1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khóa luận. Tá (1) (1) (1) (1) (1)

54 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, trong quá trìnhnghiên cứu, tìm hiểu về cưới xin của người Hà Nhì em đã có dịp được trao đổivớicác nghệ nhân người Hà Nhì như ông Pờ Lóng Tư, bà Lỳ Gia Sừ, bà Khoàng Ứ De…để hiể

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tớicác thầy cô giáo, đặc biệt là cô giáo – Tiến sĩ Lường Hoài Thanh - giảng viênmôn lịch sử thế giới, khoa Sử - Địa, đã tận tình góp ý, chỉnh sửa, giúp đỡ emtrong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Em cũng xinchân thành cảm ơn Thư viện trường Đại học Tây Bắc, các Thầy, Cô trong khoa

Sử - Địa đã giúp đỡ em trong quá trình sưu tầm tài liệu Đặc biệt, trong quá trìnhnghiên cứu, tìm hiểu về cưới xin của người Hà Nhì em đã có dịp được trao đổivớicác nghệ nhân người Hà Nhì như ông Pờ Lóng Tư, bà Lỳ Gia Sừ, bà Khoàng

Ứ De…để hiểu hơn về văn hóa và các giá trị truyền thống của dân tộc mình.Trong thời gian thực hiện khóa luận không tránh khỏi những hạn chế, thiếusót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn đểkhóa luận được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 05 năm 2019

Người thực hiện

Pờ Pờ Tá

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 1

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc của đề tài 4

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI HÀ NHÌ Ở MÙ CẢ (MƯỜNG TÈ, LAI CHÂU) 6

1.1 Tộc danh, lịch sử tộc người 6

1.1.1 Tộc danh, dân số và địa bàn phân bố dân cư 6

1.1.2.Về lịch sử tộc người 7

1.2 Đặc điểm địa bàn cư trú 10

1.3 Đặc trưng văn hóa 13

CHƯƠNG 2: TỤC LỆ CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở MÙ CẢ (MƯỜNG TÈ, LAI CHÂU) 19

2.1 Quan niệm về tình yêu, hôn nhân 19

2.2 Tiêu chuẩn chọn vợ chọn chồng 20

2.3 Đám cưới của người Hà Nhì ở Mù Cả 21

2.3.1 Chạm ngõ (Tò đu đu) 21

2.3.2 Ăn hỏi (Khà mì huuy) 22

2.3.3 Lễ cưới của người Hà Nhì ở Mù Cả 24

CHƯƠNG 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở MÙ CẢ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 41

3.1 Biến đổi trong cưới xin 41

3.2 Nguyên nhân biến đổi 46

3.3 Một số khuyến nghị 47

KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC

Trang 3

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa đa dạng trong thống nhất, được kếttinh bởi những giá trị văn hóa đặc sắc của 54 dân tộc, trong đó có dân tộc HàNhì là một trong những dân tộc thiểu số ở nước ta, sinh sống tập trung chủ yếu ởMường Tè (Lai Châu), Mường Nhé (Điện Biên) và Bát Xát (Lào Cai) Đối vớivăn hóa dân tộc, mỗi một cộng đồng dân tộc với những đặc trưng văn hóa khácnhau, phong tục tập quán riêng, đã tạo nên một nền văn hóa Việt Nam đa dạng,phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc Đối với văn hóa tộc người, nghi lễ và lễhội luôn là rào chắn tốt nhất để bảo vệ bản sắc văn hóa và giữ gìn những nét tinhtúy trong truyền thống Có rất nhiều hoạt động văn hóa phong phú từ xa xưa củadân tộc Hà Nhì tạo thành sợi chỉ xuyên suốt của toàn bộ lịch sử dân tộc, trong đótập quán cưới xin là một trong những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào người

Hà Nhì ở Mù Cả, Mường Tè, Lai Châu

Với địa bàn hiểm trở, biệt lập, cùng điều kiện khó khăn nên những giá trịvăn hóa truyền thống của người Hà Nhì nơi đây được bảo lưu khá rõ ràng.Tuy nhiên, những phong tục tập quán ấy còn được duy trì đến ngày nay hay

đã bị mai một cái còn cái mất, điều này phụ thuộc rất nhiều vào những tácđộng ngoại cảnh

Hiện nay, đã có không ít nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu về những giátrị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì nhưng vẫn chưa thực sự có một tàiliệu nào nghiên cứu về hôn nhân truyền thống của người Hà Nhì ở Mù Cả mộtcách cụ thể Bản thân em là người Hà Nhì, lại sinh sống trên ngay trên địa bàn

nên em đã mạnh dạn lựa chọn “Tập quán cưới xin của người Hà Nhì tại Mù Cả, Mường Tè, Lai Châu”làm đề tài khóa luận của mình với mong muốn khám phá

và hiểu rõ hơn về hôn nhân truyền thống của dân tộc, góp phần lưu giữ và bảotồn những truyền thống tốt đẹp của cha ông truyền lại

2 Lịch sử nghiên cứu

Dân tộc Hà Nhì là một trong những dân tộc thiểu số sống ở nước ta, dovậy, từ nửa đầu thế kỷ XX trở về trước, văn hóa Hà Nhì nhìn chung không được

Trang 4

chú ý nghiên cứu Nguyên nhân là do đồng bào thường cư trú ở những nơi xaxôi, hẻo lánh, phân bố dân cư không đồng đều Sau khi đất nước đổi mới, tìnhhình chính ổn định, kinh tế xã hội phát triển, giao thông được liên thông lên tậnnhững vùng sâu vùng xa, khi ấy việc tìm hiểu văn hóa truyền thống của dân tộc

Hà Nhì mới bắt đầu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Đến nay, ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cậpđến những đặc điểm văn hóa truyền thống của các dân tộc, trong đó có dân tộc

Hà Nhì như:

+ Tập bài giảngVăn hóa các dân tộc Tây Bắc của tác giả Trần Bình, Đại

học văn hóa Hà Nội, 2009 Đây là tập bài giảng giới thiệu chung về văn hóa cácdân tộc Tây Bắc, trong đó có dân tộc Hà Nhì Tuy nhiên, công trình mới chỉ đivào giới thiệu một cách khái lược đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộcsinh sống tại Tây Bắc như Thái, H’Mong, Hà Nhì, Dao…nên chưa đi vào tìmhiểu về những nét riêng trong sinh hoạt của các cộng đồng người này

