Do đó trong giai đoạn này việc dạy và học môn Tiếng Việt vừa phải quan tâm đến hệ thống hoá, khái quát hoá nội dung học tập vừa phải chú ý quan tâm bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng sử dụng
Trang 1Luận văn
Đề tài : Phân loại từ loại
Trang 2sự thay đổi tất yếu của nội dung và phương pháp dạy học mới - Ta có thể khái quát hoá
cơ sở lý luận đó bằng sơ đồ sau:
Mục tiêu đào tạo
Trang 3(Mối quan hệ giữa Mục tiêu đào tạo với nội dung dạy học với phương pháp dạy học là mối quan hệ: hữu cơ, hỗ trợ, quy định, tất yếu khách quan với nhau)
Đặc biệt trong từng bài dạy cụ thể mối quan hệ này thể hiện càng rõ nét:
Mục tiêu dạy học (nhất là mục tiêu về tình cảm, thái độ) chỉ được thực hiện khi sử dụng
PP dạy học thích ứng Riêng lĩnh vực MT về nhận thức thì lĩnh vực dạy học đã khẳng định rằng mỗi PP dạy họcdẫn tới một trình độ lĩnh hội kiến thứcnhất định và ngược lại trình độ lĩnh hội kiến thức phụ thuộc vào PP dạy học Có 4 loại nôị dung dạy học (Kiến
thức về thế giới tự nhiên và xã hội - Na: kinh nghiệm thực hiện những cách thức hoạt động - Nb: Kinh nghiệm hoạt động sáng tạo - Nc: Các quy phạm đạo đức - Nd) Như vậy
tương ứng với mỗi kiểu nội dung dạy học có một số PP dạy học thích hợp Không có PP
dạy học vạn năng (các cơ sở lý luận này trích trong cuốn “Đổi mới nội dung và phương
pháp dạy học” TLBDTX - chu kỳ 1997 -2000) Điều này khẳng định mỗi thày cô giáo muốn thực hiện được mục tiêu dạy học phải đổi mới PP dạy học và muốn đổi mới PP dạy phải có trình độ kiến thức vững vàng
Như mọi người đều biết những nét tính cách chính của con người được hình thành
từ trước và đầu tuổi học Vì vậy trường tiểu học cần hình thành cho học sinh tính năng
động sáng tạo bằng cách sớm chuyển sang hướng tích cực hoá người học, tập trung vào hoạt động của người học mới rèn luyện được cho trẻ những năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước Điều đó cũng phù hợp với với xu thế giáo dục mới là dạy học phát huy năng lực, sở trường của học sinh, làm cho học sinh linh hoạt và sáng tạo tự tiếp thu kiến thức mới
Trong nhà trường tiểu học môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác góp phần cùng giáo dục, giáo dưỡng các em thành những con người phát triển toàn diện Ơ mỗi lớp môn Tiếng Việt có một vị trí yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau Đặc biệt giai đoạn
cuối của bậc tiểu học có nhiệm vụ dạy cho học sinh nắm chắc vốn kiến thức cơ bản để tiếp tục học ở bậc trung học, vừa chuẩn bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để các em có thể
Trang 4bước vào cuộc sống lao động Do đó trong giai đoạn này việc dạy và học môn Tiếng Việt vừa phải quan tâm đến hệ thống hoá, khái quát hoá nội dung học tập vừa phải chú ý quan tâm bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ đây là nhu cầu tất yếu của cuộc sống để giúp học sinh dễ dàng thích nghi khi bước vào cuộc sống cộng đồng - đây là cơ
sở bắt buộc nâng phải cao chất lượng môn Tiếng Việt
