Như vậy, có thể khẳng định, cho đến thời điểm hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu về việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hiện hành từ thực tiễn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THANH QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Định hướng Nghiên cứu
Hà Nội – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THANH QUANG
Trang 3Tòa án nhân dân Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1
MỤC LỤC 4
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 9
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 9
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 9
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng 9
1.1.2.Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 13
1.1.3.Ý nghĩa của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 17
1.2 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 1986 và LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 19
1.2.1 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 19
2.1.2 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 20
1.3 PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 22
1.3.1 Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật các nước phương Tây – Hoa Kỳ 22
1.3.2.Quy định về chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Thái Lan 24 1.3.3 Quy định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2001 25
Chương 2 29
Trang 5PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29 2.1 LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 29
2.1.1 Nguyên tắc xác định tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 29
2.1.2 Quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 31 2.1.3 Phương thức chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 33 2.1.3.1 Chia một phần tài sản chung 33 2.1.3.2 Chia toàn bộ tài sản chung 34 2.1.4 Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân35 2.1.4.1 Vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 35 2.1.4.2 Vợ chồng yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 36 2.1.5 Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 38 2.1.6 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 40 2.1.7 Chấm dứt hiệu lực chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 42 2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TẠI TÒA
ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 43 2.2.1 Tình hình tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân tại Tòa án nhân dân Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh 43 2.2.2 Một số vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Tòa án nhân dân Quận 2
Thành phố Hồ Chí Minh 57 Chương 3 63
Trang 6MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN63 3.1 YÊU CẦU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 63 3.1.1 Hoàn thiện các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân phải phù hợp với thực tế quan hệ hôn nhân trong thời kỳ mới và đáp ứng nhu cầu thực tiễn 63 3.1.2 Hoàn thiện các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân phải tạo được khung pháp lý đầy đủ và hiệu quả giúp Tòa án
giải quyết các yêu cầu của đương sự 67 3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 68 3.2.1 Về quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng cho người thứ ba
(người có quyền lợi liên quan) 68 3.2.2 Quy định cụ thể trường hợp vợ chồng yêu cầu Tòa án chia tài sản chung70 3.2.3 Sửa quy định về hậu quả pháp lý của chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 70 3.2.4 Bổ sung hậu quả pháp lý khi thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu 73 3.2.5 Quy định chi tiết hơn về hình thức, thời điểm có hiệu lực và sự thay thế, hủy bỏ của thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 73 3.3 NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 75 3.3.1 Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 75
3.3.2 Tăng cường chế độ chính sách đối với Thẩm phán và các cán bộ Tòa án
và tích cực, chủ động phối hợp với các Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố về công tác xét xử và hướng dẫn áp dụng pháp luật 76
Trang 73.3.3 Tăng cường cơ sở vật chất tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2 76
3.3.4 Một số giải pháp khác 77
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa đã và đang diễn ra nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu của tất cả các mối quan hệ Việc hình thành nền kinh tế thị trường
ở nước ta, kết hợp với sự du nhập văn hóa phương Tây, diện mạo của mỗi gia đình Việt đã có những thay đổi nhất định Các quan hệ tài sản trong phạm vi gia đình cũng đã có sự chuyển mình phù hợp với xu hướng đó
Trước đây, vợ chồng hầu như bị ràng buộc tất cả về quyền và nghĩa vụ đối với gia đình Lợi ích trong các giao dịch họ thực hiện đều dưới danh nghĩa gia đình và đều chỉ được liên quan đến gia đình Việc xác lập, thay đổi, chấm dứt một giao dịch dân sự liên quan đến tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều được mặc định là quyết định chung của hai vợ chồng, họ đều phải chịu trách nhiệm với giao dịch này, dù chỉ một bên quyết định và thực hiện Rất nhiều quan điểm thời bấy giờ cho rằng, suy cho cùng, tài sản dù là chung hay riêng của vợ chồng cũng được sử dụng để đảm bảo sự tồn tại, duy trì và phát triển của gia đình Tuy nhiên, với sự thay đổi của xã hội, quan niệm này đã bộc lộ nhiều điểm “hợp tình” nhưng không “hợp lý” Ngày nay,
vợ chồng bình đẳng trong hầu hết các vấn đề mà độc lập, tự chủ tài chính là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong gia đình trẻ, chức năng kinh tế của gia đình đã chuyển từ sản xuất sang tiêu dùng, việc cả vợ
và chồng cùng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh không còn xa lạ Mỗi người đều tự chủ tài chính, có đủ tài sản riêng để đặt cơ sở vật chất cho các hoạt động nghề nghiệp và các giao dịch do mình thực hiện không phụ thuộc vào người còn lại ngày càng phổ biến Nếu được sự nhất trí đồng lòng của
vợ, chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đối với người còn lại thì đó
là một sự động viên vô cùng to lớn Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách thực
tế rằng, trong thời kỳ hôn nhân, không phải lúc nào việc đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của một bên vợ chồng cũng mang lại lợi nhuận Với việc xuất hiện nhiều mô hình sản xuất kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp
Trang 9năm 2014, chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn với các quyết định của mình
mà chủ doanh nghiệp phải gánh chịu, thì việc không tách bạch tài sản giữa
vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ gây ảnh hưởng lớn tới bên còn lại không tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh Đặc biệt, trong trường hợp người tham gia đầu tư, kinh doanh phải chịu trách nhiệm tài sản vô hạn thì việc tạo nền tảng cho các hoạt động kinh tế, sản xuất, kinh doanh, các giao dịch do mình thực hiện không phụ thuộc vào người còn lại là rất cần thiết Điều này giúp mỗi bên vợ, chồng thực hiện được quyền sở hữu đối với tài sản mà không ảnh hướng tới các các giao dịch dưới danh nghĩa gia đình Quy định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một giải pháp cực kỳ hữu ích cho vấn đề này
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội lớn của cả nước, là nơi giao thoa văn hóa phương Đông và phương Tây, sự du nhập các xu hướng ứng xử nước ngoài khiến cho việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khá phổ biến tại đây Các vụ án dân sự liên quan đến tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ lệ tương đối lớn
