Thales đã tiếp thu và phát triển những tri thức về hình học của người Ai Cập cổ đại, từ đó ông đã phát minh ra nhiều định lý về hình học, trong đó có định lý mang tên ông định lý Thales [r]
Trang 1an dương vương và nước âu lạc
Vua họ Thục, tên là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 30 năm, đóng đô ở PhongKhê (nay là thành Cổ Loa) Năm Giáp Thìn, vua đã thôn tín được nước Văn Lang,đổi quốc hiệu là Âu Lạc Trước kia, vua nhiều lần đem quân đánh Hùng Vương,nhưng Hùng Vương binh hùng tướng mạnh, vua bị thua mãi Hùng Vương bảo vớivua rằng: "Ta có sức thần, nước Thục không sợ ư?" Rồi Hùng vương bỏ không sữasang võ bị, chỉ ham ăn uống vui chơi Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mềmchưa tỉnh, rồi thổ huyết, nhảy xuống giếng chết Quân lính quay giáo đầu hàng
Thục Vương "(Đại Việt toàn thư, Ngoại kỉ).
Nước Âu Lạc tồn tại trong độc lập khoảng 30 năm, từ năm 208 TCN đến 179TCN Có thể nói, Âu Lạc là sự kế thừa và phát triển của Văn Lang lên một trình độcao hơn trên nền tảng của nền văn hoá Đông Sơn Lãnh thổ của Âu Lạc rộng hơnlãnh thổ của Văn Lang không đáng kể, nhưng năng lực quản lý dân cư của nhànước Âu Lạc thì hơn hẳn nhà nước Văn Lang
Về quân sự, Âu Lạc có những bước tiến quan trọng Quân đội lúc này đã kháđông, tổ chức và kỷ luật khá chặt chẽ, đồng thời vũ khí cũng được cải tiến Truyềnthuyết dân gian có nói đến chiếc nỏ thần, còn khảo cổ học đã phát hiện nhiều di chỉ
có mũi tên đồng, trong đó chỉ riêng ở Cổ Loa đã có đến hàng vạn chiếc
Công trình kết tính công sức và tài năng đa dạng nhất của Âu Lạc làc kinhthành Cổ Loa Sử củ chép rằng: "Bấy giờ, Thục Vương đắp thành ở Việt Thường,rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa thành, lại có têngọi là thành Tư Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn vì thành rất cao).Thành này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần kì
núi sông, rồi khời công đắp lại "Đại Việt kí sự toàn thư, Ngoại kỉ).
Theo di tích còn lại, thành Cổ Loa gồm ba vòng thành khép kín là thành Nội,thành Trung, thành Ngoại Thành Nội hình chữ nhật, có chu vi 1650 m, cao khoảng5m, rộng khoảng từ 6 - 12m và chỉ mở một cửa ở phía Nam Tương truyền đấy lànơi thiết triều của Vua Thục Thành Trung là một vòng thành khép kín bao quanhphía ngoài thành Nội với chi vi 6500m, có 5 cửa là Bắc, Đông, Nam, Tây Bắc vàTây Nam Trong đó, cửa Đông là một cửa đường thuỷ mở lối cho một nhánh sôngHoàng chảy vào sát thành Nội Thành Ngoại dài khoảng 800m, có ba cửa Bắc,Đông và Tây Nam, trong đó cửa đông là cửa ra sông Hoàng Cả ba vòng thành đều
có ngoại hào nối với nhau và nối liền với sông Hoàng, tạo thành một mạng lướigiao thông đường thủy rất tiện lợi Ngoài ba vòng thành và hào khép kín, khoảng
Trang 2giữa các vòng thành và phía ngoài thành Ngoại còn có nhiều đoạn luỹ, ụ đất đựơc
bố trí và sử dụng như những công sự phòng vệ nằm trong cấu trúc chung của thành
Thành Cổ Loa với những di tích hiện còn là công trình lao động đồ sộ, một
kì công của người Việt cổ trong buổi đầu dựng nước Cấu trúc và kỉ thuật xây dựngthành Cổ Loa biểu thị tài năng sáng tạo của nhân dân Âu Lạc Đây là một kiến trúcquân sự kiên cố được phòng vệ chắc chắn, kết hợp chặt chẽ giữa quân bộ và quânthuỷ Thành Cổ Loa còn biểu thị một bước phát triển mới của nhà nước Âu Lạc,của quyền lực xã hội và phân hoá xã hội
Năm 179 TCN, do những sai lầm chủ quan của mình mà An Dương Vương
bị đẩy vào tình thế cô lập, xa rời nhân dân, xa rời những người cương trực và tàigiỏi
Cơ hội để Triệu Đà chiếm được Âu Lạc đã đến Triêu Đà bất ngờc tấn công
Âu Lạc Cuộc kháng chiến do An Dương Vương lãnh đạo đã bị thất bại Triệu Đàchiếm được toàn cõi Âu Lạc và biến Âu Lạc thành một bộ phận lãnh thổ của nướcNam Việt Đất nước ta rơi vào thảm hoạ hơn 1000 năm Bắc thuộc
máy kéo sợi gien-ni
Công nghiệp len dạ vốn là ngành công nghiệp lâu đời và phát triển nhất ởAnh Vào những năm giữa thế kỉ XVIII, hàng dệt của Anh bán rất chạy Tuy nhiên,ngành này vẫn còn tồn tại sự mất cân đối giữa khâu kéo sợi và khâu dệt vải Vớichiếc thoi bay điều khiển bằng chân của người thợ dệt thì cứ 10 người kéo sợi mới
đủ sợi cho một người thợ dệt làm việc Do đó, tình trạng "đói sợi" thường xuyêndiễn ra
Năm 1764, trong nhà người thợ mộc Giêm Ha-gri-vơ ở Blac-kbơn, quậnLan-cát-sơ (nước Anh) xảy ra một chuyện: Cô con gái nhỏ Gien-ni của ông đangchơi, vô ý đánh đổ chiếc máy kéo sợi của mẹ cô, cọc suốt dựng lên nhưng vẫn tiếptục quay Gien-ni định nâng máy kéo sợi lên, nhưng Ha-gri-vơ ngăn cô lại Ôngbước đến gần, ngồi xỏm cạnh chiếc máy, lấy tay quay cọc suốt và nghĩ ngơi:
"Một cọc suốt dựng lên vẫn chuyển động, vậy tại sao không xếp thành mộthàng cọc suốt, dùng một vòng quay để kéo? Chúng sẽ đồng thời chuyển động đượcchứ? Nếu được, cùng lúc sẽ kéo được mấy sợi?"
