 71
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 71
3.2.2 Phương pháp chuyên gia 72
3.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 72
3.2.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 72
3.2.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 78
Tiểu kết chương 3 82
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA VỢ CHỒNG TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN 83
4.1 Thực trạng cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân 83 4.1.1 Mức độ cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân 83
4.1.2 Trải nghiệm các sự kiện hạnh phúc và không hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân 86
4.1.3 Trải nghiệm cảm xúc của người vợ/chồng trong đời sống hôn nhân và mối quan hệ của nó với cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 91
4.2 Sự ảnh hưởng của các nhóm yếu tố đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 96 4.2.1 Sự ảnh hưởng của nhóm yếu tố đặc điểm nhân khẩu – xã hội cá
nhân và đặc điểm cuộc hôn nhân đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 96
4.2.2 Sự ảnh hưởng của nhóm yếu tố hoạt động chung của vợ chồng trong gia đình đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 103
4.2.3 Sự ảnh hưởng của nhóm yếu tố tâm lý đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 108
Trang 84.2.4 Khả năng dự báo của kết hợp các nhóm yếu tố đến cảm nhận hạnh
phúc hôn nhân 115
4.3 Vai trò trung gian của các yếu tố tâm lý trong mối quan hệ cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 123
4.3.1 Vai trò trung gian của yếu tố tình cảm trong tác động của tình dục đến hạnh phúc hôn nhân 124
4.3.2 Vai trò trung gian của yếu tố tình dục trong tác động của tình cảm đến hạnh phúc hôn nhân 125
4.3.3 Vai trò trung gian của yếu tố tình cảm trong tác động của tương tác đến hạnh phúc hôn nhân 127
4.3.4 Vai trò trung gian của yếu tố tương tác trong tác động của tình cảm đến hạnh phúc hôn nhân 128
4.3.5 Vai trò trung gian của yếu tố tình dục trong tác động của tương tác đến hạnh phúc hôn nhân 129
4.3.6 Vai trò trung gian của yếu tố tương tác trong tác động của tình dục đến hạnh phúc hôn nhân 130
4.4 Mô hình hạnh phúc hôn nhân ở các đối tượng khác nhau 132
4.4.1 Mô hình hạnh phúc trong hôn nhân của nam và nữ 133
4.4.2 Mô hình hạnh phúc hôn nhân của các nhóm tuổi 134
4.4.3 Mô hình hạnh phúc hôn nhân của các nhóm mức sống gia đình khác nhau 136
4.4.4 Mô hình hạnh phúc hôn nhân của các nhóm có độ dài hôn nhân khác nhau 138
Tiểu kết chương 4 141
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 143
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng khách thể theo địa bàn nghiên cứu 68
Bảng 3.2: Đặc điểm tôn giáo theo địa bàn nghiên cứu 68
Bảng 3.3: Đặc điểm mẫu nghiên cứu định lượng 68
Bảng 3.4: Độ hiệu lực cấu trúc và độ tin cậy của các thang đo 75
Bảng 3.5: Thông số thống kê của các thang đo 77
Bảng 3.6: Các chỉ số của thang đo và ý nghĩa của điểm số 79
Bảng 4.1: Các thông số thống kê của thang đo hạnh phúc hôn nhân theo thang đo một mục 83
Bảng 4.2: Các thông số thống kê của thang đo hạnh phúc hôn nhân theo thang đo đa mục 85
Bảng 4.3 Các sự kiện khiến người vợ/chồng trải nghiệm hạnh phúc trong đời sống hôn nhân 89
Bảng 4.4: Những lĩnh vực hay khiến phiền lòng nhất trong cuộc sống vợ chồng 90
Bảng 4.5: Sự khác biệt về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theo trải nghiệm cảm xúc âm tính 93
Bảng 4.6: Sự khác biệt về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theo trải nghiệm cảm xúc dương tính 93
Bảng 4.7: Sự khác biệt giữa nhóm hạnh phúc và không hạnh phúc về số lượng và mức độ xuất hiện cảm xúc 95
Bảng 4.8 Sự khác biệt về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theo một số đặc điểm nhân khẩu – xã hội 97
Bảng 4.9 Sự khác biệt về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theo các đặc điểm của mối quan hệ và gia đình 98
Bảng 4.10 Mô hình hồi quy tuyến tính các biến số đặc điểm nhân khẩu – xã hội và đặc điểm cuộc hôn nhân dự báo cho cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 100
Trang 10Bảng 4.11 Sự khác biệt về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theo sự tương
đồng/khác biệt giữa vợ chồng trong thực hiện chức năng gia đình 104
Bảng 4.12 Sự khác biệt về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theo biến số hoạt
động giải trí giữa vợ và chồng 105
Bảng 4.13 Mô hình hồi quy tuyến tính các biến số thuộc về hoạt động chung của vợ chồng trong gia đình dự báo cho cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 106
Bảng 4.14: Sự khác biệt giữa nhóm hạnh phúc và nhóm không hạnh phúc về sự thể hiện các yếu tố trong đời sống tâm lý vợ chồng 110
Bảng 4.15: Mô hình hồi quy tuyến tính của nhóm yếu tố tâm lý dự báo cho cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 111
Bảng 4.16 Mô hình hồi quy tuyến tính của ba nhóm yếu tố dự báo cho cảm nhận hạnh phúc hôn nhân 115
Bảng 4.17: Mô hình có khả năng dự báo tốt nhất cho hạnh phúc hôn nhân 118
Bảng 4.18: Các yếu tố để có đời sống hôn nhân hạnh phúc 120
Bảng 4.19: Các hệ số tác động của mô hình biến trung gian là tình cảm 124
Bảng 4.20: Các hệ số tác động của mô hình biến trung gian là tình dục 125
Bảng 4.21: Các hệ số tác động của mô hình biến trung gian là tình cảm 127
Bảng 4.22: Các hệ số tác động của mô hình biến trung gian là tương tác 128
Bảng 4.23: Các hệ số tác động của mô hình biến trung gian là tình dục 130
Bảng 4.24: Các hệ số tác động của mô hình biến trung gian là tương tác 131
Bảng 4.25: Mô hình hạnh phúc hôn nhân theo biến số giới tính 133
Bảng 4.26: Mô hình hạnh phúc hôn nhân theo biến số độ tuổi 135
Bảng 4.27: Mô hình hạnh phúc hôn nhân theo biến số điều kiện sống gia đình 137
Bảng 4.28: Mô hình hạnh phúc hôn nhân theo độ dài hôn nhân 138
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Phân bố điểm cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theo thang đo một mục 83Biểu đồ 4.2: Phân bố điểm cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theo thang đo đa mục 85Biểu đồ 4.3: Những trải nghiệm khiến vợ/ chồng cảm thấy hạnh phúc 87
Trang 12DANH MỤC HÌNH, HỘP
Hình 4.1: Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và sự hài lòng về các lĩnh vực
trong đời sống hôn nhân 88Hình 4.2: Mối tương quan giữa mức độ cảm nhận hạnh phúc hôn nhân và
những khía cạnh tâm lý trong đời sống vợ chồng 109Hình 4.3: Tương quan giữa 3 yếu tố trong đời sống tâm lý giữa vợ và chồng 123Hình 4.4: Tác động của yếu tố tình dục đến hạnh phúc hôn nhân qua trung
gian tình cảm 126Hình 4.5: Tác động của tình cảm đến hạnh phúc hôn nhân qua trung gian tình dục 126Hình 4.6: Tác động của yếu tố tương tác đến hạnh phúc hôn nhân qua trung
gian tình cảm 129Hình 4.7: Tác động của yếu tố tình cảm đến hạnh phúc hôn nhân qua trung
gian tương tác 129Hình 4.8: Tác động của yếu tố tương tác đến hạnh phúc hôn nhân qua trung
gian tình dục 132Hình 4.9: Tác động của yếu tố tình dục đến hạnh phúc hôn nhân qua trung
gian tương tác 132Hộp 1: Nội dung các câu chuyện hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân 121
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở mọi nền văn hoá, kết hôn là một trong những việc quan trọng mà phần lớnngười trưởng thành cần làm Và việc có được đời sống hôn nhân hạnh phúc trở thànhmột trong những lựa chọn mục tiêu đầu tiên của mỗi người
Giá trị tích cực mà cuộc hôn nhân tốt đẹp mang lại được xác định thống nhất quahàng thế kỉ bởi nhiều tác giả Nó không chỉ mang lại những phúc lợi về sức khoẻ thểchất (Rosen-Grandon, Myers, và Hattie, 2004) [168] mà còn là nguồn lực hỗ trợ quantrọng để có đời sống tinh thần lành mạnh (Woods, Priest, Signs, và Maier, 2018;Lawrence, Rogers, Zajacova và Wadsworth, 2018) [127], [212] Không những thế, hônnhân hạnh phúc còn làm nên giá trị mỗi cá nhân, giúp họ nhận thức về ý nghĩa và bảnsắc của chính mình trong cuộc sống (Rosen-Grandon và cộng sự, 2004)
Hôn nhân hạnh phúc không chỉ có ý nghĩa với cá nhân trải nghiệm trực tiếp nó(người vợ và người chồng) mà còn chi phối tới bầu không khí của gia đình Crosbie-Burnett (1984) [46] cho biết, mối quan hệ hôn nhân là mối quan hệ trung tâm và cănbản của các mối quan hệ gia đình và hạnh phúc hôn nhân như là chìa khoá cho mộtgia đình hạnh phúc Đồng thời cũng là nguồn lực tình cảm và phương tiện hỗ trợquan trọng trong suốt thời kì trưởng thành của đứa trẻ (Sweeney và Replogle, 2002)[191] Hơn nữa, lối sống của gia đình gốc sẽ truyền cho thế hệ tiếp theo (Kerr vàBowen, 1988) [119], do đó quan hệ hôn nhân của đứa trẻ trong tương lai rất có thể bịchi phối bởi chất lượng mối quan hệ hiện tại của cha mẹ chúng
Quan hệ hôn nhân thể hiện sự biến đổi năng động, bởi chúng bị chi phối bởi đadạng các yếu tố từ chính người trong cuộc như cách ứng xử, tương tác giữa vợ chồngđến các yếu tố ngoài cuộc hôn nhân như nghề nghiệp, kinh tế, sự xuất hiện của nhữngđứa con… và điều đó khiến chất lượng của mối quan hệ càng khó kiểm soát hơn cả.Bên cạnh đó, những biến đổi trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay mang đến nhữngbiến đổi mạnh mẽ trong gia đình mà thể hiện rõ thông qua vai trò của người vợ, ngườichồng trong việc thực hiện chức năng gia đình Và liệu những biến đổi này có ảnhhưởng đến chất lượng mối quan hệ hôn nhân Vấn đề này được tìm hiểu nhiều từ góc
độ xã hội học, kinh tế học, văn hoá học Tuy nhiên ở thời điểm hiện tài, chưa đượcnhiều sự quan tâm dưới góc độ tâm lý học
Trang 14Về mặt thực tế, tình trạng ly hôn ở Việt Nam đáng báo động Theo số liệu thống
kê sơ bộ gần đây nhất của Tổng cục Thống kê [15] cho thấy số vụ ly hôn đã được xét
