KHÁI NIỆM VĂN HÓA, CƠ CẤU VÀ ĐẶC TRƯNG
Khái niệm văn hóa
1.Xuất sứ của từ văn hóa (nghĩa Phương đông và phương Tây)
VH xuất hiện rất sớm ở cả p.đông và p.tây
-Lấy nền Vh, LSTT Trung Quốc để n/c
Thời cổ đại mang hai ý nghĩa quan trọng: nhân văn giáo hóa và văn trị giáo hóa Nhân văn giáo hóa, được thể hiện qua tác phẩm Chu Dịch của Khổng Tử, đã đóng góp vào việc hình thành tư tưởng và giá trị văn hóa trong xã hội.
Câu “quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” nhấn mạnh rằng văn hóa, biểu hiện vẻ đẹp do con người sáng tạo, có khả năng cải hóa và giáo dục con người, giúp họ trở nên tốt đẹp hơn Việc này không chỉ dừng lại ở việc phát triển nhân văn mà còn liên quan đến việc giáo hóa cộng đồng, thay đổi những phong tục lạc hậu để hướng tới một xã hội văn minh hơn.
VH, hay văn trị giáo hóa, lần đầu xuất hiện trong sách Thuyết uyển Chỉ vũ của Lưu Hướng vào thời Tây Hán, khoảng thế kỷ 2 TCN đến thế kỷ 1 SCN Câu nói nổi bật trong tác phẩm này là “Thánh nhân cai trị thiên hạ trước hết dùng văn trị sau mới dùng vũ lực”, nhấn mạnh tầm quan trọng của văn đức trong việc giáo hóa con người Văn trị không chỉ giúp đưa con người vào trật tự kỷ cương, phép tắc, lễ nghĩa mà còn là phương thức tổ chức quản lý và cai trị hiệu quả VH tác động tích cực đến đời sống cộng đồng, thể hiện rõ nét vai trò của văn trị giáo hóa trong xã hội.
VH: Từ nguyên của "cultura" trong tiếng Hy Lạp cổ (cultus) ban đầu chỉ hành động làm đất và trồng trọt, liên quan đến nông nghiệp Qua thời gian, ý nghĩa của nó đã chuyển biến thành việc gieo trồng trí tuệ và khai mở tinh thần cho con người.
Triết học được coi là quá trình gieo trồng trí tuệ cho con người, tương tự như việc chăm sóc cây cối Việc phát triển trí tuệ cần được nuôi dưỡng và chăm sóc để đạt được sự phát triển bền vững Văn hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc này, góp phần vào việc nuôi dưỡng trí tuệ con người.
Trong cả tư tưởng phương Đông và phương Tây, có sự tương đồng về ý nghĩa: cả hai đều nhấn mạnh đến lĩnh vực hoạt động tinh thần, giáo dục và việc khai mở tinh thần cho con người, giúp con người phát triển toàn diện và trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình.
TK 18, 19 đánh dấu sự phát triển của văn hóa và khoa học, với sự ảnh hưởng lớn từ điều kiện phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) CNTB đã tạo ra nguồn lực vật chất khổng lồ, thúc đẩy sự phát triển của văn hóa và khoa học Để cai trị các thuộc địa, CNTB cần nghiên cứu đời sống tinh thần của người dân, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp, dẫn đến sự phát triển của văn hóa và khoa học.
VH là thuật ngữ KH được truyền từ PT sang PĐ, với người dịch đầu tiên là người Nhật Ông Phúc Trạch Dụ Cát đã dịch văn hóa sang tiếng Nhật bằng từ "bunka" để chuyển tải ý nghĩa của "cultura".
Đến nay, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa (VH) từ các nhà văn hóa học, trong đó GS.PTS Hoàng Vinh đã đưa ra một định nghĩa quan trọng: VH là toàn bộ sáng tạo của con người, được tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn xã hội và hình thành nên hệ giá trị cũng như chuẩn mực xã hội Văn hóa thể hiện qua di sản văn hóa và hệ ứng xử của cộng đồng, trong đó hệ giá trị xã hội đóng vai trò cốt lõi, tạo nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng.
- Quan niệm của Mác về VH
Ngoài ra, Chúng ta cũng nên tìm hiểu phân tích Đn Vh của triết học mác:
Vh là lĩnh vực thực tiễn của ĐSVH, phản ánh sự phát triển của lực lượng bản chất trong việc chinh phục tự nhiên và cải tạo xã hội Nó thể hiện sự xã hội hóa và chuẩn mực tiên tiến, chuyển hóa thành các giá trị vật chất và tồn tại dưới dạng trạng thái hoặc quá trình, tạo ra những thành tựu do con người sáng tạo trong lịch sử.
Văn hóa là một lĩnh vực thực tiễn quan trọng trong đời sống xã hội, phản ánh những giá trị và thực tiễn hiện hữu trong đời sống cộng đồng Không phải tất cả những gì có thật đều được coi là văn hóa, mà chỉ những yếu tố tiêu biểu, có giá trị cao và được cộng đồng chấp nhận Văn hóa đóng vai trò thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển nhân cách con người.
Lực lượng bản chất bao gồm lao động, sáng tạo và tư duy, với cốt lõi là sự kết hợp giữa lực lượng vật chất và tinh thần Những yếu tố này được huy động để tạo ra sản phẩm, thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình sáng tạo.
Dựa vào mức độ tự nhiên mà con người đã khai thác và cải tạo, ta có thể đánh giá trình độ phát triển của con người.
VH chung của con người.
+ VH có nguồn gốc từ hoạt động thực tiễn xã hội của con người (ở các từ: biến thành, khai thác, cải tạo)
Văn hóa (VH) phản ánh bản chất con người thông qua năng lực chế tác và sử dụng công cụ một cách phổ biến Nó bao gồm hoạt động có ý thức, khả năng sáng tạo ra các mô hình và thực hiện các hoạt động dựa trên những mô hình đó, cũng như năng lực biểu trưng trong giao tiếp và tương tác xã hội.
- Quan điểm của HCM: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sông, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, c.viết, đ.đức, p.luật,
Văn hóa (VH) bao gồm các yếu tố như tôn giáo, văn học và nghệ thuật, cùng với những công cụ phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày như trang phục, ăn uống và các phương thức sử dụng Tất cả những sáng tạo và phát minh này tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của con người.
HCM đứng ở góc độ chưc năng luận, mục đích luận của VH
Cơ cấu của VH
1 Về các hình thái tồn tại của sản phẩm văn hóa vật thể( Hữu hình)/phi vật thể (vô hình).
Hình thái tồn tại của văn hóa là một dạng thức cụ thể, nhưng không đồng nhất với hình thức, vì nó bao gồm cả nội dung lẫn hình thức Các hình thái tồn tại của văn hóa rất đa dạng và phong phú.