+ Trang phục truyền thống các tộc người nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, Tạng- Miến, nhiều tác giả, hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Nxb Văn Hóa Dân

Tộc, 2012; công trình nghiên cứu về nguồn gốc và trang phục của nhóm ngữMôn – Khmer và Tạng Miến như: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La

+ Công trình Các dân tộc ở Việt Nam tập 1 quyển 4 nhóm ngôn ngữ

H’Mông -Dao và Tạng Miến, Vương Xuân Tình, Nxb Chính trị quốc gia, 2018,

đề cập đến những vấn đề về kinh tế- xã hội và văn hóa của dân tộc Hà Nhì

+ Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thái, Tục cưới hỏi ở Việt Nam, NxbThanh

Niên (2004), nghiên cứu về văn hóa cưới hỏi của các dân tộc ở Việt Nam, trong

đó có nghiên cứu đến tục cưới hỏi của dân tộc Hà Nhì với nét chung nhất, kháiquát nhất…

Ngoài những công trình khái quát về các dân tộc ở Tây Bắc, cũng đã xuấthiện một số công trình chuyên sâu tìm hiểu về đời sống, phong tục tập quán củangười Hà Nhì:

+) Tiêu biểu nhất phải kể tới các công tình nghiên cứu chuyên sâu vềngười Hà Nhì của tác giả Chu Thùy Liên Tác giả này đã nghiên cứu và công bố

Trang 5

các công trình về người Hà Nhì như: Văn hóa dân gian dân tộc Hà Nhì, hội văn

nghệ dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, 2009 Công trình đề cập đếnmột số vấn đề như: điều kiện tự nhiên, kinh tế, tổ chức xã hội, văn hóa vặt chất –

tinh thần của người Hà Nhì ở Lai Châu nói chung… ; Tìm hiểu văn hóa dân tộc

Hà Nhì ở Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, 2004 đề cập đến những nét văn hóa

chung của cả ba nhóm Hà Nhì (Lạ Mí, Cồ Chồ và Hà Nhì Đen)

+ Tìm hiểu về cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai, Hà Văn Việt, Đại học Tây Bắc, 2013, đề cập đến cưới xin truyền

thống của người Hà Nhì đen ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai

+ Công trình Tri thức dân gian của người Hà Nhì ở Lai Châu với tài nguyên thiên nhiêncủa nhóm tác giả Bùi Quốc Khánh, Lò Ngọc Biên, Vũ Văn

Cương, Nxb Hội Nhà Văn, 2017,công trình đề cập đến tộc danh và lịch sử tộcngười, về điều kiện tự nhiên xã hội , văn hóa vật chất- tinh thần của người HàNhì ở Mường Tè…… và một số báo, tạp chí của Ủy ban dân tộc, Báo Lai Châu,Báo Dân tộc miền cùng với một số tài liệu trên internet…

Tuy nhiên, những công trình trên chưa đi sâu nghiên cứu chi tiết về tậpquán cưới xin của người Hà Nhì tại Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Dovậy, đề tài hy vọng sẽ góp thêm tư liệu về tục cưới xin của người Hà Nhì – vừathấy được nét chung trong cưới hỏi của người Hà Nhì vừa thấy được nét đặctrưng riêng của người Hà Nhì ở Mù Cả

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu về tục lệ cưới xin của người Hà Nhì tại xã Mù Cả (Mường Tè,Lai Châu)

- Những biến đổi trong cưới xin của người Hà Nhì tại Mù Cả

- Đưa ra một số giải pháp để gìn giữ những nét truyền thống trong cướixin của người Hà Nhì

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở xã

Mù Cả (huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu)

Phạm vi nghiên cứu: xã Mù Cả (huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu).

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:

Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp bao trùm của đề tài gồm: tái

hiện, mô tả, thống kê, liệt kê một cách cụ thể các sự kiện, hiện tượng để làm rõtục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở Mù Cả - Mường Tè- Lai Châu

Phương pháp thu thập thông tin: Những tài liệu thu thập được về mặt lí luận

giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở xã

Mù Cả - huyện Mường Tè – tỉnh Lai Châu cũng như tác động của xã hội tới nó

Phương pháp logic kết hợp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở những tài liệu đã thu

thập được qua một số sách báo, internet… rồi đi sâu vào phân tích cụ thể Sau

đó tổng hợp lại thành tài liệu chi tiết, hoàn chỉnh về vấn đề nghiên cứu một cách

hệ thống

Phương pháp điền dã: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tới 1

số bản để quan sát, tìm hiểu, trao đổi và phỏng vấn một số người có uy tín, hiểubiết về phong tục, nghi lễ truyền thống trong đám cưới của người Hà Nhì Sau

đó, chụp ảnh tài liệu về các hoạt động thực tế, đồng thời ghi chép lại nhữngthông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần mục lục, đềtài gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về người Hà Nhì ở Mù Cả, Mường Tè, Lai Châu

1.1 Tộc danh, lịch sử tộc người

1.2 Đặc điểm địa bàn cư trú

1.3 Đặc trưng văn hóa

Chương 2: Tập quán cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở Mù Cả, Mường Tè, Lai Châu

2.1 Quan niệm về tình yêu, hôn nhân

2.2 Tiêu chuẩn chọn vợ chọn chồng

2.3 Đám cưới của người Hà Nhì ở Mù Cả

Trang 7

Chương 3: Những biến đổi trong cưới xin của người Hà Nhì ở Mù Cả trong giai đoạn hiện nay

3.1 Biến đổi trong cưới xin

3.2 Nguyên nhân biến đổi

3.3 Một số khuyến nghị

Trang 8

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI HÀ NHÌ Ở MÙ CẢ

(MƯỜNG TÈ, LAI CHÂU)

1.1 Tộc danh, lịch sử tộc người

1.1.1 Tộc danh, dân số và địa bàn phân bố dân cư

Người Hà Nhì hiện là một trong bốn dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng– Miến, cư trú ở huyện Mường Tè1 Đồng bào tự gọi mình là Hà Nhì già hoặc

Hà Nhì trzó già (đều nghĩa là người Hà Nhì) Nhiều dân tộc khác trong vùng gọingười Hà Nhì bằng những tên gọi khác nhau Người Côống gọi người Hà Nhì là