Nghĩ vậy, ông lập tức bắt tay vào thiết kế máy Ông vẽ hết trang này đếntrang khác, sửa đi sửa lại, cuối cùng cũng xong Theo bản thiết kế, ông làm ra mộtmáy kéo sợi có 8 cọc suốt, bên trên có một vòng quay xa dài, chỉ cần quay xa, 8cọc suốt đều quay một lúc, kéo được 16 sợi bông, năng suất tăng hơn trước 8 lần
Trang 3Vì chiếc máy được làm ra do một "lỗi lầm sai" của con gái mình, nên ông đã đặttên chiếc máy là "máy kéo sợi Gien-ni".
Sự ra đời của "máy kéo sợi Gien-ni" đã mở đầu cho cuộc cách mạng côngnghiệp trên thế giới mà đầu tiên là nước Anh Nó đã kéo theo hàng loạt phát minhlớn về kĩ thuật Nó có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sự tiến bộ của loài người và sựphát triển của lịch sử
Năm 19 tuổi, ông tham gia đạo quân Pháp sang Mĩ để giúp nhân dân Mĩchống thực dân Anh giành độc lập và lập được nhiều chiến công Khi chiến tranhkết thúc, Xanh-Xi-mông mới 24 tuổi, ông trở về Pháp và được phong quân hàmĐại tá, được cử chỉ huy pháo đài ở Mê-dơ, biên giới phía Đông nước Pháp Nhưngông đã bỏ nghiệp quân sự, đi du lịch khắp châu Âu
Khi cuộc Cách mạng tư sản Pháp 1789 nổ ra, Xanh-Xi-mông trở về nước.Lúc đầu ông có cảm tình với cách mạng, nhưng đến thời kì "khủng bố" thì tỏ ra thấtvọng Ông có xu hướng xây dựng một chế độ xã hội mới bằng tri thức khoa học,nên mặc dù đã 40 tuổi, ông vẫn xin vào học tại trường Đại học Bách khoa và saysưa với công tác nghiên cứu khoa học, viết sách tuyên truyền tư tưởng xã hội (chủnghĩa xã hội không tưởng)
Xanh-Xi-mông có công kích kịch liệt chế độ tư bản và kêu gọi cải cách theochủ nghĩa xã hội, đảm bảo cho tất cả mọi giai cấp được thoả mãn nhu cầu sinh sống
và văn hoá Ông cũng rất quan tâm đến số phận của giai cấp vô sản, nhưng khôngnhân thức đượ vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp đó Ông phủ nhận đấu tranh giaicấp, chủ trương trong xã hội chủ nghĩa tương lai, những nhà bác học và nhữngngười làm công nghiệp (bảo gồm chủ xưởng, thương thân, nhà ngân hàng và cảcông nhân) phải giữ vai trò lãnh đạo Xanh-Xi-mông cho rằng: cơ sở kinh tế củachủ nghĩa xã hội sẽ là nền đại kế hoạch hoá, có khả năng đảm bảo sự thoả mãn nhu
Trang 4cầu cho xã hội Ông đề ra nguyên tăc "mọi người đều phải lao động" theo khả năngcủa mình để cung cấp của cải cho xã hội.
Chủ nghĩa xã hội của Xanh-Xi-mông là chủ nghĩa xã hội không tưởng, vìông cho rằng nhà tư tưởng đề ra ý hay sẽ được thiên hạ theo mà xây dựng nên một
xã hội tốt đẹp Nhưng thực tế đã làm ông thất vọng Vào cuối đời mình, mông trở nên nghèo túng, ông viết thư cho những người cầm quyền, những nhà tưsản để thuyết phục họ thực hiện học thuyết xã hội của mình Song, trái với gì ôngmong muốn, không ai ủng hộ học thuyết của ông, cũng chẳng ai giúp đỡ ông
Xanh-Xi-Tuy nhiên, tư tưởng về tính chất xã hội có kế hoạch, có tổ chức trong sảnxuất của Xanh-Xi-mông đã làm cơ sở, nền tảng cho chế độ xã hội tương lai Đó làmột cống hiến lớn lao cho lí thuyết của chủ nghĩa xã hội sau này
mối tình giữa mác và gienny
Gienny phôn Vétphalen sinh ngày 12-2-1814 ở thành phố Danxveđen.Bà làdòng dõi nam tước Phôn Vétphalen, thuộc tầng lớp quý tộc cao nhất ở vương quốcPhổ Ông cụ thân sinh ra bà, nam tước Lútvich Phôn Vétphalen là cố vấn chính phủhoàng gia Phổ Tuy dòng dõi quý tộc, nhưng khác với đa số những người thuộc giaicấp mình, ông có tư tưởng rộng rãi và uyên bác Ông đọc được các thứ tiếng HiLạp, Latinh, Pháp, Anh và Tây Ban Nha, am hiểu và ưa thích văn học Bà cụ thânsinh ra Gienny, Carôlina Hâyben, người vợ thứ hai của ông Lútvich PhônVétphalen, là một người đàn bà giản dị, chân thành, hoàn toàn chỉ để ý đến việcchăm lo, săn sóc chồng con
Năm 1816, gia đình Gienny dọn đến Tơriơ, khi đó cô bé Gienny mới lên hai