Hình thái trạng thái : gồm 2 loại
Hình thái trạng thái vật thể là sự tồn tại của văn hóa dưới dạng một chỉnh thể tĩnh, độc lập với chủ thể sáng tạo Ví dụ điển hình cho khái niệm này là các tác phẩm văn học và những bản nhạc.
Hình thái trạng thái các thể trong văn hóa là hình thức tồn tại tĩnh, gắn liền với chủ thể sáng tạo, như tài năng của một nhân tài Ngược lại, hình thái quá trình thể hiện sự vận hành động của văn hóa theo thời gian, với hai loại hình thái khác nhau.
Hình thái động tác là một hình thức tồn tại của văn hóa, thể hiện qua sự kết hợp giữa động tác của con người và các yếu tố nghệ thuật Ví dụ điển hình là sự biểu hiện của các nghệ sĩ trên sân khấu, nơi mà mỗi động tác đều mang ý nghĩa và giá trị riêng, tạo nên một chỉnh thể sống động và sâu sắc trong nghệ thuật biểu diễn.
Hình thái quan hệ con người là một dạng tồn tại của văn hóa, thể hiện qua các mối quan hệ động và chỉ tồn tại khi có sự hiện diện của các quan hệ xã hội Ví dụ điển hình cho điều này là tình đồng chí, tình đồng đội và tình yêu.
Ngoài ra còn có các hình thái tồn tại khác nhau của văn học như :
-Hình thái sản xuất :các sáng tác phát minh chế tạo sản phẩm
-Hình thái bảo quản :bao gồm lưu giữ,bảo tồn,bảo tàng
-Hình thái phân phối : gồm truyền bá phổ biến chuyển giao sử dụng hoặc quyền sở hữu các sản phẩm văn hóa
-Hinh thái trao đổi :gồm giao lưu văn hóa kinh doanh thương mại,dịch vụ văn hóa
-Hình thái tiêu dùng :gồm chiến hữu và thương thức các sản phẩm văn hóa
2.Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần :
Văn hóa vật chất bao gồm tất cả những sản phẩm mà con người tạo ra để đáp ứng nhu cầu vật chất, như ăn uống, mặc đồ, nơi ở, sinh hoạt, di chuyển và công cụ sản xuất Nó phản ánh trình độ chiếm lĩnh và khai thác tài nguyên tự nhiên của con người.
Văn hóa tinh thần bao gồm những thành tựu về khoa học, giá trị đạo đức, thẩm mỹ, tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội, phong tục và ngôn ngữ Nó thể hiện sự phong phú bên trong ý thức con người và phản ánh trình độ phát triển tinh thần của mỗi cá nhân.
Mối quan hệ giữa văn hóa vật chất và văn hóa thông tin không phải là sự cạnh tranh tĩnh mà thể hiện sự tương tác liên tục Chúng thường xuyên chuyển đổi lẫn nhau trong các hoạt động của con người, với cái này biểu hiện qua cái kia.
Văn học vật chất không chỉ là công cụ sản xuất tiêu dùng mà còn là hoạt động sáng tạo liên quan đến việc tạo ra và sử dụng những công cụ đó Trong quá trình tri thức, thói quen và kinh nghiệm được chuyển hóa thành các tác phẩm nghệ thuật và công trình khoa học Hơn nữa, trong quá trình sản xuất, con người không chỉ tạo ra các điều kiện vật chất mà còn sản sinh ra tri thức, bao gồm cả ý thức tôn giáo và ý thức pháp luật.
Hệ giá trị xã hội là yếu tố thực tế quan trọng trong văn học thông tin, bao gồm các khái niệm tư tưởng và lý luận khác nhau Những học thuyết này tạo thành giá trị xã hội, giúp văn hóa thông tin tồn tại dưới dạng sản phẩm như công trình khoa học, tác phẩm nghệ thuật, và các chuẩn mực đạo đức, pháp luật Những sản phẩm này có giá trị lớn đối với xã hội, được con người chấp nhận và tự nguyện thực hiện, đồng thời được tích lũy và truyền đạt qua nhiều thế hệ.
4.Văn hóa cá nhân-văn hóa công đồng và mối quan hệ giữa chúng :
Văn hóa cá nhân là tổng hợp kinh nghiệm và hiểu biết của một cá nhân, phản ánh qua các hoạt động văn hóa và lịch sử Mỗi người mang trong mình những giá trị tiêu biểu của nền văn học độc đáo, được gọi là nhân cách văn học Ví dụ, người quân tử đại diện cho nhân cách văn học của Nho giáo Trung Hoa, trong khi người võ sĩ đạo Samurai được xem là nhân cách văn học kiệt xuất, được tôn vinh là Danh Nhân văn học.
Văn hóa cộng đồng là bản sắc văn hóa của một nhóm xã hội, không chỉ đơn thuần là tổng hợp các giá trị cá nhân, mà là hệ thống các giá trị và chuẩn mực xã hội được công nhận và thực thi tự nguyện bởi các thành viên trong cộng đồng.
-Mối quan hệ giữa văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng : sự phát triển của văn hóa nhân
Văn hóa cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra những giá trị văn hóa mới, đồng thời cũng là môi trường thuận lợi để nuôi dưỡng và phát triển tài năng cá nhân, giúp họ trở thành những nhân cách văn hóa kiệt xuất.
CHỨC NĂNG CỦA VĂN HÓA VÀ CÁC THUỘC TÍNH XÃ HỘI CỦA NÓ
Các chức năng xã hội của văn hóa
1 Đinh nghĩa về chức năng xã hội
Trước đây, chức năng xã hội của văn học thường được hiểu qua các khía cạnh như giáo dục, nhận thức và thẩm mỹ Tuy nhiên, trong bối cảnh UNESCO phát động thập kỷ phát triển văn hóa, người ta ngày càng chú trọng đến chức năng động lực của văn hóa trong sự phát triển xã hội Chức năng này thể hiện rõ mối quan hệ giữa văn hóa và con người, nhấn mạnh vai trò quan trọng của văn hóa trong việc thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
2 Các Chức năng của văn hóa trong đời sống xã hội
Những chức năng của Vh tác động vào con người theo tư tưởng Vh thì V có
Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong văn hóa, thể hiện ngay từ những ngày đầu trong đời sống xã hội Từ thời cổ đại, văn hóa đã được hình thành để khai mở trí tuệ con người, chuyển hóa họ từ những sinh thể tự nhiên thành những cá nhân xã hội Hiện nay, quá trình này được gọi là văn hóa hóa, nhằm hình thành nhân cách, bởi lẽ mỗi người khi mới ra đời chỉ là một sinh thể tự nhiên, chưa được truyền thụ các giá trị văn hóa.
VH thì sinh thể đó không thể trở thành một nhân cách Đảm bảo tính kế thừa lich sử Đây là cn cơ bản, bao trùm nhất.