so với các địa phương khác trên toàn quốc Với các tranh chấp dân sự, các bên trong quan hệ thường tìm đến Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Quận 2 là một quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh, với nhiều khu đô thị, trong tương lai gần, nơi đây sẽ trở thành trung tâm tài chính thương mại mới của Thành phố Các tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại địa bàn Quận 2 đã xuất hiện trong thời gian qua
và có xu hướng tăng dần qua các năm Các tranh chấp dạng này tuy hiện nay chiếm một tỷ lệ không quá lớn nhưng có thể gia tăng nhanh chóng trong tương lai theo tình hình phát triển kinh tế và suy nghĩ tự do của mỗi cặp vợ chồng Việc hạn chế các tranh chấp về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là yêu cầu cấp thiết đặt ra trong tất cả các giai đoạn Vấn
Trang 10đề là bên cạnh quy phạm pháp luật cứng, cần phải có một hành lang pháp lý cũng như thực tiễn công bằng, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên Khi tranh chấp xảy ra, Tòa án có các thủ tục, biện pháp chuyên môn nghiệp
vụ để giải quyết kịp thời, tránh các hậu quả đáng tiếc ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên
Trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan đến chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật nước ta đã có những quy định cả về nội dung và hình thức Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng còn tồn tại nhiều bất cập làm hạn chế hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp tại Tòa án Với mong muốn đưa công trình nghiên cứu của mình được vận dụng vào thực tiễn công tác xét xử tại địa phương và đề xuất các kiến nghị pháp luật giải quyết vấn đề chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân trong điều kiện hiện nay, tác giả chọn đề tài: “Chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên
cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã được các học giả, các nhà nghiên cứu lập pháp đề cập trong các công trình của mình Trước và trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã thu thập được một số lượng tương đối các công trình nghiên cứu về vấn đề này
Luận án Tiến sĩ Luật học: Nguyễn Văn Cừ (2005), “Chế độ tài sản
của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Trường Đại học
Luật Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ Luật học gồm: Vũ Thị Hiền (2014), “Xác
định tài sản riêng của vợ chồng”, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thị
Kim Dung (2014), “Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật
Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thị Hồng Vân (2016),
“Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn”, Trường Đại học Luật Hà Nội”;… Các công trình này
Trang 11nghiên cứu khá toàn diện về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, hoặc chỉ đề cập ngắn gọn như một phần của công trình nghiên cứu Điểm cộng trong các công trình này là các nhà nghiên cứu hầu hết phân tích sự trên Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014 trên cơ sở sự so sánh với Luật HN&GĐ năm 2000, các công trình này chưa đúc kết từ quá
trình áp dụng luật HN&GĐ năm 2014 vào thực tiễn xét xử tại Tòa
Bên cạnh đó, một số luận văn như: Lưu Việt Thắng (2017), “Chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân và thực tiễn áp dụng tại Tòa
án nhân dân quận Đống Đa - Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, trường
Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Đức Quang (2017), “Chia tài sản chung của
vợ chồng và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy – Hà Nội”,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội;…Mặc dù, các công trình này được xây dựng từ thực tiễn xét xử tại địa phương, Tòa án tiến hành giải quyết vụ việc đều là các TAND trên địa bàn thành phố Hà Nội – nơi trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Tuy nhiên, mỗi địa phương
sẽ có những đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội với những quan niệm xã hội và thực tiễn cuộc sống khác nhau Do đó, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể trong Luận văn này là địa bàn Quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có những vướng mắc khác nhau từ thực tiễn xét xử các vụ án dạng này
Ngoài ra, tác giả còn tìm đọc các tạp chí: Nguyễn Văn Cừ (1995),
“Một số suy nghĩ về Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986”, Tạp chí Luật học số tháng 1/1995; Nguyễn Phương Lan, “Hậu quả pháp lý của việc
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Luật học
số tháng 6/2002; Phùng Trung Tập (2012), “Việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10/2012;
…Cũng như một số Luận văn như: Nguyễn Thị Hạnh (2012), “Chia tài sản
chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”, Đại học Quốc gia Hà Nội; Phạm Hồng Minh Hoàng (2013),
“Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật
Trang 12Việt Nam”, Luật văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội; Bùi Thị
Tố Nga (2005), “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại
học Quốc gia Hà Nội năm 2005…Mặc dù chứa đựng nhiều ý kiến tham khảo
có giá trị, nhưng các công trình này được nghiên cứu dựa trên luật HN&GĐ năm 2000, do đó, một số điều kiện và hoàn cảnh áp dụng quy phạm pháp luật cũng không còn phù hợp với sự phát triển của các quan hệ xã hội hiện nay
Như vậy, có thể khẳng định, cho đến thời điểm hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu về việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hiện hành từ thực tiễn xét xử của cơ quan tư pháp tại địa bàn Quận 2 thành phố Hồ Chí Minh Vấn đề cấp thiết đặt ra là có nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về chế định chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đặc biệt là những phương hướng được kết luận từ công tác thực tế để định hướng thực tiễn vận dụng xét xử tại TAND Quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh sau nghiên cứu
Do đó, Tác giả lựa chọn nghiên cứu về vấn đề cơ bản còn tồn tại và chưa được giải quyết hiệu quả trong công tác xét xử tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại TAND Quận 2, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm, giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này để phục vụ công tác xét xử của Tòa án
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, luận văn phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật, nhận định những điểm thuận lợi, hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn xét xử, từ đó, chỉ ra những khiếm khuyết, bất cập của pháp luật HN&GĐ và pháp luật tố tụng dân sự Thông qua các kết luận này, tác giả đưa ra một số kiến nghị về chia tài sản chung
Trang 13vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và áp dụng tại TAND Quận 2, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn xã hội
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Thứ nhất, khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn các quy định pháp luật
về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trên cơ sở so sánh với các chế định tương đồng trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới;
Thứ hai, rà soát, tổng hợp sơ lược sự phát triển chế định chia tài sản
chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong Luật HN&GĐ Việt Nam qua các thời kỳ
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo Luật HN&GĐ năm 2014
Thứ tư, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết
tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại TAND Quận 2
Thứ năm, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đưa ra một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn là:
- Quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân theo Luật HN&GĐ năm 2014, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và một số văn bản liên quan khác
- Thực tiễn xét xử về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại TAND Quận 2 – Thành phố Hồ Chí Minh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả vận dụng những kiến thức thu nhập được trong quá trình học tập, nghiên cứu các tài liệu công trình có liên quan, kết hợp với việc chọn lọc