Cô luôn luôn coi nơi này mới thực sự là quê hương của mình Ngôi nhà xinh đẹpcủa bố mẹ Gienny có một khu vườn lớn, nằm ở khu phố đông đúc của những ngườigiầu có Tiền lương của quan cố vấn chính phủ hoàng gia Phổ Lútvích phônVétphalen khá cao và gia đình sống khá giả Quan cố vấn tư pháp Henrích Mác làbạn thân của cha Gienny Bọn trẻ của hai nhà cùng lớn lên, cùng chơi đùa trongkhu vườn của gia đình Vétphalen hay chạy lên chơi trên ngọn đồi gần nhà Đám trẻnhỏ đó gồm có Gienny, Etga (em Gienny), Các Mác và các chị em của Các Mác.Sau khi chơi đùa xong, bọn trẻ nhà Mác là những vị khách thường xuyên ở ngôinhà của gia đình Vétphalen Cha của Gienny thường đọc thuộc lòng những bài cacủa Hôme và nhiều màn kịch của Sếchxpia cho bọn trẻ nhà ông và nhà Mác nghe
Năm 12 tuổi, Các Mác và Etga phôn Vétphalen (em của Gienny) bắt đầu tớitrường Trung học ở Tơriơ, còn Gienny 16 tuổi (Gienny hơn Mác 4 tuổi) cũng bắt
Trang 5đầu vào giới thượng lưu, thường xuyên tham gia những buổi khiêu vũ, hoà nhạc,diễn kịch trong những tối dạ hội hay những cuộc đi chơi tập thể ra vùng ngoại ô Làcon gái của một gia đình phong lưu và danh giá, hơn nữa lại thuộc giới quý tộc, côluôn luôn được những chàng trai quý tộc thượng lưu, hào hoa bao quanh Người tagọi cô là "Cô gái đẹp nhất thành Tơriơ", "Nữ hoàng của các vũ hội" Nhưng cuộcsống hào nhoáng của giới thượng lưu không thu hút cô Với tính thẳng thắn và ócphê phán đặc biệt, cô đã thấy tính tham lam khéo được che đậy và sự khao khátquyền hành, tính giả dối và tính hiếu danh, sự trống rỗng tầm thường và tính ngạomạn đần độn của những người thuộc giới mình; cô đã từ chối tất cả những lời "cầuhôn" của các thanh niên quý tộc, qua chức sang trọng và thương nhân giầu có.
Năm mười bảy tuổi, Các Mác tốt nghiệp trường Trung học ở Tơriơ, phải vàohọc ở trường Đại học Bon Các Mác bây giờ đã cao lớn hẳn lên, không chỉ trưởngthành về tầm vóc, mà phát triển cao về trình độ tư duy, vượt xa những người cùngthế hệ Gienny cảm thấy sự chệnh lệch về tuổi tác (cách nhau 4 tuổi), không cònđáng kể nữa Hai người đã kết thân với nhau, yêu nhau thắm thiết và rất ý hợp tâmđầu về những quan điểm chung
Một năm sau, Các Mác trở về Tơriơ để nghĩ hè trong ngôi nhà của cha mẹmình Các và Gienny đã hứa hôn với nhau, khi đó Các mười tám tuổi và Gienny haimươi hai Mối quan hệ giữa Các và Gienny rất xa lạ đối với giới thượng lưu của xãhội thời đó, vì vậy lúc đầu họ phải giấu kín việc đó Các chỉ dám thổ lộ điều bí mật
đó với cha và chị Xôphi của mình Đó là niềm an ủi và chỗ dựa cho Gienny để côđấu tranh với những người cản trở hạnh phúc của cô (trong đó quyết liệt nhất làngười anh cùng bố khác mẹ với cô - Phécđinan phôn Vétphalen, sau này làm bộtrưởng nội vụ của vương quốc Phổ) Cuối cùng, gia đình Gienny đã phải chấpthuận lời cầu hôn chính thức của Các Mác, vì cha mẹ cô hiểu con gái họ thà chếtchứ không chịu từ chối người bạn mà mình đã lựa chọn Những Các Mác vàGienny còn phải đợi bẩy năm nữa mới tổ chức được lễ thành hôn
Bốn năm sau ngày hứa hôn, năm 1841, Các Mác nhận bằng tiến sĩ ở trườngĐại học Iêna; năm đó, Mác 23 tuổi và Gienny 27 tuổi Khi đó, Mác có ý định làmgiảng viên Triết học ở trường Đại học Bon; rồi sẽ kết hôn với Gienny Những kếhoạch của Mác bị vỡ, vì chính phủ phản động Phổ đã từ chối không cho Các Mácgiảng dạy ở trường đại học Trở về Tơriơ, Mác đã phối hợp với một nhóm đại biểu
của giai cấp tư sản tự do ở Côlônhơ chuẩn bị phát hành tờ Báo Rênani Năm 1842,
Mác đến Côlônhơ, lúc đầu làm công tác viên chính, sau được chỉ định làm chủ bút
tờ Báo Rênani Báo Rênani đã tấn công chế độ phản động một cách ác liệt và dũng
Trang 6cảm chưa từng thấy ở nước Phổ Tờ báo chỉ tồn tại được hơn một năm, chính phủphản động Phổ ra lệnh cấm phát hành Các Mác nhận thấy không thể sống ở Đứcđược nữa mà phải ra sinh sống ở nước ngoài để có điều kiện đấu tranh mạnh hơncho cách mạng Đức Mác liên hệ với bạn bè ở Pari (Pháp), thu xếp xuất bản tập san