Nhận thức là một chức năng quan trọng, gắn liền với giáo dục, giúp con người hiểu biết về bản thân và thích ứng với điều kiện tự nhiên và xã hội Văn hóa đóng vai trò là hệ thống tri thức và ứng xử, cung cấp cho con người những hiểu biết sâu sắc về môi trường xung quanh và chính mình, điều này không thể tái tạo một cách đơn giản.
Tốc độ tri thức của con người phát triển nhanh chóng và không thể tái tạo Con người chỉ có thể sử dụng văn hóa, dựa vào và khai thác từ văn hóa để khám phá thế giới và phát hiện ra tri thức mới.
3 CN thẩm mĩ: Cn sáng tạo thỏa mãn sáng tạo thẩm mĩ của con người là chức năng đặc thù của VH Nhu cầu thâm mĩ là nhu cầu đặc thù, dần hình thành năng lực thẩm mĩ, đánh giá thẩm mĩ, nhu cầu thẩm mĩ, nhu cầu hướng tới con người, hoàn thiện cá nhân và xã hội.
Con người khác biệt với động vật không chỉ bởi quy luật sinh học mà còn bởi quy luật thẩm mỹ Quy luật sinh học (QLSH) là bản năng, trong khi quy luật thẩm mỹ (QLTM) định hướng các hành động của con người Karl Marx cho rằng con người tạo ra vật chất theo quy luật của cái đẹp, và qua quá trình hoạt động, họ dần nhận ra các đặc trưng của đối tượng, từ đó nâng cao vai trò của bản thân trong xã hội.
Vh đáp ứng nhu cầu và phương thức tận hưởng cái đẹp, khuyến khích sự sáng tạo và giúp con người vươn lên trong cuộc sống Nó góp phần vào việc phấn đấu hài hòa, hoàn thiện đời sống cá nhân cũng như đời sống cộng đồng.
4 CN dự báo: Là cn quan trọng của Vh gắn liền với cn nhận thức, con người nắm bắt tương lai, nhìn lại quá khứ của mình, định hướng cho hoạt động tránh những rủi ro đem lại kết quả hoạt động như mong muốn.
Văn hóa cung cấp tri thức và công cụ để dự báo tương lai Trong lịch sử, con người đã sử dụng tri thức để xây dựng những dự báo và lộ trình phát triển Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của xã hội và khoa học công nghệ, nhu cầu dự báo ngày càng trở nên cấp thiết Tuy nhiên, để có những dự báo chính xác cho đời sống xã hội, con người vẫn cần dựa vào văn hóa.
Giải trí đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con người, đáp ứng nhu cầu tinh thần cần thiết Sự căng thẳng và mệt mỏi từ công việc và cuộc sống hàng ngày, cùng với áp lực từ sự phát triển của khoa học công nghệ và kinh tế thị trường, khiến con người cần tìm kiếm những hình thức giải trí để cân bằng lại cuộc sống Văn hóa là một phương tiện hiệu quả để giải tỏa căng thẳng và mang lại sự thoải mái cho tâm hồn.
Văn hóa không chỉ bù đắp tinh thần và giải tỏa căng thẳng, mà còn ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu trong xã hội hiện đại Nó không chỉ là một hình thức giải trí mà còn đóng góp đáng kể vào nền kinh tế và đời sống xã hội.
6 Cn giao tiếp: Là cn thiết yếu của Vh, đáp ứng nhu cầu có tính chất XH của con người Con người là động vật mang tính XH cao, có tổ chức, con người cần có sự tương giao, tương tiếp, ứng xử với nhau VH cung cấp cho con người nội dung giao tiếp, cách thức giao tiếp Ngày nay nhu cầu giao tiếp ngày càng tăng lên, trở nên quan trọng trong đời sống XH.
Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong bốn chức năng cơ bản: giáo dục, giao tiếp, tổ chức xã hội và điều tiết xã hội Theo quan niệm phương Đông, văn hóa không chỉ là phương tiện giáo hóa mà còn là cách thức định hình và tổ chức xã hội Nó tạo ra các thể chế và thiết chế xã hội, từ đó hình thành giá trị, chuẩn mực và khuôn mẫu hoạt động, hướng dẫn và điều tiết hành vi con người trong cộng đồng.
Văn hóa và xã hội
1.Tính giai cấp và tính nhân loại phổ biến của văn hóa
Văn hóa mang tính nhân loại phổ biến, phản ánh mối quan hệ sâu sắc giữa con người và tự nhiên Nhờ có văn hóa, con người không chỉ tồn tại mà còn trở thành chủ thể, khác biệt so với thế giới tự nhiên xung quanh.
Văn hóa bắt nguồn từ con người và đáp ứng nhu cầu của họ, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển Nó khẳng định vị trí của con người trong môi trường tự nhiên và xã hội Trong thời kỳ chưa có sự phân chia giai cấp, văn hóa thể hiện tính thuần nhất, hay còn gọi là tinh nhân đạo.
Văn hóa mang tính giai cấp khi xã hội được phân chia thành hai bộ phận: giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột Điều này cho thấy văn hóa không còn mang tính nhân đạo mà trở thành công cụ phục vụ lợi ích của từng giai cấp Mối quan hệ giữa văn hóa và giai cấp là thuộc tính cơ bản của văn hóa, khẳng định rằng không tồn tại văn hóa siêu giai cấp.
Tính giai cấp văn hóa được chia thành hai loại: tính giai cấp tiến bộ, có vai trò thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và phát triển nhân cách con người Mỗi giai cấp, trong những điều kiện khác nhau, đều trải qua giai đoạn phát triển với phương thức sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự tiến bộ của con người Tuy nhiên, cũng có giai đoạn suy thoái khi phương thức sản xuất trở nên lỗi thời.
2.Vấn đề Vh địa phương và Vh dân tộc – quốc gia
Văn hóa là một hệ thống bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Con người thường sống trong các cộng đồng, nơi họ có mối quan hệ mật thiết trong các hoạt động vật chất và tinh thần Khi các cộng đồng được hình thành theo nguyên tắc dòng máu, chúng được gọi là thị tộc hoặc bộ lạc; theo nguyên tắc thân thuộc là gia đình; và theo nguyên tắc láng giềng là làng xã Các cộng đồng này sẽ thiết lập những chuẩn mực trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt, từ đó hình thành nền văn hóa địa phương, mà mọi người chấp nhận và tự nguyện thực hiện.
Khi cộng đồng người tập hợp theo nguyên tắc chính trị - xã hội, họ được gọi là dân tộc-quốc gia, hình thành ở cấp độ vĩ mô Trong khi đó, các bộ lạc, gia đình và làng xã là những cộng đồng ở cấp độ vi mô Dân tộc-quốc gia bao gồm tất cả các địa phương sống trong một quốc gia, nhưng văn hóa dân tộc-quốc gia không chỉ là sự cộng gộp đơn giản của các văn hóa địa phương Nó bao gồm toàn bộ giá trị và chuẩn mực về kinh tế, xã hội và chính trị, những chuẩn mực mang lại lợi ích chung cho toàn thể dân tộc, và việc chấp nhận, thực thi các chuẩn mực này là sự tự nguyện của toàn bộ dân tộc.