A Khà, người Mông gọi là Má, người Dao gọi là Kà Nía… Trong thời phongkiến và thực dân nửa phong kiến, người Hà Nhì cũng như một số dân tộc kháctrong nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến được gọi bằng cái tên khác như Xá, U Ní… Người Hà Nhì có 3 nhóm chủ yếu là Hà Nhì Đen, Hà Nhì Cồ Chồ và HàNhì Lạ Mí Mỗi nhóm Hà Nhì đều có những sắc thái riêng thể hiện trên các khíacạnh như ngôn ngữ, trang phục và phong tục tập quán

Tính đến năm 2004, người Hà Nhì ở Mường Tè có 7.523 người, chiếm17,9% tổng dân số toàn huyện, đứng ở vị trí thứ 3 sau người Thái (10.256 người,chiếm 24,37%) và người La Hủ (7.928 người, chiếm 18,84%).[2, tr25]

Người Hà Nhì ở Mường Tè thuộc về hai nhóm là Hà nhì Cồ Chồ và HàNhì Lạ Mí Nhóm Hà Nhì Cồ Chồ cư trú tập trung ở các bản Xi Nế (xã Mù Cả),

A Mế (xã Tà Tổng), Nậm Hạ (xã Kan Hồ), Chang Pa Chải (xã Hua Bum).Nhóm Hà Nhì Lạ Mí tập trung ở các xã Ka Lăng, Thu Lũm và các bản Mù Cả,

Ma Ký, Gò Cứ (xã Mù Cả), Nậm Lọ (xã Kan Hồ) Ngoài ra, đồng bào còn cư trúrải rác thành từng hộ hay từng nhóm hộ ở hầu hết các xã và thị trấn trong huyện.Trong mỗi bản hay nhóm dân cư ít nhiều cũng đều có sự cư trú đan xen giữa hainhóm Hà Nhì do hệ quả của quá trình di cư và hôn nhân giữa các thành viên củahai nhóm

Trang 9

1.1.2.Về lịch sử tộc người

Người Hà Nhì ở Việt Nam hiện nay có cùng nguồn gốc với nhóm vớingười Hà Nhì ở huyện Kim Bình (Trung Quốc), họ có nhiều tên gọi như Hòa Di,Hòa Nam, Oa Nê, Nga Nê, Uy/Oa Nê, Oát Nê… Tộc người này có mối quan hệmật thiết với các dân tộc Ha Ni, La Hủ, Độc Long (Trung Quốc), Miến Ka Chin,Tchin, Na Ga (Mianma),A Khà, A Rem (Thái Lan), Hà Nhì, La Hà, Si La (Lào),Phủ Lá, Côống, Si La, La Hủ, Lô Lô (Việt Nam)

Một số học giả Trung Quốc cho rằng dân tộc này có nguồn gốc từ caonguyên Thanh Tạng, cùng nguồn gốc với dân tộc Di là người Đê Khương cổ đại.Cuốn “Thượng Thư” có ghi chép về người “Hòa Di” như sau:

Ngay từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, tộc Hòa Di đã cư trú ở bên dòngsông Hắc Thủy – nay thuộc lưu vực sông Đại Độ, sông An Ninh, sông NhãLung Giang Họ biết khai phá ruộng bậc thang, trồng cấy lúa nước Do chiếntranh loạn lạc, họ đã di cư về phương nam đến Các Hàn (nay là Côn Minh).Trong các truyền thuyết cổ của người Hà Nhì có lưu truyền nhiều dị bản về quátrình tổ tiên của người Hà Nhì mất đất do Na Già (người Hán) chiến đoạt Tuynội dung khác nhau, nhưng đều có chung một điểm là người Hà Nhì thua trongquá trình tranh chấp bởi phải đối chọi với người Hán lắm mưu nhiều kế[2, tr26] Người Hà Nhì ở Kim Bình hiện còn lưu truyền ký ức ngày ấy: đất CácHàn có 6.000 người Hà Nhì Người Hán tuy ít nhưng nhiều chủ ý Để đạt đượcmục đích mở rộng địa bàn đã lợi dụng sự yếu đuối, “sợ hãi quay thần” của người

Hà Nhì Họ thu thập rất nhiều la, vào một đêm không trăng sao, trời tối đen nhưmực, họ dùng vải bọc vào 4 cái móng của con la, dắt la từ trong thành ra để chomọi người nghe thấy tiếng la đi, cho la hí lên, để lại phân của con la Qủa nhiên,người Hà Nhì bị trúng kế đến lúc trời sang, một số người ra ngoài thành thấy cóphân la thì sợ hãi chạy về báo với cộng đồng: Đêm hôm qua thấy có tiếng la điđường và tiếng la hí, hôm nay lại nhìn thấy phân la, mà lại không nhìn thấymóng chân la, nhất định là quỷ thần tác quái Nơi này không phải là nơi chochúng ta cư trú lâu dài được Do đó, người Hà Nhì đành phải phải bỏ đất cũ đitìm kiếm nơi ở mới

Trang 10

Theo kết quả nghiên cứu của Chu Thùy Liên trong Tìm hiểu văn hóa dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam có trích dẫn các thư tịch cổ của Trung Quốc như Sử Ký

Tư Mã Thiên (phần Tây Nam Di liệt truyện), Hán Thư, Hoa Dương Quốc ChíVạn Lịch Vân Nam thống chí, Man Thư, Đường Thư…thì người Hà Nhì cùngvới các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Tạng- Miến hiện nay là hậu duệ của bộ tộc

Mị Mạc và bộ tộc Côn Minh thuộc khối Tây Nam Di cư trú ở các vùng đất củaVân Nam ngày nay như Đại lý, Nguy Sơn Đại Hào, Đào An và vùng Tấn Ninh,Côn Dương, An Ninh Người Hà Nhì khi đó đã cùng với một số dân tộc khác đãxây dựng nên một nền văn hóa cổ đại khá phát triển vào thời Chiến Quốc, đầuthời Đông Hán (thế kỷ I-III Sau Công nguyên)