Niên giám Pháp -Đức Khi việc thu xếp đã ổn thoả, Mác mới quyết định tổ chức lễ
cưới với Gienny Sau đó, hai vợ chồng sống lưu vong Ngày 19-6-1843, lễ cưới củaMác và Gienny được tiến hành giản dị ở thị trấn Craixnác, nơi Gienny cùng mẹ đãchuyển tới sau khi bố mất, họ hàng xa lánh Sau đó, hai người tiến hành một cuộc
du lịch nhỏ dọc sông Rainơ, trước khi rời nước Đức Từ đây, họ mãi mãi sát cánhbên nhau
ơ-gien pô-chi-ê - nhà thơ lớn, người ca sĩ trung kiên của cách mạng vô sản pháp
Nói đến Công xã Pa-ri, nói đến bức chân dung của các chiến sĩ bảo vệ và xâydựng Công xã, chúng ta không thể không nhắc đến Ơ-gien Pô-chi-ê, nhà thơ lớnnhất của Công xã và là người ca sĩ trung kiên của cách mạng vô sản Pháp - người
đã sáng tác bài Quốc tế ca mà lịch sử muôn đời ghi nhớ
Ơ-gien Pô-chi-ê sinh ngày 4 tháng 10 năm 1816 tại Pa-ri, trong một gia đìnhcông nhân Ông lớn lên với nhiều nghề như gói hàng, nghề vẽ trên vải Phong tràocách mạng sôi nổi ở Pháp lúc bấy giờ đã thu hút tâm trí người thanh niên trẻ tuổi ấyqua những tư tưởng tiến bộ của Ba-bớp, của Phua-ri-ê Mặc dầu chưa nhận thứcđược sự đúng đắn cũng như sự hạn chế trong quan điểm của các nhà xã hội khôngtưởng; chưa hiểu sâu sắc về cách mạng nhưng trong những ngày tháng hai năm
1818 ông vẫn sẵn sàng chiến đấu trên chiến luỹ để bảo vệ những chân lý và tưtưởng ông tiếp thu được
Chiến tranh Pháp- Phổ có nguy cơ bùng nổ, ông đứng về phía giai cấp côngnhân và nhân dân lao động phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa Những ngày tháng
3 năm 1871 ông được bầu làm uỷ viên Công xã hoạt động trong Hội liên hiệp cácnghệ sĩ Ông đã cầm súng chiến đấu cho đến tận phút chót trong "tuần lễ đẫmmáu" Nhưng số phận may mắn đã cứu thoát ông, ông vẫn còn sống sót và tiếp tụcchiến đấu Ông bị chính phủ Pháp kết án tử hình vắng mặt Ông trốn sang Anh rồisang Mĩ sống 7 năm trời, tại đây ông vẫn không nguôi nhớ về Tổ quốc và vẫn tiếptục sáng tác thơ ca để động viên quần chúng đứng lên đấu tranh và rút ra những bàihọc kinh nghiệm xương máu của Công xã Pa-ri
Trang 7Năm 1880 ông sung sướng được trở về Tổ quốc và tiếp tục đấu tranh chođến phút cuối của cuộc đời Ông bị bại liệt và trút hơi thở cuối cùng vào ngày 8tháng 11 năm 1887 Tiễn đưa ông đến nơi an nghĩ cuối cùng ngoài vợ và hai contrai, chúng ta còn thấy nhiều chiến sĩ đã từng sát cánh chiến đấu bên ông và hơn
5000 dân lao động ở Pa-ri
Ơ-gien Pô-chi-ê để lại nhiều tập thơ cho nhân loại nhưng ở đây chúng ta chú
ý nhất đến bài Quốc tế ca, bởi đó là bước ngoặt quyết định trong tư tưởng và tìnhcảm của ông Thơ của ông không mơ hồ không tưởng như trước nữa mà là "sắt, làđồng, là chiến luỹ",những ngày Pa-ri đang chiến đấu, thơ của ông như tiếng kènđồng xung trận, thúc dục mọi người tiến lên phía trước Thơ Pê-chi-ê từ nay làtiếng nói hùng hồn của Công xã, nó bay bỗng đến một tương lai rực rỡ và huyhoàng Bài thơ Quốc tế được sáng tác ngay trong những ngày Công xã Pa-ri bị dìmtrong biển máu Bài thơ ra đời ngay khi ông phải lẫn tránh bọn đao phủ, ngay khinhững chiến hữu của nhà thơ ngã xuống giữa các đường phố còn động lại nhiềuvũng máu của những người con ưu tú của nước Pháp cách mạng Bài thơ là niềmtin bất diệt vào thắng lợi cuối cùng, là tiếng nói của những người còn sống và đãchết, là bản tóm tắt đầy tài năng nguyên lý của cách mạng vô sản và phương hướng
đi đến tương lai của loài người tiến bộ
"Đấu tranh này là trận cuối cùng "
Bài thơ đã được phổ nhạc và trở thành bài hát phổ biến, được dịch ra nhiềuthứ tiếng khác nhau trên thế giới, đã trở thành bài ca bất tử của giai cấp vô sản toànthế giới Bài thơ ca ngợi sức mạnh của giai cấp công nhân, kêu gọi đoàn kết và chỉ