xử trên cả nước năm 2018 là 28.076 vụ Như vậy trong năm 2018, trung bình mộtngày có 77 vụ ly hôn, chưa kể những cặp vợ chồng đang trong giai đoạn đệ trình lyhôn hay những cặp đôi hằng ngày phải đối diện nhau trong sự bất hoà, xung đột… Sựtan rã của vợ chồng không chỉ để lại hệ quả tiêu cực cho chính họ mà còn ảnh hưởngtới sự phát triển của trẻ và những hệ luỵ kéo theo cho xã hội Do đó, giảm thiểu ly hônthông qua việc thúc đẩy các cặp vợ chồng chung sống hạnh phúc là một biện pháp trựctiếp, hữu ích Vì vậy, việc hiểu về những yếu tố tác động tới hạnh phúc hôn nhân là gợi
ý hữu ích giúp tăng cường hạnh phúc trong đời sống vợ chồng
Xuất phát từ tầm quan trọng của cuộc sống hôn nhân hạnh phúc cùng với tìnhhình thực tế về vấn đề hôn nhân ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy hạnh phúc hôn nhân
là lĩnh vực có ý nghĩa và đáng được quan tâm Chủ đề này tuy đã được nghiên cứu ởViệt Nam, nhưng vẫn tồn tại những khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn Vớimong muốn hệ thống hoá cơ sở lý luận về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân Đồng thờitìm hiểu tình hình thực tiễn về chủ đề này, mà trọng tâm hơn cả là khám phá nhữngyếu tố tác động đến cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng Qua đó, góp phần đưa ranhững gợi ý hữu ích nhằm giúp cặp đôi chung sống hạnh phúc Do đó, chúng tôi thực
hiện đề tài “Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân”.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đờisống hôn nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, qua đó đề xuất một số kiến nghị giúp
vợ và chồng chung sống hạnh phúc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận:
Tổng quan các nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sốnghôn nhân và các yếu tố ảnh hưởng
Xây dựng khung lý luận về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sốnghôn nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Nghiên cứu thực tiễn:
Tìm hiểu thực trạng cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Trang 15Đề xuất một số kiến nghị hướng đến xây dựng đời sống hôn nhân của vợ chồngđược hạnh phúc hơn.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Mức độ cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân và các yếu
tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện trong một số phạm vi được giới hạn như sau:
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu:
+ Hạnh phúc là khái niệm đa chiều và không có sự thống nhất giữa các nhànghiên cứu Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu hạnh phúc hôn nhân
từ tiếp cận chủ quan, tức là từ cảm nhận, đánh giá của chủ thể về hôn nhân của mình.+ Hạnh phúc hôn nhân có thể chịu tác động của rất nhiều yếu tố Trong nghiêncứu này, chúng tôi giới hạn ở 3 nhóm yếu tố là: đặc điểm nhân khẩu – xã hội cá nhân
và cuộc hôn nhân (Giới tính, tuổi, trình độ học vấn, tôn giáo, số lượng con, độ dài hônnhân, mức sống gia đình và tương đồng thu nhập vợ chồng); nhóm yếu tố hoạt độngchung của vợ chồng trong gia đình (Phân công lao động trong và ngoài gia đình, quyền
ra quyết định trong gia đình, hoạt động giải trí vợ chồng cùng nhau tham gia và thờigian dành riêng cho nhau); nhóm yếu tố tâm lý (đời sống tình cảm, sự hài lòng tìnhdục và sự thể hiện tương tác) Bởi đây là các yếu tố được xác định có liên quan mậtthiết với cảm nhận hạnh phúc hôn nhân trong các nghiên cứu nước ngoài nhưng còn ítđược tìm hiểu trên các mẫu khách thể khác nhau ở Việt Nam
-Phạm vi khách thể và địa bàn nghiên cứu:
+ Nghiên cứu trên khách thể là những người vợ hoặc người chồng đang trong hônnhân mà không thực hiện nghiên cứu trên cặp đôi
+ Nghiên cứu được thực hiện ở các địa bàn thuộc Đà Nẵng, Nam Định và Đăk Lăk,nơi có thể đáp ứng được những yêu cầu về đặc điểm nhân khẩu xã hội đa dạng của kháchthể nghiên cứu
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên một số nguyên tắc phương pháp luận trongnghiên cứu tâm lý học như sau:
Trang 16Nguyên tắc hoạt động: Hiện tượng tâm lý của con người nảy sinh trong quá trình
tham gia các hoạt động Như vậy, cảm nhận hạnh phúc về cuộc sống hôn nhân củangười vợ/chồng được nảy sinh trong quá trình họ hoạt động chung, cùng thực hiện cácchức năng gia đình
Nguyên tắc hệ thống: Hệ thống là một tổng thể phức hợp gồm nhiều bộ phận và
các bộ phần này có mối liên quan, gắn kết và tác động qua lại lẫn nhau Do đó, sự biếnđộng của một bộ phận không chỉ là sự thay đổi ở chính nó mà còn tác động và ảnhhưởng đến các bộ phận khác Nguyên tắc hệ thống nhìn nhận hiện tượng tâm lý củacon người được đặt trong một hệ thống và nó chịu sự chi phối và tác động qua lại của
đa dạng các yếu tố trong hệ thống đó Do đó, nghiên cứu xem xét cảm nhận hạnh phúchôn nhân của vợ/chồng dưới tác động của hệ thống các yếu tố bên trong và bên ngoàicuộc hôn nhân
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Hướng tiếp cận trong khái niệm và đo lường: Hạnh phúc hôn nhân có thể được
xác định dưới tiếp cận chủ quan hoặc khách quan, theo cấu trúc đơn hoặc đa chiềukích Trong nghiên cứu này, hạnh phúc hôn nhân được nhìn nhận dưới tiếp cận chủquan, với cấu trúc đơn – có hai chiều hướng dương tính và âm tính tương ứng với hai
xu hướng là cảm thấy không hạnh phúc và cảm thấy rất hạnh phúc trong hôn nhân Vớihướng tiếp cận này, cảm nhận hạnh phúc hôn nhân được đo lường bởi thang đo mộtmục (single-item) với 11 bậc từ 0 đến 10, trong đó mức 0 là không hạnh phúc và 10 làrất hạnh phúc
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Được sử dụng nhằm hệ thống cơ sở lý luậnnghiên cứu của đề tài
Phương pháp chuyên gia: Giúp đưa ra những gợi ý để hình thành ý tưởng nghiêncứu; hệ thống hoá khung nghiên cứu lý luận và thực tiễn
Phương pháp phỏng vấn sâu: Được sử dụng để thu thập các thông tin minh chứngcho kết quả nghiên cứu định lượng
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Được tiến hành nhằm tìm hiểu thực tiễnvấn đề nghiên cứu Đề tài sử dụng kết hợp điều tra bằng bảng hỏi đóng – phục vụ thuthập dữ liệu định lượng và bảng hỏi với câu hỏi mở - phục vụ thu thập dữ liệu địnhtính Trong đó dữ liệu định lượng được ưu tiên sử dụng
Trang 17Phương pháp phân tích dữ liệu: Dữ liệu định lượng được xử lý bằng các phépphân tích thống kê toán học, thực hiện trên phần mềm SPSS 23.0 Xử lý dữ liệu địnhtính với sự hỗ trợ của phần mềm Excel.
4.3 Giả thuyết nghiên cứu
Về yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân:
-H4: Cảm nhận hạnh phúc hôn nhân bị ảnh hưởng bởi cả 3 nhóm yếu tố, trong đónhóm yếu tố tâm lý có vai trò quan trọng hơn đối với hạnh phúc hôn nhân
-H5: Từng yếu tố tâm lý (tình cảm, hài lòng tình dục, tương tác) có thể tác động đếncảm nhận hạnh phúc hôn nhân thông qua hai yếu tố còn lại Cụ thể:
H5.1: Tình cảm là biến số trung gian trong tác động của hài lòng tình dục đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
H5.2: Tình cảm là biến số trung gian trong tác động của tương tác đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
H5.3: Tương tác là biến số trung gian trong tác động của hài lòng tình dục đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
H5.4: Tương tác là biến số trung gian trong tác động của tình cảm đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
H5.5: Hài lòng tình dục là biến số trung gian trong tác động của tương tác đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
H5.6: Hài lòng tình dục là biến số trung gian trong tác động của tình cảm đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
-H6: Mô hình cảm nhận hạnh phúc hôn nhân ở mỗi đối tượng khách thể (về giới tính,nhóm tuổi, điều kiện sống và độ dài hôn nhân) là đa dạng về khả năng tác động củacác yếu tố Tuy nhiên, yếu tố tâm lý luôn đóng vai trò nổi bật ở mỗi mô hình
Trang 185 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Đóng góp về mặt lý luận
Luận án hệ thống hoá các luận điểm trong nghiên cứu về hạnh phúc hôn nhândựa trên việc tổng hợp cơ sở lý luận và các nghiên cứu trên thế giới Trong đó, việc hệthống hoá và làm sáng tỏ hai trường phái tiếp cận chủ quan và khách quan trongnghiên cứu hạnh phúc và hạnh phúc hôn nhân là một đóng góp có giá trị về mặt lý luậncủa nghiên cứu này
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân là chủ đề chưa đượcnhiều nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam Do đó, hệ thống cơ sở lý luận, phương phápnghiên cứu và kết quả nghiên cứu thực tiễn có thể trở thành nguồn tham khảo chonhững nghiên cứu cùng chủ đề sau này
Quá trình nghiên cứu thực tiễn của đề tài đòi hỏi sử dụng và thích ứng thang đo
tự xây dựng dựa trên việc tham khảo và kế thừa những thang đo nước ngoài Do đó,công cụ được sử dụng trong đề tài có thể giá trị đối với những nghiên cứu quan tâm tớimối quan hệ cặp đôi nói chung và hạnh phúc hôn nhân nói riêng Bên cạnh đó, một bộcông cụ có đặc tính đo lường phù hợp với khách thể là người vợ/chồng Việt Nam đãđược bước đầu minh chứng qua nhóm khách thể của luận án
Dữ liệu nghiên cứu định lượng đã chứng minh ảnh hưởng của một số yếu tố đếncảm nhận hạnh phúc hôn nhân Đây là cơ sở để so sánh với các nghiên cứu trong vàngoài nước đã thực hiện trước đó, đồng thời bổ sung thêm bằng chứng để đối chiếucho các nghiên cứu sẽ được thực hiện trong tương lai về lĩnh vực này Đồng thời cácphát hiện thực tiễn trong nghiên cứu là cơ sở để đưa ra các kiến nghị giúp tăng cườnghạnh phúc hôn nhân
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Luận án đã hệ thống các nghiên cứu về hạnh phúc hôn nhân và các yếu tố ảnhhưởng đến nó Qua đó xác định được xu hướng nghiên cứu trên thế giới về lĩnh vựcnày Từ đó, đưa ra ý tưởng áp dụng trong nghiên cứu hiện tại Đồng thời các luận điểmtrong nghiên cứu về hạnh phúc hôn nhân cũng được phân tích, tổng hợp Trong đó, cáccách tiếp cận ở việc khái niệm và đánh giá, đo lường đã được bàn đến Lý luận về yếu
tố ảnh hưởng đến hạnh phúc hôn nhân cũng được trình bày Qua đó, khung lý luận của
đề tài được xây dựng Đồng thời, góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận trong nghiên
Trang 19cứu về lĩnh vực này ở Việt Nam.
