1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ đánh giá một số giá trị gia tăng góp phần tăng cường nguồn lực cho việc bảo vệ và phát triển vườn quốc gia cát tiên​

126 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Một Số Giá Trị Gia Tăng Góp Phần Tăng Cường Nguồn Lực Cho Việc Bảo Vệ Và Phát Triển Vườn Quốc Gia Cát Tiên
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thìn
Người hướng dẫn GS. TS Trần Hữu Viên
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA CHÍNH+ PH? THÌN.pdf

  • luan van tot nghiep THÌN.pdf

  • ho so kem luan van tot nghiep THÌN.pdf

Nội dung

Khái niệm về định giá hệ sinh thái

1.1.1 Phân hạng các dịch vụ hệ sinh thái và các giá trị kinh tế

Nghiên cứu phân loại dịch vụ hệ sinh thái thành bốn hạng mục cơ bản: dịch vụ cung ứng, dịch vụ điều tiết, dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ văn hóa Theo báo cáo đánh giá của Thiên niên kỷ, các dịch vụ này không chỉ cung cấp hàng hóa và nguyên liệu thô mà còn hỗ trợ cuộc sống và các hoạt động sản xuất thiết yếu, đóng vai trò quan trọng đối với phúc lợi con người và sự vận hành của nền kinh tế Hiện nay, khái niệm dịch vụ hệ sinh thái này được áp dụng bởi các nhà quy hoạch bảo tồn và hoạch định chính sách.

Các dịch vụ hệ sinh thái gồm:

Dịch vụ cung ứng bao gồm thực phẩm, nước sạch, gỗ và sợi, cùng với nhiên liệu, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn lực cho cuộc sống Bên cạnh đó, dịch vụ điều tiết như điều tiết khí hậu, kiểm soát lũ lụt, phòng chống dịch bệnh và làm sạch nước cũng rất cần thiết để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

+ Dịch vụ hỗ trợ: chuỗi thức ăn, giữ gìn địa tầng, sản xuất cơ bản … Nhu cầu cơ bản của con người gồm:

+ An toàn: an toàn cá nhân, đảm bảo tiếp cận nguồn lực, an toàn trước những thảm họa …

+ Nhu cầu căn bản: Đủ sinh kế, đủ thức ăn, đủ nơi trú ngụ, tiếp cận hàng hóa …

+ Sức khỏe: thể lực, tinh thần, tiếp cận nguồn nước và không khí sạch

+ Các mối quan hệ xã hội tốt: gắn kết xã hội, tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau …

Tự do lực chọn và hành động: cơ hội có thể đạt những giá trị cá nhân đang có và thực hiện

Khái niệm tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value – TEV) được sử dụng để đánh giá giá trị của đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái trong kinh tế học Trong hai thập kỷ qua, TEV đã được áp dụng rộng rãi trong việc xác định và phân loại các giá trị hệ sinh thái Điểm mới của TEV là nó không chỉ giới hạn ở các loại hàng hóa có giá và có thị trường, mà còn quan tâm đến tất cả các hàng hóa và dịch vụ quan trọng về mặt kinh tế do các dịch vụ hệ sinh thái tạo ra.

Nghiên cứu tổng giá trị kinh tế của các hệ sinh thái tập trung vào việc phân tích các đặc điểm của chúng như hệ thống tổng hợp, kho dự trữ tài nguyên, dòng dịch vụ và các thuộc tính đặc trưng của hệ sinh thái.

Các giá trị trực tiếp bao gồm nguyên liệu thô và sản phẩm cơ học, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, tiêu thụ và kinh doanh Chúng cung cấp thu nhập, năng lượng, nơi trú ẩn, thực phẩm, dược phẩm và các cơ sở giải trí.

Các giá trị gián tiếp bao gồm các chức năng sinh thái quan trọng như duy trì chất lượng nguồn nước, giữ dòng chảy, điều tiết lũ lụt, kiểm soát xói mòn, điều hòa tiểu khí hậu và hấp thụ carbon, giúp bảo vệ các điều kiện tự nhiên và con người.

Các giá trị lựa chọn là những tiềm năng chưa được khám phá của nguồn gen và các loài động, thực vật hoang dã, có thể ứng dụng trong tương lai cho nhiều lĩnh vực như giải trí, sản xuất dược phẩm, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, và phát triển bền vững dựa vào nguồn nước.

Các giá trị tồn tại là giá trị nội tại của hệ sinh thái và các thành phần của nó, không phụ thuộc vào khả năng sử dụng hiện tại hay tương lai Điều này bao gồm tầm quan trọng của văn hóa, thẩm mỹ di sản và tài sản cho các thế hệ mai sau.

Giá trị sử dụng gồm: các giá trị trực tiếp, các giá trị gián tiếp, các giá trị lựa chọn

Giá trị phi sử dụng: Các giá trị tồn tại

1 1.2 Xác định ước lượng và nhận thức các giá trị hệ sinh thái

Để đánh giá sự thay đổi của các dịch vụ hệ sinh thái và tác động của chúng đến các nhóm trong xã hội, cần xác định rõ ràng và đầy đủ các yếu tố liên quan Việc huy động sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm những người bị ảnh hưởng và những người được hưởng lợi từ sự thay đổi trong dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học, là rất quan trọng.

Để đánh giá giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái, cần ước lượng và biểu thị một cách phù hợp, phân tích mối liên hệ giữa mức độ và thời điểm ảnh hưởng đến lợi ích và chi phí của việc sử dụng đa dạng sinh học Việc này giúp xác định tác động của các quyết định liên quan đến hệ sinh thái tại những thời điểm và địa điểm cụ thể.

Thứ ba, cần thừa nhận giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái và tìm kiếm giải pháp để khắc phục những đánh giá thấp về giá trị của chúng Điều này có thể được thực hiện thông qua việc sử dụng các công cụ xây dựng chính sách dựa trên giá trị kinh tế để chứng minh tầm quan trọng của dịch vụ hệ sinh thái.

Một số nghiên cứu đã thực hiện

Trước đây, khái niệm tổng giá trị kinh tế của rừng (Total Economic Value - TEV) thường bị giới hạn trong việc đánh giá giá trị rừng chỉ qua sản phẩm hữu hình mà rừng cung cấp cho con người Các nhà kinh tế thường chỉ chú trọng đến lượng sản phẩm phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu thụ, mà không xem xét đầy đủ các giá trị tiềm ẩn khác của rừng.