ra con đường tự giải phóng nhân loại, nó báo hiệu những cuộc cách mạng vô sảntrong trận cuối cùng ắt sẽ đến Biết bao chiến sĩ cách mạng Việt Nam như TrầnPhú, Nguyễn Thị Minh Khai đứng trên máy chém, trước khi bị hành quyết cònhát bài Quốc tế ca với tất cả khí tiết của những người quyết hy sinh cho độc lập tựdo
Ơ-gien Pô-chi-ê bó đời mình với Công xã Pa-ri Thơ của ông là tiếng nói củanhân dân lao động, là ý chí của giai cấp công nhân, của những người nghèo khổdám xông lên "đoạt trời", mơ ước đến xã hội tương lai Từ bấy đến nay, thơ của Ơ-gien Pô-chi-ê vẫn là hồi kèn xung trận, thúc dục mọi người lên đường chiến đấucho độc lập tự do, cái mà những chiến sĩ Công xã đã anh dũng hy sinh để giành vàgiữ lấy
Lu-i-dơ mi-sen - một nhân vật kỳ ảo của
Trang 8công xã pa-ri
Nói như vậy có quá đáng lắm không? Quả thật là văn thơ tuy lắm từ ngữ nhưvậy nhưng vẫn chưa đủ để thể hiện và ca ngợi tài năng của bà Một dáng ngườithon thả với nét mặt duyên dáng sắc sảo và cương nghị, khi thì xuất hiện trong bộ
áo quần màu sáng giản dị trên diễn đàn câu lạc bộ, khi thì xuất hiện trong bộ quânphục chỉ huy một đơn vị nữ quyết chiến với quân thù và khi thì xuất hiện trong bộ
đồ tang lễ khảng khái kết tội kẻ thù trước toà án quân sự Bất kỳ lúc nào cũng tạocho Mi-sen một bức chân dung tuỵêt vời, làm cho người ta sửng sốt coi bà như làmột nhân vật thần thoại của thế kỷ XIX vậy Bởi thế không dễ gì ta được tặng cácdanh hiệu: "Nàng trinh nữ đỏ", "Gian đa của thời đại mới" ,"Người nữ tiên tri",
"Mạnh hơn nam nhi", "Tình yêu vĩ đại"
Lu-i-dơ -Mi sen sinh ngày 29 tháng năm 1830 tại Wrông-cua Cha của Misen là một người từng tham gia cách mạng ở ý, ông đã giáo dục cho con gái những
tư tưởng tiến bộ của thế kỷ "ánh sáng" Lu-i-dơ-Mi sen sống một cuộc đời cần cù,nghiêm túc, dành tất cả tình thương cho những người nghèo khổ Bà đã đưa trọn sốtiền 4 vạn fơ-răng của hồi môn giúp đỡ người nghèo Ngay từ lúc trẻ; bà đã có ýthức căm ghét chế độ Na-pô lê-ông III cho nên bà không dạy ở trường Nhà nước.trong thời kỳ cách mạng bà thườngc lui tới các câu lạc bộ của những người laođộng để tuyên truyền giáo dục quần chúng Lời nói của bà vừa hùng hồn, vừa đầycảm xúc nên đã thuyết phục và lôi cuốn hàng vạn quần chúng nhân dân lao động.Thời kỳ thành lập công xã Pa-ri bà giữ nhiều chức vụ quan trọng: tuyên truyền,giáo dục, cứu thương Ban ngày bà sát cánh cùng các đơn vị chiến đấu, ban đêm
bà lại lên diễn đàn tố cáo bọn phản động Véc xai và động viên kêu gọi quần chúngcách mạng chiến đấu đến giọt máu cuối cùng
Những ngày tháng năm lúc Chi-e quyết dìm Pa-ri trong biển máu, Mi-sencũng có mặt bên chiến luỹ với một đơn vị nữ quân và bà đã thoát khỏi cái chết mộtcách kỳ lạ Kẻ thù đã đưa người yêu của bà là Tê-ô-phin Phe-rê ra xử tử hòng làmlung lạc ý chí của bà nhưng bà vẫn không hề nao núng - cũng giống như TrưngTrắc khi Thi Sách chồng bà bị thái thú Tô Định giết hại Trước toà án quân sự, bàmặc một bộ đồ tang, khảng khái vắch mặt kẻ thù và bảo vệ chân lý ý chí của bànhư Tô -rô-hen nói: "đã làm cho luc chim ưng run sợ" và Vich-to Huy-gô cũng đãnói rằng "Mi-sen là người khi trừng mắt nhìn bọn quan toà thì bọn này mặt màyxám ngoắt, là người của anh hùng và đạo lý, là thiên thần rực sáng "
Trước lời buộc tội và thách thức của Mi-sen, kẻ thù không dám giết hại bà
Bà chỉ bị giam ở một nhà lao gần quê hương bà ở đây cũng như ở nhà tù Véc-xai,
Trang 9Mi-sen vẫn tiếp tục làm thơ tố cáo kẻ thù và kêu gọi nhân dân tiếp tục đứng lên trảthù cho những người bị tàn sát Hoảng sợ trước khí phách kiên cường của "nàngtrinh nữ đỏ" kẻ thù đã đưa giam bà ở đảo Na-xen Ca-lê-đô-ni năm 1873 sau 4 thángtrời lênh đênh trên mặt biển Bảy năm ròng rã sống ở nơi đây bà vẫn kiên trì tuyêntruyền, giác ngộ ý thức cách mạng cho quần chúng.