Từ trước thế kỷ thứ VII Sau Công nguyên, người Hà Nhì (khi đó gọi làHòa Man) thuộc nước Đại Lý Năm 730, nước Đại Lý bị nước Nam Chiếu với

sự hỗ trợ về quân lương và vũ khí của nhà Đường thôn tín, người Hà Nhì đãthiên di dần về phương Nam Đến thế kỷ thứ VIII Sau Công nguyên, ngườiThoát Man (tên gọi của người Hà Nhì khi đó) đã có mặt suốt một dải từ CamĐường (Lào Cai –Việt Nam) cho đến Châu Long Vũ (huyện Lâm An, tỉnh VânNam – Trung Quốc) Từ đó cho đến nhiều thế kỷ về sau tiếp tục diễn ra nhữngcuộc thiên di của tổ tiên người Hà Nhì có điểm xuất phát từ các huyệ Kim Bình,Lục Xuân (Vân Nam – Trung Quốc) và đích đến là các vùng đất thuộc các tỉnhLào Cai, Lai Châu và Điện Biên ngày nay ở Việt Nam Qúa trình di cư củangười Hà Nhì diễn ra dần dần chứ không ồ ạt như một số dân tộc khác [2, tr28]

Tác phẩm sử thi truyền khẩu theo lối văn vần của người Hà Nhì là “P’hùy

Ca – Na Ca” (nghĩa là: Tổ tiên xuống – đất tổ xuống) được mở đầu như sau:

Nà ma à mé Nga tư Hà Nhì à ta púng đẹ nà ma à mé e

Hà Nhì à ta p’hu chó Sùy P’hùng à cò

Tò tre lé lu À K’hó

Tò nà Sùy P’hùy À Cò

Ha Sa te ma ứ pó chsế nhì à khài Khó chi Hà Nhì p’hu ma sị thó

Na Tro Tro Ứ xá e

Trang 11

Nga tư Hà Nhì à ta mí trạ [4,tr 7]Tạm dịch:

Nà Ma đầu nguồn Nơi Hà Nhì sinh sống là Nà Ma đầu nguồn Nơi bản Hà Nhì ở là Sùy P’hùy À Cò

Nơi bàn luận quyết định là Lé Lu À Khó Nơi học hỏi lí lẽ là Sùy P’hùy À Co

Ha Xa ruộng to nước tưới bằng mười hai nhánh mương

Ởgiữa bản Hà Nhì bẩy nghìn hộ

Na Tro Tro Ứ bình yên đó

Là đất của tổ tiên người Hà Nhì ở đó.[4,; tr.153]

Cũng theo Sử thi “P’hùy Ca – Na Ca” thì sau khi quốc gia cổ Na Chô Chô

Ứ bị Na già (tức người Hán) “tim đen bụng xấu” chiếm đoạt, người Hà Nhì phải

di cư theo ba ngả: + Một nhóm từ Na Chô Chô Ứxuôi dòng MêKông đi các nơi khác nhưMianma, Lào,Thái Lan Các cộng đồng này hiện cũng được gọi bằng những cáitên như Hà Nhì hay A Khà

+ Một nhóm từ Na Chô Chô Ứđi dọc sông Hồng xuôi về phương Nam Họ

đi mãi đến chỗ nước sông Hồng và sông Đà đánh nhau, đánh nhau đến nỗi trongống bương đựng nước vẫn còn đánh nhau (ngã ba Bạch Hạc Việt Trì) Sau mộtthời gian không quen thung thổ họ lại đi ngược lên phía bắc, chuyến ngược nàyđàn ông con trai khỏe mạnh gánh đồ đi trước, nhóm bà già, trẻ em tỉnh dậy thấynhững cây chuối chặt đánh dấu đường đã lên cao hơn một gang tay họ bảo nhau:

“Cây chuối cao thế này chắc tốp trước đã đi xa lắm, không theo kịp đâu ở lạiđây thôi, và thế là họ ởlại vùng đất ấy sinh cơ lập nghiệp” Như vậy, nhóm dọcsông Hồng, một bộ phận “rơi” lại ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai, một bộ phận

“rơi” lại ở các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ tỉnh Lai Châu vẫn tự gọi mình là “HàNhì ca đu” có nghĩa là “Hà Nhì rơi lại”

+ Một nhóm xuôi theo sông Nậm Na rồi lại ngược sông Đà lên tận thượngnguồn con sông này rồi dừng chân tại đó Đây chính là hai nhóm Hà Nhì CồChồ và Hà Nhì Lạ Mí cư trú rải rác ở nhiều xã trong huyện Mường Tè mà sau

Trang 12

khi tỉnh Lai Châu chia tách (tháng 01/2004), một bộ phận đã thuộc về huyệnMường Nhé, tỉnh Điện Biên (các xã Sín Thầu, Chung Chải) Nhóm này hiện cưtrú tập trung hơn cả là ở các xã Mù Cả, Ka Lăng và Thu Lũm (huyện MườngTè) [2,tr31- 32].

Theo tài liệu dân tộc học cuốn “Các dân tộc phía Bắc Việt Nam” thì phần

lớn tổ tiên của người Hà Nhì Lai Châu và Lào Cai hiện nay đều di cư từ cáchuyện Kim Bình, Lục Xuân tỉnh Vân Nam Trung Quốc Theo các cụ già (bản TaPô- xã Huổi Luông- huyện Sìn Hồ) kể lại thì đồng bào tới Lai Châu vào giai

đoạn “Thái Bình Thiên Quốc”, khi đã định cư ở Việt Nam, nhiều thủ lĩnh Hà

Nhì còn phải tập hợp binh sĩ chống lại quan quân triều đại nhà Thanh Khi biêngiới các quốc gia hình thành họ đã trở thành thành viên của cộng đồng các dântộc Việt Nam Trong thành phần người Hà Nhì Việt Nam, có lớp người Hà Nhì

cư trú lâu đời và có những lớp người mới di cư đến cách đây khoảng vài trămnăm, nhưng dù là người bản địa hay người mới di cư đến, khi đã trở thành thànhviên của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì đồng bào đã có ý thức gắn bó vàtrách nhiệm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc [3; tr.29]

1.2 Đặc điểm địa bàn cư trú

Về vị trí địa lí: Mù Cả là một xã nằm ở vùng cao Tây Bắc của huyệnMường Tè; Phía Bắc giáp với nước cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa

và xã Ka Lăng; Phía Đông giáp xã Mường Tè và xã Nậm Khao; Phía Namgiáp xã Tà Tổng

Mù Cả là xã có địa hình tương đối phức tạp, có nhiều dãy núi chạy qua,việc đi lại và trao đổi với bên ngoài rất khó khăn

Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Hà Nhì Mù Cả là trồng trọt Tuynhiên, do điều kiện địa hình bị chia cắt mạnh lại cộng thêm nguồn nước khamhiếm nên đồng bào nơi đây canh tác trên nương là chính Phương thức làmnương của người Hà Nhì là đao canh hỏa chủng theo lối quảng canh với thờigian hưu canh khoảng 10 – 15 năm Kỹ thuật xử lý đất theo quy trình phát - đốt– chọc lỗ - tra hạt Ngày nay, ở những mảnh nương có độ dốc thấp đồng bào

Trang 13

thường dùng kỹ thuật cày, lấy trâu làm sức kéo Những mảnh nương có độ dốclớn thì giải pháp kĩ thuật trong khâu làm đất là cuốc sới.