3.Văn hóa dân tộc là xu hướng toàn cầu hóa trong xã hội công nghiệp :
Văn hóa dân tộc là những giá trị chuẩn mực mà cộng đồng dân tộc xây dựng và thực hiện, có khả năng thúc đẩy và điều chỉnh các hoạt động kinh tế, xã hội của con người Tuy nhiên, văn hóa dân tộc cũng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi phương thức sản xuất và vật chất Khi phương thức sản xuất thay đổi theo từng thời kỳ, nó sẽ dẫn đến sự biến đổi trong các hoạt động kinh tế và xã hội của con người.
Vào thời kỳ đầu hoang sơ, con người sống phụ thuộc vào thiên nhiên và thường thờ cúng các yếu tố tự nhiên như trời, đất, thần thánh Văn hóa trong giai đoạn này mang tính hoang sơ và thần bí, dẫn đến sự phát triển xã hội còn hạn chế do sự phụ thuộc vào môi trường xung quanh.
Trong thời kỳ nông nghiệp, con người đã phát triển kỹ thuật trồng cây để sản xuất thực phẩm, từ đó hình thành nền văn minh lúa nước và dẫn đến sự phát triển của xã hội nông nghiệp.
Trong thời kỳ công nghiệp, con người đã làm chủ được thiên nhiên và sáng tạo ra các phương tiện sản xuất, từ đó giải phóng sức lao động Sự phát triển này đã dẫn đến sự hình thành của nền văn minh công nghiệp, tạo nên xã hội công nghiệp.
Khi con người bắt đầu sáng tạo, họ sẽ biết cách trao đổi sản phẩm của mình, dẫn đến xu hướng toàn cầu hóa trở thành một phần tất yếu trong sự phát triển của lịch sử nhân loại Các quốc gia sẽ tiến hành trao đổi, bắt đầu bằng việc giao thương hàng hóa.
Sau đó là sự giao lưu nền, tiếp biến nền vh dân tộc giữa các quốc gia trên thế giới.
GIAO LƯU, KẾ THỪA TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
Khái niệm tiến bộ văn hóa và những tiêu chí của nó
Tiến bộ văn hóa được thể hiện qua sự phát triển tính sáng tạo của cá nhân, những thành tựu trong sản xuất văn hóa, và mức độ giải phóng tinh thần của con người Điều này thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp xã hội khác nhau vào quá trình văn hóa và lịch sử.
2.Những tiêu chí của tiến bộ văn hóa: 6 tiêu chí:
Quá trình sản xuất giá trị tinh thần được thể hiện qua sự tham gia tích cực của quần chúng trong các hoạt động sáng tạo văn hóa Sự tham gia này không chỉ góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần mà còn thúc đẩy sự phát triển của nền văn hóa.
Nền sản xuất thị trường thể hiện sự phong phú của sản xuất văn hóa, đồng thời phản ánh tính chất tiến bộ trong hệ tư tưởng Nó cũng thể hiện chất nhân văn trong văn học, nghệ thuật, triết học, khoa học và các thành tố khác của văn hóa.
Thái độ trân trọng của xã hội đối với việc bảo quản và phát huy những giá trị thị trường không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn biến những giá trị chung đó thành vốn văn hóa cá nhân cho mỗi con người.
Tính chất dân chủ hóa trong hệ thống phân phối giá trị tinh thần của xã hội được thể hiện qua nền giáo dục của nhân dân, sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng lưới cơ quan văn hóa giáo dục trong cộng đồng.
Quá trình trao đổi giá trị văn hóa thị trường mang lại tính thuận tiện cao, thể hiện qua mức độ liên quan giữa các yếu tố trong nền văn hóa Sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc diễn ra thông thoáng, tạo điều kiện cho tính tự do trong các hoạt động sáng tạo, bao gồm cả khoa học và nghệ thuật.
6.Đảm bảo quyền tự do lựa chọn, tiêu dùng các giá trị thị trường như Hiến pháp Nhà Nước đã quy định.
Định nghĩa về giao lưu, tiếp biến văn hóa
1.Định nghĩa về giao lưu văn hóa
Giao lưu văn hóa là sự trao đổi sản phẩm văn hóa giữa các cộng đồng dân tộc khác nhau, diễn ra thường xuyên và gắn liền với sự tiến hóa xã hội Khi giao lưu văn hóa mạnh mẽ, các sáng tạo văn hóa được phổ biến rộng rãi, góp phần nâng cao đời sống văn hóa của cộng đồng Việc nâng cao đời sống văn hóa là điều kiện cần thiết để mở rộng giao lưu văn hóa, thể hiện sự phát triển văn hóa trong xã hội.
2 Định nghĩa về tiếp biến VH
Tiếp biến văn hóa là hiện tượng xảy ra khi có sự giao tiếp giữa các cộng đồng dân tộc, trong đó "tiếp" có nghĩa là tiếp nhận và "biến" có nghĩa là biến hóa Điều này có nghĩa là các quốc gia tiếp nhận sản phẩm văn hóa mới từ quốc gia khác và chọn lọc để biến đổi thành sản phẩm văn hóa riêng của mình Hiện tượng này yêu cầu mỗi dân tộc phải xử lý một cách khéo léo mối quan hệ biện chứng giữa sản phẩm văn hóa nội sinh và ngoại sinh.
Cơ sở triết học duy vật biện chứng của quy luật kế thừa văn hóa
Kế thừa là quá trình bảo tồn và chuyển hóa một phần hoặc toàn bộ một chỉnh thể đã có thành một bộ cấu thành chỉnh thể khác, mang tính chất khác biệt so với chỉnh thể ban đầu.
Quy luật kế thừa văn hóa nhấn mạnh rằng văn hóa chỉ có thể tồn tại và phát triển khi bảo tồn và chuyển hóa những thành tựu văn hóa của nhân loại thành văn hóa mới Nền văn hóa của giai cấp văn hóa xã hội chủ nghĩa không thể hình thành chỉ dựa vào ý chí chủ quan của một nhóm người, mà phải dựa trên việc bảo tồn và chuyển hóa toàn bộ những thành tựu văn hóa do con người sáng tạo ra qua các thời đại khác nhau.
*Cơ sở Triết học Di vật Biện chứng của quy luật Vh:
Biện chứng phản ánh quy luật khách quan của sự vật, thể hiện sự vận động và phát triển liên tục Trong quá trình kế thừa, cần tôn trọng yếu tố khách quan, xem xét một cách toàn diện và đánh giá quá trình chuyển hóa của các sự kiện văn hóa.
Tôn trọng khách quan: có nghĩa phải biết chấp nhận những sự kiện Trong đó bao gồm cảm xúc cá nhân thị hiếu cá nhân.