Năm 1880 bà được trở về nước, bà vẫn tước mọi ân huệ của chính phủ tư sảnPháp, dũng cảm tiếp tục lao vào cuộc đời cách mạng Bà lại bị giam cầm ba năm ởnhà tù Cléc -mông Sau khi trở về đất nước bà đã tiếp tục hoạt động không mệt mỏitrong 25 năm cuối của cuộc đời mình Lui-dơ Mi-sen đã trút hơi thở cuối cùng vàongày 10 tháng 1 năm 1905 trong một buổi đi tuyên truyền cách mạng tại Mác -xây
Bà ngã xuống như một thiên thần ngã xuống Cuộc đời của Mi-sen thật cao cả vàđẹp đẽ Cuộc đời bà đã thu hút tình yêu thương và lòng mến phục của cả thế giới.Ngược lại cuộc đời của bà để một tai hoạ khủng khiếp đối với kẻ thù Bà là hiệnthân cho sự hy sinh và lòng dũng cảm Bà là người lính tiên phong luôn luôn đứng
ở mũi nhọn của cuộc chiến đấu Đúng như lời nhận định của nhà văn Pháp buýt: " Đời bà là cả một sự hy sinh Bà không sống vì bà bao giờ; bà không nghĩđến hạnh phúc riêng bao giờ Bà hoàn toàn hiến dâng cuộc đời cho hạnh phúcchung, suốt cuộc đời bà chỉ biết cho, cho những gì bà có trong tay, trong khối óc vàtrái tim"
Bac-pericles (k.495 tcn-429 tcn) pericles - nhà chính trị dân chủ và nhà quân sự lỗi lạc của thành bang
Athena (A:Athens, Athènes) (Hy Lạp cổ)
Pericles sinh vào khoảng năm 495 TCN tại Athena, xuất thân trong một giađình quý tộc dòng họ Alcmeonides, cháu ngoại của nhà cải cách dân chủ Clistenes.Ông có quan hệ bạn bè thân thiết với nhiều nhà triết học và văn nghệ sĩ nổi tiếngthời bấy giờ Về tư cách cá nhân, ông là người cương trực, gương mẫu và có uy tínlớn trong quần chúng nhân dân
Pericles đã nắm chính quyền ở Athena trong suốt 31 năm (từ 461 TCN đến
430 TCN) Ông đã tiến hành một loạt cải cách đưa nền dân chủ Athena lên đếnđỉnh cao như chế độ bổ nhiệm bằng phương pháp bốc thăm, chế độ trả lương chocác công chức, mở rộng "toà án nhân dân" Pericles đặc biệt quan tâm cải thiệnđời sống cho dân nghèo Athena Ông thực hành việc di dân đến các vùng nhượngđịa, tiến hành xây dựng nhiều công trình kiến trúc quân sự và dân sự để tạo công ănviệc làm cho dân nghèo và người thất nghiệp, ban phát phúc lợi cho những người
Trang 10nghèo như cấp thóc lúa, cấp tiền để mua vé xem diễn kịch ở rạp hát Nền kinh tếAthena thời kỳ Pericles đã đạt đến mức phồn thịnh nhất Nền văn hoá Athena thời
kỳ Pericles cũng hết sức huy hoàng, xán lạn, người ta gọi thời kỳ này là "thế kỷPericles"
Pericles còn được bầu làm Tướng quân trong suốt 15 năm Ông chủ truơngkhuếch trương thế lực của Athena ra bên ngoài, do đó đã dẫn đến cuộc chiến tranhgiữa các thành bang Hy Lạp (chiến tranh Peloponnisos, 431 TCN 404 TCN) Năm
430 TCN, bị quy trách nhiệm trước những thất bại đầu tiên của cuộc chiến tranh,Pericles bị gạt ra khỏi chính quyền ít lâu sau (năm 429 TCN), ông mất vì mắc bệnhdịch hạch
kader (abdel) (1808-1883) Abdel Kader (hay Abd-El Kader) - lãnh tụ phong trào khởi nghĩa chống
Pháp của nhân dân Algérie 1832 - 1847)
Abdel Kader sinh ngày 6-9-1808 gần Mascara (Algérie), là thủ lĩnh Hồi giáo(émir) của một bộ lạc ả rập Trước khi Algérie trở thành thuộc địa của Pháp,Algérie là một quốc gia tự trị do bọn lãnh chúa phong kiến cai trị và phải cống nạpcho đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Abder Kader là người có nghĩa khí, nhiều lần đứng lênphản đối sự chuyên chế của các lãnh chúa, bảo vệ quyền lợi nhân dân các bộ lạc, do
đó có uy tín lớn trong các bộ lạc.Năm 1830, thực dân Pháp đổ bộ vào Algérie,chiếm đóng thủ đô Alger Năm 1832, Abdel Kader lãnh đạo nhân dân Algérie nổidậy chống bọn xâm lược Pháp Ngoài việc dựa vào nhân dân ả rập và Berbère, ôngcòn liên hệ với nước láng giềng Maroc, (A: Uorocco) để chống lại thực dân Pháp.Ông đã vận dụng chiến tranh du kích, đánh bại nhiều cuộc tấn công của quân độiviễn chinh Pháp, mặc dầu quân Pháp được trang bị ưu việt hơn hẵn nghĩa quân.Năm 1937, Pháp phải ký với Abdel Kader một hiệp ước thừa nhận chủ quyền củaông ở miền Tây Algérie
Tháng 7-1839, thực dân Pháp bội ước, chúng đã tập trung binh lính tấn côngAbdel Kader Sau khi tổng hành dinh của ông bị thất thủ và bạn đồng minh Maroccủa ông bị bại trận ở Isly (giáp với Algérie), năm 1847, ông phải đầu hàng thực dânPháp Ông bị đưa về Pháp giam cầm cho đến năm 1852, thì bị đưa sang quản chế ởDamas (Syria) và mất tại đây (26-5-1883)
Abdel -Kader là người anh hùng dân tộc Algérie, được nhân dân kính phục.Năm 1966, sau khi Algérie giành được độc lập, chính phủ Algérie đã đưa thi hàicủa ông về nước
Trang 11ebert (friedrich) (1871-1925) Friedrich Ebert - lãnh tụ phái hữu của Đảng Xã hội dân chủ Đức Tổng
thống đầu tiên của nước Cộng hoà Đức năm 1918
Friedrich Ebert sinh ngày 4-2-1871 tại Heidelberg (Đức), bố là người thợmay quần áo nữ Thời trẻ, ông làm thợ da làm yên cương ngựa, nên hiểu tình cảnhcủa giai cấp vô sản Năm 1905, F Ebert tham gia Đảng Xã hội dân chủ Đức Năm