6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Nghiên cứu thực tiễn của đề tài đã chứng minh khả năng ảnh hưởng của cácnhóm yếu tố đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân gồm: yếu tố tâm lý, yếu tố hoạt độngchung của vợ chồng trong gia đình và nhóm yếu tố đặc điểm nhân khẩu – xã hội cánhân và đặc điểm cuộc hôn nhân Bên cạnh đó, mô hình dự báo tốt nhất cho hạnh phúchôn nhân được xác định Cùng với đó, mô hình hạnh phúc hôn nhân theo các nhóm đốitượng khác nhau cũng được xây dựng Các phát hiện trong nghiên cứu thực tiễn của đềtài không chỉ là cơ sở để so sánh đối chiếu với các kết quả nghiên cứu trước đó vànghiên cứu tương lai mà còn có thể giúp đưa ra một số gợi ý hữu ích nhằm tăng cườngđời sống hôn nhân hạnh phúc Giá trị thực tiễn của chúng trong hoạt động tham vấn, tưvấn cặp đôi có thể được áp dụng
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục công trình đã công bố liênquan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận án bao gồm 04chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong
đời sống hôn nhân
Chương 2: Cơ sở lý luận về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống
hôn nhân
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng
trong đời sống hôn nhân
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA VỢ
CHỒNG TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN
1.1 Nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Hạnh phúc hôn nhân là chủ đề rất được quan tâm trong hệ thống các nghiên cứu
về hôn nhân – gia đình Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy sự đadạng trong nhìn nhận về hạnh phúc hôn nhân của các tác giả khác nhau Nhìn chung,đứng từ góc độ tâm lý học, hạnh phúc hôn nhân được gộp thành hai nhóm chính: hạnhphúc hôn nhân đa chiều cạnh và hạnh phúc hôn nhân một chiều cạnh Bên cạnh đó, cáckết quả về thực trạng hạnh phúc hôn nhân qua các nghiên cứu cũng được tổng hợp
1.1.1 Các nghiên cứu về hạnh phúc hôn nhân đa chiều cạnh
Hạnh phúc hôn nhân đa chiều cạnh coi các thành phần được cấu thành từ nhữngkhía cạnh gắn liền với cuộc sống hôn nhân và gia đình Với sự đa dạng của các khíacạnh trong mối quan hệ vợ chồng dẫn đến các thành phần cấu thành nên hạnh phúchôn nhân cũng khá đa dạng qua các nghiên cứu
Một cuộc hôn nhân chất lượng và hạnh phúc được Spanier (1976) [186] xác địnhbởi cấu trúc 4 thành phần (1) Sự đồng thuận (Dyadic Consensus): mức độ đồng thuậngiữa các cặp đôi về các vấn đề trong cuộc sống hôn nhân như tài chính, tình dục, raquyết định, hoạt động giải trí, tôn giáo, sự thể hiện tình cảm, thực hiện công việc nhà,mục tiêu/ mục đích và những điều được tin rằng là quan trọng… (2) Sự hài lòng(Dyadic Satisfaction): Mức độ phản ánh sự hài lòng về đối tác (3) Sự gắn kết (DyadicCohesion): Mức độ mà cặp đôi cùng tham gia vào các hoạt động (4) Sự thể hiện tìnhcảm (Affectional Expression): mức độ mà người tham gia đồng ý về cách thể hiện tìnhcảm của người bạn đời
Ayub (2010) [28] xác định mối quan hệ hôn nhân tốt đẹp gồm các chiều cạnhnhư: mối quan hệ vợ chồng (in-laws relationship); tình trạng tài chính của chồng(financial status of husband); sự thỏa hiệp (compromise); nhận thức về bản thân (self-perception); sự hỗ trợ của người bạn đời (spouse support); tình trạng thu nhập kép(dual-earning); sự hiểu biết lẫn nhau (mutual understanding); giao tiếp(communication); sự thỏa mãn tình dục (sexual satisfaction); sự khác biệt về giới tính
Trang 21(gender difference); tình trạng học vấn của vợ/ chồng (education of partner) và sự hiểubiết (understanding).
Hạnh phúc hôn nhân được Hollingworth, Terman và Kelly (1939) [94] xác địnhdựa trên các chỉ báo gồm: lợi ích chung (common interests); sự bất đồng và cách giảiquyết chúng (disagreements and their settlement); thái độ đối với hôn nhân và ngườibạn đời (Attitudes toward the marriage and the spouses); những bất bình trong mốiquan hệ/gia đình (Domestic grievances); và ước lượng chủ quan về hạnh phúc hônnhân (subjective estimates of happiness)
Canel (2013) [38] đã đưa ra cấu trúc của hài lòng/hạnh phúc hôn nhân gồm 5thành phần sau: (1) sự hoà hợp hôn nhân (marital harmony): chiều cạnh này được thaotác hóa thành các tiểu khái niệm như sự hoà thuận, vui vẻ, gần gũi giữa vợ chồng (2)
sự tức giận (Anger): chiều cạnh này cho thấy sự hiện diện của yếu tố xung đột và bạolực giữa các cặp đôi (3) Giao tiếp với gia đình của người bạn đời: phần này tập trungvào các vấn đề của cuộc hôn nhân xuất phát từ các thành viên trong gia đình của ngườibạn đời (bố/mẹ chồng/vợ, anh/chị em chồng/vợ) (4) sự hiểu biết về kinh tế (economicunderstanding): chiều cạnh này phản ánh các vấn đề của cuộc hôn nhân phát sinh từvấn đề tài chính như sự bất đồng giữa các cặp vợ chồng về vấn đề tài chính, sự thiếutin tưởng vào người bạn đời liên quan đến vấn đề tài chính, và các vấn đề trong quản
lý tài chính gia đình cũng được đánh giá trong mục này (5) sự hiểu biết về việc làmcha mẹ (understanding of parenting) Trong chiều cạnh này, các vấn đề hôn nhân nảysinh trong việc làm cha mẹ được đề cập như mâu thuẫn giữa vợ và chồng về việc nuôidạy con cái, sự bất bình đẳng trong chia sẻ trách nhiệm về việc nuôi dạy con cái
Trong nghiên cứu của Abraham và Hildegarde (2001) [18], nhóm tác giả đã xácđịnh sự hài lòng hôn nhân trên các khía cạnh gồm: đặc điểm của người bạn đời(personal characteristics of the spouse), sự trách nhiệm trong thực hiện vai trò (roleresponsibility), giao tiếp (communication), giải quyết xung đột (conflict resolution),vấn đề tài chính (financial issues), xử lý thời gian rảnh rỗi (handling of spare time),mối quan hệ tình dục (sexual relationship), trách nhiệm làm cha mẹ (parentalresponsibility), mối quan hệ với gia đình và bạn bè (relationship with family andfriends) và định hướng tôn giáo (religious orientation)
Trang 22Locke và Wallace (1959) [133] xem xét chất lượng mối quan hệ hôn nhân dựatrên các chỉ báo: sự đồng thuận hoặc bất đồng về các vấn đề tài chính, giải trí; sựthể hiện tình cảm; mối quan hệ tình dục; quan điểm sống; cách ứng xử với gia đìnhhai bên nội – ngoại.