Xem xét toàn diện: là xem xét cả mặt tích cực và tiêu cực.
Xem xét cả quá trình chuyển hóa của các sự kiện văn hóa: là xem xét quá trình vận động theo chiều dọc của lịch sử (theo thời gian).
Tính kế thừa trong sự phát triển văn hóa và nghệ thuật
Tính kế thừa trong văn hóa nghệ thuật được coi là quy luật quan trọng, tạo nên bản sắc văn hóa và sức mạnh truyền thống của dân tộc Hiện nay, nó không chỉ là yếu tố quyết định vẻ đẹp văn hóa mà còn là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong chính trị quốc gia, hỗ trợ quá trình hội nhập và phát triển của đất nước trong thời đại mới.
Tính kế thừa trong sự phát triển văn hóa và nghệ thuật là quá trình chọn lọc và phê phán nhằm giữ lại những yếu tố tích cực, tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển cái mới Điều này nhấn mạnh rằng thế hệ sau cần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, nghệ thuật từ thế hệ trước, đồng thời tiếp biến để nền văn hóa hiện đại phù hợp với nhu cầu và trình độ phát triển của xã hội mới.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc giao lưu văn hóa trở thành nhu cầu thiết yếu Sự kế thừa trong phát triển văn hóa và nghệ thuật đòi hỏi việc tiếp thu có chọn lọc các giá trị tinh hoa của nhân loại, giúp văn hóa Việt Nam hội nhập vào cộng đồng thế giới Đồng thời, điều này cũng đảm bảo giữ gìn nét đặc trưng độc đáo, tiên tiến và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Di sản văn hóa dân tộc – Những vấn đề bảo tồn và phát huy Di sản dân tộc trong đời sống đương đại
Di sản văn hóa dân tộc là tài sản quý giá của mỗi cộng đồng, bao gồm tổng thể tài nguyên văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị mà dân tộc nhận biết và sử dụng để đáp ứng nhu cầu hiện tại Di sản này bao gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là vấn đề quan trọng trong đời sống đương đại, thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại Bảo tồn nhằm bảo vệ những di sản văn hóa đã tồn tại từ thế hệ trước, trong khi phát huy là khai thác giá trị của di sản phục vụ lợi ích dân tộc Trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, mỗi dân tộc cần chú trọng đến vấn đề này, vì di sản văn hóa là sợi dây kết nối cộng đồng vững chắc Nó giúp con người trở về với cội nguồn và những giá trị thiêng liêng, từ đó khơi dậy ý chí tự chủ, tự cường và thúc đẩy lao động sản xuất, phát triển, cũng như bảo vệ tổ quốc trước những kẻ thù xâm lược.
VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN
Quan điểm mới của liên hợp quốc về phát triển
1 Những hạn chế các lý thuyết, các mô hình phát triển trước
Thời kỳ trước có 3 quan niệm về phát triển như sau :
Theo quan điểm của một số nhà kinh tế, phát triển đồng nghĩa với sự tăng trưởng kinh tế (GDP), dẫn đến việc tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế trong xã hội Họ coi phát triển kinh tế là tiêu chí chính cho sự tiến bộ xã hội, nhưng quan niệm này chỉ phù hợp với một số nước phương Tây.
Theo quyết định luận nhân bản thi lại, phát triển được coi là tương đồng với sự phát triển nhân bản, tức là sự phát triển của cá thể người Tiêu chí HDL thể hiện quan niệm tuyệt đối hóa cá thể người, cho rằng chỉ có sự phát triển của cá thể con người mới là thước đo cho tiến bộ xã hội Điều này dẫn đến việc tuyệt đối hóa vai trò của cá thể trong quá trình phát triển.
Công thức :HDI: GĐP + tuổi thộ TB + trình độ học vấn).
Theo quan niệm chính trị - xã hội, phát triển gắn liền với sự tiến bộ xã hội, bao gồm phúc lợi xã hội và quyền tự do, dân chủ của con người Điều này nhấn mạnh vai trò quan trọng của xã hội và quyền tự do dân chủ Nhiều người cho rằng, dù GDP hay HDI có cao đến đâu, nếu con người sống trong môi trường xã hội không lành mạnh và quyền tự do, dân chủ bị xâm phạm, thì đó không phải là phát triển thực sự.
Cả 3 quan niệm đều có các hạn chế
2.Phân tích quan điểm phát triển của liên hợp quốc
Theo UNESCO, phát triển không chỉ đơn thuần là tăng trưởng kinh tế mà còn phải bao gồm phát triển con người và tiến bộ xã hội Các chỉ tiêu kinh tế, mặc dù quan trọng để đảm bảo nhu cầu vật chất, có thể dẫn đến bất bình đẳng trong thu nhập và hưởng thụ Điều này có thể tạo ra lối sống không lành mạnh và sự coi thường trí tuệ, nhân cách Do đó, phát triển kinh tế cần đi kèm với các chỉ tiêu khác như tuổi thọ bình quân, trình độ học vấn, quyền tự do trong môi trường xã hội và bảo vệ môi trường tự nhiên.
Khái niệm phát triển kinh tế đang dần chuyển sang phát triển kinh tế xã hội, với văn hóa và phát triển trở thành vấn đề cấp bách của thời đại Đây là hành trang cần thiết cho mọi dân tộc nhằm đạt được sự phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới Mối quan hệ giữa văn hóa và con người là yếu tố then chốt, giúp tìm ra phương hướng và cách thức để mọi người, cộng đồng và toàn nhân loại có thể tồn tại và phát triển theo hướng tiến bộ.
Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vai trò của Văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.Vh là nền tảng phát triển của XH
Theo quan điểm của Mác về duy vật lịch sử, trong đời sống xã hội thực tế có ba nền sản xuất chính: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, và sản xuất con người Sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần là cơ sở và nền tảng cho sự vận động của xã hội, trong khi sản xuất con người bao gồm sản xuất vật chất (thân xác) và sản xuất tinh thần (con người).
Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, yếu tố quyết định trong lịch sử cuối cùng là sản xuất và tái sản xuất đời sống thực tiễn Cả Karl Marx và tôi chưa bao giờ khẳng định rằng chỉ có yếu tố kinh tế là yếu tố quyết định duy nhất Nếu ai đó xuyên tạc câu này, khiến nó trở nên chỉ mang tính chất kinh tế, thì họ đã biến nó thành một câu trống rỗng, trừu tượng và vô nghĩa.
Trong thực tiễn đời sống xã hội, văn hóa và truyền thống luôn gắn bó và xâm nhập vào nhau, tạo thành nền tảng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội.
Anghen cho rằng có nhiều quy luật chi phối vận động và tư tưởng của con người Hai quy luật này chỉ có thể được phân chia trong quan niệm của chúng ta, chứ không thể tách biệt trong thực tế.