Tìm đất làm nương được đồng bào tiến hành vào khoảng tháng Chạp.Phát vào tháng Giêng và đốt vào tháng Hai âm lịch hàng năm Đến tháng Ba làthời điểm tra hạt Trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây lúa, đồng bào thực hiệnlàm cỏ 1 – 2 lần Khi lúa trổ đòng, ra bông, các gia đình phải cử người lên trông,ngăn không cho muôn thú phá hoại Việc thu hoạch lúa được thực hiện vàotháng Bảy, tháng Tám (đối với lúa sớm) và tháng Chín, tháng Mười (đối với lúamuộn) Lúa sau khi thu hoạch xong được để ngay tại lán nương, khi cần dùngmới mang về nhà

Ngoài cây lúa, đồng bào còn canh tác nương ngô, nương sắn Tại cácmảnh nương, các gia đình Hà Nhì còn trồng xen cánh nhiều loại hoa màu như bíxanh, bí đỏ, đỗ tương, đỗ xanh, đỗ đen, xả…

Bên cạnh nương rẫy, người Hà Nhì ở Mù Cả còn tận dụng những nơi cónguồn nước để khai phá đất dốc trên những sườn đồi, núi thoái làm ruộng bậcthang để trồng lúa Trước đây, ruộng bậc thang của đồng bào chỉ cấy được một

vụ (vụ mùa) Ngày nay đồng bào đã cấy được vụ cả chiêm Tuy nhiên, do điềukiện nguồn nước trong vùng khan hiếm nên diện tích ruộng nước của người HàNhì ở Mù Cả không đáng kể

Chăn nuôi của người Hà Nhì là một ngành kinh tế phụ Trước đây, hầuhết các gia đình chỉ nuôi vài con gà và 1 – 2 con lợn để dùng cho việc cúng bái,

lễ nghi Ngày nay, tình hình đã được cải thiện một bước Ngoài lợn, gà, mỗi giađình đều nuôi thêm trâu, dê, bò và ngựa Những gia súc này thường được sửdụng chủ yếu làm sức kéo (trâu, ngựa) hay để bán (bò, dê) Ngoài ra, khoảng vàinăm trở lại đây, việc đào ao thả cá đã ngày càng trở nên phổ biến hơn trong cộngđồng người Hà Nhì Các loại cá thường nuôi là cá rô, cá mè, cá trôi, cá trắm…Việc chăn nuôi của người Hà Nhì được thực hiện theo lối thả rông ở gần nhà,gia súc, gia cầm tự kiếm ăn là chính Ngày nay, việc chăn nuôi gia súc đã đượcthực hiện theo phương thức nuôi nhốt (đặc biệt là lợn và ngựa), gia cầm thì vẫnthả rông Một số loại gia súc như trâu, bò, dê thì được chăn thả ở những khu vực

Trang 14

quy hoạch cho chăn thả trong rừng, được rào rậu, che chắn cẩn thận để gia súckhông thể vượt qua rào ra ngoài

Kinh tế khai thác từ tự nhiên cho đến nay vẫn giữ một tỷ trọng đáng kểtrong tổng thu nhập của nhiều gia đình người Hà Nhì Nếu như hoạt động háilượm được đồng bào tiến hành thường xuyên nhằm thỏa mãn nhu cầu về măng,nấm và đặc biệt rau xanh cung cấp cho các bữa ăn hàng ngày, thuốc để chữabệnh, củ và một số loại ruột/lõi cây cung cấp tinh bột vào kỳ giáp hạt trongnhững năm mất mùa; thì hoạt động săn bắt (bao gồm săn bắt muông thú trênrừng và đánh bắt các loại thủy sản dưới sông, suối) vừa có tác dụng bổ sungnguồn thực phẩm cho bữa ăn, vừa có tác dụng ngăn chặn muông thú phá hoạilúa, ngô và hoa màu Việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên có sự khác nhau vềmùa vụ và phân công lao động Nếu như hái lượm được tiến hành quanh năm và

do phụ nữ đảm đương là chính thì săn bắt lại chủ yếu được tiến hành vào mùakhô và do đàn ông đảm nhiệm Tính chất mùa vụ đã quy định vai trò của hoạtđộng hái lượm trong cuộc sống của người Hà Nhì lớn hơn săn bắt Bởi lẽ nếuđàn ông không đi săn bắt, bữa ăn của gia đình cũng không mấy bị ảnh hưởng.Nhưng nếu phụ nữ không hái lượm thì gia đình không có rau ăn trong các bữa

ăn hằng ngày Trong những năm mất mùa, vai trò của hái lượm lại càng khẳngđịnh được tầm quan trọng của nó trong việc tìm kiếm nguồn thực phẩm

Thủ công gia đình của người Hà Nhì có phần kém phát triển hơn so vớimột số dân tộc khác trong vùng như Mông, Dao, Thái Mặc dù đồng bào cũng

có đủ các nghề như rèn, mộc, dệt vải, đan lát nhưng hầu như chưa bao giờ đạtđến trình độ tinh xảo

Nghề rèn tuy cũng có vài loại công cụ sản xuất được gia công bởi một số(không nhiều) các thợ rèn địa phương song hầu hết sửa chữa nông cụ là chủ yếu Nghề mộc cổ truyền với công cụ là dao và rìu, các cấu kiện bằng gỗ trongnhà trước đây được đẽo, gọt đơn giản, kỹ thuật lắp ghét bằng ngoãm và buộcdây hoặc làm những thứ đồ dùng giản đơn Ngày nay, do tiếp thu những kỹ thuật

và thiết bị từ bên ngoài nên kỹ thuật làm mộc của họ cũng đã tiến bộ hơn trướcvới các kỹ thuật cưa cắt, cưa xe, đục, bào… và do đó sảm phẩm từ nghề mộc

Trang 15

cũng đạt đến độ tinh xảo hơn Tuy nhiên, cho đến nay những người biết làmnghề mộc với các kỹ thuật mới ở các vùng người Hà Nhì cũng không nhiều Trong nền kinh tế tự cấp, tự túc cao độ, nghề dệt vải, may mặc và đan látđối với người Hà Nhì ở Mù Cả đã đạt được đến sự phát triển nhất định với cácsảm phẩm mang đậm bản sắc tộc người (đặc biệt là trang phục phụ nữ) Tuynhiên, ngày nay các nghề này cũng đang có xu hướng bị mai một do tiếp thunhững sảm phẩm hàng hóa sản xuất công nghiệp ngày càng nhiều.