Mặc dù có 6 sản phẩm có thể sử dụng trực tiếp, chúng chỉ phản ánh một phần nhỏ giá trị tổng thể của rừng Thực tế cho thấy, rừng mang lại lợi ích kinh tế vượt xa giá trị của các sản phẩm hữu hình đang được giao dịch trên thị trường chính thức.

Với sự ra đời của Nghị định thư Kyoto, vai trò của rừng trong việc hấp thụ khí CO2 đã được khẳng định rõ ràng Cụ thể, một khu rừng nguyên sinh có khả năng hấp thụ lượng CO2 đáng kể, góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Rừng trồng có khả năng hấp thụ khoảng 115 tấn carbon mỗi hectare, nhưng con số này có thể giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng được chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp Nếu đất rừng chuyển thành đất du canh du cư, sẽ giải phóng khoảng 200 tấn carbon, và con số này sẽ tăng lên nếu đất được chuyển sang đồng cỏ hoặc đất nông nghiệp.

Theo FAO năm 1995, rừng đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy và giảm lưu lượng nước mặt, từ đó góp phần giảm thiểu lũ lụt.

Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ môi trường, vì vậy nhiều quốc gia đã triển khai cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (Payment for Environment Services – PES) để quản lý bền vững Gần đây, các vấn đề môi trường như lũ lụt, hạn hán và biến đổi khí hậu gia tăng, được cho là hậu quả của việc chặt phá rừng Để bảo vệ các dịch vụ môi trường mà rừng mang lại, tổ chức Nông Lâm Quốc tế (ICRAF) đã khởi xướng chương trình “Hỗ trợ nông dân vùng cao trong việc bảo vệ và duy trì các dịch vụ môi trường của rừng” từ tháng 1/2002.

Cơ cấu giá trị môi trường của rừng bao gồm: Hấp thụ carbon chiếm 27%, bảo tồn đa dạng sinh học 25%, bảo vệ đầu nguồn 21%, vẻ đẹp cảnh quan 17% và các giá trị khác 10%.

Nghiên cứu rừng đầu nguồn ở lưu vực sông Vân Nam – Trung Quốc liên quan đến khả năng giữ đất, nước và phân bón của rừng cho thấy giá trị

7 này là khoảng 4.450,5 NDT (khoảng 8.455.855 VND) chiếm 87,9% trong khi đó giá trị trực tiếp (gỗ, than củi) là 528.5 NDT (khoảng 1.384.245 VND) chiếm 12,1%[0]

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhằm lượng hóa giá trị của các hệ sinh thái rừng Những nghiên cứu này chứng minh rằng giá trị của các hệ sinh thái rừng ngày càng được quan tâm và thừa nhận, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác bảo vệ và phát triển rừng, điều này trở nên cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết.

Rừng có vai trò quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy kiệt; khi diện tích rừng che phủ tăng, dòng chảy kiệt cũng tăng theo với cùng lượng mưa Nghiên cứu cho thấy, sự ảnh hưởng của rừng đến dòng chảy lũ rất rõ ràng, đặc biệt đối với các sông vừa và nhỏ Cụ thể, khi diện tích rừng giảm khoảng 20%, lưu lượng lũ trung bình sẽ tăng khoảng 12% đối với sông lớn và lên đến 40% đối với sông nhỏ Ngược lại, nếu diện tích rừng tăng khoảng 10%, lưu lượng nước lũ trung bình sẽ giảm khoảng 5% cho sông lớn và khoảng 20% cho sông vừa và nhỏ.

Trong một năm, rừng hấp thụ khoảng 100 tỷ tấn khí carbon và thải ra khoảng 80 tấn oxy Giá trị cố định và lưu giữ carbon của rừng ước tính từ 14.680 đến 18.350 tỷ USD, trong khi giá trị hấp thu carbon hàng năm khoảng 1.835 tỷ USD, được tính theo giá 5 USD mỗi tấn.

Xói mòn đất là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sa mạc hóa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường Tại Việt Nam, khoảng 9,3 triệu ha đất, tương đương 28% tổng diện tích tự nhiên, liên quan đến tình trạng sa mạc hóa Trong số đó, có khoảng 5 triệu ha đất chưa sử dụng, 2 triệu ha đang sử dụng nhưng đã bị thoái hóa nặng, và hơn 2 triệu ha đang có nguy cơ cao bị thoái hóa Quá trình sa mạc hóa này ảnh hưởng đến khoảng 20 triệu người dân.

Nghiên cứu cho thấy giá trị lưu giữ carbon của rừng tự nhiên dao động từ 2.300 đến 5.700 $/ha, trong khi rừng trồng cây mọc nhanh với chu kỳ 7 năm có giá trị hấp thụ carbon khoảng 1.300 đến 1.500 $/ha Các giá trị và dịch vụ môi trường như bảo vệ đất, điều tiết nước, cảnh quan và hấp thụ carbon đã được nghiên cứu bước đầu.

Theo Vũ Tấn Phương, giá trị phòng hộ đầu nguồn của rừng tại các điểm nghiên cứu dao động từ 95.000 đến 895.000 đồng/ha/năm, trong đó giá trị bảo vệ đất khoảng 189.000 đến 231.000 đồng/ha/năm tại Yên Bái Tại miền Trung, cụ thể là Thừa Thiên Huế, giá trị bảo vệ đất cũng được xác định với các con số tương ứng.

Giá trị điều tiết nước và bảo vệ đất ở miền Bắc dao động từ 120.000 đến 419.000 đ/ha/năm, với giá trị điều tiết nước từ 116.000 đến 142.000 đ/ha/năm Tại miền Nam (Gia Lai), giá trị bảo vệ đất đạt từ 148.000 đến 520.000 đ/ha/năm và điều tiết nước từ 36.000 đến 47.000 đ/ha/năm Rừng ngập mặn tại Nam Định có giá trị phòng hộ đê biển khoảng 852.000 đ/ha/năm, trong khi rừng phi lao tại Quảng Bình có giá trị phòng hộ chống cát bay khoảng 525.000 đ/ha/năm Giá trị cảnh quan biến động mạnh mẽ, từ 700.000 đến 2.300.000 đ/ha/năm ở miền Bắc (Yên Bái), 500.000 đến 1.200.000 đ/ha/năm ở miền Trung (Thừa Thiên Huế) và 200.000 đến 500.000 đ/ha/năm ở miền Nam (Gia Lai).