Tương tự, Funk và Rogge (2007) [66] xác định hạnh phúc hôn nhân dựa trên cácchỉ số về hành vi và tương tác như việc tâm sự với bạn đời Bên cạnh đó, sự bất đồng
và đồng thuận về các khía cạnh trong cuộc sống hôn nhân được đề cập và hệ quả/cáchthức giải quyết diễn ra giữa vợ và chồng khi bất đồng nảy sinh
Một số nghiên cứu cũng xác định hạnh phúc hôn nhân dựa trên đánh giá mức độhạnh phúc về một số khía cạnh cụ thể trong đời sống hôn nhân như: Sự thấu hiểu từngười bạn đời, tình yêu bạn đời dành cho mình, mức độ đồng thuận giữa vợ và chồng,
sự chung thuỷ của người bạn đời, mối quan hệ tình dục, sự đồng hành của người bạnđời và sự chăm sóc của người bạn đời (Anderson, Van Ryzin và Doherty, 2010; Frisco
và Williams, 2003; Kamp Dush, Taylor và Kroeger, 2008; Proulx và Snyder-Rivas,2013; Tuttle và Davis, 2015; VanLaningham, Johnson và Amato, 2001) [25], [65],[111], [155], [195], [200]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trinh va Phan (2020) [196] cho thấy, sự hài lònghôn nhân gồm cấu trúc 5 thành phần: hỗ trợ cảm xúc (emotional support), sự gắn kết(cohesion), phân chia trách nhiệm việc nhà (division of responsibilities andhousework), chăm sóc giáo dục trẻ (child-rearing), thực hiện các quyết định và quản lýtài chính (decision making and financial managment)
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Lê Thị Thanh Hương (2018) [8] xác định cấu trúchạnh phúc hôn nhân gồm 3 thành phần: sự hoà hợp, sự cam kết, sự thừa nhận
Như vậy có thể thấy, cấu trúc hạnh phúc hôn nhân đa chiều cạnh được xác địnhmột cách đa dạng về các thành phần cấu thành qua các nghiên cứu khác nhau Điềunày cho thấy không có một cấu trúc hạnh phúc hôn nhân với các thành phần/thành tố
cố định Việc xây dựng cấu trúc với các thành phần/thành tố là khác nhau dựa trênquan điểm và cách tiếp cận của từng nhà nghiên cứu
1.1.2 Các nghiên cứu hạnh phúc hôn nhân một chiều cạnh
Nếu hạnh phúc hôn nhân đa chiều cạnh được xác định dựa trên các khía cạnh đadạng và cụ thể trong đời sống hôn nhân, thì hạnh phúc hôn nhân một chiều cạnh chỉ
Trang 23gồm duy nhất một thành phần Cấu trúc một thành phần này có thể là một đánh giátrực tiếp về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân hoặc có thể là những đánh giá/mô tả chung
về mối quan hệ Dưới đây là một số nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theocấu trúc một chiều cạnh
Nghiên cứu của Nazarinia, Schumm, và White (2009) [144] xác định cuộc sốnghôn nhân hạnh phúc gồm đánh giá chung về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân và nhữngđánh giá, mô tả tích cực về mối quan hệ hôn nhân như: chúng tôi có mối quan hệ hônnhân tốt đẹp, mối quan hệ giữa tôi và người bạn đời là ổn định/bền vững, mối quan hệgiữa tôi và người bạn đời khiến tôi hạnh phúc, tôi và người bạn đời thực sự là một cặpđôi với nhau
Nghiên cứu của Chung (2004) [42] cho thấy sự hài lòng hôn nhân được xây dựngdựa trên cấu trúc đơn thành phần, bao gồm những đánh giá về mức độ hài lòng vớicuộc hôn nhân, với người vợ/chồng như một người bạn đời, với mối quan hệ giữa vợ
và chồng; với người bạn đời với tư cách như một người mẹ/người cha
Nghiên cứu của Glenn và Weaver (1981), Schoen, Astone, Kim, Rothert vàStandish (2002), Waite, Luo và Lewin (2009) xác định hạnh phúc hôn nhân bởi đánhgiá tổng quát của khách thể dựa trên cảm nhận chủ quan của họ về mối quan hệ [78],[174], [205]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phan Thị Mai Hương, Đặng Thị Thu Trang, ĐỗThị Lệ Hằng, Phạm Phương Thảo (2018) [10] cũng nhìn nhận sự hài lòng hôn nhân làđánh giá tổng quát của cá nhân dựa trên cảm nhận chủ quan của họ khi nhìn nhận mộtcách tổng thể về cuộc hôn nhân mà họ trải nghiệm
Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Hương (2018) [7] bên cạnh việc nhìn nhậnhạnh phúc hôn nhân được cấu thành bởi đa chiều cạnh, tác giả cũng xác định hạnhphúc hôn nhân đơn thành phần dựa trên đánh giá một cách trực tiếp về mức độhạnh phúc hôn nhân
Như vậy có thể thấy, cấu trúc hạnh phúc hôn nhân một chiều cạnh hay còn gọi làcấu trúc đơn thành phần được xây dựng dựa trên hai cách thức chính đó là: (1) những
mô tả/đánh giá đa mục (multiple-items) về hạnh phúc hôn nhân và (2) đánh giá mộtmục (single-item) và trực tiếp về mức độ cảm nhận hạnh phúc/hài lòng về mối quan hệ
Trang 24Bên cạnh đó, nếu như cấu trúc hạnh phúc hôn nhân đa chiều cạnh cho thấy tính
đa dạng và thiếu thống nhất về các thành phần cấu thành, tương tự, cấu trúc hạnh phúchôn nhân đơn thành phần dựa trên đánh giá đa mục cũng cho thấy sự đa dạng trongcác mục báo cáo, thì cấu trúc hạnh phúc hôn nhân đơn thành phần dựa trên một mụclại cho thấy tính nhất quán cao về nội dung đánh giá dù cho thang điểm đánh giá là đadạng và khác nhau ở một số nghiên cứu Ví dụ, nghiên cứu của Lê Thị Thanh Hương(2018) [7] đánh giá trên thang 10 bậc, Phan Thị Mai Hương, và cs (2018) [10] đánhgiá trên thang 11 bậc, Waite và cs (2009) [205] đánh giá trên thang 7 bậc, Glenn vàWeaver (1981) [78] đánh giá trên thang 3 bậc
Ngoài ra, tính tương quan cao giữa hạnh phúc hôn nhân đa chiều cạnh và hạnhphúc hôn nhân một chiều cạnh cũng đã được chứng minh qua một số nghiên cứu.Johnson (1995) [103] đã chỉ ra rằng hạnh phúc hôn nhân được đánh giá bằng thang đomột mục (single-item) cho kết quả với xu hướng tương tự như thang đo đa thành phần.Đồng thời, hạnh phúc hôn nhân được đo lường bởi thang một mục (single-item) khá
ổn định theo thời gian Trong nghiên cứu của Waite và cs (2009) [205] đã tìm thấyhạnh phúc hôn nhân đơn thành phần được đo lường một mục (single-item) có mốitương quan rất chặt với hạnh phúc hôn nhân dựa trên đánh giá đa chiều cạnh (vớir=0.71) Hay trong nghiên cứu của Lê Thị Thanh Hương (2018) [8] khi tìm hiểu về cácyếu tố dự báo đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân cho thấy, chiều dự báo của các yếu tốcho hạnh phúc hôn nhân đa thành phần và hạnh phúc hôn nhân đơn thành phần là nhưnhau và các hệ số dự báo cũng tương đương nhau về độ lớn Như vậy có thể thấy, dùhạnh phúc hôn nhân được xác định dựa trên cấu trúc đa chiều hay đơn chiều thì khảnăng phản ánh về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân là như nhau
1.1.3 Cảm nhận về mức độ hạnh phúc hôn nhân
Các nghiên cứu trên thế giới không phân tích nhiều về thực trạng mức độ hạnhphúc hôn nhân mà tập trung nhiều hơn vào các yếu tố ảnh hưởng đến chúng Các dữliệu đo lường hạnh phúc hôn nhân thường được giới thiệu rất ngắn gọn Và nhìnchung, xu hướng cho thấy mức độ hạnh phúc hôn nhân được khai báo khá cao Nghiêncứu của Kamo (1993) [110] đánh giá hạnh phúc hôn nhân bằng thang đo một mục(thang 9 bậc) cho thấy điểm trung bình hài lòng hôn nhân ở nam giới Mỹ là 7,74(SD=1,42) và nữ là 7,71 (SD=1,72), ở nam giới Nhật là 6,46 (SD=1,91) và nữ là 6,22
Trang 25(SD=2,02) Yucel (2017) [216] phân tích trên mẫu điều tra quốc gia Mỹ của người đilàm cho thấy sự hài lòng hôn nhân trung bình = 2,85/4 (SD=0,76) Nghiên cứu củaSorokowski và cs (2017) [185] đánh giá hài lòng hôn nhân trên thang 7-21 điểm củangười trưởng thành ở 33 quốc gia với điểm trung bình là 17,2 (SD=4,2) Như vậy, nhìnchung các nghiên cứu đều cho thấy, mọi người khá hạnh phúc/hài lòng với hôn nhâncủa mình khi trung bình đều lớn hơn so với trung điểm của các thang điểm tương ứngdùng trong đo lường.
Tại Việt Nam, nghiên cứu gần đây của Lưu Thị Lịch (2019) [12] cho thấy, đa sốmẫu nghiên cứu hài lòng với mối quan hệ hôn nhân trên mức trung bình khá, trong đó
có tới 13% cặp báo cáo hài lòng ở mức cao Một số nghiên cứu khác cũng phản ánhthực trạng mức độ hài lòng hôn nhân khá cao trên đa dạng mẫu nghiên cứu như:Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa (2017) [5] tìm hiểu sự hài lòng với đời sống hônnhân gia đình của 331 phụ nữ ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Kết quả chothấy, phần lớn phụ nữ miền núi khá hài lòng với đời sống gia đình và nhìn chung họ cómột đời sống hôn nhân dễ chịu và ít có ý định ly hôn Một nghiên cứu khác trên nhómmẫu tại tỉnh Quảng Ngãi cũng cho thấy có tới một nửa người tham gia cho rằng họ rấthài lòng với cuộc hôn nhân của mình và 39,5% là hài lòng (Lê Việt Nga, 2014) [14].Nguyễn Hà Đông (2015) tìm hiểu mức độ hài lòng hôn nhân trên 732 khách thể ở địabàn Hà Nội mở rộng, kết quả cũng cho thấy người dân có mức hài lòng hôn nhân cao(với M=4,04, SD=0,63, trên thang 5 điểm) [2]
Như vậy, kết quả tổng quan tài liệu các nghiên cứu về hạnh phúc hôn nhân đachiều cạnh và một chiều cạnh đặt ra vấn đề rằng, phải chăng cần một thang đo lường
mà ở đó việc đo lường hạnh phúc hôn nhân cần được diễn ra thuận tiện, ngắn gọn, đơngiản để dành nguồn lực cho việc khai thác các yếu tố tác động đến chúng Đồng thời,các kết quả nghiên cứu thực trạng mức độ cảm nhận hạnh phúc hôn nhân/hài lòng hônnhân ở trong nước cũng như quốc tế cho thấy, mọi người có xu hướng cảm thấy kháhạnh phúc trong đời sống hôn nhân Những kết quả tổng quan và một số bàn luận trên
đã gợi ý cho đề tài hướng tiếp cận nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồngtrong đời sống hôn nhân Vấn đề này sẽ được làm sáng rõ hơn trong phần cơ sở lýluận
1.2 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Nhìn từ góc độ ứng dụng trong tâm lý học, ngoài việc xác định tình trạng mốiquan hệ hôn nhân, các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến vấn đề làm thế nào để có một
Trang 26cuộc hôn nhân hạnh phúc và vấn đề này dường như được quan tâm nhiều hơn cả Tổnghợp các kết quả nghiên cứu, có thể chỉ ra 3 nhóm yếu tố tương đối phổ biến sau đây.