Hơn thế nữa môn Tiếng Việt lại là môn học công cụ để học tốt các môn học khác (Vì ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy, ngôn ngữ là phương tiện của thông tin, học sinh tiểu học rất thiếu kinh nghiệm về ngôn ngữ ) Điều này quy định bắt buộc phải nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt ở tiểu học Muốn nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt phải đổi mới về nội dung, về phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học - Muốn làm được vậy trước tiên người thày giáo phải làm chủ được kiến thức môn Tiếng Việt có liên quan đến chương trình Tiếng Việt tiểu học Các cơ sở lý luận này đã quy định phải làm thật tốt công tác bồi dưỡng kiến thức môn Tiếng Việt cho giáo viên hiện nay
Công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ hết sức quan trọng của người hiệu trưởng hiện nay, nhất là công tác bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, một
trong những mảng cần bồi dưỡng mang ý nghĩa thiết thực nhất cho đội ngũ giáo viên tiểu
học hiện nay là bồi dưỡng những gì mà đội ngũ mình quản lý còn yếu đó là hệ thống kiến thức về Tiếng Việt, để giúp họ thực hiện tốt mục tiêu, nội dung, PP dạy học như đã phân
tích trên
2, Cơ sở thực tiễn:
Trong thực tiễn hiện nay, tình hình chất lượng môn Tiếng Việt luôn thấp hơn chất lượng các môn khác (qua số liệu các bài khảo sát chất lượng, kiểm tra định kỳ, thi tốt nghiệp ), và có lẽ là ở tất cả các trường tiểu học, đều có thực tiễn này Đây là trực tiễn lớn nhất trái ngược với các yêu cầu cơ sở lý luận trình bày trên
Trang 5Đội ngũ giáo viên tiểu học hiện nay có nhiều đồng chí yếu kém về kiến thức Tiếng Việt Vì nhiều lý do:
+ Chất lượng môn Tiếng Việt ở các trường phổ thông cấp I, II, III trước các thày
cô học chất lượng thấp nên các thày cô yếu về Tiếng Việt là tất yếu khách quan
+ Nhiều thày cô trước khi dạy tiểu học lại là giáo viên cấp II, thậm chí là giáo viên toán, sinh, hoá, địa chưa được đào tạo lại, hoặc đào tạo lại chưa kỹ, còn yếu về kiến thức Tiếng Việt (Tại tiểu học Hồng Thái Tây có 6/20 G/V thuộc diện này)
+ Số các thày cô giáo ở tuổi 48 đến > 50, chiếm > 40% ở các trường tiểu học, số các thày cô này phần lớn đào tạo cấp tốc từ 7 + 2, THHC từ tại chức, đến chuyên tu (tiểu học Hồng Thái Tây có 5/20 G/V thuộc diện này) để tiêu chuẩn hoá - chất lượng đào tạo yếu, mà những môn chất lượng thấp nhất lại là môn Tiếng Việt
Đã yếu kém về kiến thức thì tất yếu không làm chủ được kiến thức, không thể làm chủ được quá trình dạy học, không thể đổi mới được PP dạy và cũng tất yếu là chất lượng môn Tiếng Việt ở tiểu học ảnh hưởng theo: thấp nên kéo theo các môn học khác yếu (T - V là môn học công cụ)
Trong thực tiễn dạy hàng ngày có nhiều đồng chí dạy sai kiến thức:
Có đồng chí dạy " chân đau "(phân biệt từ đơn từ ghép lớp 5) là 1 từ ghép - coi đây
là từ mang nghĩa đen - nghĩa bóng là từ "chân bàn", "chân đồi" Từ: " là " là từ nối (" Hồn tôi là một vườn hoa lá "), " Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân"
C V V C , phân tích vế sau câu thơ sai khi đang học phần kiểu câu " Ai là gì ? " - TV lớp 4 (kể cả sai trong khi ra các đề thi định kỳ, sai trong xây dựng đáp án ôn tập gặp rất nhiều trong các giờ lên lớp hàng ngày hiện nay, thậm chí cả các giờ thao giảng, thi giảng giáo viên giỏi các cấp )
Trang 6Dạy lệ thuộc vào SGK, bài soạn sẵn của người khác, tình trạng giáo viên lâu năm, giáo viên giỏi hơn chép giáo án của G/V mới ra trường, G/V yếu hơn mình vẫn còn nhiều