Giá trị lưu giữ carbon của rừng gỗ tự nhiên ở miền Bắc dao động từ 35 đến 84 triệu đồng/ha/năm, trong khi giá trị hấp thụ carbon khoảng 0,4 đến 1,3 triệu đồng/ha/năm Tại miền Trung, giá trị lưu giữ carbon là từ 37 triệu đồng/ha/năm.

Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung: Đánh giá một số giá trị gia tăng góp phần tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn ĐDSH, BV&PTR tại VQG Cát Tiên

- Xác định đƣợc các giá trị kinh tế về bảo tồn ĐDSH và HST của VQG Cát Tiên

- đánh giá một số giá trị gia tăng của VQG Cát Tiên

- Đề xuất được một số thông tin có thể sử dụng để tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn ĐDSH, BV&PTR tại VQG Cát Tiên.

Đối tƣợng nghiên cứu

- Đối tƣợng nghiên cứu là một số giá trị gia tăng tại VQG Cát Tiên

- Phạm vi nghiên cứu: VQG Cát Tiên

- Thời gian: Từ tháng 10/2016 đến 4/2017.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Kh ảo sát hi ệ n tr ạ ng r ừ ng, ch ức năng nhiệ m v ụ c ủa VQG Cát Tiên 2.3.2 Nghiên cứu các giá trị gia tăng của VQG Cát Tiên

2.3.2.2 Giá trị phi sử dụng

2 3.3 Giá trị dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát T iên

2.3.3.1 Giá trị cảnh quan (Du lịch sinh thái)

2.3.3.2 Chi trả dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát Tiên

2.3.3.3 Giá trị hấp thụ các bon

2 3.4 Đề xuất một số giải pháptăng cường nguồn lực tại VQG Cát Tiên.

Phương pháp nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu

Xác định vấn đề nghiên cứu

- Các nhà quản lý, cán bộ nhân viên Vườn liên quan đến công tác bảo tồn

- Du khách, hộ nhận khoán

Thu thập tài liệu có liên quan

- Tham khảo các tài liệu có liên quan

- Phân tích, nhận xét sơ bộ

Thu thập số liệu liên quan đến du lịch sinh thái, chi trả dịch vụ môi trường rừng, hấp thụ các bon

Phân tích, tổng hợp, đánh giá các kết quả nghiên cứu Đề xuất giải pháp tăng thu nhập và nguồn lực

2.4.1 Kh ảo sát hi ệ n tr ạ ng r ừ ng, ch ức năng nhiệ m v ụ c ủa VQG Cát Tiên

Sử dụng phương pháp kế thừa để thu thập tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu, bao gồm bản đồ địa hình, bản đồ thực vật rừng, và các tài liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Điều này cũng bao gồm các nguồn tài liệu đã được xuất bản như sách và tạp chí, cũng như các báo cáo nghiên cứu khoa học và tài liệu về hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học trong khu vực nghiên cứu.

2.4.2 Nghiên cứu các giá trị gia tăng của VQG Cát T iên

Sử dụng phương pháp chuyên gia:

Xác định giá trị kinh tế của hệ sinh thái (HST) trên toàn cầu và tại Việt Nam, cùng với các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và vườn quốc gia (VQG), là cần thiết để đánh giá các giá trị gia tăng Chúng ta cần xác định nhóm giá trị cụ thể để thực hiện đánh giá, từ đó xây dựng phiếu hỏi và câu hỏi phỏng vấn phục vụ cho việc khảo sát giá trị tại VQG Cát Tiên.

2 4.3 Giá trị dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát T iên

Phương pháp phỏng vấn được áp dụng với đối tượng là người dân, du khách và các nhà quản lý trong lĩnh vực bảo tồn và bảo vệ di sản văn hóa, nhằm thu thập thông tin và dữ liệu cần thiết Mục tiêu là xác định các giá trị kinh tế và đề xuất giải pháp tăng thu nhập cũng như nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng quốc gia Cát Tiên.

2.4.3.1 Phương pháp điều tra giá trị DLST

* Phương pháp thu thập số liệu:

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thu thập số liệu thứ cấp về các tuyến và điểm du lịch tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, cũng như các dịch vụ được cung cấp cho du khách Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ tổng hợp doanh thu từ du lịch sinh thái (DLST) và các khoản kinh phí hỗ trợ nhằm tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên tại Vườn Cuối cùng, chúng tôi sẽ xem xét các khoản kinh phí hỗ trợ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) trong 5 năm qua.

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp du khách cùng các nhà quản lý và chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn, bảo vệ đa dạng sinh học để thu thập thông tin và dữ liệu cần thiết Những thông tin này được tổng hợp và trình bày theo mẫu biểu 01 và 02.

2.4.3.2 Phương pháp điều tra giá trị chi trả DVMTR

* Phương pháp thu thập số liệu:

Trong vòng 5 năm qua, việc thu thập số liệu thứ cấp liên quan đến chi trả DVMTR đã được thực hiện, bao gồm các thông tin về khoán bảo vệ rừng cho người dân vùng ven như số hộ tham gia nhận khoán, đơn giá giao khoán bảo vệ rừng từng năm, và tổng kinh phí bình quân mỗi hộ nhận được hàng năm Ngoài ra, cũng cần xem xét kinh phí hỗ trợ chủ rừng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, bao gồm quản lý phí hàng năm và kinh phí tự tổ chức bảo vệ rừng.

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân tham gia chương trình nhận khoán và các nhà quản lý, cũng như những người làm việc trong lĩnh vực bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học Mục đích của việc này là thu thập thông tin và dữ liệu đầu vào, sau đó tổng hợp các thông tin thu thập được vào mẫu biểu 01 và 03.

2.4.3.3 Giá trị hấp thụ các bon

Sử dụng phương pháp kế thừa và thu thập số liệu:

Số liệu thứ cấp được thu thập từ kết quả kiểm kê rừng của VQG Cát Tiên năm 2014 tại tỉnh Lâm Đồng và năm 2016 tại tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, bao gồm bản đồ và các số liệu liên quan Các kết quả thu thập được ghi lại trong bảng dưới đây.