1.2.1 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội của cá nhân và đặc điểm cuộc hôn nhân đối với cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Giới tính và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Hôn nhân là một tổ chức thể hiện tính giới tính cao Sự khác biệt về giới được thểhiện trong các vấn đề như phân chia lao động gia đình, phong cách và trách nhiệmchăm sóc con cái, sự thể hiện tính thân mật trong tình dục và sự định hướng tâm lý(Heaton và Blake, 1999) [91] Từ sự khác biệt về những đặc điểm giới tính này mànam giới và phụ nữ có vai trò khác nhau trong quan hệ hôn nhân, cũng như quan điểm
và cách nhìn nhận của họ về mối quan hệ này là không giống nhau Do đó, rất có thể
họ nhận thức về những lợi ích và chi phí từ cuộc hôn nhân cũng sẽ rất khác nhau Điềunày cho ta gợi ý rằng những trải nghiệm, cảm nghiệm khác nhau của nam và nữ vềcuộc sống hôn nhân sẽ dẫn đến những khác nhau trong sự cảm nhận hạnh phúc của họđối với mối quan hệ vợ chồng Các nghiên cứu mối quan hệ giữa giới tính và cảmnhận hạnh phúc hôn nhân cho thấy những ý kiến không đồng nhất
Phần nhiều các nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt ý nghĩa giữa nam và nữ vềmức độ cảm nhận hạnh phúc hôn nhân và các phát hiện thường cho thấy nam giớibáo cáo hạnh phúc/hài lòng hơn nữ giới Xu hướng này được ủng hộ bởi các nghiêncứu của Amato và cộng sự (2007), Shen (2002), Whiteman, McHale và Crouter(2007) [24], [183], [210]
Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại không xác nhận sự khác biệt này như Broman(2005), Gilford và Bengtson (1979) [33], [73] không tìm thấy sự khác biệt giới tính cóliên quan đến sự hài lòng hôn nhân Hơn nữa, nghiên cứu trên cặp đôi cho thấy, đa số
vợ và chồng cho điểm như nhau về mức độ cảm nhận hạnh phúc của mỗi người vềcuộc hôn nhân của họ (Gager và Sanchez, 2003) [68] Gần đây trong một nghiên cứusiêu phân tích (meta analysis) của Jackson, Miller, Oka và Henry (2014) [99] thực hiệntrên tổng số khách thể là 101.110 người cũng cho thấy những phát hiện tương đồng.Tuy nhiên có một phát hiện quan trọng trong nghiên cứu này, kết quả ban đầu tìm thấy
sự khác biệt về mức độ hài lòng hôn nhân giữa nam và nữ là do ảnh hưởng của nhómmẫu có những người phụ nữ đang cần can thiệp lâm sàng về vấn đề hôn nhân Và sự
Trang 27chênh lệch không còn ý nghĩa khi mẫu bị bệnh được kiểm soát Như vậy, nghiên cứunày cho thấy cần phải lưu tâm đến đặc điểm mẫu nghiên cứu (đặc biệt những mẫu cóliên quan đến vấn đề sức khoẻ tâm thần) khi thực hiện các nghiên cứu để đánh giá sựkhác biệt giữa nam và nữ về hạnh phúc/hài lòng trong hôn nhân nói riêng.
Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Welch (1970) [208] cho rằng giáo dục nâng cao kĩ năng, kiến thức và trang bịnhững hiểu biết tốt hơn cho một cá nhân để họ sẵn sàng thực hiện những trao đổi/ giaodịch trong một xã hội liên quan đến thông tin Hơn thế nữa, các giá trị văn hoá có thểđược định hình bởi giáo dục, trong đó những trình độ giáo dục cao hơn có thể liênquan đến việc họ cởi mở hơn với những ý tưởng mới (nghĩa là khả năng tiếp nhận cáckhác biệt văn hoá, thay đổi xã hội, bình đẳng giới…) Bên cạnh đó, phụ nữ có trình độgiáo dục cao có thể được thể hiện nhiều kiểu vai trò hơn trong những vị trí phi truyềnthống Do đó, trình độ học vấn có khả năng chi phối đến hoạt động của ngườivợ/chồng trong cuộc sống hôn nhân và ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc về mốiquan hệ Vì thế, học vấn là biến số được khá nhiều nghiên cứu quan tâm và các nghiêncứu cho thấy những phát hiện không đồng nhất
Một số nghiên cứu ủng hộ quan điểm trình độ học vấn cao có liên quan đếnnguy cơ bất ổn và kém hạnh phúc trong hôn nhân như Houseknecht và Spaniner(1980), Kalmijn (1999) [97], [108] cho thấy, cả nam và nữ có nguy cơ ly hôn cao hơnkhi có trình độ học vấn cao Đặc biệt xảy ra rõ nét hơn ở phụ nữ, với lý giải rằng phụ
nữ có trình độ học vấn cao có nhiều khả năng có sự nghiệp và ít phụ thuộc về tài chínhhơn vào chồng của họ
Tuy nhiên một số nghiên cứu khác lại cho rằng trình độ học vấn thấp liên quanđến nguy cơ tan rã hôn nhân Heaton (2002), Jose và Alfons (2007) [90] [107] cho thấynhững phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn thì nguy cơ hôn nhân tan rã thấp hơn và cácvấn đề về điều chỉnh tình dục tốt hơn Đồng thời họ thể hiện mối quan hệ yêu thươnggần gũi với người chồng nhiều hơn, trong khi những người vợ có trình độ học vấn thấpkhông thể hiện điều đó (dẫn theo John, 2002) [101]
Một số nghiên cứu lại không tìm thấy mối quan hệ giữa trình độ học vấn và
sự hài lòng/hạnh phúc hôn nhân như Alder (2010) [21] nghiên cứu trên 60 cặp vợchồng đến từ tiểu bang Portland ở Mỹ cho thấy không có bất kì mối quan hệ có ý
Trang 28nghĩa nào giữa sự hài lòng hôn nhân và trình độ học vấn Glenn và Weaver (1978)
[77] không tìm thấy sự tương quan giữa số năm đi học và hạnh phúc vợ chồng
Tôn giáo và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Đối với nhiều người, tôn giáo là nền tảng vững chắc để xây dựng cuộc sống, hìnhthành niềm tin và thúc đẩy hành động Do đó, các vấn đề về hôn nhân cũng là mộttrong những khía cạnh bị chi phối bởi tôn giáo
Hầu hết các nghiên cứu đều ủng hộ mối quan hệ tích cực giữa tôn giáo và hạnhphúc hôn nhân, những người theo tôn giáo giúp cải thiện chất lượng hôn nhân, họ cảmthấy hài lòng và hạnh phúc với cuộc hôn nhân hơn so với những người không theo tôngiáo (Ellison, 1991; Frad, Shahabi, và Zardkhaneh, 2013) [58], [64] Những ngườitheo tôn giáo nhìn chung có khả năng điều chỉnh trong hôn nhân tốt hơn, họ nhận rađược nhiều lợi ích từ hôn nhân hơn, ít xung đột hơn, ít sử dụng những ngôn từ mangtính tấn công và bế tắc để thảo luận về những bất đồng giữa hai vợ chồng (Mahoney,Pargament và Jewell, 1999) [134] Những người có thái độ tôn giáo và tâm linh tốtthường cho thấy những đặc điểm tốt trong tính cách như họ khoan dung hơn, lạc quanhơn, kiềm chế tốt hơn, ít ích kỉ hơn và biết nghĩ cho người khác Bên cạnh đó họthường có mối quan tâm lớn đến những tiêu chuẩn đạo đức, sự kỉ luật, trách nhiệm, cólương tâm và hành xử theo lương tâm, tính kiên định trước sau như một, chung thuỷ,trung thành hơn những người không mang bản tính tôn giáo hoặc không theo tôn giáo(Kenna, 1961) [115]
Một số tác giả lại không tìm thấy hoặc tìm thấy rất ít mối quan hệ giữa tôn giáo
và hạnh phúc hôn nhân như Booth, Johnson, Branahan và Sica (1995) [32] cho thấy,việc tham gia hoạt động tôn giáo không dẫn đến cải thiện quan hệ hôn nhân hay việcgia tăng niềm tin tôn giáo làm giảm bớt ý nghĩ ly hôn
Thời gian trong hôn nhân và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Thời gian trong hôn nhân chính là “số tuổi/độ dài” của mối quan hệ vợ chồng
Nó là chỉ số cho thấy tính bền vững, lâu dài của mối quan hệ Nhưng không đồngnghĩa với việc, mối quan hệ duy trì được lâu năm là mối quan hệ hạnh phúc Do đó, sựbiến đổi hạnh phúc hôn nhân theo độ dài hôn nhân là câu hỏi được nhiều nhà nghiêncứu tìm kiếm và các phát hiện là đa dạng
Trang 29Quan điểm hạnh phúc hôn nhân là một hiện tượng ổn định được hỗ trợ bởinghiên cứu theo chiều dọc của Johnson và Talitman (1997) [106] trong vòng 8 năm.Gần đây có nghiên cứu của Ghoroghi, Hassan, và Baba (2015) [72] cũng cho rằngkhông có mối quan hệ giữa độ dài hôn nhân và chất lượng mối quan hệ.