Trao đổi mua bán là hoạt động kinh tế kém phát triển nhất của người HàNhì nơi đây Do tập quán mưu sinh mang tính tự cấp tự túc cao độ trong môitrường tự nhiên dồi dào về sản vật nên hầu hết những sảm phẩm phục vụ cácnhu cầu cấp thiết của con người: cái ăn, cái mặt, đồ dùng, nhà cửa đều đượcđồng bào tự làm ra hoặc chiếm đoạt từ thiên nhiên ngay trong vùng cư trú Vìvậy, hoạt động mua bán thường chỉ được diễn ra nhằm để trao đổi những mặthàng sẵn có của đồng bào (chủ yếu là lâm thổ sản) để thu về những nhu yếuphẩm và một số công cụ sản xuất cho gia đình

Hiện nay, được sự quan tâm, chỉ đạo của Huyện ủy, HĐND, UBNDhuyện về phát triển kinh tế trên địa bàn xã Nên nền kinh tế có sự chuyển biếntheo chiều hướng tích cực Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 12triệu/năm

Xã Mù Cả có 9 bản với 3 dân tộc là Hà Nhì, La Hủ và Kinh Với tổng dân

số toàn xã là 2.875 nhân khẩu, 407 hộ (thống kê 2016) Trình độ dân trí chưađồng đều, vì vậy cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác vận động tuyêntruyền thực hiện các chính sách pháp luật của nhà nước[11]

1.3 Đặc trưng văn hóa

Yếu tố đặc trưng khiến ta bị thu hút để tìm hiểu về người Hà Nhì chính lànhững bộ trang phục truyền thống duyên dáng của người Hà Nhì Trang phụccủa người Hà Nhì được thiết kế một cách cầu kỳ, màu sắc rực rỡ Từ nhữngcông đoạn bắt đầu cho đến công đoạn trang trí, thành phần đều do chính tay phụ

nữ Hà Nhì làm nên Từ xa xưa, người Hà Nhì đã biết trồng bông, dệt vải, thêuthùa Có lẽ đặc sắc nhất trên bộ trang phục của dân tộc Hà Nhì đó là những họa

Trang 16

tiết được thêu tay trên tà áo, cổ áo, tay áo và mũ của các thiếu nữ Bộ trang phụccủa dân tộc Hà Nhì còn thể hiện tín ngưỡng sùng bái thiên nhiên và những kinhnghiệm sống Dễ dàng nhận thấy những họa tiết trên trang phục truyền thốngcủa phụ nữ Hà Nhì thể hiện sự hòa hợp giữa yếu tố con người và thiên nhiên,phản ánh một phần cuộc sống sinh hoạt của tộc người này trong suốt tiến trìnhlịch sử.

Trong tín ngưỡng thờ cúng của dân tộc Hà Nhì ở Mù Cả nói riêng cũngnhư các dân tộc khác rất phong phú và nhiều lễ, tết được tổ chức hàng năm như:

Gạ ma thú (cúng bản);Dé khù chà (tết mùa mưa);Hò sự chà (ăn tết)… Các nghi

lễ này được tổ chức theo âm lịch Đối tượng thờ cúng ở các lễ hội khác nhau,tuy nhiên chủ yếu là thờ cúng các vị thần gần gũi với đời sống con người nhưthần rừng, thần nước, thần núi, ông bà tổ tiên…

Ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người Hà Nhì là ăn Tết (hồ sự chà) Trước ngày tết một hoặc hai ngày, khắp các bản làng Hà Nhì bắt đầu nổi

trống múa xòe trong đêm lửa trại Từ sáng sớm cùng ngày ăn tết, để dâng lên giatiên thành quả lao động đã đạt được, người phụ nữ Hà Nhì từ sáng sớm tinh mơthức dậy dã gạo nếp thành bột mịn để làm bánh trôi, sau khi dâng lên gia tiênbánh trôi, các thành viên gia đình ăn bánh trôi xong mới tiến hành mổ lợn cúng

tổ tiên Bước sang các buổi chiều ngày tết, tiếng chày giã bánh dầy của nhữngngười phụ nữ Hà Nhì vang lên rộn rã khắp bản làng Loại gạo làm bánh thường

là gạo nếp thơm do chính gia đình tự trồng cấy được trong năm Sau khi ngâmnước khoảng hai, ba giờ, gạo được cho vào chõ đồ chín và mang vào cối giã củathôn Khi xôi nếp được giã nhuyễn, những người phụ nữ Hà Nhì sẽ cùng nặnbánh dầy theo các dạng mỏng, tròn rồi lấy lá chuối ốp vào hai mặt cho mịn đều

Dé khù chà (tết mùa mưa) là một trong ba lễ hội lớn trong năm của dân tộc Hà Nhì, được tổ chức vào tháng 6 (âm lịch) Người Hà Nhì mở hội Dé khù chà vào

cuối hè khi cây lúa bắt đầu cho ra hạt, ngô gieo đã lên xanh lá, cầu mong một vụmùa bội thu Bằng các nghi lễ truyền thống người Hà Nhì thể hiện sự tôn kínhđối với thần rừng, núi, trời và thần đất Lễ hội này phản ánh lên nhu cầu, mongước của người dân luôn được trời đất phù hộ, mưa thuận gió hòa, để người dân

Trang 17

yên tâm làm ăn, mùa màng bội thu Trong ngày tết mùa mưa còn rất nhiều tròchơi dân gian như: đu dây, bập bênh, hát dao duyên, thổi khèn lá, thể hiện nhữngnét đặc sắc truyền thống trong đời sống văn hóa của người Hà Nhì.