- VH là nền tảng TT chi sự tồn tại của ĐSXH, vì VH được hinh thành trong
LS được tích lũy qua nhiều thế hệ, tạo ra chiều sâu và bề dày trong đời sống cộng đồng, được duy trì qua truyền thống và trao truyền trong thời gian, không gian Nó bao gồm những giá trị tương đối cố định như tri thức, kinh nghiệm và đạo đức, được xác định bởi các chuẩn mực, luật tục và luật pháp Những giá trị văn hóa này quy định phương thức ứng xử của cá nhân và cộng đồng, đồng thời liên kết quá khứ, hiện tại và tương lai Các giá trị này tồn tại khách quan, độc lập với từng cá nhân và từng thế hệ.
Mô tức giá trị đạo đức trong văn hóa là phương pháp nuôi dưỡng tâm hồn, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Những giá trị này thường xuyên được đánh giá, điều chỉnh và tái khẳng định, trở thành một phần quan trọng trong truyền thông văn hóa.
VH Chínhvì vậy truyền thống đươc bảo vệ trở thành nền tảng TT cho XH.
- VH đượchình thành, lựa chọn, bồi đắp trong LS, nó trở thành truyền thống của 1CĐ, là cơ sở cho sự tồn tại phát triển của 1DT.
- Thực tiễn ở VN:VH là nền tảng TT, là cơ sở chọn lựa
1 mô hình KTXH đặc trưng của DT
Câu hỏi quan trọng trong việc phát triển cơ sở xã hội là liệu nên dựa trên các giá trị dân tộc hay các giá trị bên ngoài Mô hình kinh tế - xã hội cần được xây dựng dựa trên đặc trưng văn hóa của đất nước, với văn hóa là nền tảng chính Những giá trị văn hóa sẽ đóng vai trò cốt lõi trong việc xây dựng mô hình "dân giàu, nước mạnh", đồng thời hướng đến một xã hội công bằng, dân chủ, dựa trên truyền thống và giá trị đạo đức.
Mục tiêu của chúng ta là xây dựng một xã hội với dân giàu, nước mạnh, phát triển kinh tế bền vững, đồng thời chú trọng đến phát triển con người và cộng đồng Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân mà còn góp phần vào sự phát triển chung của xã hội và văn hóa.
Mục tiêu: phát triển KT:hướng tới CBXH; phát triển cá nhân: không những khuyến khích làm giàu cá nhân mà còn xóa đói giảm ngèo
VH, giá trị VH là cơ sở cho sự tôn tại phát triển XH
- NQTW 5 khóa 8: Không quan tâm giải quyết tốt mqh giữa KT phát triển, tiến bộ và CBXH thì không thể có sự phát triển bền vững.
Một tác giả người Nhật đã nhấn mạnh rằng không có quốc gia nào có thể phát triển mà lại xem nhẹ quá khứ của mình Quá khứ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình quá trình phát triển tiếp theo của mỗi đất nước, như được nêu trong cuốn sách "Vì sao Nhật Bản thành công".
VH đóng vai trò là mục tiêu quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội (KTXH), thể hiện nền tảng tinh thần cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống Mục tiêu VH không chỉ là một đích đến mà còn phản ánh trình độ phát triển của xã hội, hướng tới sự tiến bộ và phát triển bền vững.
Văn hóa (Vh) là mức độ phát triển lịch sử của xã hội, phản ánh sức sáng tạo và năng lực của con người trong xã hội đó Nó được thể hiện qua các kiểu và hình thức tổ chức xã hội, cùng với những giá trị văn hóa và tinh thần mà con người tạo ra.
UNESCO khẳng định rằng sự phát triển của xã hội gắn liền với sự phát triển văn hóa Điều này cho thấy rằng sự thăng hoa của văn hóa chính là đỉnh cao của tiến bộ xã hội.
HCM: XD một Xh VH cao chính là XH phát triển, đồi sống VC và TT cao hài hòa cá nhân với CĐ, các nhân với XH.
Văn hóa (VH) là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội (ĐSXH), đóng vai trò là mục tiêu bao trùm và là phương thức kết nối các mục tiêu mà chúng ta xây dựng.
- VH là một trong6 mục tiêu chúng ta xây dựng
VH hướng tới việc tác động vào con người, coi con người là mục tiêu chính trong quá trình phát triển VH đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới tư tưởng bên trong mỗi cá nhân, thúc đẩy cuộc cách mạng nội tâm giúp con người nhận thức và nâng cao nhân cách của bản thân.
3 VH là động lực của phát triển XH
Nền tảng tinh thần vững chắc và mục tiêu cao cả đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển văn hóa (VH), vốn là năng lực cốt lõi của con người VH không chỉ là nguồn lực mềm mà còn là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững Để phát triển, cần có vốn, khoa học công nghệ (KHCN), lao động và tài nguyên, trong đó VH hiện hữu trong tất cả các nguồn lực này Ví dụ, KHCN và VH được lưu giữ trong sách vở, nhưng khả năng ứng dụng phụ thuộc vào trình độ VH của con người Về vốn, sự phát triển tài chính cần có tiền, nhưng cách sử dụng tiền lại phụ thuộc vào trí thức và trình độ VH của con người Cuối cùng, dù tài nguyên phong phú hay hạn chế, việc khai thác chúng cũng phụ thuộc vào văn hóa.
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
Phương hướng, mục tiêu, quan điểm chỉ đạo
Phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, chúng ta cần có ý thức độc lập, tự chủ và tự cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trong Nghị quyết TW5 (khóa VIII), Đảng đã xác định rõ mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thấm sâu vào đời sống xã hội, từng cá nhân, gia đình và cộng đồng Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu dân giàu, văn minh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, với mục đích xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đồng thời phát triển con người và xã hội, đất nước.
Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam là cần thiết để phát triển nhân cách, đạo đức, trí tuệ và năng lực sáng tạo Cần tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển thể chất, tâm hồn và trách nhiệm xã hội của mỗi cá nhân Đồng thời, cần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc, khuyến khích mỗi người có lương tâm và trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước.
Xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh là cần thiết trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Điều này bao gồm việc phát triển văn hóa trong hệ thống chính trị cũng như trong các cộng đồng như làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và gia đình Vai trò của gia đình, cộng đồng và xã hội cần được phát huy để tạo ra một môi trường văn hóa tích cực, từ đó thúc đẩy sự hoàn thiện nhân cách của con người Việt Nam.
Hoàn thiện thể chế và pháp lý là yếu tố quan trọng để phát triển văn hóa và con người trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Việc xây dựng các thiết chế văn hóa phù hợp sẽ góp phần nâng cao đời sống tinh thần và giá trị nhân văn, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.
- Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam.
Bước đầu tiên để thu hẹp khoảng cách văn hóa giữa thành phố và nông thôn, cũng như giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội, là tăng cường các hoạt động văn hóa và giáo dục Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức xã hội, tạo nên một cộng đồng gắn kết và phát triển bền vững.