Một số nhà nghiên cứu lại tìm thấy sự biến đổi năng động của hạnh phúc hônnhân theo thời Quan điểm hạnh phúc hôn nhân suy giảm theo thời gian có nghiên cứuchiều dọc trong vòng 20 năm của Kamp Dush và cs (2008) [111] thực hiện trên sốlượng mẫu là 1.998 người, cho thấy, theo thời gian mọi người ngày càng không hạnhphúc và không hài lòng với cuộc hôn nhân Nghiên cứu của Jansen, Troost,Molenberghs, Vermulst, và Gerris (2006) [102] cũng cho thấy sự hài lòng hôn nhân ởnhững cuộc hôn nhân dài hạn là thấp hơn so với cuộc hôn nhân ngắn hạn Nghiên cứucủa Umberson, Williams, Powers, Chen, và Campbell (2005) [198] cho thấy điềuchỉnh hôn nhân là một hiện tượng biến động trong suốt thời gian sống, chất lượng hônnhân như là một quỹ đạo phát triển theo thời gian có thăng trầm, nhưng nhìn chung họkết luận rằng chất lượng hôn nhân có khuynh hướng giảm theo thời gian Ủng hộ cho
xu hướng này, nghiên cứu tại Việt Nam của Đỗ Ngọc Khanh và Weiss (2017) [11] chothấy sự suy giảm về mức độ hài lòng hôn nhân trong hai năm đầu Trái lại, một sốnghiên cứu lại cho thấy mối quan hệ tích cực giữa hạnh phúc hôn nhân và thời gianhôn nhân như Bookwala, Sobin, và Zdaniuk (2005), Hatch và Bulcroft (2004) [31][87]
Một số quan điểm khác cho thấy sự biến đổi hạnh phúc hôn nhân không tuyếntính theo thời gian Gorchoff, John, và Helson (2008) [83] thực hiện nghiên cứu trongvòng 18 năm ở những phụ nữ đang tuổi trung niên Kết quả cho thấy sự hài lòng hônnhân tăng ở tuổi trung niên Kapinus và Johnson (2003), Peleg (2008) [112], [152]cũng tìm thấy hạnh phúc hôn nhân là cao nhất trong những năm đầu chuẩn bị làm bố
mẹ, giảm dần trong giai đoạn giữa của vai trò bố mẹ và lại tăng trở lại trong giai đoạncuối của việc thực hiện vai trò trụ cột làm bố mẹ (tức giai đoạn đứa con chuẩn bị độclập và tách khỏi bố mẹ)
Số lượng con và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Các nghiên cứu cho thấy những tác động đa dạng của số lượng con đến cảmnhận hạnh phúc hôn nhân, sự đa dạng trong mối quan hệ này đến từ các nền vănhoá khác nhau
Trang 30Một số nghiên cứu cho thấy tác động tiêu cực của số lượng con đến cảm nhậnhạnh phúc như Doss, Rhoades, Stanley, và Markman (2009), Lavee và Sharlin (1996)
[57] , [126] Việc có con liên quan tới sự gia tăng mức độ căng thẳng và lo lắng.Nghiên cứu của Ghahremani, Doulabi, Eslami, và Foumani (2017) [71] cho thấy, việcgia tăng số lượng con khiến cho phụ nữ suy giảm sự hài lòng trong hôn nhân Thậmchí phụ nữ có khuynh hướng cảm thấy tốt hơn về mối quan hệ hôn nhân khi tránhđược việc sinh đẻ, và họ không coi đó là yếu tố để tăng cường hạnh phúc hôn nhân bởiviệc sinh con khiến họ phải phân phối thời gian và năng lượng giữa con cái và ngườibạn đời (dẫn theo Ghahremani và cộng sự, 2017) [71] Việc có con và có nhiều conlàm gia tăng thời gian và năng lượng của các cặp đôi dành cho đứa trẻ thay vì dànhcho nhau, đặc biệt phụ nữ sẽ phải làm các công việc chăm sóc, nội trợ nhiều hơn và sựmâu thuẫn giữa vợ và chồng dễ dàng xảy ra (Lavee và Sharlin, 1996) [126] Một số giảthuyết đã được đưa ra để lý giải cho mối quan hệ tiêu cực này trong nghiên cứu củaTwenge, Campbell, và Foster (2003) [197] là sự xung đột vai trò, hạn chế sự tự do,không hài lòng về tình dục và các mô hình chi phí tài chính Và trong nghiên cứu củanhóm tác giả cho thấy sự xuất hiện của đứa con ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúchôn nhân là do sự xuất hiện của xung đột vai trò và hạn chế sự tự do của các cặp vợchồng
Một số quan điểm trái chiều lại cho thấy sự xuất hiện của đứa con và số lượngcon có tác động tích cực đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân như nghiên cứu củaOnyishi, Sorokowsk, Sorokowska, và Pipitone (2012) [148] thực hiện trên nền văn hoákhông phải phương Tây Nghiên cứu nhận định mối quan hệ tiêu cực giữa số trẻ và sựhài lòng hôn nhân không phải là mối quan hệ phổ quát mà rất có thể chỉ mang tính đặctrưng cho một số văn hoá – như phương Tây, văn hoá hướng vào tính cá nhân nhiềuhơn Hỗ trợ cho quan điểm này cũng có nghiên cứu của Xu, Yu, và Qiu (2015) [213]thực hiện ở các gia đình Trung quốc cho thấy số con nhiều hơn thì cuộc hôn nhân ổnđịnh hơn, giúp giảm nguy cơ ly hôn
Như vậy mối quan hệ này cho thấy các quan điểm trái chiều, cùng với đó ViệtNam cũng là đất nước mang văn hoá tính cộng đồng, vậy thì số lượng con có ảnhhưởng như thế nào đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân của các cặp vợ chồng cũng làđiều thú vị để tìm hiểu
Trang 31 Điều kiện sống và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Nhìn chung các nghiên cứu cho thấy mức sống thấp và tình trạng kinh tế khókhăn là mối đe doạ cho hạnh phúc và sự ổn định trong hôn nhân (Lichter và Carmalt,2009) [128] Nhưng cũng không đồng nghĩa với việc có mức sống và thu nhập càngcao thì chất lượng và hạnh phúc hôn nhân càng lớn (Lacy, 1998) [124] Nghiên cứucủa Mott và Moor (1977) [143] gần như không tìm thấy mối liên hệ giữa thu nhập và
sự ổn định hôn nhân Tuy nhiên, trong sự ảnh hưởng rất nhỏ của mức thu nhập, cácnghiên cứu cho thấy những cặp vợ chồng ổn định thường có mức thu nhập trung bình
1.2.2 Hoạt động chung giữa vợ và chồng trong gia đình và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Một trong những hoạt động chung quan trọng giữa vợ và chồng trong gia đình
đó chính là việc chịu trách nhiệm và phân chia thực hiện các chức năng trong gia đìnhnhư làm việc nhà, chăm sóc/giáo dục con cái, thu nhập lo cho kinh tế gia đình… Vàđây là lĩnh vực được khá nhiều nghiên cứu quan tâm trong mối quan hệ của chúng vớihạnh phúc hôn nhân
Tham gia công việc gia đình và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Nhìn chung các nghiên cứu đều tìm thấy mối quan hệ giữa hạnh phúc/ hài lònghôn nhân với phân chia lao động có thu nhập và lao động gia đình Và việc nhận thức
về sự công bằng hay bất công trong vấn đề phân chia lao động là liên kết quan trọng đểđánh giá mối quan hệ này (Coltrane, 2000) [44] Grote và Clarke (2001); Stevens,Kiger, và Mannon (2005) [85], [189] cho thấy sự thiếu phân chia lao động một cáchcông bằng làm suy giảm cảm nhận hạnh phúc hôn nhân và gắn liền với sự hài lòng hônnhân thấp
Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, vấn đề phân chia lao động việc nhà tácđộng đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân của người vợ nhiều hơn người chồng Sựnhận thức về công bằng hay bất công trong phân chia lao động việc nhà ảnh hưởngtiêu cực đến hạnh phúc hôn nhân, điều này đặc biệt xảy ra ở người vợ (Dillaway vàBroman, 2001) [54] Ủng hộ cho kết quả này, Oshio, Nozaki và Kobayashi (2013)[150] đã phát hiện rằng người vợ ít hài lòng với cuộc hôn nhân hơn người chồng bởi vì
họ phải làm việc nhà nhiều hơn Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Minh Hà
Trang 32(2017) [3] cho thấy sự bất bình đẳng giữa vợ chồng trong thực hiện việc nhà càng caothì sự hài lòng hôn nhân của người vợ càng giảm.
Tham gia công việc kiếm thu nhập và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Mối quan hệ này đặc biệt được bàn tới nhiều dưới góc độ người vợ tham giathị trường lao động Việc phụ nữ tham gia kiếm thu nhập đã thay đổi vị trí và vaitrò của người vợ trong gia đình Do đó, tình trạng thu nhập của người vợ có ảnhhưởng như thế nào đến hạnh phúc hôn nhân là vấn đề được nhiều sự quan tâm.Các nghiên cứu cũng cho thấy tính đa dạng trong các phát hiện
Thu nhập của người vợ không ảnh hưởng đến hạnh phúc hôn nhân: Rogers(1999) [164] tìm thấy sự gia tăng thu nhập của người vợ không ảnh hưởng đến nhậnthức của người chồng hay người vợ về sự bất hoà hôn nhân Hơn nữa, tác giả phát hiện
ra rằng sự gia tăng bất hoà trong hôn nhân làm tăng khả năng các bà vợ không có việclàm sẽ tham gia vào lực lượng lao động
Thu nhập của người vợ tác động tiêu cực đến hạnh phúc hôn nhân: Các nghiêncứu của Kalmijn, Loeve và Manting (2007), Rogers (2004) [109], [165] cho thấy việcgia tăng tỉ lệ thu nhập của người vợ trong hộ gia đình làm suy giảm hạnh phúc hônnhân và gia tăng nguy cơ ly hôn Tuy nhiên khi nhu cầu tài chính là vấn đề cần thiết thìmối quan hệ này không còn đúng (Furdyna, Tucker, và James, 2008) [67]
Một số nghiên cứu lại cho thấy tác động tích cực đến hạnh phúc hôn nhân khingười vợ tham gia vào việc kiếm thu nhập cho gia đình (Rogers và Deboer, 2001;Sayer và Bianchi, 2000) [167], [173] Tuy nhiên cảm nhận hạnh phúc hôn nhân củangười chồng thấp đi đáng kể khi tỉ lệ thu nhập của người vợ đóng góp vào gia đìnhtăng lên Nhưng nó không ảnh hưởng gì đến nguy cơ ly hôn mà ngược lại, gia tăng thunhập của người vợ có thể gián tiếp làm giảm nguy cơ ly hôn bởi việc tăng cảm nhậnhạnh phúc hôn nhân của người phụ nữ (Rogers và Deboer, 2001) [167] Một bộ phậnnghiên cứu khác cho rằng sự gia tăng thu nhập của người vợ góp phần thiết lập vàcủng cố sự bình đẳng giữa vợ và chồng, thúc đẩy sự chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau và sựtương tác hôn nhân hiệu quả hơn (dẫn theo Rogers và DeBoer, 2001) [167] Thêm vào
đó, sự đóng góp của thu nhập người vợ có thể cải thiện chất lượng hôn nhân bởi chia
sẻ gánh nặng về mặt kinh tế giúp vợ và chồng có nhiều thời gian cho nhau hơn(Voydanoff, 1990) [202]
Trang 33Một số nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa thu nhập và hạnh phúc hônnhân bị điều tiết bởi yếu tố thứ ba như nghiên cứu của Zhang và Tsang (2013)[219] cho thấy phụ nữ có xu hướng ít hạnh phúc hơn khi người chồng có thu nhập thấphơn họ, nhưng mối quan hệ này không còn có ý nghĩa nếu người vợ đó có tình yêudành cho chồng theo nghĩa quan tâm thực sự về hạnh phúc của anh ấy và sẵn sàng hisinh vì anh ấy.