Giữa tiết trời cuối xuân ấm áp, chuẩn bị cho một mùa vụ mới với mongmuốn cả bản làng người người khỏe mạnh, nhà nhà xuống giống, giống lên tươi

tốt người Hà Nhì lại bắt đầu một lễ hội, đó là Gạ ma thú (cúng bản).

Chuẩn bị vào hội, các gia đình đóng góp đồ cúng cho việc tổ chức cúng

tế, mỗi gia đình cử đủ người tham gia các buổi lễ Các hộ gia đình đổ xôi vàng

để ăn trong ngày tết và luộc trứng, nhuộm trứng đỏ cho con trẻ chơi hay tặngkhách thập phương tới dự lễ cúng… Người Hà Nhì rất chú trọng đến những nghi

lễ thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị thần tự nhiên có ảnh hường đến cuộc sốngcủa con người Đồng thời cũng thể hiện tinh thần đoàn kết tập thể, sự tương trợlẫn nhau trong một cộng đồng làng xã

Cùng với yếu tố đặc trưng tiêu biểu trên, dân tộc Hà Nhì còn có một khotàng văn nghệ dân gian rất phong phú với các loại truyện kể, hát ru, dân ca vàmúa phản ánh cuộc sống lao động, đấu tranh chinh phục tự nhiên, khả năng sángtạo, thể hiện ước mơ khát khao vươn tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc… và nghềthủ công truyền thống đan lát, thêu dệt vải, hiện nay vẫn đang được gìn giữ vàtruyền dạy cho các thế hệ sau

Nhà cửa của người Hà Nhì cũng khá đặc biệt Trước hết,người Hà Nhìthường chọn hướng nhà theo hướng lưng tựa vào núi, cửa quay ra thung lũng,sông suối hoặc một đỉnh núi phía xa

Về kiểu nhà, người Hà Nhì Lai Châu có 3 kiểu nhà chính Thứ nhất lànhàtrình tường nền đất: Đây là loại nhà mang đậm chất truyền thống nhất của người

Hà Nhì Vì ngày xưa người Hà Nhì ở vùng khí hậu lạnh lại trong vùng đất luônluôn chịu cảnh chiến tranh cướp bóc Đây là loại nhà mang tính chất phòng thủ.Hiện nay, ở Ka Lăng, Thu Lũm, Ma Ly Chải có nhà có chiều dài 25 thậm chí30m và chiều rộng có thể từ 6 đến 8m chia làm nhiều buồng

Thứ hai là nhà vách tre, gỗ Với những ngôi nhà dạng vách tre, gỗ cũngđược tôn cao nền và kè đá xung quanh như dạng nhà trình tường Ngoài ra, đồng

Trang 18

bào thường làm rãnh thoát nước xung quanh nền để tránh úng ngập- dễ gây mụccho các cấu kiện gỗ, tre, nứa Với kiểu nhà này, bố trí bên trong ngôi nhà thườngđược chia làm ba gian chính Gian giữa là nơi tiếp khách và sinh hoạt chung cho

cả nhà Hai gian hồi dùng làm không gian nghỉ ngơi cho các thành viên trong giađình Nếu nhà đông người, hai gian ấy cũng có thể chia làm nhiều buồng ngủriêng biệt Bên ngoài không gian ngôi nhà chính cũng bao gồm chuồng chănnuôi ngựa, lợn, gà và bếp nấu ăn

Thứ ba là nhà sàn Trong quá trình di cư, một bộ phận người Hà Nhì sốnggần một số cộng đồng anh em có tập quán ở nhà sàn nên họ cũng làm nhà sàn để

ở như xã Kan Hồ, Hua Bum (Mường Tè), Huổi Luông, Nậm Ban (Sìn Hồ) Bêncạnh đó, một số nơi còn làm nhà vách đất, vách tre [3,tr99]

Phong tục và tín ngưỡng là một biểu hiện của sắc thái văn hóa mỗi dântộc, nguời Hà Nhì quan niệm mọi vật đều có linh hồn, tín ngưỡng của họ là tínngưỡng đa thần giáo: khi thờ người Hà Nhì thờ ông bà, tổ tiên nội ngoại, thờthần công thổ địa và các loại thần sông núi… Người Hà Nhì quan niệm bất cứ

sự vật hiện tượng nào cũng có linh hồn và số kiếp từ vách đá, dòng sông, cáicây, con suối đến nước rồi lúa, ngô…các sinh vật chỉ có một hồn riêng con

người có Duêlá (số kiếp), số kiếp đó tồn tại trong muôn vật mà con người có thể

mắt thấy tai nghe và cảm nhận được, cây có đời cây, sông có đời sông, riêng con

người còn có tới 92 linh hồn được gọi là “Hi Thá”, 92 hồn đều thống nhất và

mạnh như nhau Hồn chính trú ngụ ở trên đầu, vì vậy người Hà Nhì đội mũ,khăn để bảo vệ linh hồn, ngoài ra mắt mũi chân tay… đều có linh hồn Bộ phậnnào bị bệnh thì bộ phận đó linh hồn đã ra đi cần phải tiến hành các lễ cúng.Trước bàn thờ tổ tiên ai cũng phải đội khăn, mũ Người Hà Nhì kiêng xoa đầu,đập tay lên đầu vì họ sợ hồn chính giật mình bay đi, sẽ bị lạc, người dễ ốm, ốmquá phải cúng Đối với trẻ em người ta hay đeo vòng bạc, buộc chỉ cổ tay, đội

mũ năm múi, khâu bùa như đuôi sóc, đồng bạc, răng vuốt hổ, gấu để yểm…cũng

từ đó, lực lượng thầy cúng ra đời

Thầy cúng là người có năng lực đặc biệt, là người nối kết những mongmuốn của con người đến thần linh và ngược lại Người Hà Nhì gọi thầy cúng là