BIỂU ĐIỀU TRA CÁC TRẠNG THÁI RỪNG Ở VQG CÁT TIÊN

3 Rừng phục hồi hỗn giao

2.4.4.1 Phương pháp xử lý thống kê

Sử dụng phần mềm excel để xử lý số liệu

Tính giá trị hấp thụ các bon sử dụng phương pháp ước lượng sinh khối dựa vào số liệu điều tra, kiểm kê rừng

Bước 1: Sử dụng kết quả xác định trữ lượng lâm phần theo trạng thái rừng

Bước 2: Xác định hệ số hấp thụ (lượng hấp thụ lưu trữ CO2 của 1 ha rừng)

Hệ số thấp thụ (EF) hay tổng lƣợng khí CO2 hấp thụ của 1 ha rừng (tấn/ha) đƣợc tính theo công thức sau:

EF(CO2 tấn/ha) = (AGB + BGB) * CF * 44/12 (1)

EF: là tổng trữ lƣợng CO2 hấp thụ của 1 ha rừng (tấn/ha)

AGB: Sinh khối trên mặt đất của cây rừng (kg) đƣợc xác định theo công thức (i) GS: trữ lƣợng của 1 ha rừng (m 3 )

BCEF: hệ số chuyển đổi mở rộng (tấn) (tra từ bảng 4.5 - Hướng dẫn của IPCC năm 2006)

BGB, hay sinh khối dưới mặt đất của cây rừng, được tính toán bằng công thức (ii) Tỷ lệ carbon trong cây gỗ được xác định là 0,47, theo thông tin từ bảng 4.3 trong hướng dẫn của IPCC năm 2006.

R: tỷ lệ sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất = 0,37[0] (tra từ bảng 4.4

- Hướng dẫn của IPCC năm 2006)

Hệ số 44/12 là hệ số chuyển đổi từ khối lƣợng các bon sang CO2

Bước 3: Tính giá trị lưu giữ các bon

Mc = ∑Efi * Si (3) i=1 Trong đó:

- Vc: giá trị lưu giữ các bon của rừng tính bằng USD hoặc đồng

- Mc: tổng trữ lƣợng các bon rừng tính bằng tấn CO2e/ha

- EFi: là tổng lƣợng khí CO2 hấp thụ của 1 ha rừng theo từng trạng thái (tấn/ha)

- Si: diện tích trạng thái rừng

- Pc: giá bán tín chỉ các bon (CER) trên thị trường tính bằng USD hoặc đồng/tấn CO2

2.4.4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Sử dụng trong quá trình viết và hoàn thiện báo cáo, các số liệu đã xử lý sẽ đƣợc diễn giải, phân tích và thảo luận chi tiết

2.4.4.3 Phương pháp đánh giá tài nguyên dựa vào thị trường Đánh giá tài nguyên dựa vào thị trường thực, thị trường thay thế và thị trường giả định

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC

3.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Trong những năm chiến tranh, khu rừng Cát Tiên là căn cứ địa cách mạng của chiến khu D Sau khi đất nước hòa bình, rừng Cát Tiên được Sư đoàn 600 thuộc Bộ Quốc phòng quản lý nhằm phát triển kinh tế Với tính đa dạng sinh học cao, khu rừng này đã được Chính phủ đồng ý chuyển thành khu rừng đặc dụng theo Quyết định 360/TTg ngày 07/07/1978, mang tên Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên Kiểm lâm Đồng Nai có trách nhiệm bảo vệ khu rừng quý hiếm này, với diện tích 38.100 ha nằm trong huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Vào ngày 13/01/1992, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 08/CT thành lập Vườn Quốc gia Cát Tiên, dựa trên diện tích của Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên, và giao cho tỉnh Đồng Nai quản lý Quyết định này cũng yêu cầu Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) cùng với UBND tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước tiếp tục nghiên cứu nhằm mở rộng diện tích Vườn Quốc gia trên địa bàn của ba tỉnh này.

Ngày 16/02/1998, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 38 – 1998/QĐ – TTg, về việc chuyển giao VQG Cát Tiên cho Bộ NN & PTNT quản lý

Tháng 12/1998, VQG Cát Tiên đƣợc Chính phủ cho phép mở rộng trên địa bàn 3 tỉnh (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước), với diện tích 73.878 ha

Vào ngày 10/11/2001, Ủy ban MAB/UNESCO đã chính thức công nhận Vườn Quốc gia Cát Tiên là Khu dự trữ Sinh quyển thứ 411 của thế giới, khẳng định vai trò quan trọng của nó trong hệ thống Khu Dự trữ Sinh quyển toàn cầu.

Ngày 19/8/2003, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 173/2003/QĐ – TTg, về việc điều chỉnh ranh giới VQG Cát Tiên, diện tích sau điều chỉnh còn 71.350 ha

Sau khi tiếp nhận khu vực Tây Cát Tiên và Cát Lộc, VQG Cát Tiên đã tiến hành tuyển dụng thêm nhân viên Kiểm lâm để xây dựng các chốt và trạm Kiểm lâm tại những khu vực nhạy cảm, nhằm bảo vệ rừng một cách kịp thời và hiệu quả.

Ngày 09/01/2015, TCLN ra Quyết định số 08/QĐ-TCLN-VP về việc

Vào năm 2015, Vườn quốc gia Cát Tiên được giao tổng số 211 biên chế sự nghiệp, thuộc các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp.

- Biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước là 185 biên chế;

- Biên chế sự nghiệp tự lo lương là 26 biên chế

Hiện tại, tổng số nhân lực tại cửa Vườn là 207 người, bao gồm 172 cán bộ (1 công chức và 171 viên chức), 13 lao động hợp đồng theo Nghị định 68 và 22 lao động hợp đồng tự trả lương.

Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ 02 người; Thạc sĩ 04 người; Đại học 55 người; Cao đẳng 02, Trung cấp 100 người; sơ cấp 44 người

Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 04 người; Trung cấp 31 người

Ngoại ngữ: Trình độ B, C tiếng Anh 62 người

Tin học: Tin học văn phòng 165 người

Lịch sử hình thành và phát triển

Trong những năm chiến tranh, rừng Cát Tiên là căn cứ địa của cách mạng chiến khu D Sau hòa bình, rừng này được Sư đoàn 600 thuộc Bộ Quốc phòng quản lý nhằm phát triển kinh tế Với tính đa dạng sinh học cao, Chính phủ đã quyết định chuyển rừng Cát Tiên thành khu rừng đặc dụng theo Quyết định 360/TTg ngày 07/07/1978, mang tên Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên Kiểm lâm Đồng Nai được giao trách nhiệm bảo vệ khu rừng quý hiếm này với diện tích 38.100 ha, thuộc huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 13 tháng 1 năm 1992, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 08/CT thành lập Vườn quốc gia Cát Tiên, dựa trên diện tích của Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên Vườn quốc gia này được giao cho tỉnh Đồng Nai quản lý Quyết định cũng yêu cầu Bộ Lâm nghiệp (hiện nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cùng với UBND các tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước tiếp tục nghiên cứu nhằm mở rộng diện tích Vườn quốc gia trên địa bàn của ba tỉnh này.