Trang 14các bản án về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã được xét xử tại TAND Quận 2 thành phố Hồ Chí Minh, tác giả phân tích cụ thể và làm rõ vấn đề nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện luận văn này
Các phương pháp cụ thể được tác giả vận dụng bao gồm: Phương pháp phân tích, phương pháp lo-gic, phương pháp tổng hợp – thống kê, phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp chứng minh…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Việc phân tích toàn bộ các quy định pháp luật về việc
chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, so sánh với các quy phạm tương tự trong pháp luật của các nước, chứng minh tính phù hợp của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật sẽ góp phần hoàn thiện về lý luận, là
cơ sở nền tảng cho việc xây dựng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Kết quả nghiên cứu được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập chuyên ngành Luật
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá thực trạng số
lượng tranh chấp và thực tế giải quyết tranh chấp việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại TAND Quận 2 Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho người làm công tác xét xử và thực tiễn cuộc sống
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được kết cấu thành 3 chương với nội dung cụ thể sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
Chương 2: Pháp luật hiện hành về việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và thực tiễn xét xử tại TAND Quận 2 Thành phồ Hồ Chí Minh;
Trang 15Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và công tác xét xử tại TAND Quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ
CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Tài sản chung của vợ chồng cũng là một loại tài sản theo pháp luật dân sự Do đó, khi nghiên cứu vấn đề tài sản của vợ chồng, chúng ta cần phải đặt trong bối cảnh của chế định tài sản nói chung
Nếu như BLDS năm 2005 tại Điều 163 quy định “Tài sản bao gồm:
vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”, thì trong BLDS năm 2015, bên
cạnh việc giữ nguyên như quy định trong BLDS năm 2005, phạm trù tài sản
đã được quy định mở rộng hơn Khoản 2, Điều 105 BLDS năm 2015 quy
định: “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”
Theo truyền thống văn hóa của người Việt Nam, tài sản giữa vợ và chồng thường không được phân định rạch ròi mà thường coi là “của chồng, công vợ”, để nhắc nhở hai vợ chồng cùng chung lưng đấu cật, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, cùng nhau tạo lập khối tài sản chung để lại cho con cháu Tài sản chung của vợ chồng là một trong những nội dung lớn nhất của chế định tài sản chung trong Luật Dân sự, đây cũng là lĩnh vực nhận được sự quan tâm, chủ yếu lớn của công luận, đặc biệt trước bối cảnh kinh tế xã hội phát triển như hiện nay
Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu của cả vợ và
chồng và là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng “mà trong đó,
phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung” (Khoản 1 Điều 210 BLDS năm 2015) Tức là tài sản thuộc sở
hữu của vợ chồng mà với tài sản đó, việc mỗi người có quyền sở hữu bao
Trang 17nhiêu không xác định được Tuy nhiên, cũng cần khẳng định, đây là tài sản chung có thể phân chia khi vợ chồng có lý do chính đáng hay khi quan hệ hôn nhân chấm dứt
Về mặt lý thuyết, tài sản của ai sẽ thuộc quyền sở hữu của người đó Tuy nhiên, nếu đặt trong mối quan hệ gia đình, vợ chồng, nguyên tắc này sẽ không còn có thể áp dụng một cách triệt để Bởi vì, khi xác lập quan hệ vợ chồng, họ đều hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, chăm sóc cho con cái Chính đặc điểm cơ bản này của gia đình đòi hỏi cần phải có một chế định pháp lý riêng điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng nhằm tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho gia đình được tồn tại và phát triển
Tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ của các quốc gia trên thế giới được quy định gắn liền với các điều kiện kinh tế - xã hội, chế độ
sở hữu, truyền thống, phong tục tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân Tài sản chung của vợ chồng có thể được hiểu là lợi ích vật chất thuộc quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ và chồng, cả hai chủ thể này đều có thể thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản vì mục đích chung của gia đình Vì tính chất cộng đồng của hôn nhân nên đòi hỏi giữa vợ và chồng phải có một lượng tài sản chung nhất định để đảm bảo các chi phí trong cuộc sống chung, thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình, đặc biệt trong vấn đề giáo dục, chăm sóc và bảo vệ con cái
Dựa trên cơ sở đó, kế thừa và phát triển Điều 14 Luật HN&GĐ năm
1986, Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, tại Điều 33 Luật HN&GĐ năm
2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kì hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà
vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà
vợ chồng thảo thuận là tài sản chung
Trang 18Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”
Tài sản chung của vợ chồng luôn gắn với thời kỳ hôn nhân Hôn nhân tồn tại càng lâu dài thì khối tài sản chung càng có nhiều biến động Vợ chồng có thể cùng nhau lao động, sản xuất, kinh doanh để có thu nhập Từ
đó, tài sản chung của vợ chồng được tăng lên Nhưng xuất phát từ nhu cầu chung của vợ chồng và của các thành viên khác trong gia đình mà tài sản chung của vợ chồng được sử dụng để đảm bảo nhu cầu của gia đình như đảm bảo các chi phí trong cuộc sống chung, thực hiện các chức năng xã hội
cơ bản của gia đình, đặc biệt trong vấn đề giáo dục, chăm sóc và bảo vệ con cái do đó, tài sản chung của vợ chồng bị giảm đi
Tài sản chung vợ chồng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ sở hữu Để trở thành chủ thể có quyền sở hữu đối
với tài sản chung vợ chồng, các bên phải có quan hệ vợ chồng hợp pháp, tức
là hai bên phải được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định của pháp luật HN&GĐ Theo quy định của pháp luật hiện hành để có thể được pháp luật công nhận là vợ chồng, hai bên nam nữ phải tiến hành đăng ký kết
Đăng kí kết hôn quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật
về hộ tịch Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.Tại khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình
2014 thì: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau
theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.
Thứ hai, về thời gian xác lập tài sản chung vợ chồng Theo quy định
tại Khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 thì những thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản sản chung của vợ chồng bao
gồm: “… tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản
Trang 19xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”
Khoản 13, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Thời kỳ hôn
nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng
ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” Như vậy, thời kỳ hôn nhân được
tính từ khi hai bên nam nữ đăng ký kết hôn, việc kết hôn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo đúng thủ tục và các điều kiện luật định Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung sống tạo dựng tài sản nhằm nuôi sống gia đình, vì lợi ích chung của gia đình Trong thời kỳ hôn nhân, những tài sản (bao gồm cả động sản và bất động sản) do vợ chồng tạo ra đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác (trong trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận)
Do đó, sự kiện kết hôn là cơ sở xác định tài sản chung của vợ chồng Khi hôn nhân chấm dứt, có phán quyết của Tòa án về việc ly hôn giữa vợ chồng là thời điểm chấm dứt chế độ tài sản chung