1913, ông được bầu làm chủ tịch Đảng Ông đứng trên lập trường cơ hội chủ nghĩa,dựa vào tầng lớp công dân quý tộc và biến phong trào công dân Đức thành tay saicủa giai cấp tư sản Trong những năm Chiến tranh thế giới I, Đảng Xã hội dân chủĐức chia thành ba phái: tả, giữa và hữu F Ebert đứng đầu phái hữu gồm nhữngphần tử công khai theo chủ nghĩa xét lại, ủng hộ chính quyền địa chủ tư sản Đứctrong cuộc Chiến tranh thế giới I
Sau cuộc khởi nghĩa ngày 9-11-1918 của công nhân và binh sĩ cách mạng ởBerlin do Liên minh Spartacus (gồm những người Xã hội dân chủ cánh tả) lãnhđạo, chính thể quân chủ của Wilhelm II bị lật đổ, những người cách mạng tuyên bốthành lập nước Công hoà Xô Viết Bọn dân chủ phái hữu do F Ebert cầm đầu, tìmcách cướp thành quả cách mạng, thành lập một chính phủ, cũng mang tên là Hộiđồng uỷ viên nhân dân như ở nước Nga Xô Viết Chính phủ Ebert một mặt banhành những chính sách mị dân như bầu cử phổ thông, ngày làm việc 8 giờ vàtuyên bố nhiều hứa hẹn, nhưng mặt khác lại liên kết với bọn quân phiệt phản động
để đàn áp phong trào cách mạng
Ngày 5-1-1919, chính phủ Ebert tiến hành bầu cử quốc hội, trong đó Đảng
Xã hội dân chủ cánh hữu vẫn chiếm đa số Quốc hội họp ở thành phố Weimar, đãthông qua hiến pháp làm cơ sở pháp lý cho chế độ Cộng hoà tư sản ở Đức sau chiếntranh (gọi là chế độ Cộng hoà Veimar) Việc F Ebert được bầu lại làm tổng thống,chứng tỏ giai cấp tư sản Đức còn cần đến sự ủng hộ của bọn Xã hội dân chủ cánhhữu trong tình hình phong trào cách mạng Đức đang sôi sục
Ngày 28-2-1925, tổng thống F Ebert mất tại Berlin, Thống chế Paul vonHindenburg, một phần tử bảo hoàng được đưa lên làm tổng thống Vải trò củaĐảng Xã hội dân chủ không còn nữa
liebknecht (karl) (1871-1919)
Trang 12Karl liebknecht - nhà hoạt động xuất sắc phong trào công nhân Đức, lãnh
tụ phái tả của Đảng Xã hội dân chủ Đức, người sáng lập ra Liên minh Spartacus vàĐảng Cộng sản Đức, người lãnh đạo cuộc cách mạng tháng 11-1918
Karl Liebknecht, một nhà cách mạng nổi tiếng trong phong trào công nhânthời kỳ thống nhất nước Đức Ông làm luật sư Khi còn là sinh viên, Kart đã thamgia phong trào xã hội chủ nghĩa và đấu tranh chống bọn cơ hội trong phong tràocông nhân Năm 1903, ông thành lập ở Đức tổ chức xã hội chủ nghĩa đầu tiên củathanh niên, và đến năm 1907, ông là một trong những người đề xướng việc tổ chức
Đại hội thanh niên quốc tế ở Stuttgart Trong Đại hội, ông đọc bản báo cáo Chủ nghĩa quân phiệt và chống chủ nghĩa quân phiệt Ông bị chính quyền Đức kết án
tù Sau khi được trả lại tự do, ông lại tiếp tục hoạt động cách mạng, đấu tranhchống chủ nghĩa cơ hội trong Đảng Xã hội dân chủ Đức Năm 1912, ông được bầulàm đại biểu Quốc hội Ông đã dùng diễn đàn của Quốc hội để tuyên truyền chốnglại chủ nghĩa đế quốc và nguy cơ một cuộc chiến tranh đế quốc sắp nổ ra ông bỏphiếu bác bỏ những khoản chi cho chiến tranh Ông hoạt động với tư cách mộtngười theo chủ nghĩa quốc tế Ông bị giam cầm hầu như suốt trong thời gian Chiếntranh thế giới I
K Liebknecht là lãnh tụ phái tả của Đảng Xã hội dân chủ Đức Để thoát lykhỏi ảnh hưởng cơ hội chủ nghĩa của phái hữu và phái giữa trong Đảng Xã hội dân
chủ Đức, ông đã thành lập ra Liên minh Spartacus (1916), hạt nhân của Đảng Cộng
sản Đức đựơc thành lập năm 1918
Khi nước nước sắp đầu hàng các nước Đồng minh trong Chiến tranh thế giới
I, K Liebknecht cùng với các đồng chí trong Liên minh Spartacus kịp thời lãnh đạocông nhân và binh lính cách mạng ở Berlin đứng lên lật đổ chính thể quân chủ củaWilhelm II và thiết lập chế độ Cộng hoà Xô Viết (cuộc Cách mạng tháng 11-1918
ở Đức) Chính phủ mới thành lập sau cách mạng do phái hữu của Đảng Xã hội dânchủ đứng đầu là Ebert, đã phản bội lại phong trào cách mạng, đàn áp cuộc khởinghĩa của quần chúng và giết hại một cách dã man K Liebknecht (15-1-1919) tạiBerlin
khổng tử (551Tcn - 479 tcn) Khổng Tử - người sáng lập ra Nho Giáo, nhà giáo dục và tư tưởng lớn cuẩ
Trung Quốc thời cổ đại
Khổng Tử (ông này họ Khổng), tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ngày 27tháng 8 năm Canh Tuất (551 TCN) tại ấp Trâu, nước Lỗ (nay là làng Xương Bình,
Trang 13huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) trong một gia đình mà ông tổ ba đờivốn thuộc dòng quý tộc sa sút từ nước Tống dời đến nước Lỗ Cha của KhổngKhâu là Khổng Thúc Lương, tự là Khúc Lương Ngột, làm một chức quan nhỏ ởnước Tống, đến năm 64 tuổi mới lấy Nhan Thị làm vợ thứ ba, mà sinh ra KhổngKhâu Năm lên ba tuổi, cha của Khổng Khâu mất Hồi nhỏ, ông thích chơi trò tế lễ,thường cùng chúng bạn bày trò tế lễ và tập cúng tế Năm 7 tuổi, ông bắt đầu đi họctrường quan học và đến 15 tuổi thì học hết chương trình lục nghệ : lễ, nhạc, xạ (bắncung), ngự (đánh xe), thư (viết chữ), số (toán pháp) và bắt đầu quan tâm nghiên cứu