1.2.3 Mối quan hệ giữa yếu tố tâm lý trong đời sống vợ chồng và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Sự thể hiện tình cảm vợ chồng và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Tổng hợp tài liệu cho thấy, hầu hết các nghiên cứu đều có những phát hiện đồngnhất về vai trò tích cực của tình cảm đối với đời sống hôn nhân Sự đồng nhất này thểhiện theo thời gian và cả ở các nền văn hoá đa dạng
Trong những năm của thế kỉ 20, các nghiên cứu đã xác nhận mối quan hệ tíchcực giữa tình cảm với kết quả của mối quan hệ Nghiên cứu chiều dọc củaCarstensen, Gottman, và Levenson (1995) [40] đã chứng minh bộc lộ tình cảm tíchcực là đặc điểm của những vợ chồng hạnh phúc và ổn định, trong khi sự thể hiện tìnhcảm tiêu cực là đặc trưng của những cuộc hôn nhân bất hạnh Plechaty, Courturiers,Cote và Roy (1996) [154] cũng xác nhận sự gần gũi, thân mật và tình cảm hay không
là điều khiến hầu hết các cặp đôi cảm thấy hài lòng hay không hài lòng với mối quan
hệ của họ Nghiên cứu khả năng dự báo của yếu tố tình cảm đến kết quả mối quan hệsau này đã cho thấy thiếu hụt sự gắn bó trong tình cảm trong giai đoạn tiền hôn nhân
là biến số dự báo quan trọng cho việc suy giảm sự hài lòng hôn nhân sau này (Smith,Vivian và O'Leary, 1990) [184] Tương tự, nghiên cứu của Pasch và Bradbury (1998)[151] cũng đã chứng minh những hành vi mang tính quan tâm, hỗ trợ sẽ dự đoán kếtquả tích cực cho mối quan hệ hôn nhân hai năm sau đó, và những cặp đôi thể hiện kĩnăng kém trong việc hỗ trợ và giải quyết vấn đề có nguy cơ bị rối loạn chức nănghôn nhân sau này
Mối quan hệ này vẫn không đổi trong những năm của thế kỉ 21 Các nghiên cứuđều cho thấy sự gắn bó, thể hiện tình cảm, sự thân mật/ gần gũi là những yếu tố làmtăng cường hạnh phúc và sự bền vững trong hôn nhân (Adigeb và Mbua, 2015; Rosen-Grandon và cộng sự, 2004; Wilmoth, Blaney và Smith, 2015) [19], [168], [211]
Trang 34Waters (2014) [180] cho thấy sự thể hiện tình cảm làm tăng hạnh phúc hôn nhân vàgiảm nguy cơ ly hôn Waldinger, Schulz, Hauser, Allen và Crowell (2004) [203] cũngcho thấy sự đồng cảm và sự thể hiện tình cảm lớn hơn dự đoán cho sự ổn định hônnhân cao hơn Gần đây, nghiên cứu của Schoenfeld, Loving, Pope, Huston, vàŠtulhofer (2016) [176] cũng ủng hộ cho quan điểm này với phát hiện rằng, việc cảmnhận được tình cảm từ người bạn đời sẽ khiến hôn nhân hạnh phúc hơn Trong khi việctiếp nhận những tình cảm tiêu cực hoặc thiếu vắng sự ủng hộ và chia sẻ là những điềukhiến một người cảm thấy ít hạnh phúc với cuộc hôn nhân của họ (Johnson và cộng sự,2005) [105] Hay Mondor, McDuff, Lussier, và Wright (2011) [142] cho thấy việctránh né sự ràng buộc hay không gắn bó với nhau là đặc điểm của những cặp vợ chồng
có nhiều căng thẳng Tầm quan trọng của yếu tố tình cảm cũng đã được xác nhận trongnghiên cứu của Kim (2013) [123], tác giả cho thấy, so với các yếu tố như sự hài lòngtình dục, sự giao tiếp tình dục (sexual communication) thì sự thân mật/tình cảm là yếu
tố dự báo tốt nhất để có cuộc hôn nhân hạnh phúc
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hằng, Phan Thị Mai Hương, Đặng ThịThu Trang và Phạm Phương Thảo (2018) [4] về mối quan hệ giữa sự thể hiện tình cảm
vợ chồng và sự hài lòng hôn nhân cũng cho thấy khả năng dự báo tích cực cho sự hàilòng hôn nhân, đặc biệt sự thể hiện tình cảm thông qua việc thể hiện sự gắn bó và chia
sẻ tình cảm có ý nghĩa quan trọng với cuộc hôn nhân hơn là sự thể hiện tình cảm bằngcác cử chỉ, hành động thân mật như ôm, hôn Tương đồng với phát hiện trên, nghiêncứu của Lê Việt Nga (2014) [14] cũng chỉ ra rằng lòng trung thuỷ, sự quan tâm là haitrong số những yếu tố quan trọng đối với mối quan hệ vợ chồng
Tương tác vợ chồng và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Tương tác giữa vợ và chồng là yếu tố được nhiều sự quan tâm của các nhànghiên cứu bởi tầm quan trọng của nó đối với một cuộc hôn nhân tốt đẹp Minhchứng cho điều này, nghiên cứu của Robinson và Blanton (1993) [157] trên nhữngcặp vợ chồng đã kết hôn trung bình 40 năm, các cặp đôi này đã xác định sự giaotiếp, chia sẻ và tương hỗ lẫn nhau là một trong những đặc điểm chính của cuộc hônnhân hạnh phúc
Các nghiên cứu về khả năng dự báo của sự tương tác đối với chất lượng hôn nhâncho những kết quả khá đồng nhất theo thời gian Các nghiên cứu ở thập niên 90
Trang 35trở về trước đều cho thấy mối quan hệ tích cực giữa chúng Nghiên cứu của Donnely(1993) [56] thực hiện phỏng vấn trên một mẫu lớn (6.029 người) cho thấy, những hoạtđộng trải nghiệm và chia sẻ trong hôn nhân có tương quan nghịch với khả năng ly hôn
và tần suất quan hệ tình dục thấp, nói cách khác, một cuộc hôn nhân kém hạnh phúc và
có nguy cơ ly hôn cao khi các cặp đôi ít hoạt động chia sẻ, ít tương tác với nhau.Miller (1976) [141] đã tìm thấy sự tác động mạnh mẽ của tương tác lên sự hài lònghôn nhân sau khi kiểm soát một số yếu tố như số con, tầng lớp xã hội, độ dài hônnhân Bên cạnh đó, những tương tác tiêu cực dự đoán cho một mối quan hệ suy giảmchất lượng Nghiên cứu của Markman (1981) [137] cho thấy sự rối loạn trong tươngtác ở những cặp đôi trong giai đoạn tiền hôn nhân hoặc mới kết hôn có thể dự đoán sựphát triển mối quan hệ căng thẳng cho cuộc hôn nhân sau này, hơn nữa một khi đã hìnhthành các mô hình tương tác hoạt động không đúng cách (mang tính tiêu cực) thì rấtkhó sửa đổi và rõ ràng điều này sẽ kìm hãm một mối quan hệ lành mạnh Gottman vàKrokoff (1989) [82] cũng đã chứng minh một số mô hình tương tác tiêu cực như sự bấtđồng hay những trao đổi mang tính tức giận thường được coi là có hại cho hôn nhân,đặc biệt ba mô hình tương tác mang tính phòng thủ, không nhượng bộ và rút lui khỏi
sự tương tác được xác định là nguy hại và khiến chất lượng hôn nhân suy giảm theothời gian
Trong vòng thập niên gần đây thì mối quan hệ này vẫn được chứng minh là đúng.Nghiên cứu của Armenta-Hurtarte, Sánchez-Aragón (2014) [26] càng khẳng định vaitrò của yếu tố này, khi sự tương tác không chỉ ảnh hưởng đến hạnh phúc hôn nhân củachính khách thể nghiên cứu mà còn ảnh hưởng đến sự hài lòng hôn nhân ở người bạnđời Các nghiên cứu khác cũng tìm thấy mối quan hệ tích cực Adigeb và Mbua,(2015); Schmitt, Kliegel và Shapiro (2007) [19], [175] cho thấy sự tương tác giữa cáccặp đôi thông qua trò chuyện, chia sẻ cùng nhau, dành thời gian cho nhau để cùngtham gia các hoạt động là một trong những yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đốivới hạnh phúc hôn nhân
Xung đột và cách thức giải quyết xung đột cũng được xem là một trong nhữngbiểu hiện tương tác giữa vợ và chồng Các kết quả nghiên cứu đều thống nhất cách giảiquyết tích cực, hợp tác có tương quan thuận với sự hài lòng về mối quan hệ Trong khi
Trang 36việc sử dụng cách thức giải quyết xung đột cạnh tranh, đối đầu khiến chất lượng hônnhân suy giảm (Greeff và De Bruyne, 2000; Cramer, 1999) [84], [45].
Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về khả năng tác động của tương tác vợchồng đến hạnh phúc hôn nhân Tương đồng với chủ đề này, có nghiên cứu của ĐặngThị Thu Trang, Phan Thị Mai Hương, Đỗ Thị Lệ Hằng và Phạm Phương Thảo (2018)
[16] về mối quan hệ giữa tương tác và sự hài lòng hôn nhân, nghiên cứu cho thấytương tác tích cực có quan hệ tích cực với sự hài lòng hôn nhân chung và sự hài lòng
về các khía cạnh trong đời sống hôn nhân Trong khi tương tác tiêu cực có dự báo tiêucực cho các biến số này Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Hương (2018) [7] cũng chothấy, sự chia sẻ - hỗ trợ lẫn nhau giữa vợ và chồng giúp tăng cường hạnh phúc hônnhân trong khi những tương tác mang tính bất đồng, mâu thuẫn làm suy giảm hạnhphúc mối quan hệ
Như vậy các nghiên cứu khá đồng nhất trong các phát hiện về mối quan hệ giữayếu tố tương tác và hạnh phúc hôn nhân Ở Việt Nam, chủ đề này chưa có nhiềunghiên cứu thực hiện Do đó, tìm hiểu về mối quan hệ này trong văn hoá Việt Nam sẽ
là một khoảng trống thú vị để khám phá
Yếu tố tình dục và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân
Khi xem xét sự ảnh hưởng của yếu tố tình dục đến đời sống hôn nhân, nhìnchung các tác giả đều cho thấy những phát hiện khá thống nhất về giá trị tích cực củađời sống tình dục tốt đẹp đến hạnh phúc hôn nhân như Adigeb và Mbua (2015);Schoenfeld và cs (2017); Tayebe và cs (2014) [19], [176] [193] Một số nghiên cứuthể hiện cụ thể như sau
Nghiên cứu theo chiều dọc của McNulty, Wenner, và Fisher (2016) [139] chothấy, sự hài lòng hôn nhân và sự thoả mãn tình dục đều giảm dần theo thời gian, tuynhiên mối quan hệ tích cực giữa chúng theo thời gian thì không đổi Các nhà nghiêncứu khác cũng cho thấy, sự gia tăng hài lòng trong đời sống tình dục dẫn đến tăngcường sự hài lòng hôn nhân (Rahmani, Khoei và Gholi, 2009; Ziaei và cộng sự, 2014)[156], [220] Và mối quan hệ tích cực này đúng ở cả người vợ và người chồng(Nezhad và Goodarzi, 2011) [145]
Trong nền văn hoá phương Đông, một số nghiên cứu cũng cho thấy xu hướngtích cực của mối quan hệ giữa hai biến số này Nghiên cứu của Kim (2013) [123] thực
Trang 37hiện trên nhóm khách thể là phụ nữ Hàn Quốc ở độ tuổi trung niên cũng đã khẳngđịnh, sự thoả mãn tình dục là một trong những yếu tố giúp tăng cường sự hài lòng hônnhân Tại Trung Quốc, nghiên cứu theo chiều dọc của Cao, Zhou, Fine, Li, và Fang(2019) [39] đã cho thấy, sự thoả mãn tình dục trước đó của người chồng sẽ dự đoán sựhài lòng hôn nhân sau này của họ Trong khi đối với người vợ, sự hài lòng hôn nhântrước đó của người vợ lại dự báo cho sự hài lòng tình dục của họ sau này Tại ViệtNam, xu hướng này cũng không đổi, nghiên cứu của Bùi Vân Anh (2008); Nguyễn HàĐông (2010); Lê Thị Thanh Hương, Trần Anh Châu và Lâm Thanh Bình (2017) [1],[2], [9] cho thấy đời sống tình dục tốt đẹp là điều tăng cường hạnh phúc hôn nhân.Bên cạnh những nghiên cứu mối quan hệ trực tiếp giữa tình dục và hạnh phúchôn nhân, các nghiên cứu gián tiếp về mối quan hệ này cũng được nhiều nhà nghiêncứu quan tâm Shakerian, Nazari, Masoomi, Ebrahimi, và Danai (2014); Yeh, Lorenz,Wickrama, Conger, và Elder (2006) [181], [214] đã tìm thấy tác động gián tiếp của hàilòng tình dục đến sự ổn định hôn nhân thông qua việc tăng cường chất lượng cuộcsống hôn nhân và giảm các vấn đề về mối quan hệ vợ chồng.