Thứ ba, về hình thức sở hữu Theo quy định tại Điều 213 BLDS năm
2015 và Khoản 2 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 thì “Tài sản chung của
vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia”
Phần quyền sở hữu của vợ hoặc chồng không được xác định trong khối tài sản chung Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền năng như nhau trong thực hiện các quyền đối với tài sản không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi người Tài sản chung vợ chồng được xác lập căn cứ vào thời kỳ hôn
Trang 20nhân của vợ chồng, do vậy tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải
do hai vợ chồng cùng tạo ra Tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng không phụ thuộc vào điều kiện vợ chồng sống chung hay sống riêng Trong thời kỳ hôn nhân, có thể do điều kiện sức khỏe, nghề nghiệp dẫn đến sự chênh lệch thu nhập của mỗi bên, tuy nhiên, điều này không có nghĩa là có
sự khác nhau về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
Như vậy, vợ chồng có quyền quản lý tài sản chung, cùng khai thác công dụng của tài sản chung, hưởng hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản đó, đồng thời được thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến khối tài sản này sau khi có sự đồng thuận nhất trí từ người còn lại Tính chất tài sản chung hợp nhất sẽ tồn tại trong suốt thời kỳ hôn nhân nếu trong thời kỳ hôn nhân
vợ chồng không có thỏa thuận chia tài sản
Thứ tư, việc giới hạn thực hiện định đoạt tài sản chung vợ chồng Xuất
phát từ lợi ích chung khi vợ chồng cùng xây dựng khối tài sản chung vợ chồng, pháp luật quy định tài sản chung vợ chồng được sử dụng để đảm bảo các nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng, chăm sóc con cái Việc định đoạt tài sản chung liên quan đến bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; tài sản đang
là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình; thỏa thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh thì các quyết định này phải được hai bên vợ chồng bàn bạc, thảo luận thống nhất và được thể hiện bằng văn bản
1.1.2 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân
Là một quốc gia phương Đông, quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ phong tục tập quán, truyền thống văn hóa cũng như thực tế đời sống hôn nhân của những người đi trước Trước khi Luật HN&GĐ năm 1986 được ban hành, pháp luật xác định sở hữu chung vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, tức
là toàn bộ khối tài sản vợ chồng có trước khi kết hôn hoặc có được trong
Trang 21thời kỳ hôn nhân, không phân biệt nguồn gốc, công sức đóng góp thì đều được xác định là tài sản chung vợ chồng Việc quy định như vậy là phù hợp với điều kiện kinh tế thời bấy giờ, khối tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn chưa manh nha xuất hiện
Kể từ Luật HN&GĐ năm, 1986 được ban hành, với những thay đổi của các quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất, quan hệ hôn nhân đã phát sinh những vấn đề phức tạp hơn, khi mà khối tài sản chung vợ chồng ngày càng lớn lên, kéo theo đó là khối lượng các giao dịch dân sự của mỗi bên vợ chồng với bên ngoài không ngừng gia tăng Do đó, pháp luật đã có những thay đổi để kịp thời dự liệu và xử lý các tranh chấp phát sinh của vợ chồng
Đến nay, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không được ghi nhận bằng các định nghĩa cụ thể trong các văn bản pháp
luật Tại Khoản 1, Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2014 ghi nhận: “Trong thời
kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”
Trên cơ sở kế nghiên cứu khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau: “Chia tài sản chung trong
thời kì hôn nhân là việc trong thời kỳ hôn nhân, hai vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản hoặc yêu cầu Tòa án chia một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc
sở hữu chung của vợ chồng cho mỗi bên vợ hoặc chồng”
Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không phải là phân chia theo nghĩa thông thường Đây không phải là việc chấm dứt tình trạng sở hữu chung hợp nhất bằng cách chia cho vợ, chồng hoặc chấm dứt một khối lượng tài sản để phần tài sản mỗi người nhận được sau khi chia ngang với giá trị phần quyền của người đó trong khối tài sản
Trang 22chung Khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ và chồng
có thể thỏa thuận rằng người vợ hoặc người chồng được nhận nhiều tài sản hơn, dù trên thực tế, công sức đóng góp của người nhận nhiều tài sản hơn vào việc tạo lập, phát triển khối tài sản chung không tương ứng với giá trị số tài sản được nhận Đối với khối tài sản chung còn lại không được chia thì nó vẫn tiếp tục thuộc khối tài sản chung của vợ chồng và được áp dụng theo nguyên tắc quản lý, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung theo quy định của Điều 35 của Luật HN&GĐ năm 2014
Các đặc điểm của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân:
Thứ nhất, việc chia tài sản được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân
Việc chia tài sản thuộc sở hữu chung của hai người chưa kết hôn hay chia tài sản của hai người đã và đang làm thủ tục ly hôn đều không được coi là chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Thứ hai, có tồn tại khối tài sản chung giữa hai vợ chồng Khối tài sản
chung này phải thuộc quyền sở hữu chung của hai vợ chồng, có thể là tài sản đang hiện hữu hoặc là tài sản hình thành trong tương lai
Thứ ba, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm
dứt sở hữu chung vợ chồng Việc chia tài sản chung này không chỉ đơn thuần như việc chia tài sản chung thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất như quy định tại Điều 213 BLDS năm 2015, khối tài sản chung vẫn có thể còn tồn tại hoặc xuất hiện (trong trường hợp không chia hết hoặc sau khi chia lại được thừa kế chung, tặng cho chung, hay vợ chồng khôi phục lại chế
độ tài sản chung )
Việc chia tài sản chung sẽ có trong tương lai, trong một giới hạn nào
đó có thể được đồng hóa với việc thay đổi cơ sở pháp lý việc hình thành các khối tài sản của vợ chồng Ví dụ: Nếu vợ chồng thỏa thuận rằng từ nay về sau tiền lương, thu nhập khác của mỗi người, các tài sản được vợ chồng tạo
ra trong thời kỳ hôn nhân tiếp theo là tài sản riêng của mỗi người, điều này
Trang 23đồng nghĩa với việc vợ chồng đã từ chối áp dụng quy tắc của chế độ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Việc thay thế một cách có hệ thống các quy tắc về thành phần cấu tạo của các khối tài sản bằng các thỏa thuận đặc thù có thể dẫn đến sự hình thành các chế độ tài sản đặc thù không được luật dự kiến
và điều đó cũng có nghĩa rằng bằng con đường thỏa thuận, vợ chồng có thể loại bỏ hoàn toàn các quy tắc thuộc chế độ chung về tài sản và đặt các quan
Thứ tư, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm ảnh
hưởng tới quan hệ nhân thân của vợ chồng Sau khi chia tài sản chung, quan
hệ vợ chồng vẫn tồn tại trước pháp luật, do đó, mọi quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng đối với nhau như chung thủy, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc vẫn được tiếp tục duy trì Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoàn toàn không phải là ly thân như một
số quốc gia trên thế giới hay cách hiểu thông thường trong xã hội
Thứ năm, việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
dựa trên nền tảng sự thỏa thuận vợ chồng Trong trường hợp vợ chồng không đạt được sự thỏa thuận thì Tòa án thực hiện phân chia theo nguyên tắc chia đôi Tuy nhiên, lúc này Tòa án có thể căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên vào khối tài sản chung này để phân chia