- T/c nền Vh chúng ta đang XD:tiên tiến đậm đà BSDT (đstinh thần cao đẹp) là mục tiêu nền VH hướng tới.
- PT xây dựng: kế thừa truyền thống VHDT kết hợp tiếp thu VH nhân loại làm cho VH thấm sâu vào từng lĩnh vực của đời sống XH.
2.Các quan điểm chỉ đạo(5 quan điểm cơ bản)
5 quan điểm chỉ đạo: chuẩn bị cho việc xây dựng nền VHVN tiên tiến – đậm đà –BSDT
Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền tảng tinh thần cho xã hội, đồng thời là mục tiêu và động lực thiết yếu cho sự phát triển bền vững của đất nước Do đó, văn hóa cần được coi trọng ngang hàng với các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội.
2- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
3- Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Xây dựng một môi trường văn hóa đồng bộ là cần thiết, đặc biệt là chú trọng vai trò của gia đình và cộng đồng Việc phát triển kinh tế cần hài hòa với văn hóa, đồng thời cần chú ý đến yếu tố văn hóa và con người trong quá trình phát triển kinh tế.
5- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
Tính chất của nền văn hóa
Tính tiên tiến và tính dân tộc hai tính chất này gắn kết,hòa quyện,thâm nhập thể hiện đồng thời biểu hiện trong cuộc sống của chúng ta.
Để xây dựng một đời sống vật chất cao đẹp và gắn kết với đời sống tinh thần, cần tạo ra một hình thái xã hội và nền văn hóa phát triển bền vững Điều này giúp con người có khả năng trừu tượng hóa và phân tách các yếu tố vật chất và tinh thần thành hai tính chất riêng biệt.
1 Tính chất tiên tiến với 5 đặc trưng
Nền văn hóa tiên tiến thể hiện tinh thần yêu nước và sự tiến bộ, với đặc trưng cơ bản dựa trên các giá trị cao đẹp của thời đại và dân tộc Điều này được thể hiện qua chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nền văn hóa của chúng ta được xây dựng trên cơ sở chỉ đạo và yếu tố cốt lõi từ tinh thần yêu nước, thể hiện qua độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Điều này nhấn mạnh mục tiêu xây dựng một xã hội giàu mạnh, phát triển bền vững và công bằng, hướng đến chủ nghĩa xã hội với dân chủ và văn minh.
* Nền VHVN….thể hiện tư tưởng nhân văn cách mạng
Nhân văn là sự quan tâm đến con người, nhằm giải phóng và phát triển toàn diện con người, bao gồm trí tuệ, thể chất và đạo đức Điều này hướng tới việc phát triển các giá trị chân, thiện, mỹ của nhân loại một cách phù hợp.
Tiên tiến là một khái niệm thể hiện trình độ phát triển vượt bậc so với những thành tựu văn hóa trước đó Nó không chỉ ảnh hưởng đến một bộ phận lớn mà còn tác động sâu rộng đến toàn xã hội và từng cá nhân, khẳng định sự phát triển toàn diện của nhân loại.
- Khắc phục sự tha hóa con người do xhcn, do kinh tế thị trường , do sự dồn nén của đô thị, giao lưu vh, toàn cầu hóa.
*Xây dựng nền vh…mang tính dân chủ
Dân chủ là đặc trưng do nền vh tiên tiến, nền vh tiến bộ.
- Dân chủ là nguồn sữa nuôi dưỡng nền Vh tiên tiến,là tiền đề quan trọng để phát triển VH.
- Nền VH mang tính dân chủ được thể hiện:
+Tạo điều kiện để đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào việc sáng tạo, biểu hiện, hưởng thụ VH
Cần tôn trọng di sản văn hóa (DSVH) của cộng đồng, vì đây là tài sản quý báu mà thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, đồng thời cũng là di sản của nhân dân hôm nay và cho các thế hệ mai sau.
+ Tôn trọng sự phong phú và đa dạng của VHDT và VH tộc người
+ Tôn trọng sự đa dạng của vùng miền VH
+ Tôn trọng sự tự do sáng tạo con người, cá tính sáng tạo và nhân lực sáng tạo cá nhân, lợi ích sáng tạo các nhân.
* Xây dựng nền VHVn mang tính hiện đại
Tiếp thu và phát triển tri thức, tư tưởng, học vấn, và khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng để nâng cao trình độ nhân loại, phù hợp với xu thế của thời đại.
+ Hoạt động của con người
+ Hoạt động của tư tưởng (CN M - L cũng cần hiện đại hóa)
Nền văn hóa XD không chỉ mang lại sự đổi mới về nội dung tư tưởng mà còn cải tiến hình thức thể hiện và các phương tiện truyền tải nội dung.
Để nâng cao giá trị văn hóa mới, cần áp dụng các phương pháp sáng tạo hiện đại cùng với việc trang bị công nghệ, kỹ thuật tiên tiến trong quá trình sáng tạo, phổ biến, bảo tồn và thưởng thức văn hóa.
Dựa vào khoa học và công nghệ, việc trang bị cơ sở vật chất và kỹ thuật phục vụ văn hóa giúp nâng cao khả năng sáng tạo, tăng tốc độ phổ biến sản phẩm văn hóa và đảm bảo lưu giữ sản phẩm văn hóa một cách bền vững.
2 Vấn đề bản sắc dân tộc
* Mối quan hệ giữa vh và dân tộc
-VH là một yếu tố hình thành DT, biểu hiện bộ mặt tinh thần của DT
- 4 yếu tố tạo ra quốc gia DT là:
+Hình thành quốc gia gồm nhà nước - pháp luật
+ Kinh tế thống nhất (KTTT)
+ VH truyền thống: Ngôn ngữ chung, thông nhất Ý thức lịch sử dt Tâm lý chung Phong tục tập quán truyền thống
- VH: Bộ mặt tinh thần của một DT: Linh hồn của DT, sức sống của DT;
VH con, DT còn; Vh suy yếu, DT yếu VH mất thì Dt bị diệt vong.
*Bản sắc dân tộc của vh
- BSVH chính là BSDT của VH hay BSDT được biểu hiện trong VH
BSVH, viết tắt của "Bản sắc văn hóa Việt", là thuật ngữ được các nhà nghiên cứu VHDT sử dụng để chỉ sự nhận diện và nhận ra những điểm tương đồng giữa những người cùng phát triển văn hóa Việt.
BSVH theo HCM là yếu tố độc đáo và đặc sắc của nền văn hóa dân tộc, thể hiện đặc tính và cốt cách của dân tộc, đồng thời phản ánh thần thái của một cộng đồng Những yếu tố này tạo nên sức mạnh kết nối, giúp duy trì và phát triển đời sống của cộng đồng dân tộc.