Ngày 16/02/1998, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 38 – 1998/QĐ – TTg, về việc chuyển giao VQG Cát Tiên cho Bộ NN & PTNT quản lý

Tháng 12/1998, VQG Cát Tiên đƣợc Chính phủ cho phép mở rộng trên địa bàn 3 tỉnh (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước), với diện tích 73.878 ha

Vào ngày 10 tháng 11 năm 2001, Ủy ban MAB/UNESCO đã công nhận Vườn Quốc gia Cát Tiên là Khu dự trữ Sinh quyển thứ 411 của thế giới, khẳng định vai trò quan trọng của nó trong hệ thống Khu dự trữ Sinh quyển toàn cầu.

Ngày 19/8/2003, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 173/2003/QĐ – TTg, về việc điều chỉnh ranh giới VQG Cát Tiên, diện tích sau điều chỉnh còn 71.350 ha.

Tổ chức bộ máy

Sau khi tiếp nhận khu vực Tây Cát Tiên và Cát Lộc, VQG Cát Tiên đã tiến hành tuyển dụng thêm nhân viên Kiểm lâm và xây dựng các chốt, trạm Kiểm lâm tại những khu vực trọng điểm nhằm bảo vệ rừng một cách kịp thời.

Ngày 09/01/2015, TCLN ra Quyết định số 08/QĐ-TCLN-VP về việc

Vào năm 2015, Vườn quốc gia Cát Tiên được giao tổng số 211 biên chế sự nghiệp, thuộc sự quản lý của Tổng cục Lâm nghiệp.

- Biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước là 185 biên chế;

- Biên chế sự nghiệp tự lo lương là 26 biên chế

Hiện nay, tổng số nhân lực tại cửa Vườn là 207 người, bao gồm 172 cán bộ (1 công chức và 171 viên chức), 13 lao động hợp đồng theo Nghị định 68 và 22 lao động hợp đồng do đơn vị tự chi trả lương.

Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ 02 người; Thạc sĩ 04 người; Đại học 55 người; Cao đẳng 02, Trung cấp 100 người; sơ cấp 44 người

Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 04 người; Trung cấp 31 người

Ngoại ngữ: Trình độ B, C tiếng Anh 62 người

Tin học: Tin học văn phòng 165 người

Bộ máy tổ chức bao gồm Ban Giám đốc, các phòng như Tổ chức, Hành chính, Kế hoạch, Tài chính, Khoa học và Hợp tác quốc tế, cùng với Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ, Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm có 137 kiểm lâm viên được phân bố tại 1 chốt, 22 trạm và bộ phận văn phòng.

Đặc điểm tự nhiên

VQG Cát Tiên nằm trên địa phận các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú (tỉnh Đồng Nai), Cát Tiên, Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng) và Bù Đăng (tỉnh Bình Phước),

+ Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Đắc Nông và tỉnh Bình Phước + Phía Nam giáp Công ty lâm nghiệp La Ngà (tỉnh Đồng Nai)

+ Phía Đông có ranh giới là sông Đồng Nai, giáp tỉnh Lâm Đồng + Phía Tây giáp Lâm trường Vĩnh An (tỉnh Đồng Nai)

* Tổng diện tích tự nhiên là 72.663,53 ha, trong đó:

Khu vực Nam Cát Tiên, nằm trong tỉnh Đồng Nai, có diện tích 41.020,43 ha; khu vực Tây Cát Tiên thuộc tỉnh Bình Phước với diện tích 4.382,84 ha; và khu vực Bắc Cát Tiên ở tỉnh Lâm Đồng chiếm 27.260,26 ha.

Hình 4.1 Bản đồ hành chính VQG Cát Tiên

VQG Cát Tiên tọa lạc trong khu vực chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ và Đồng bằng Nam Bộ, sở hữu các kiểu địa hình đặc trưng của dãy Trường Sơn và vùng Đông Nam Bộ Khu vực này có năm kiểu địa hình chính, tạo nên sự đa dạng sinh học và cảnh quan độc đáo.

Kiểu địa hình núi cao và sườn dốc chủ yếu nằm ở phía Bắc VQG Cát Tiên, với độ cao từ 200 đến 600m so với mặt nước biển và độ dốc từ 15 đến 20 độ, có nơi lên tới trên 30 độ Địa hình này bao gồm các sườn dốc phân bố giữa thung lũng sông, suối và các đỉnh bằng phẳng Sự chia cắt địa hình phức tạp cũng tạo ra các đầu nguồn cho các suối nhỏ chảy ra sông Đồng Nai.

Khu vực trung bình sườn ít dốc ở phía Tây Nam VQG Cát Tiên có độ cao từ 200 đến 300m, với độ dốc từ 15 đến 20 độ và độ chia cắt cao Đây là nguồn gốc của nhiều con suối lớn, như suối Đaklua và Đatapok, chảy ra sông Đồng Nai.

+ Kiểu địa hình đồi thấp, bằng phẳng: ở phía Đông Nam VQG Cát Tiên Độ cao so với mặt nước biển 130 – 150m, độ dốc 5 – 7 0 Độ chia cắt thƣa

Kiểu địa hình bậc thềm sông Đồng Nai và đồi bát úp tiếp giáp đầm hồ có độ cao khoảng 130m so với mặt nước biển Địa hình này trải dài dọc theo sông Đồng Nai và khu vực ven sông Đồng Nai phía Tây Bắc Vườn, từ khu vực giáp ranh Bình Phước – Đồng Nai đến Tà Lài, với bề rộng khoảng 1.000m.

+ Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm: Độ cao so với mặt nước biển thấp hơn 130m, như các bàu nước: Bàu Cá, Bàu Chim, Bàu Sấu

VQG Cát Tiên có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, với điểm cao nhất đạt 626m tại Lộc Bắc và điểm thấp nhất là 115m ở Núi Tượng.

Nền địa chất của VQG Cát Tiên với 3 cấu tạo chính là Trầm tích, Bazal và Sa phiến thạch đã phát triển hình thành 4 loại đất chính:

Đất Feralit, phát triển trên đá bazan (Fk), chiếm gần 60% diện tích Vườn và phân bố chủ yếu ở khu vực phía Nam Đây là loại đất giàu dinh dưỡng, tốt, sâu, với màu đỏ, nâu đỏ hoặc nâu đen, chứa nhiều đá Tubf núi lửa chưa bị phong hóa Trên loại đất này, rừng phát triển mạnh mẽ với nhiều loài cây gỗ quý và khả năng phục hồi nhanh chóng của hệ sinh thái rừng.

Đất Feralit, phát triển trên đá cát (Fq), chiếm khoảng 20% diện tích VQG và chủ yếu phân bố ở phía Bắc Vườn, dọc theo thượng nguồn sông Đồng Nai Một số tài liệu gọi loại đất này là đất xám bạc màu trên đá axit hoặc đá cát Mặc dù độ phì của đất Feralit kém hơn so với đất phát triển trên đá bazal, nhưng nhờ có thảm thực vật rừng che phủ, tầng đất vẫn dày và duy trì được các tính chất tự nhiên.

Đất Feralit, phát triển trên phù sa cổ (Fo), chiếm khoảng 10% tổng diện tích Vườn, chủ yếu tập trung ở phía Bắc và Đông Nam Loại đất này phân bố tại những khu vực địa hình bằng phẳng và vùng trũng ngập nước vào mùa mưa Mặc dù nghèo dinh dưỡng, mực nước ngầm nông của đất Feralit lại tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây rừng trong mùa khô.

Đất Feralit phát triển trên đá sét (Fs) chiếm khoảng 8% tổng diện tích Vườn và chủ yếu phân bố ở phía Nam, xen kẽ với các vạt đất phát triển trên đá bazal Mặc dù có độ phì khá, nhưng do thành phần cơ giới nặng, đất Feralit dễ bị thoái hóa nhanh chóng khi mất rừng.

- VQG Cát Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm

24 có 2 mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô thường từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

VQG Cát Tiên có địa hình đa dạng, bao gồm cả vùng núi và vùng đồi, dẫn đến sự khác biệt rõ rệt về khí hậu giữa khu Bắc và khu Nam.

Số liệu thu thập từ 2 trạm thủy văn:

Trạm Cát Tiên tại Lâm Đồng thu thập dữ liệu về lượng mưa, trong khi trạm Bảo Lộc cũng thuộc tỉnh Lâm Đồng ghi nhận dữ liệu về nhiệt độ và độ ẩm, đại diện cho khu vực Cát Lộc.

Trạm Tà Lài tại Đồng Nai thực hiện việc thu thập dữ liệu về lượng mưa, trong khi trạm Bến Cát ở Bình Dương ghi nhận nhiệt độ và độ ẩm, đại diện cho khu vực Cát Tiên.

Bảng 3.1 Chỉ tiêu khí hậu VQG Cát Tiên

Stt Mô tả Vùng Cát Lộc Vùng Cát Tiên

1 Nhiệt độ trung bình năm (oC) 21,7 26,5

2 Nhiệt độ trung bình cao nhất (oC) 23,0 (tháng 6) 28,6 (tháng 6)

3 Nhiệt độ trung bình thấp nhất (oC) 21,1 (tháng 12) 20,5 (tháng 1)

4 Lƣợng mƣa trung bình hàng năm (mm) 2.675 2.175

5 Lƣợng mƣa trung bình tháng cao nhất (mm) 494,8 (tháng 9) 368 (tháng 9)

6 Lƣợng mƣa trung bình tháng thấp nhất

7 Số ngày mƣa trung bình hằng năm (ngày) 182 145

8 Độ ẩm trung bình hằng năm (%) 87 82

9 Thời gian mƣa t.bình trong mùa mƣa

10 Lƣợng mƣa mùa mƣa/L mƣa hàng năm

Khu Cát Lộc có nhiệt độ trung bình năm thấp hơn và lượng mưa cùng độ ẩm tương đối cao hơn so với khu Nam và Tây Cát Tiên, dẫn đến sự khác biệt trong phân bố thảm thực vật và thành phần thực vật.

3.3.4 Thủy văn Điều kiện thủy văn ở VQG Cát Tiên liên quan đến chế độ dòng chảy của sông Đồng Nai và các hệ thống suối, các bàu nước

Sông Đồng Nai bao quanh VQG Cát Tiên ở phía Bắc, Tây và Đông với chiều dài khoảng 90km và độ rộng trung bình 100m Lưu lượng nước trung bình đạt 405m³/giây, với mực nước cao nhất là 8,03m và mực nước trung bình khoảng 5m Trong mùa kiệt, mực nước giảm còn 2-3m Khu vực phía Bắc, Tây Bắc và Đông từ Bến Cự đến Tà Lài cho phép thuyền máy di chuyển thuận lợi.

Trong VQG Cát Tiên có nhiều hệ suối lớn nhƣ:

+ Đaleh, Đa R’soui, Đa M’Bri (Lộc Bắc)

+ Đa Dim bo, Đa Thai, Đa Ce Nac, Đa Nhor (Bắc Cát Tiên)

+ Đa Louha, Đa Bitt, Đa Bao, Đa Tapoh, Đa Sameth (Nam Cát Tiên) Các hệ suối này đều chảy ra sông Đồng Nai

Khái quát đặc đặc điểm kinh tế - xã hội

Vùng đệm VQG Cát Tiên có diện tích 728.756 ha, nằm trên địa bàn của

86 xã, thị trấn của 11 huyện thuộc 4 tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng, Đắc Nông Vùng chuyển tiếp gồm 53 xã, thị trấn bao quanh vùng đệm, diện tích 403.433ha

* Những tác động của vùng đệm đối với công tác quản lý bảo vệ rừng của VQG Cát Tiên gồm:

- Sự di dân tự do và sự gia tăng dân số trên các xã địa bàn vùng đệm vẫn chƣa kiểm soát đƣợc

Vườn Quốc Gia Cát Tiên có đường ranh giới dài khoảng 250 km, với khu vực giáp ranh tỉnh Đắc Nông và Bình Phước không có đường tuần tra Do vị trí gần sông Đồng Nai và lực lượng kiểm lâm hạn chế, việc đi lại, tuần tra và kiểm soát bảo vệ rừng tại đây gặp nhiều khó khăn.