Chia tài sản chung như một biện pháp hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh nghề nghiệp của vợ chồng Nếu như chỉ để tạo điều kiện cho vợ hoặc chồng thực hiện nghĩa vụ riêng hoặc phát triển dự án kinh doanh riêng thì vợ chồng có thể thỏa thuận về việc dành cho người đó có phần tài sản riêng lớn hơn nhằm đáp ứng nhu cầu huy động vốn để trả nợ hoặc để kinh doanh của người này mà không quan tâm đến công sức đóng góp của người này hay người kia vào việc tạo lập, phát triển khối tài sản chung Trong trường hợp sau này, việc xác định phần quyền của vợ chồng trong khối tài sản chung
1
Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân,
http://voer.edu.vn/m/chia-tai-san-chung-trong-thoi-ky-hon-nhan/3502fb9a
Trang 24được phân chia thường chỉ được thực hiện sau khi đã chia xong khối tài sản
đó
Trong quá trình tự thỏa thuận việc phân chia, vợ chồng có thể dựa vào các quy định liên quan đến công sức đóng góp của người này hay người kia vào sự phát triển của khối tài sản chung để thanh toán khối tài sản đó trước khi tiến hành phân chia Đối với trường hợp Tòa án phân chia, Tòa án
sẽ chia đôi tài sản chung trên cơ sở xem xét một số yếu tố Trong đó, yếu tố đống góp của vợ hoặc chồng cả về mặt vật chất lẫn phi vật chất (lao động trong gia đình, không phát sinh thu nhập) là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc xem xét, phân chia tài sản
1.1.3 Ý nghĩa của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mang một ý nghĩa quan trọng, giúp cho vợ chồng được tự chủ, độc lập trong kinh tế nhưng vẫn không làm mất đi tính cộng đồng trong quan hệ hôn nhân cũng như truyền thống của gia đình Việt Nam Ý nghĩa này được thể hiện qua các phương diện sau:
Thứ nhất, việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thể
hiện việc tôn trọng quyền tự do định đoạt, tự do thỏa thuận tài sản của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân Theo đó, các bên có quyền tự định đoạt đối với các tài sản của mình trong trường hợp không muốn rằng buộc khối tài sản đó với quan hệ hôn nhân Quy định này cho phép các bên trong quan hệ hôn nhân có sự chủ động, toàn quyền trong việc làm ăn, kinh doanh của mình
Thứ hai, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một giải
pháp để loại bỏ các mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản Tài sản chung của vợ chồng theo quy định pháp luật phải được quản lý theo sự nhất trí của hai người, định đoạt theo sự thỏa thuận của hai
Trang 25người mà hai người thì không phải bao giờ cũng có thể nhất trí về cách quản
lý của nhau, bằng lòng về cách định đoạt tài sản của nhau và như thế thì chắc chắn sẽ có mâu thuẫn phát sinh, mâu thuẫn đó khiến cho việc dịch chuyển tài sản bị chậm lại, có khi bị ngừng lại gây bất lợi cho kinh tế gia đình Còn việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu cá nhân thì không cần có sự nhất trí, sự bằng lòng của nhau, chính vì vậy mà việc chia tài sản chung sẽ là một giải pháp để loại bỏ các mâu thuẫn trong quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản
Thứ ba, việc chia tài sản chung này giúp các chủ thể trong quan hệ
hôn nhân bảo vệ được khối tài sản của mình trong trường hợp bên vợ (chồng) còn lại có những hành vi gây tổn hại đến khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc giữa hai bên phát sinh những mâu thuẫn nghiêm trọng
về tài sản nhưng các bên không muốn ly hôn Việc chia tài sản chung là một giải pháp cho các cặp vợ chồng có tuổi vì lý do nào đó mà có mẫu thuẫn sâu sắc về tình cảm, nhưng lại không dám ra Tòa án ly hôn do sợ điều tiếng của
dư luận, sợ mất hòa khí gia đình, sợ con cái lo buồn, sợ hàng xóm chê cười Quy định này tạo điều kiện cho họ được có tài sản riêng để sống độc lập, tránh đối mặt với các mâu thuẫn
Thứ tư, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba Đây là
trường hợp bên thứ ba có tranh chấp về tài sản với một trong hai bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân Khi đó, chủ thể trong quan hệ hôn nhân có quyền sử dụng tài sản được chia trong thời kỳ hôn nhân của mình để giải quyết các nghĩa vụ dân sự liên quan
Quy định về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã đánh dấu sự chuyển mình theo thời đại của các quy định pháp luật về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng Việt Nam trong một thời gian dài tồn tại dựa vào nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nên tư duy của con người khó lòng thoát khỏi nguyên tắc của xã hội trồng lúa nước - đó là ổn định để tồn tại, đoàn kết
để tồn tại, chính vì thế mà người ta thường lạ lẫm với việc rạch ròi về tài sản, nhất lại là tài sản của vợ chồng, nếu như cặp vợ chồng nào có sự độc lập
Trang 26về tài chính với nhau hay sự phân định “của anh, của tôi” thì thường bị người ta chê cười Sang thời đại của công nghệ thông tin, của Internet, của thẻ tín dụng, của toàn cầu hóa… mỗi cá nhân không thể bị bó buộc trong lối
tư duy cũ đó nữa Và con người thực sự cần sự độc lập hơn về tài chính để
có thể tồn tại trong xã hội hiện đại Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như một giải pháp để dung hòa giữa truyền thống xưa và tư duy của ngày nay
1.2 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 1986 và LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 1.2.1 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 đã quy định: “Khi hôn nhân còn tồn
tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo qui định ở Điều 42 của Luật này”
Như vậy, sau khi chia tài sản chung của vợ chồng, quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại trước pháp luật, các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng theo luật định vẫn có ý nghĩa chi phối cả hai bên Điều 16
Luật HN&GĐ năm 1986 quy định “Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có
trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời
kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng” Luật HN&GĐ năm 1986 không quy định
rõ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ các tài sản được chia trong thời kỳ hôn nhân hoặc các tài sản do mỗi bên tạo lập sau khi đã chia tài sản chung là tài sản riêng hay tài sản chung Vì lý do đó, khi vợ chồng ly hôn trên thực tế các Tòa án vẫn coi tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng, đồng thời áp dụng Điều 42 Luật HN&GĐ năm 1986 để xét xử
Trang 27Tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể được chia trong thời kỳ hôn nhân khi có lý do chính đáng và có yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Chỉ
có một cách thức chia duy nhất là quyết định của Tòa án Luật HN&GĐ năm
1986 không dự liệu các lý do chính đáng nên việc đánh giá lý do chính đáng hoàn toàn phụ thuộc vào Tòa án Tại Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của Luật HN&GĐ năm 1986 có nêu trường hợp được coi
là lý do chính đáng đó là vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn ly hôn mà chỉ muốn ở riêng Nguyên tắc chia được áp dụng theo Điều 42 của Luật HN&GĐ năm 1986 về chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn Luật HN&GĐ năm 1986 cũng không dự liệu hậu quả pháp lý
về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Các văn bản dưới luật cũng không hướng dẫn vấn đề này Vấn đề nhập lại tài sản riêng có được do chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng không được quy định trong luật Tại Điều 16 Luật HN&GĐ năm 1986 cũng chỉ quy định về việc nhập hay không nhập các tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được
2.1.2 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Xuất phát từ thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng định đoạt tài sản chung, xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…) Luật HN&GĐ
năm 2000 trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 18 “khi hôn nhân tồn tại, nếu
một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng…” Luật HN&GĐ năm 1986 tiếp tục quy định chia tài sản chung của
2