ở các trường hiện nay
Thực tiễn trên dẫn đến tình trạng đại đa số giáo viên tiểu học hiện nay chưa hiểu hết vai trò vị trí môn Tiếng Việt, chưa hiểu thấu đáo được nội dung chương trình, SGK Tiếng Việt , kiến thức dạy còn thiếu chính xác, chưa đúng trọng tâm chưa tìm ra được PP dạy thích hợp, dạy còn thiếu năng động sáng tạo Học sinh học Tiếng Việt hiểu bài lơ mơ, kết quả làm bài chưa cao, thậm chí còn nhiều học sinh yếu kém, không có hứng thú học môn Tiếng Việt, không thích học môn Tiếng Việt
Để nâng cao được chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt, giải quyết các yêu cầu
do cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn trên, theo tôi trước mắt phải làm tốt công tác bồi dưỡng nâng cao kiến thức về môn Tiếng Việt ngay cho đội ngũ giáo viên tiểu học của chúng ta
Trong thực tế làm công tác bồi dưỡng này, tôi đã đạt được hiệu quả rõ rệt - tôi xin tổng kết kinh nghiệm này
II MỤC ĐÍCH CỦA BẢN SÁNG KIẾN:
Bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên kiến thức về: Từ và Câu trong Tiếng Việt
có liên quan thiết thực đến nội dung chương trình dạy môn Tiếng Việt ở tiêủ học, nhằm giải quyết các yêu cầu về cơ sở lý luận, yêu cầu về đổi mới về mục tiêu, nội dung, PP dạy học, thực hiện được vai trò vị trí môn Tiếng Việt trong giáo dục giáo dưỡng học sinh: nhất là giải quyết, khắc phục bằng được những yếu kém hiện nay của thày và trò trong dạy và học môn Tiếng Việt để từng bước nâng cao bằng được chất lượng môn Tiếng Việt trong trường tiểu học hiện nay
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Trang 7+ Chỉ ra được cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc cần thiết phải bồi dưỡng kiến thức cơ bản về Từ và Câu trong Tiếng Việt cho đội ngũ G/V tiểu học hiện nay
+ Thực hiện bồi dưỡng những kiến thức cụ thể gì về từ và câu ? như thế nào
về từ và câu ? cho có hiệu quả nâng cao kiến thức và giúp G/V vận dụng vào việc đổi mới PP giảng dạy nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo yêu cầu mới hiện nay
+ Góp phần bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên những nội dung còn yếu kém
mà các chương trình bồi dưỡng của trên chưa làm tới, theo nguyên tắc "Yếu gì bồi dưỡng ấy" để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, để thực hiện tốt các mục tiêu về giáo dục theo yêu cầu đổi mới chương trình phổ thông với bậc học tiểu học hiện nay
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1, Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: dựa vào thực tiễn giảng dạy của đội ngũ giáo viên 2 trường tiểu học Hoàng Quế: 29 đồng chí, Hồng Thái tây 24 đồng chí, ngoài ra còn quan sát ở cả toàn bộ G/V tiểu học cụm 5 và có cả G/V tiểu học ở Đông Triều Về kiến thức cơ bản liên quan đến bộ môn Tiếng Việt tiểu học
2, Phạm vi nghiên cứu:
Bồi dưỡng kiến thức về Tiếng Việt: phần từ và câu có liên quan đến nội dung chương trình, SGK Tiếng Việt tiểu học cho đội ngũ giáo viên tiểu học hiện nay nhằm dạy tốt nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói riêng và chất lượng dạy và học nói chung
Trang 8Năm học trước tôi tổng kết kinh nghiệm bồi dưỡng về các vấn đề: "Cách nhận biết và phân biệt giữa từ đơn, từ ghép: giữa từ ghép với cụm từ" Phạm vi sáng kiến