- Dân cƣ phân bố trên quy mô rộng, phân tán, rất khó quản lý, kiểm soát

Các hoạt động xâm phạm rừng trái phép thường xảy ra khi kẻ xấu lợi dụng những khoảng thời gian không có lực lượng tuần tra Điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường công tác bảo vệ rừng để ngăn chặn những hành vi vi phạm quy định.

Các địa phương giáp ranh với Vườn Quốc gia Cát Tiên, đặc biệt là sông Đồng Nai, thường xảy ra tình trạng xâm phạm rừng thông qua các hoạt động khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã.

Các địa phương có đất sản xuất nông nghiệp và cụm dân cư gần ranh giới VQG Cát Tiên thường diễn ra nhiều hoạt động như khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng, chăn thả gia súc vào VQG, và lấn chiếm đất rừng để làm nương rẫy.

Việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang trồng cao su tại các xã vùng đệm VQG Cát Tiên, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đang gây áp lực lớn lên khu vực này Sự cạn kiệt tài nguyên rừng tự nhiên và rừng trồng đã dẫn đến tình trạng một bộ phận dân cư, đặc biệt là đồng bào dân tộc, không còn đất sản xuất nông nghiệp Thiếu vốn đầu tư cho việc trồng cao su đã làm gia tăng các hoạt động xâm phạm trái phép vào rừng của VQG Cát Tiên nhằm tìm kiếm sinh kế và việc làm.

Sự phát triển cơ sở hạ tầng quanh VQG Cát Tiên đã cải thiện đáng kể việc di chuyển, giao thương hàng hóa và nâng cao chất lượng sống của người dân địa phương, bao gồm cả điều kiện học tập cho trẻ em Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến tình trạng xâm nhập trái phép vào khu vực VQG Cát Tiên ngày càng gia tăng.

* Dân số, dân tộc và lao động:

VQG Cát Tiên có diện tích nằm trên địa bàn của 7 xã: Đắc Lua (huyện Tân Phú), Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu) thuộc tỉnh Đồng Nai; Đăng Hà (huyện

Bù Đăng thuộc tỉnh Bình Phước, trong khi Lộc Bắc (huyện Bảo Lâm), Phước Cát 2, Tiên Hoàng, và Đồng Nai Thượng (huyện Cát Tiên) lại thuộc tỉnh Lâm Đồng Khu vực này bao gồm một xã là Đồng Nai Thượng và hai thôn 3 và 4 thuộc xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên.

Cát Tiên, thuộc tỉnh Lâm Đồng, nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Cát Tiên, đóng vai trò là vùng đệm quan trọng Tại đây, có 6 xã với nhiều hoạt động tác động đến công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của VQG Cát Tiên.

Những đặc điểm về dân số, dân tộc của các xã đƣợc tổng hợp ở bảng 3.2

Bảng 3.2 Dân số, dân tộc của các xã vùng đệm VQG Cát Tiên

STT Tên xã Số hộ Số khẩu Dân tộc

Thƣợng 415 1.739 Mạ, Tày, Chil, Stiêng, Khmer, Kinh Thôn 3 và 4, xã Phước Cát 2 53 278 Châu mạ, Stiêng

2 Tiên Hoàng 775 3.151 Kinh, Dao, Tày, Mường, Châu Mạ

Kinh, Tày, Nùng, Dao, Châu Mạ, Mường, Ê Đê, K Ho, Stiêng, Cao Lan, Chăm, Thái

5 Đắc Lua 1.559 6.878 Kinh, Mường, Tày

Kinh, Nùng, Tày, Hoa, Dao, H Mông, Thái Mường, Cao Lan, Sán Dìu, Kh Mer, Stiêng

(Nguồn dự án Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2016 – 2020)

* Kinh tế hộ gia đình:

Thu nhập chủ yếu của các hộ dân phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, nhưng diện tích đất canh tác hạn chế và phương thức canh tác lạc hậu đang gây khó khăn Nhiều hộ đồng bào dân tộc chỉ trồng cây Điều với giống đại trà, dẫn đến năng suất thấp Do đó, đời sống kinh tế của người dân gặp nhiều khó khăn và thường xuyên thiếu đói.

Tỷ lệ hộ nghèo tại vùng này vẫn ở mức cao, với xã Phước Cát 2 có tỷ lệ 19,86% và xã Đăng Hà đạt 18,80% Đây là những xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Bảng 3.3 Thu nhập và tỷ lệ đói nghèo

Hạng mục ĐVT Bình quân

Phân theo xã Đồng Nai Thƣợng

(Nguồn dự án Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2016 – 2020)

* Các hoạt động kinh tế chủ yếu:

Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong đời sống của các thôn, bản, với các loại cây trồng chủ yếu như cao su, điều, cây ăn quả và cây hoa màu Diện tích trồng cây lương thực trong khu vực này khá hạn chế.

Chăn nuôi gia súc và gia cầm quy mô hộ gia đình đang gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh như lở mồm long móng, dịch heo tai xanh và cúm gia cầm Những rủi ro này đã khiến nhiều hộ gia đình ngần ngại đầu tư vào chăn nuôi, trong khi giá thức ăn gia súc tăng cao Bên cạnh đó, khả năng phòng trừ dịch bệnh còn hạn chế, diện tích đất chăn thả giảm, và lợi nhuận từ chăn nuôi cũng suy giảm do thiếu lợi thế cạnh tranh về giá cả và quy mô nhỏ.

Khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển chậm, thiếu khu công nghiệp và cơ sở chế biến lớn, gây khó khăn trong việc thu hút lao động địa phương và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều này ảnh hưởng đến việc giải quyết việc làm cho người dân, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình Nông – Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

Hệ thống trường học từ tiểu học đến trung học phổ thông đã đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, tuy nhiên, ở bậc trung học phổ thông, số lượng học sinh phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế của từng gia đình Việc học tập của con em thường bị ảnh hưởng bởi khoảng cách đến trường, học phí và các khoản đóng góp, dẫn đến ít hộ gia đình quan tâm đến giáo dục của trẻ.