Phạm Thị Linh Nhâm, Từ chia tài sản chung đến thảo thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân, Công trình NCKH của sinh viên, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008
Trang 28vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được cụ thể hóa tại Điều 29 quy định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và Điều 30 với nội dung về hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng, các quy định này được hướng dẫn từ Điều
6 đến Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 (sau đây gọi chung là Nghị định số 70/2001/NĐ-CP)
Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, trong trường hợp có lý
do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
có thể được thực hiện thông qua thoả thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Toà án Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất của chế định này so với chế định ly thân được quy định trong pháp luật của một số nước phương Tây Tuy nhiên, quan hệ
sở hữu giữa vợ và chồng đối với tài sản đã có sự thay đổi rất nhiều Theo
Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2000 “Trong trường hợp chia tài sản chung của
vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng” và theo Nghị định số 70/2001/NĐ-CP tại Điều 8 hậu
quả chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân có quy định phần tài sản mà vợ, chồng được chia, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên trừ khi vợ chồng có thoả thuận khác Mặt khác, các quy định ở Điều 9
và Điều 10 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP về “khôi phục chế độ tài sản
chung của vợ chồng” đòi hỏi vợ chồng đã chia tài sản chung mà sau đó
muốn khôi phục lại chế độ tài sản chung thì phải lập thành văn bản có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể xảy ra theo hai trường hợp: Chia một phần hoặc chia toàn bộ Các quy định
Trang 29tại Khoản 2 Điều 8, Điều 9, Điều 10 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP nhằm dự liệu trường hợp chia toàn bộ tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Tại thời điểm ban hành, các quy định này đã bị chỉ trích bởi các chuyên gia
về Luật HN&GĐ do chúng mâu thuẫn với Điều 27 của Luật HN&GĐ năm
2000
Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, việc quy định tại Khoản 2 Điều
8, Điều 9, Điều 10 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP là sự mềm dẻo, linh hoạt trong việc thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng trong các trường hợp cần thiết, chính đáng, đây cũng chính là tiền đề cho việc thiết lập chế định chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của Luật HN&GĐ 2014 sau này
Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Toà án tuyên bố là vô hiệu Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm
2000 lại không quy định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thoả thuận này vi phạm các điều kiện được quy định tại Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không
có tài sản để tự nuôi mình
Mặt khác, Luật HN&GĐ năm 2000 cũng chưa quy định hậu quả pháp
lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với thoả thuận chia tài sản chung
1.3 PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.3.1 Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật các nước phương Tây – Hoa Kỳ
Trang 30Ở các nước phương Tây, một trong các đặc thù của pháp luật hôn nhân và gia đình của các quốc gia này là sự đề cao quyền tự do cá nhân, tự
do thỏa thuận và quyền tự do định đoạt của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt là trong quan hệ giữa vợ và chồng Nhà làm luật ở các nước này quan niệm hôn nhân thực chất là một loại “hợp đồng dân sự”, hôn nhân chỉ khác với những loại hợp đồng dân sự thông thường khác ở tính chất “long trọng” trong thiết lập (việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước hoặc nhà thờ có thẩm quyền theo một nghi thức đặc biệt được quy định trong pháp luật) và trong việc chấm dứt (theo quy định của pháp luật, hôn nhân chỉ chấm dứt khi có sự kiện vợ, chồng chết hay có tuyên bố của Tòa án một bên vợ, chồng đã chết hoặc khi có bản án quyết định của Tòa án
về ly hôn có hiệu lực pháp luật, tất cả các trường hợp chấm dứt ly hôn này phải được tiến hành theo thủ tục hành chính hoặc thủ tục tố tụng tại Tòa án
đã được pháp luật quy định)
Với quan niệm trên, nhà làm luật phương Tây đề cao quyền tự do cá nhân, quyền tự định đoạt đối với tài sản của vợ chồng Tự do lập hôn ước đã trở thành một nguyên tắc và là giải pháp đầu tiên khi quy định về chế độ tài sản của vợ chồng và “dứt khoát” chế độ tài sản của vợ chồng, trước hết phải
do chính bản thân của vợ chồng lựa chọn, thỏa thuận; pháp luật chỉ quy định một chế độ tài sản cho họ khi và chỉ khi vợ chồng không có hoặc không thỏa thuận được một chế độ tài sản cho mình Trong hôn ước, các bên kết hôn tuyên bố một chế độ hôn sản sẽ áp dụng đối với họ Đây là mục đích cơ bản nhất của việc lập hôn ước3
Tại Hoa Kỳ, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản ước định, luật pháp chỉ can thiệp vào việc quy định tài sản của vợ chồng khi họ không lập hôn ước (hay còn gọi là Hợp đồng tiền hôn nhân – Prenuptial agreement)
và việc quy định về tài sản của vợ chồng ở mỗi bang lại có sự khác nhau
3 http://moj.gov.vn/UserControls/News/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/qt/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDo i&ListId=75a8df79-a725-4fd5-9592-517f443c27b6&SiteId=b11f9e79-d495-439f-98e6-
4bd81e36adc9&ItemID=1823&SiteRootID=b71e67e4-9250-47a7-96d6-64e9cb69ccf3
Trang 31Tuy nhiên, pháp luật Hoa Kỳ cũng cho phép các cặp vợ chồng được lập hậu hôn ước – Postnuptial agreemant – một loại khế ước được lập sau khi kết hôn nhưng trước khi ly hôn, để quy định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
Theo đó, có ba kiểu hậu hôn ước:
Một là, hậu hôn ước quy định về tài sản của vợ chồng khi xảy ra cái chết của một người, như vậy thì người còn sống sẽ không phải nhận tài sản
từ di chúc hay từ quy định của pháp luật về thừa kế
Hai là, hậu hôn ước quy ước về những tranh chấp khi ly hôn và tránh việc phải theo sự phân xử của Tòa án bằng việc quy định rõ về việc chia tài sản về quyền nuôi con, về việc cấp dưỡng Hậu hôn ước loại này được bao gồm với bản án ly hôn của tòa
Ba là, hậu hôn ước quy định về quyền lợi tài sản trong thời kỳ hôn nhân, bao hồm: quy định về việc giới hạn hay từ bỏ việc cấp dưỡng; đặt khối tài sản có được trong suốt thời kỳ hôn nhân trong tình trạng riêng biệt
Như vậy, có thể thấy, kiểu hậu hôn ước thứ ba cũng là một hình thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Hậu hôn ước này phải lập bằng văn bản có chữ ký của cả hai vợ chồng, giá trị của hậu hôn ước chỉ được công nhận khi tài sản của nhau được các bên biết rõ, không có sự đe dọa, lừa dối hay cưỡng ép trong việc lập hôn ước Sau khi lập hôn ước, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ biệt sản
1.3.2 Quy định về chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
theo pháp luật Thái Lan
Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định, tài sản chung của
vợ chồng chỉ có thể chia trong thời kỳ hôn nhân trong các trường hợp cụ thể sau:
- Một bên vợ hoặc chồng có nghĩa vụ tài sản riêng nhưng không có hoặc không đủ tài sản riêng để thực hiện, phải thực hiện bằng phần tài sản
Trang 32của mình trong khối tài sản chung (Điều 1488 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan);
- Một bên vợ hoặc chồng có hành vi vi phạm nghĩa vụ quản lý tài sản chung như: Gây mất mát tài sản chung mà không có lý do chính đáng; lâm vào tình trạng nợ nần hoặc chịu những món nợ vượt quá 1/2 giá trị tài sản chung; cản trở vợ hoặc chồng mình trong việc quản lý tài sản chung mà không có lý do chính đáng (Điều 1484 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan);.
- Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố phá sản (Điều 1491, Bộ luật Dân
sự và Thương mại Thái Lan);
- Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên mất năng lực hành vi và người kia
bị coi là không thích hợp để làm người giám hộ và do đó cha, mẹ của người
đó hoặc một người ngoài được chỉ định làm người giám hộ thì người giám
hộ đó sẽ trở thành người đồng quản lý tài sản chung với người kia Trong trường hợp này, vợ hoặc chồng của người bị mất năng lực hành vi có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung nếu có tình huống quan trọng gây nguy hại cho họ (Điều 1598, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan)
Sau khi chia tài sản chung thì phần tài sản chia cho mỗi bên vợ chồng trở thành tài sản riêng của họ Bất cứ tài sản nào mà vợ hoặc chồng có được sau khi chia sẽ là tài sản riêng của người đó và không được coi là tài sản chung Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung trở thành tài sản riêng chia đều cho mỗi bên Hoa lợi thu được từ tài sản riêng của người nào thuộc sở hữu của người đó Chế độ tài sản chung chỉ được Tòa án cho phục hồi khi có yêu cầu của vợ, chồng và khi các lý do chia tài sản chung đã hết (Điều 1492, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan)
Chế độ tài sản chung chỉ được tòa án cho phục hồi khi có yêu cầu của
vợ, chồng và khi các lý do dẫn đế việc chia tài sản chung đã chấm dứt
1.3.3 Quy định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2001
Trang 33Quyền sở hữu của vợ chồng ở Trung Quốc được điều chỉnh theo phương thức quy ước của vợ chồng song song với những quy định của pháp luật:
Theo quy định của Điều 17 Luật Hôn nhân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm 2001) thì:
“Trong thời gian còn duy trì quan hệ hôn nhân những tài sản dưới đây
thuộc về sở hữu chung của hai vợ chồng:
- Lương, tiền thưởng;
- Lợi nhuận từ sản xuất và kinh doanh;
- Lợi nhuận từ quyền sở hữu tài sản trí thức;
- Tài sản có được nhờ thừa kế, hiến tặng nhưng ngoài quy định tại
Điều 18 Chương 3 của luật này;
- Những tài sản khác mà cần thuộc về sở hữu chung
Đối với những tài sản thuộc sở hữu chung, hai vợ chồng bình đẳng
về quyền xử lý”
Điều 18, Luật Hôn nhân và Gia đình Trung Quốc năm 2001 quy định:
“Tài sản sau sẽ thuộc sở hữu của chồng hoặc vợ:
a) tài sản trước hôn nhân thuộc sở hữu của một bên;
b) thanh toán tiền điều trị y tế hoặc trợ cấp sinh hoạt cho người tàn tật phát sinh từ thương tích cơ thể ở một trong hai bên;
c) các đồ vật sống đặc biệt được sử dụng bởi một trong hai bên; d) tài sản khác sẽ được sử dụng bởi một trong hai bên”
Tuy nhiên Luật HN&GĐ (sửa đổi năm 2001) có quy định cho vợ chồng quy ước để những tài sản trên không còn là tài sản chung nữa Theo điều 19:
“Hai vợ chồng có thể quy ước những tài sản có được trong thời gian
quan hệ hôn nhân còn duy trì và những tài sản trước hôn nhân thuộc về sở
Trang 34hữu cá nhân, sở hữu chung hoặc sở hữu cá nhân bộ phận, sở hữu chung bộ phận
Quy ước được ghi lại bằng văn bản Nếu không có quy ước hoặc quy ước không rõ ràng, áp dụng thích hợp theo quy định của Điều 17 và 18 luật này
Quy ước về những tài sản có được trong thời gian quan hệ hôn nhân đang được duy trì và những tài sản trước hôn nhân, có sức ràng buộc đối với cả hai phía”
Theo quy định này thì vợ chồng hoàn toàn có thể thương lượng với nhau về vấn đề tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Việc quy ước này phải được lập thành văn bản, văn bản này có thể được công chứng Nếu không có bản thỏa thuận này hoặc bản thỏa thuận này không rõ ràng thì mới
áp dụng thích hợp theo Điều 17 và Điều 18 (quy định về tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng)
Kết luận chương 1
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập
do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Khi hôn nhân đang tồn tại, mỗi bên hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu chia tài sản
Trước khi Luật HN&GĐ năm 1986 được ban hành không đặt ra vấn
đề chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luật HN&GĐ năm
1986 trên cơ sở Hiến pháp năm 1980 về quyền sở hữu riêng của công dân,
đã quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Quy định này được tiếp tục kế thừa tại Luật HN&GĐ năm 2000 và phát triển hơn trong Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 35Quy định về chia tài sản riêng vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã được quy định phổ biến ở các nước phương Tây cũng như các quốc gia châu
Á
Trang 36Chương 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
2.1.1 Nguyên tắc xác định tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân
Nguyên tắc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là những đặc trưng của pháp luật, xác định những vấn đề cơ bản định hướng cho hoạt động của các chủ thể tham gia vào việc giải quyết chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Theo Luật HN&GĐ năm 2014, việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận giữa vợ và chồng
Việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân xuất phát từ nhu cầu thực tế đời sống của họ Hai bên có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc chia toàn bộ khối tài sản chung được tích lũy trong thời kỳ hôn nhân của họ Người thứ ba hay các chủ thể có liên quan đến khối tài sản chung này không thể can thiệp vào thỏa thuận phân chia Nếu đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì thỏa thuận này sẽ được pháp luật công nhận
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2014 thì thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải lập thành văn bản, được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc những trường hợp pháp luật yêu cầu phải công chứng
Tuy nhiên, pháp luật cũng giới hạn việc tự do thỏa thuận này phải đảm bảo sự hài hòa và đảm bảo tôn trọng lợi ích của các chủ thể khác có liên
Trang 37quan, không được trái pháp luật và đạo đức xã hội Những thỏa thuận trái với quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của các chủ thể khác sẽ không được thừa nhận và sẽ bị vô hiệu Điều 42 Luật HN&GĐ năm
2014 quy định về các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
bị vô hiệu Theo đó, việc chia tài sản sẽ bị coi là vô hiệu nếu việc chia tài sản này ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân
sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; hoặc nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ về tài sản
Thứ hai, việc chia tài sản chung vợ chồng phải đảm bảo bình đẳng giữa vợ và chồng
Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng thể hiện qua việc hai người cùng bàn bạc, quyết định các vấn đề nhân thân và tài sản liên quan đến đời sống gia đình Việc hai vợ chồng có thể cùng nhau thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa
án giải quyết việc chia tài sản chung cũng đã thể hiện sự tự định đoạt và phân chia tài sản của họ Khối tài sản này không nhất thiết phải do vợ chồng cùng tạo ra mà có thể có sự chênh lệch về công sức đóng góp của mỗi bên trong tài sản chung này Mang bản chất của một thỏa thuận dân sự, pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt của hai bên chủ thể Theo Khoản 3 Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2014, trong trường hợp hai người không tự thỏa thuận được mà yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 59
về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn để giải quyết Tức
là, khối tài sản chung của vợ chồng đã tích lũy trong thời kỳ hôn nhân được chia đôi nhưng có xem xét đến tình trạng, hoàn cảnh, công sức đóng góp của mỗi bên bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập Tòa án cũng cân nhắc đến lỗi của mỗi bên trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của vợ chồng (Khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014)
Trang 382.1.2 Quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân
Quyền yêu cầu chia tài sản chung trước tiên được quy định tại Khoản
1, Điều 219 BLDS năm 2015, theo đó: “Trường hợp sở hữu chung có thể
phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung”, việc này thể hiện quyền năng tự định đoạt số phận pháp lý đối với
tài sản thuộc sở hữu của mình của các chủ sở hữu Theo quy định tại điều luật này, việc yêu cầu được chia tài sản chung của chủ sở hữu chung không cần có lí do chính đáng
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một trường hợp của chia tài sản thuộc sở hữu chung Theo quy định của Luật HN&GĐ thì tài sản chung vợ chồng chỉ được chia khi có lý do chính đáng
và theo thỏa thuận của vợ chồng (trong trường hợp hai vợ chồng không tự thỏa thuận được thì mới yêu cầu tòa án chia)
Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo bình đẳng giữa vợ và chồng, Điều 38
Luật HN&GĐ năm 2014 đã khẳng định rõ: “Trong thời kỳ hôn nhân, vợ
chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung ”
Như vậy có thể hiểu, người có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân, ngoài vợ và chồng ra thì không có chủ thể nào có được quyền này Việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể coi là một ngoại lệ của Khoản 2, Điều 219 BLDS năm 2015 về việc chia tài sản
thuộc sở hữu chung “trường hợp có người yêu cầu một người trong số các
chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác…”, bởi vì quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là quyền gắn với nhân thân của họ Ngay cả trong trường hợp, hai vợ chồng có nghĩa vụ tài sản đối với người thứ ba thì người thứ ba không có quyền yêu cầu vợ chồng hay Tòa án
Trang 39buộc hai vợ chồng phải chia tài sản chung của họ trong thời kỳ hôn nhân Quyền yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ được thực hiện đối với người có tư cách “vợ” hoặc “chồng” Có thể nói, việc pháp luật không thừa nhận việc khởi kiện yêu cầu chia tài sản của người thứ ba là hoàn toàn hợp lý
Tuy nhiên, việc quy định phủ nhận quyền khởi kiện chia tài sản chung
vợ chồng của người thứ ba cũng dẫn đến khó khăn trong thực tiễn, nếu như một bên vợ chồng có nghĩa vụ riêng rẽ với người thứ ba nhưng người này không thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của mình để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ đó thì quyền lợi của người thứ ba sẽ khó có thể được bảo đảm, thậm chí có thể bị xâm phạm Người thứ ba này chỉ có thể kiện đòi tài sản, buộc người có nghĩa vụ với mình phải thực hiện (dù có thể họ sẽ trốn tránh việc thanh toán nghĩa vụ với người thứ ba này)
Thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một giao dịch dân sự, do đó, bên cạnh việc đáp ứng yêu cầu về nội dung và hình thức, vấn đề năng lực hành vi dân sự của vợ chồng khi xác lập giao dịch cũng cần phải được xem xét Trong trường hợp vợ hoặc chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) theo quyết định của Tòa án thì việc người này có quyền thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng hay không phải dựa trên những căn cứ pháp lý về người bị hạn chế NLHVDS và tính chất quan hệ sở hữu chung vợ chồng
Người bị hạn chế NLHVDS là người tuy vẫn có nhận thức, đã có NLHVDS đầy đủ nhưng do có những hành vi phá tán tài sản của gia đình mà
bị tuyên bố hạn chế Họ có thể là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác làm giảm khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi dẫn tới việc làm ảnh hưởng tới khối tài sản chung của gia đình Chính những hành vi này dẫn đến việc Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó bị hạn chế NLHVDS Tòa án chỉ ra quyết định tuyên bố một người bị hạn chế NLHVDS khi người
Trang 40có quyền lợi liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có đơn yêu cầu Theo tác giả, trong trường hợp một bên vợ chồng bị hạn chế NLHVDS thì người đó vẫn có quyền thỏa thuận việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân với người vợ, người chồng của mình
Có thể hiểu rằng, nếu người vợ hoặc chồng bị mặc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận được và điều chỉnh hành vi (tức bị mất NLHVDS) hay bị hạn chế NLHVDS thì người còn lại chỉ được yêu cầu Tòa án chia tài sản chung vợ chồng Việc thỏa thuận giữa hai vợ chồng trong trường hợp này không được công nhận
2.1.3 Phương thức chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn
2.1.3.1 Chia một phần tài sản chung
Theo quy định tại Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2014, vợ chồng được quyền chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Chia một phần tài sản chung có nghĩa là vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chỉ chia một lượng nhất định trong khối tài sản chung của vợ chồng Một phần tài sản có thể chỉ gồm quyền sử dụng đất; hoặc chỉ chia phần vốn góp vào một doanh nghiệp để sản xuất kinh doanh làm dịch vụ; hoặc chỉ chia một khoản tiền hoặc giấy tờ có giá trong doanh nghiệp, còn các tài sản khác như là nhà ở công xưởng sản xuất hoặc tư liệu sản xuất khác thì không chia vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Giải pháp chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân rất phù hợp với mong muốn chính đáng của vợ chồng, vừa đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ về tài sản của vợ hoặc chồng, vừa góp phần quan trọng trong việc duy trì tính bền vững của
gia đình, bởi nó “không gây ra những ảnh hưởng lớn tới đời sống chung của
gia đình, mất ổn định cuộc sống”4
Khi chia một phần tài sản chung, vợ chồng có thể thỏa thuận phần tài sản đem chia sẽ giao cho một bên vợ, chồng, chia đều cho vợ chồng, hoặc
4
ThS Nguyễn Phương Lan, Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, Tạp chí
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 6/2002, tr 22-27