Một số nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, những cặp đôi hài lòng với cuộc hônnhân cho thấy nhu cầu quan hệ tình dục cao hơn và mức độ thỏa mãn cũng cao hơn sovới những cặp đôi ít/ không hài lòng với hôn nhân Họ cũng thể hiện sự đồng thuận, sựgắn kết, hài lòng và tình cảm nhiều hơn một cách đáng kể (Carvalho và Nobre, 2011)[41] Phải chăng đây là một mối quan hệ hai chiều, những ứng xử tích cực giữa vợ vàchồng khiến họ có nhu cầu quan hệ cao hơn, và thỏa mãn hơn, ngược lại sự thỏa mãntrong quan hệ tình dục khiến các cặp đôi thể hiện nhiều hành vi, ứng xử tích cực vớinhau hơn Như vậy, mối quan hệ giữa đời sống tình dục và hành vi, ứng xử của vợchồng đối với nhau là một vấn đề khá thú vị để xem xét
Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho thấy yếu tố tình dục không phải là điềuquá quan trọng đối với mối quan hệ lãng mạn Nghiên cứu của Hinchliff, và Gott(2004) [96] từ 69 cuộc phỏng vấn sâu đã cho thấy vai trò của tình dục có thể suygiảm theo thời gian Nghiên cứu của Litzinger và Gordon (2005) [130] cho rằng,nếu các cặp đôi thành công trong việc giao tiếp và tương tác thì sự hài lòng tình dụckhông có ý nghĩa tác động đến sự hài lòng hôn nhân Tuy nhiên nghiên cứu cũngcho thấy rằng, nếu các cặp đôi gặp khó khăn trong giao tiếp, nhưng lại có trảinghiệm tình dục tốt thì điều này có thể bù đắp một phần cho tác động tiêu cực của
Trang 38giao tiếp kém đối với hạnh phúc hôn nhân Hay phát hiện của Schoenfeld và cộng
sự (2017) [176] sau khi tìm hiểu khả năng dự đoán của tần suất quan hệ tình dục,
sự hài lòng với quan hệ tình dục và ứng xử giữa vợ chồng đến sự hài lòng hônnhân, tác giả đã đưa ra khẳng định, khi nói đến sự hài lòng hôn nhân, một đời sốngtình dục được thỏa mãn, một mối quan hệ ấm áp, thân mật giữa các cá nhân dường nhưquan trọng hơn là tần suất quan hệ tình dục ít hay nhiều Nghiên cứu của Nezhad vàGoodarzi (2011) [145] cũng đã cho thấy, sự thân mật về mặt tình cảm cao sẽ làm giảmbớt những tác động tiêu cực lên hạnh phúc hôn nhân do sự thiếu thoả mãn trong đờisống tình dục gây ra Ủng hộ cho quan điểm này, nghiên cứu của Fallah, Naz, Ozgoli,Mẻhabi, Farnam, và Bakhtyari (2018) [59] đã kết luận, mối quan hệ giữa sự hài lòngtình dục và sự hài lòng hôn nhân suy giảm theo các giai đoạn gia đình Và điều nàycho thấy rằng dường như xuyên suốt mối quan hệ vợ chồng, để có được hạnh phúc thìcòn có những yếu tố khác quan trọng hơn sự hài lòng tình dục
Qua kết quả tổng quan các nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân cho thấynhững khoảng trống trong nghiên cứu như sau:
Thứ nhất: Tình hình nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân trên mẫu
khách thể Việt Nam chưa nhiều Đã có các nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệhôn nhân được đề cập đến như sự hài lòng hôn nhân, tình cảm trong quan hệ vợ chồng,tình dục và sự tương tác Tuy nhiên những nghiên cứu tìm hiểu khả năng tác động của
hệ thống các yếu tố tâm lý, yếu tố hoạt động chung của vợ chồng, yếu tố nhân khẩu vàđặc điểm cuộc hôn nhân thì chưa có nhiều Bên cạnh đó, chưa có nghiên cứu thực hiệnmối quan hệ trung gian giữa các yếu tố tâm lý (tình cảm, tình dục, tương tác) trong khảnăng tác động đến hạnh phúc hôn nhân
Thứ hai: Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy những xu hướng tác động
đa dạng của một số biến số đến hạnh phúc hôn nhân Bên cạnh đó, các nghiên cứu chủyếu được thực hiện ở các nước phương Tây, một số nước tương đồng văn hoá nhưTrung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã tiến hành nghiên cứu về chủ đề này, tuynhiên những riêng biệt trong nền văn hoá của mỗi quốc gia là điều rõ ràng
Như vậy có thể nói, tại Việt Nam nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc hôn nhâncòn khoảng trống Với các lý do trên, nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc hôn nhântrên mẫu người vợ/chồng Việt Nam được đề tài thực hiện nhằm khám phá tình trạngmối quan hệ và quan trọng hơn là xác định các yếu tố có khả năng tăng cường một đờisống hôn nhân tốt đẹp
Trang 39Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu về mối quan hệ hôn nhân nói chung và hạnh phúc hôn nhân nói riêngđược dành nhiều sự quan tâm bởi các nhà khoa học trên thế giới, tuy nhiên tại ViệtNam chủ đề này mới được quan tâm trong những năm gần đây Tổng quan nghiên cứu
về lĩnh vực này bàn đến một số vấn đề được tóm lược như sau:
Thứ nhất: Tổng quan các nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân cho
thấy có hai xu hướng trong xác định cấu trúc hạnh phúc hôn nhân Đó là: hạnh phúchôn nhân đa chiều cạnh (đa thành phần) và hạnh phúc hôn nhân một chiều cạnh (đơnthành phần) Các bàn luận về tính thống nhất, tính đa dạng và mối tương quan giữahai xu hướng cấu trúc hạnh phúc hôn nhân đã được đề cập Bên cạnh đó, tổng quancác nghiên cứu cho thấy con người có xu hướng khá hạnh phúc về mối quan hệ hônnhân của họ
Thứ hai: Yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân được nghiên cứu
tập trung tổng quan ở ba nhóm yếu tố chính là: (1) Nhóm yếu tố đặc điểm nhân khẩu –
xã hội của cá nhân và đặc điểm cuộc hôn nhân (2) Nhóm yếu tố hoạt động chung của
vợ chồng trong gia đình như phân công lao động làm việc nhà, thực hiện lao độngkiếm thu nhập lo cho kinh tế gia đình (3) Nhóm yếu tố tâm lý đề cập đến đời sống tâm
lý diễn ra giữa vợ và chồng như đời sống tình cảm, đời sống tình dục, sự thể hiệntương tác/ứng xử giữa vợ và chồng Tổng quan cho thấy, nhìn chung khả năng tácđộng của nhóm yếu tố đặc điểm nhân khẩu-xã hội cá nhân và đặc điểm cuộc hôn nhân,
và nhóm yếu tố hoạt động chung của vợ chồng trong gia đình đối với cảm nhận hạnhphúc hôn nhân là đa dạng trong các nghiên cứu khác nhau với các đặc điểm mẫu khácnhau Tuy nhiên, đối với nhóm yếu tố tâm lý, khả năng tác động của chúng đến hạnhphúc hôn nhân khá ổn định qua các nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
Trang 40Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA VỢ CHỒNG
TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN
2.1 Các luận điểm về cảm nhận hạnh phúc
2.1.1 Các quan điểm về hạnh phúc
Khái niệm hạnh phúc được bắt nguồn đầu tiên từ triết học Sau đó, tâm lý học làngành đi sâu nghiên cứu về hạnh phúc từ góc độ thực nghiệm, cố gắng đo lường kháiniệm này bằng các thang đo định lượng Nhìn chung, khái niệm hạnh phúc chưa có sựthống nhất giữa các nhà khoa học bởi nó được nhìn nhận từ những quan điểm tiếp cậnkhác nhau Tổng hợp lại, Haybron (2008; 2011) [88], [89] chỉ ra 2 trường phái quanniệm về hạnh phúc là hạnh phúc chủ quan (hay còn gọi là hạnh phúc thụ hưởng) vàhạnh phúc khách quan (hay còn gọi là hạnh phúc hưng thịnh/ hạnh phúc giá trị)
2.1.1.1 Quan điểm hạnh phúc dưới tiếp cận chủ quan
Dưới góc nhìn triết học, tiếp cận chủ quan coi hạnh phúc là một trạng thái tâmtrí, nó thể hiện những cảm xúc và thái độ tích cực đối với cuộc sống nói chung hay cáckhía cạnh trong cuộc sống nói riêng Cụ thể, tiếp cận hạnh phúc theo trường phái nàycho rằng hạnh phúc là việc đạt được sự hài lòng/ thoả mãn và tránh những trải nghiệmmang lại cảm giác đau khổ Như vậy, đánh giá hạnh phúc theo tiếp cận chủ quan sẽdựa trên trạng thái chủ quan của con người, tức hạnh phúc sẽ là cảm nhận và đánh giáriêng của mỗi cá nhân (Haybron, 2008; Haybron, 2011) [88], [89]
Từ góc nhìn tâm lý học, tiếp cận chủ quan nhấn mạnh đến tính cá nhân, tính chủquan của hạnh phúc và tin rằng cá nhân người mà đang trải nghiệm cuộc sống cũngchính là người thẩm định tốt nhất cho hạnh phúc của chính họ Quan điểm này giốngvới lý thuyết hạnh phúc thụ hưởng (hạnh phúc chủ quan) từ góc nhìn của triết học - coihạnh phúc dựa trên trạng thái chủ quan của con người
Trong lĩnh vực tâm lý học, Diener E là một trong những đại diện nổi bật của
hướng tiếp cận hạnh phúc chủ quan Ông dùng khái niệm cảm nhận hạnh phúc chủ quan (subjective well-being) thay cho khái niệm hạnh phúc bởi nó khá mơ hồ Theo
ông, cảm nhận hạnh phúc chủ quan là đánh giá chủ quan của một cá nhân về tổng thểcuộc sống của họ, sự hiện diện của những cảm xúc dễ chịu và sự không hiện diện mộtcách tương đối các cảm xúc khó chịu (Diener, 1984) [50] Khái niệm này được thao