Các xã đã thiết lập trạm y tế với đội ngũ y bác sĩ chuyên nghiệp, cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh thông thường và thực hiện tiêm chủng mở rộng các loại vắc xin phòng ngừa dịch bệnh Đối với những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, hệ thống y tế sẵn sàng chuyển họ lên các tuyến trên để được cứu chữa kịp thời.

- Về bưu chính, viễn thông: việc thông tin liên lạc đã được phủ sóng 100% với 2 hình thức là các mạng điện thoại cố định, di động

- Tất cả các xã đều có hệ thống loa phát thanh, truyền hình của trung ương và địa phương

- Trên 85% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia phục vụ sản xuất và sinh hoạt

- Trên 80% số hộ sử dụng nước giếng khoan đạt tiêu chuẩn phục vụ sinh hoạt

* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

Ngày đăng: 22/06/2021, 06:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách Đỏ Việt Nam (phần I - Động vật).Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam (phần I - Động vật)
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Nhà XB: Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
4. Kim Thị Ngọc Thúy, (2014) Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lồng ghép các dịch vụ hệ sinh thái vào công tác quản lý và bảo tồn đất ngập nước ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lồng ghép các dịch vụ hệ sinh thái vào công tác quản lý và bảo tồn đất ngập nước ở Việt Nam
Tác giả: Kim Thị Ngọc Thúy
Năm: 2014
7. Lê Xuân Thám và cộng sự, (2011) Báo cáo đề tài “Phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra xây dựng bảo tàng nấm ở Vườn Quốc gia Cát Tiên giai đoạn 2004 – 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra xây dựng bảo tàng nấm ở Vườn Quốc gia Cát Tiên giai đoạn 2004 – 2009
Tác giả: Lê Xuân Thám, cộng sự
Năm: 2011
8. Nguyễn Thị Ngọc Ánh, (2012) Lượng hóa một số giá trị kinh tế của Vườn quốc gia Cúc Phương góp phần bảo tồn đa dạng sinh học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lượng hóa một số giá trị kinh tế của Vườn quốc gia Cúc Phương góp phần bảo tồn đa dạng sinh học
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Năm: 2012
9. Phạm Hoàng Hộ, (2003) Cây cỏ Việt Nam nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2003
12. Trần Văn Mùi,( 2005) Nghiên cứu một số biện pháp để góp phần quản lý, bảo vệ bền vững tài nguyê rừng tại VQG Cát Tiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp để góp phần quản lý, bảo vệ bền vững tài nguyên rừng tại VQG Cát Tiên
Tác giả: Trần Văn Mùi
Năm: 2005
15. VQG Cát Tiên, (2011) Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững VQG Cát Tiên giai đoạn 2010 – 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững VQG Cát Tiên giai đoạn 2010 – 2020
Tác giả: VQG Cát Tiên
Năm: 2011
16. VQG Cát Tiên,( 2016) Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng VQG Cát Tiên giai đoạn 2016 – 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng VQG Cát Tiên giai đoạn 2016 – 2020
Tác giả: VQG Cát Tiên
Năm: 2016
18. VQG Cát Tiên, (2015) Báo cáo quy hoạch mạng lưới tổ chức sự nghiệp công lập tại VQG Cát Tiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quy hoạch mạng lưới tổ chức sự nghiệp công lập tại VQG Cát Tiên
Tác giả: VQG Cát Tiên
Năm: 2015
20. Vũ Tấn Phương & cs. (2007), Báo cáo tổng kết đề tài lượng giá giá trị kinh tế về môi trường và dịch vụ môi trường của một số loại rừng chủ yếu ở Việt Nam. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đề tài lượng giá giá trị kinh tế về môi trường và dịch vụ môi trường của một số loại rừng chủ yếu ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Tấn Phương, cs
Nhà XB: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Năm: 2007
21. Vũ Tấn Phương & cs. (2009), Nghiên cứu định giá rừng Việt Nam. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu định giá rừng Việt Nam
Tác giả: Vũ Tấn Phương, cs
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2009
22. Vũ Tấn Phương & cs, (2015) Nghiên cứu xác định giá trị rừng phòng hộ ven biển vùng duyên hải Nam Trung bộ và Nam bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định giá trị rừng phòng hộ ven biển vùng duyên hải Nam Trung bộ và Nam bộ
Tác giả: Vũ Tấn Phương, cs
Năm: 2015
24. Emerton.L., and B.Kekulandala, (2003) The Economic Value of Muthurajawela Wetland, Sri Lanka. IUCN – The World Conservation Union Regional Environmental Economics Programme and Sri Lanka Country Programme, Colombo Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economic Value of Muthurajawela Wetland, Sri Lanka
Tác giả: Emerton.L., B.Kekulandala
Nhà XB: IUCN – The World Conservation Union Regional Environmental Economics Programme and Sri Lanka Country Programme
Năm: 2003
25. Emerton.L., and E.Bos, (2004) VALUE: Counting ecosystems as Water Infrastructure. IUCN – The World conservasion Union, Gland Sách, tạp chí
Tiêu đề: VALUE: Counting ecosystems as Water Infrastructure
Tác giả: L. Emerton, E. Bos
Nhà XB: IUCN – The World Conservation Union
Năm: 2004
26. IPCC Guidelines for National Greenhouse Gas Inventories, (2006): Chapter 4 Forest Land Sách, tạp chí
Tiêu đề: IPCC Guidelines for National Greenhouse Gas Inventories
Năm: 2006
27. Lucy Emerton & cs, (2014) Nghiên cứu giá trị kinh tế Vườn quốc gia Cát Tiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giá trị kinh tế Vườn quốc gia Cát Tiên
Tác giả: Lucy Emerton
Năm: 2014
2. Chính phủ, (2006) Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30/3/ 2006 của Chính Phủ Nghị định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm Khác
3. Chính phủ Việt Nam, (2016) Nghị định 147/2016/NĐ-CP), ngày 02/11/2016, Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Khác
5. Hạt Kiểm lâm – VQG Cát Tiên, (2016) Báo cáo tình hình vi phạm tài nguyên rừng VQG Cát Tiên giai đoạn 2011 – 2015 Khác
6. Hạt Kiểm lâm – VQG Cát Tiên, (2016) Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Chương trình Chi trả dịch vụ môi trường rừng tại VQG Cát Tiên Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w