về đạo và lễ mà ông ưa thích Ông suốt đời tự học, đi đâu cũng học, thấy cái gìkhông hiểu cũng hỏi, đi chung với ai cũng có thể học người đó được (ông từng nói:
"Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư" - cùng đi ba người hẵn có người là thầy ta)
Năm 19 tuổi, ông kết duyên cùng Khiên Thị, con gái Tống hầu Năm sau,
sinh con trai đặt tên là Lý, tự là BáNgư Về sau, ông còn sinh một người con gái
nữa, gả cho Công Dã Tràng, một học trò của ông Bá Ngư sau này sinh một con trai
tên là Cấp, tự Tử Tư, là một nhà Khổng học lỗi lạc, đã biên soạn cuốn Trung dung,
một trong bốn cuốn sách kinh điển của đạo Nho (Tứ thư)
Năm 20 tuổi, ông làm chức Uý lại (trông coi các vựa lúa), rồi chức Thừađiền (trông coi đồng cỏ nuôi súc vật dùng trong việc cúng tế) cho gia đình nhà quýtộc họk Quý nước Lỗ Năm 22 tuổi, ông bắt đầu mở trường dạy học ở Khuyết Lý.Khi nước Lỗ gặp đại loạn, vua Lỗ Chiêu Công phải chạy sang nước Tề, ông đi theophụng giá, nên được nhà vua chú ý Năm 502 TCN, khi vừa đúng 50 tuổi, ông đượcvua Lỗ Định Công giao cho làm Trung Đô Tế, cai quản ấp Trung Đô là kinh đô củanước Lỗ (giống như chức thị trưởng sau này), rồi dần dần thăng lên chức Tự Không(như thượng thư bộ Công), rồi Đại Tư Khấu (như thượng thư bộ hình) và phonglàm á tướng (tướng quốc thứ hai) Khi thấy vua Lỗ Định Công ham mê tửu sắc, trễnải việc triều chính, ông không can ngăn được, bèn xin từ chức
Năm 496 TCN, ông trở về dạy học và cùng các học trò của mình đi chu dukhắp các nước chư hầu của nhà Chu Nhưng ở đâu, ông cũng không được trọngdụng Cuối cùng, ông trở về nước Lỗ, tiếp tục nghề dạy học và sống những nămcuối cùng của đời mình và mất ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất (479 TCN), thọ 73tuổi, tại nước Lỗ
Khổng Khâu được mọi người gọi là Khổng Tử hay Khổng Phu Tử (ông thầy
họ Khổng) Học trò theo học rất đông, tương truyền có hơn 3000 học trò, trong số
đó có 72 "người hiền" (người tài giỏi) Vừa dạy học, Khổng Tử vừa biên soạn sáu
bộ sách làm sách giáo khoa (lục kinh), đó là Kinh Thư, Thi, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân
Trang 14Thu Sau khi ông mất, học trò đã sưu tầm những lời dạy của ông, soạn thành bộ
"Luận ngữ"
Luận điểm chính trị, đạo đức cơ bản của Khổng Tử là đề cao chữ "nhân" vàthuyết "chính danh địa phận" Hoàn cảnh đất nước Trung Quốc lúc bấy giờ, chiếntranh, loạn lạc xảy ra khắp nơi, giai cấp thống trị sử dụng bạo lực để chống lại nhau
và đàn áp nhân dân, Khổng Tử chủ trương dùng "lễ trị" trong quan hệ giữa giai cấpthống trị và dùng "nhân nghĩa" để cai trị nhân dân Khổng Tử khuyên mọi ngườiháy sống nhẫn nhục theo đúng cương vị của mình, theo một định mệnh dường như
đã được Thượng đế an bài: " vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con" Sau nàynhững tư tưởng ấy trở thành khuôn mẫu đạo đức, tư tưởng cho lối sống của conngười trong xã hội phong kiến Trung Quốc cũng như một số nước phương Đông
tư mã thiên (k 145 tcn - k 86 tcn)
Tư Mã Thiên - nhà sử học, nhà văn, nhà khoa học, tác giả bộ Sử ký, nổi
tiếng của Trung Quốc cổ đại
Tư Mã Thiên, tự là Tử Trường, sinh khoảng năm 145 TCN tại Long Môn(nay là huyện Hàn Thanh, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc), trong mội gia đình cótruyềnc thống làm quan viết sử (tổ tiên ông từ đời Chu đã làm thái sử; đến đời chaông là Tư Mã Đàm làm thái sử lệnh của nhà Hán) Thời thơ ấu, Tư Mã Thiên sống
ở Long Môn, chơi đùa và lao động cùng con em nông dân Nhưng cậu rất ham đọcsách, những cuốn sách cổ sử và những bài văn nổi tiếng có trong thư viện của chacậu, cậu đều tìm đọc Cha cậu (Tư Mã Đàm) hết sức chú ý đến việc giáo dục con.Năm 20 tuổi được cha khuyến khích, Tư Mã Thiên đã đi tham quan du lịch hầukhắp đất nước Trung Quốc bao la, để lấy tài liệu viết sử Sau khi đi du lịch về, ôngđược Hán Vũ Đế cho làm Lang trung, một chức quan nhỏ có nhiệm vụ tháp tùng xagiá nhà vua trong các chuyến đi công cán Năm 108 TCN, sau khi mãn tang cha banăm, ông được nhà vua chọn làm thái sử lệnh thay cha ông Từ đó, ông miệt mài
ngày đêm biên chép, soạn thảo Sử ký thực hiện cái hoài bão lớn nhất của người cha,
cũng là điều mong ước duy nhất của bản thân Như thế được bảy năm thì xảy ra cái
vạ Lý Lăng
Năm 99 TCN, Hán Vũ Đế sai hai võ tướng là Lý Quảng Lợi và Lý Lăngmang ba vạn quân đánh Hung Nô Lý Lăng cháu của danh tướng Lý Quảng, dẫnnăm nghìn quân xâm nhập vào vùng biên giới Hung Nô, bị tám vạn quân Hung Nôbao vây Lăng chỉ huy cuộc chiến đấu suốt mười ngày liềnc, giết hơn vạn quân