- BSVH được thể hiện ở truyền thống, bản lĩnh, lối sống, cách cảm, cách nghĩ, cách suy tư, khát vọng, biểu tượng hệ giá trị DT
BSVH là gì? Theo HNTW 5 khóa 8, ĐCSVN đã định nghĩa BSVHVN là những giá trị bền vững và tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được hình thành qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện qua 5 giá trị cơ bản.
+ Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường DT
+ Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã+ Lòng nhân ái khoan dung trong nghĩa tình đạo lý
+ Đức tính cần cù sáng tạo trong lao động
+ Sự tinh tế trong ứng xử, tính giá trị trong lối sống
Những giá trị này hiện hữu một cách khách quan trong văn hóa của chúng ta, như một sợi chỉ đỏ nối kết mọi khía cạnh Tính khách quan này được thể hiện rõ trong lịch sử, đặc biệt khi lịch sử đối mặt với những thách thức từ dân tộc.
Nhiệm vụ xây dựng nền Vh tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ( chú ý về xd và pt vh, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước)
ý về xd và pt vh, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước)
1 Những nhiệm vụ nghị quyết TW năm, khóa VIII nêu ra
Gồm có 10 nhiệm vụ như sau :
1 - Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau:
Tinh thần yêu nước và tự cường dân tộc là động lực thúc đẩy chúng ta phấn đấu vì độc lập và chủ nghĩa xã hội, với quyết tâm nâng cao vị thế đất nước, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu Đồng thời, chúng ta cũng cần đoàn kết với nhân dân thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung
Lối sống lành mạnh và văn minh bao gồm các giá trị như cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, và tôn trọng kỷ cương pháp luật cùng quy ước cộng đồng Đồng thời, cần có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái để xây dựng một xã hội bền vững.
Lao động chăm chỉ, với lương tâm nghề nghiệp và kỹ thuật sáng tạo, không chỉ nâng cao năng suất mà còn mang lại lợi ích cho bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực
2 - Xây dựng môi trường vǎn hóa
Tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh tại các đơn vị cơ sở như gia đình, làng, xã, và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng và ngày càng tăng của cộng đồng dân cư, bao gồm đô thị, nông thôn và miền núi.
Gìn giữ và phát huy đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, trong đó vai trò gương mẫu của cha mẹ được đặt lên hàng đầu Việc xây dựng gia đình văn hóa cần được coi trọng, đồng thời cần củng cố mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa sẽ nâng cao tính tự quản của cộng đồng trong xây dựng nếp sống văn minh Đồng thời, cần thu hẹp khoảng cách văn hóa giữa các trung tâm đô thị và nông thôn, cũng như giữa các vùng kinh tế phát triển và những vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, nhằm đảm bảo sự phát triển đồng đều cho tất cả các tầng lớp nhân dân.
Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở là mục tiêu quan trọng, đồng thời đầu tư xây dựng các công trình văn hóa trọng điểm quốc gia Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp và phát triển phong trào quần chúng trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cũng cần được chú trọng.
3 - Phát triển sự nghiệp vǎn học - nghệ thuật
Chúng tôi nỗ lực sáng tạo nhiều tác phẩm văn học - nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, mang đậm tinh thần nhân văn và dân chủ, nhằm góp phần xây dựng con người một cách sâu sắc.
Khuyến khích việc khám phá và thử nghiệm nhiều phương pháp cũng như phong cách sáng tác nhằm mang lại giá trị tinh thần tích cực và bổ ích cho cộng đồng Đồng thời, cần loại bỏ những xu hướng sáng tác tiêu cực, phi nhân tính.
Văn nghệ Việt Nam phản ánh chân thật và sâu sắc sự nghiệp của nhân dân trong cách mạng, kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tái hiện lịch sử kiên cường của dân tộc Đặc biệt, các tác phẩm về công cuộc đổi mới cần nhấn mạnh những nhân tố tích cực và nhân vật tiêu biểu của thời đại Văn nghệ cổ vũ cái đúng, cái đẹp trong quan hệ giữa con người, xã hội và thiên nhiên, đồng thời phê phán thói hư tật xấu và lên án cái ác Cần sáng tạo nhiều tác phẩm văn học-nghệ thuật phù hợp cho thiếu niên, nhi đồng và nghiêm cấm xuất bản sách kích thích bạo lực ở trẻ em.
Phát huy vai trò thẩm định tác phẩm và hướng dẫn dư luận xã hội trong việc phê bình văn học, nghệ thuật là rất quan trọng Cần bảo đảm tự do sáng tác, đồng thời nâng cao trách nhiệm công dân và trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ và các nhà văn hóa Việc nâng cao chất lượng và phát huy tác dụng của nghiên cứu, lý luận sẽ góp phần tạo nên một môi trường sáng tạo lành mạnh.
Tiếp tục đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối vǎn nghệ của Đảng
Nâng cao thẩm mỹ và trình độ thưởng thức nghệ thuật của công chúng, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, là mục tiêu quan trọng Cần tạo điều kiện để người dân tích cực tham gia sáng tạo, phê bình và được tiếp cận nhiều tác phẩm văn nghệ giá trị trong và ngoài nước Đồng thời, chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và tạo môi trường làm việc thuận lợi cho văn nghệ sĩ cũng rất cần thiết Việc bồi dưỡng và đào tạo lớp văn nghệ sĩ trẻ, cùng với bảo vệ bản quyền tác giả, sẽ góp phần phát triển nền nghệ thuật bền vững.
Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, bao gồm các hội sáng tạo văn học nghệ thuật ở Trung ương và các hội văn nghệ tại các tỉnh, thành phố, là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp do Đảng lãnh đạo Các tổ chức này có bộ máy chuyên trách gọn nhẹ và nhận được sự tài trợ từ Nhà nước về kinh phí.
4 - Bảo tồn và phát huy các di sản vǎn hóa
Di sản văn hóa là tài sản vô giá, đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng và tạo nên bản sắc dân tộc Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bao gồm cả văn hóa bác học và dân gian, cũng như văn hóa cách mạng, là điều cần thiết để sáng tạo ra những giá trị mới và thúc đẩy giao lưu văn hóa Chúng ta cần chú trọng bảo vệ cả văn hóa vật thể và phi vật thể để giữ gìn di sản cho các thế hệ tương lai.
Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đ‹p do cha ông để lại
5 - Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về giáo dục
Đào tạo và khoa học công nghệ cần chú trọng giáo dục đạo đức, trách nhiệm công dân, lòng yêu nước và chủ nghĩa xã hội Đồng thời, cần phát triển ý thức về văn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắc văn hóa, khuyến khích ý chí vươn lên vì tương lai cá nhân và đất nước Việc bồi dưỡng năng lực phát huy giá trị văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại cũng rất quan trọng.
Bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ giảng viên, cùng với việc tu chỉnh hệ thống sách giáo khoa, là những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các môn ngữ văn, lịch sử, chính trị, pháp luật và đạo đức, cũng như giảng dạy nhạc và họa tại các trường phổ thông.