kinh nghiệm năm nay tổng kết là vấn đề "Bồi dưỡng hệ thống kiến thức về: "Phân loại từ
- 8 loại từ", "Câu trong Tiếng Việt" cho đội ngũ giáo viên, qua bồi dưỡng, cho họ nắm
được các khái niệm, cấu trúc logic của các loại Từ, Câu: dấu hiệu nhận biết: chức năng ngữ pháp của các bộ phận, phân loại từ, câu những vấn đề đó nhằm xác định những nét bản chất nhất về từ, câu với cách dễ hiểu, dễ nhớ nhất: Vận dụng được mối quan hệ giưã các cấu trúc logic đó để xác định được mục đích yêu cầu giờ dạy, trọng tâm bài dạy, tìm những ví dụ tối ưu, câu hỏi tối ưu và bài tập tối ưu nhằm xác định được PP dạy phù hợp nhất, hiệu quả nhất cho những bài Tiếng Việt có liên quan đến kiến thức về từ và câu trong chương trình các lớp ở bậc tiểu học
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Qua việc nghiên cứu các tài liêu: Luật giáo dục tiểu học: chỉ thị các năm học: nội dung chương trình SGK các khối lớp, nhất là của môn Tiếng Việt tiểu học, THcơ sở, Giáo trình Tiếng Việt cao đẳng sư phạm cấp I, II: Các tài liệu về Tiếng Việt nâng cao, các tập san giáo dục: báo giáo dục thời đại: các tài liệu có liên quan Dùng PP phân tích, tổng hợp tôi đã tách khái niệm về từ, câu, các
bộ phân chính phụ trong câu, dấu hiệu nhận biết về chúng, phân loại chúng thành các đơn vị lý thuyết để hiểu đặc thù, nét bản chất của từng đơn vị lý thuyết sau đó tổng hợp các kiến thức đó lại để tạo ra hệ thống, cấu trúc logic, để thấy được mối quan hệ tác động
biện chứng giữa các đơn vị kiến thức Bằng PP phân loại hệ thống lý thuyết, tôi đã sắp
xếp lại các kiến thức của từng đơn vị kiến thức về câu theo một đơn vị kiến thức có cùng dấu hiệu bản chất, có cùng một hướng phát triển để nội dung dễ hiểu, dễ nhận biết, dễ
vận dụng, dễ nhớ Sau cùng, bằng PP mô hình hoá lý thuyết đã tạo ra bản tổng hợp gọn
nhất để nhận ra các khái niệm, loại câu, dấu hiệu nhận biết, nét giống, khác nhau, chức năng ngữ pháp của chúng
Trang 9Qua các PP pháp trên tạo ra được các cơ sở đúng đắn cho nội dung tổng kết của bản sáng kiến kinh nghiệm (phần sau)
Bằng phương pháp Thể nghiệm: Qua thể nghiệm ở các trường T H Hoàng Quế, Hồng Thái Tây tôi đã thấy có kết quả rõ rệt trong việc nâng cao trình độ kiến thức
về Từ loại, Câu cho đội ngũ giáo viên ở các trường này, họ đã biết vận dụng tương đối thành thạo về xác định các khái niệm về Từ, Câu, tìm ra được cấu trúc logic của các định nghĩa từ đó xác định đúng các mục đích yêu cầu bài dạy, trọng tâm bài dạy, các ví dụ, câu hỏi dẫn dắt, bài luyện tập tối ưu nhất chính vì vậy mà đã hình thành và khắc sâu được cho h/s một cách sâu sắc nhất về các khái niệm về từ, câu cụ thể (có nhiều đổi mới
PP pháp dạy học tối ưu nhất nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy có liên quan kiến thức về
từ, câu)
Khi tiến hành nghiên cứu tôi đã sử dụng rất nhiều các phương pháp nghiên cứu khác như: các PP nghiên cứu thực tiễn: thực nghiệm phát hiện, PP nghiên cứu sản phẩm hoạt động, PP tiếp xúc trò chuyện, PP tập hợp thống kê, PP quan sát, phương pháp điều tra khá cụ thể, phong phú nhưng trong phạm vi bài viết này tôi xin miễn trình bày chi tiết tại đây (Sáng kiến kinh nghiệm năm trước tôi đã trình bày rõ một số nội dung minh hoạ về những vấn đề cụ thể này)
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO:
(Đã kê ở phần PP ngiên cứi lý thuyết ở trên)
PHẦN THỨ II: NỘI DUNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT
ĐƯỢC TỔNG HỢP ĐỂ BỒI DƯỠNG CHO GIÁO VIÊN
Toàn bộ hệ thống kiến thức 8 từ loại Tiếng Việt tôi trình bày khái quát ở 2 trang sau còn ở đây tôi chỉ xin phân tích,ví dụ minh hoạ cụ thể các ý đồ trình bày trên và tổng kết ở phần sau (Căn cứ vào bảng tổng hợp trang sau) để:
Trang 10+ Xét xem " là ", là ĐT hay từ nối Khẳng định "là" là ĐT, vì nó là loại ĐT thứ 3:
bị, được, có, là , khi nó kết hợp với danh từ để DT làm được vị ngữ trong câu:
Bác // là non nước, là trời mây
CN VN VN
+ Xét: “chiến tranh ”: I Rắc đang chiến tranh với Mỹ
ĐT
(vì kết hợp được với chỉ thời điểm đã, đang, sẽ)
I Rắc chiến tranh rất ác liệt
Chức vụ ngữ pháp của động từ:
- Học sinh // đang lao động (Vị ngữ)
- Lao động // là vinh quang (Chủ ngữ)
Trang 11- Lao động xong, Nam // gặp thày (Trạng ngữ)
- Người lao động // thường rất khoẻ (Định ngữ)
- Em // yêu lao động (Bổ ngữ)
+ Xác định cấu trúc lô gic của khái niệm tính từ:
Tính từ: là từ chỉ tính chất, màu sắc, hình dáng, kích thước, trọng lượng,
a (tuyển) b (tuyển) c (tuyển) d (tuyển) đ (tuyển)
dung lượng, phẩm chất của người, vật, sự vật
Trang 13Tám từ loại Tiếng Việt tôi đã khái quát tổng hợp trong 2 trang, dưới dạng biểu bản sau nhằm thực hiện các vấn đề nêu trên (trang 6 B):
Trang 14Hà Nội, gió, hoà bình, đạo đức )
+ Kết hợp được với từ chỉ số lượng đứng trước (1, 2, vài )
được vào 1 từ chỉ trỏ đứng sau (này,
ấy, kia, đó )
Cặp 1: - Danh từ chung
- Danh từ riêng
Cặp 2: - DT cụ thể (bằng giác quan: nhà, gió, anh)
- DT trừu tượng ( không = giác quan: đạo đức,hoà bình,niềm tin )
+ Luôn làm chủ ngữ (H/s // đến trường)
+ Vị ngữ (anh // đã cơm nước gì chưa)
+ Trạng ngữ (Hôm qua,trời // trở rét)
+ Định ngữ (Cha mẹ h/s // rất vui mừng về kết quả học tập của các em)
Trang 15+ Không thể thêm vào sau nó các từ chỉ trỏ (đây, này, đó, nọ, kia, kìa )
+ Ngôi thứ nhất (Tự trỏ: tôi, tao, ta, tớ, mình )
+ Ngôi thứ hai (Trỏ người nghe: mày, bay, ngươi, cậu )
+ Ngôi thứ ba (trỏ người vật mà câu chuyện hướng tới: nó, hắn, họ)
+ Định ngữ (Cha mẹ tôi // vui lòng
về kết quả học tập của tôi)
+ Bổ ngữ (Mọi người // đều quý mến nó)
Trang 16+Thêm đượcvào trước nó
từ chỉ mệnh lệnh (hãy, đừng, chớ )
được vào sau từ chỉ
sự hoàn thành (xong rồi, rõ rồi, hiểu rồi
+ Nội ĐT: không nhằm vào đối tượng nào, khi đứng trong câu các
ĐT này không bắt buộc
có bổ ngữ (ngủ, bay, nhảy )
+ Ngoại ĐT:
Nhằm vào đối tượng nhất định(đọc, cắt, xâydựng)
+ Các ĐT: bị, được, có, là
+ Vị ngữ: Học sinh // đang lao động
+ Chủ ngữ: Lao động // là vinh quang
+ Trạng ngữ: Lao động, xong, Ngọc// gặp thày
+ Định ngữ: Người laođộng // thường rất khoẻ
+ Bổ ngữ: Em // yêu lao động.
Trang 17Phần lớn TT
có thể dùng kèm với từ chỉ mức độ (hơi, rrất, lắm, quá )
+ TT thường: có thể dùng kèm với từ chỉ mức độ
+ TT không dùng kèm với từ chỉ mức độ -
nó có mức tuyệt đối (Tròn xoe, nặng trịch, xanh biếc )
+ Vị ngữ: Bạn em // rất khoẻ
+ Chủ ngữ: Khoẻ // là yêu nước
+ Trạng ngữ: Khoẻ và xinh xắn, Thoa // được mọi người yêu mến
+ Định ngữ: Người khoẻ // luôn yêu đời
+ Bổ ngữ: Ai // cũng muốn khoẻ