Trang 19

mồ p’hí, thầy cúng phải kiêng ăn các loại đồ như: thịt chó, tiết canh… Ngoài ra,

để biết về quá khứ, tương lai, quan hệ gia đình, xã hội, làng bản, ngày lễ tếtnhững người chủ gia đình còn bói xem chân gà và đầu gà Đối với thanh niên thìhồn họ mạnh mẽ, khỏe khoắn cho nên việc bảo vệ cũng không cần nhiều chỉ cầnđeo một dây vía ở cổ tay hoặc ở cổ là được Hồn người già thì yếu đuối hay thấtlạc, vì vậy khi ốm đau, mệt mỏi người ta phải mời thầy cúng về gọi hồn Cáchgọi hồn: Người ta lấy vòng tay, áo, khăn người ốm, người cần gọi hồn, lễ vậtgồm: một đôi gà, một quả trứng, một bát gạo, chè Khi cúng xong nếu có vòngtay đã cúng thì không buộc chỉ, nếu không có vòng tay thì buộc chỉ từ một đến

ba vòng Gọi hồn là cách thức gọi tên người ấy mong hồn không đi lung tung,lạc lối hãy nghe tiếng gọi mà về cùng bố mẹ, vợ con

Cũng giống như các dân tộc anh em khác, người Hà Nhì có quan niệm:

người chết sẽ thành ma, quỷ (Nẹ khà) Có loại ác và thiện Loại ma thiện là linh

hồn các cụ đã sống hết kiếp người, là linh hồn những người lương thiện khi hồnlìa khỏi xác thì họ sẽ về nơi quê hương chôn rau cắt rốn của người Hà Nhì.Loại

ma ác là người sống trên trần gian coi thường đạo lí, cãi cha, chửi mẹ, đối xửvớianh em không tốt khi chết sẽ bị biến thanh cây gai, suốt đời phiêu bạt theoluồng gió để tiếp tục quấy nhiễu con người

Trong đời sống của mình người Hà Nhì rất coi trọng nơi lập bản, dựngnhà để sinh sống, từ xưa đến nay nơi người Hà Nhì sống gắn chặt với các khurừng đại ngàn, nơi rừng sâu, núi thẳm Rừng trong tâm thức người Hà Nhì là nơiCha – Mẹ vấn vít nuôi sống bản làng Cha nước đem mạch nguồn tưới tắm chocây cối, vạn vật, đem sự sinh sối đến cho bản làng Mẹ núi dang tay che chở chobản làng, từ trong lòng mẹ biết bao sản vật của thiên nhiên đã được mẹ núi đemcho con người… vì vậy việc chọn đất lập bản dựng mường thường được các vịthầy mo hiểu phong thủy người Hà Nhì lựa chọn rất kỹ

Người dân Hà Nhì ở Mù Cả một ngày ăn hai bữa chính là bữa sáng và bữachiều Trong đó, bữa sáng thường nấu để ăn cả sáng và trưa Bữa sáng có tácdụng cung cấp năng lượng cho một ngày lao động nhưng thường ăn vội vàng đểcòn kịp đi làm Bữa trưa ai tiện đâu ăn đấy với cơm và thức ăn được làm từ

Trang 20

sáng Bữa chiều là bữa bổ sung năng lượng sau một ngày lao động mệt nhọc vàcũng là lúc để cả gia đình đoàn viên Cơ cấu bữa ăn của người Hà Nhì đơn giản,chỉ có cơm, vài món canh rau, măng hay những sảm phẩm thu được từ các hoạtđộng săn bắt, hái lượm Mỗi khi có đại sự, đồng bào thường chế biến các mónthịt theo kiểu luộc, xào, nấu… kèm theo một số loại rau rừng hoặc măng.

Đồ uống của người Hà Nhì có chè được chế biến từ một số loại lá rừng có

tác dụng giải khát, bổ máu và thanh nhiệt như xả (P’ò p’hí), hạt thảo quả (Gò xó

á nự), chè rừng (xả kha lạ pẹ) Ngoài đồ uống, đàn ông Hà Nhì còn hút thuốc lào

và trước đây còn hút cả thuốc phiện

Có thể thấy, trong cuộc sống và sinh hoạt thường ngày, người Hà Nhì chođến nay vẫn bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa đặc trưng của mình, nhất là trongtrang phục truyền thống và nhà ở cũng như nhiều phong tục tập quán, trong đó

có tục lệ cưới xin

Trang 21

CHƯƠNG 2: TỤC LỆ CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI

HÀ NHÌ Ở MÙ CẢ (MƯỜNG TÈ, LAI CHÂU)

2.1 Quan niệm về tình yêu, hôn nhân

Lễ cưới là một lễ nghi cũng rất quan trọng trong cuộc đời của mỗi conngười Với dân tộc Hà Nhì, ngày xưa, tuổi kết hôn của nữ là 13 – 15 tuổi, tuổinam giới là 15 – 17 tuổi, ai đó ngoài 20 tuổi mà chưa xây dựng gia đình sẽ bị coi

là ế Ngày nay, người Hà Nhì kết hôn theo độ tuổi quy định của nhà nước tức lànam, nữ kết hôn ở độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, những người đi công tác kết hôn ởnhững tuổi lớn hơn Cũng như bao dân tộc khác, để xây dựng một gia đình hạnhphúc, yên bề gia thế, duy trì nòi giống cho các thế hệ mai sau thì phải bắt đầu từmột cuộc hôn nhân lành mạnh tốt đẹp, do vậy vấn đề tình yêu hôn nhân đượcngười Hà Nhì đặt lên hàng đầu Trai gái Hà Nhì được tự do yêu đương, tự dotìm bạn đời của mình Đến khi tìm được một người thật ưng ý, tình yêu đến độchín muồi thì cả hai mới về thông báo cho bố mẹ nguyện vọng muốn tiến đếnhôn nhân Do đó, những người làm cha làm mẹ tính giờ đẹp, ngày đẹp, thángđẹp, năm đẹp để tiến hành tổ chức gặp mặt và nói chuyện với nhau để bàn bạc

và thống nhất những thủ tục Tuy nhiên,do hoàn cảnh khác nhau không phảiđám cưới nào cũng được diễn ra một cách thuận lợi và thật sự hạnh phúc nhưmong muốn

* Cưới tự nguyện

Gia đình có điều kiện tổ chức đám cưới thì cưới theo truyền thống, đầy đủcác bước theo đúng theo nghi lễ cưới xin của người Hà Nhì Nếu gia đình nhàtrai không đủ khả năng hỏi, người con trai chủ động xin ý kiến bố mẹ và địnhngày đưa cô dâu về Còn người con gái có thể không cần thông báo trước với bố

mẹ Chàng trai hẹn cô gái đến một địa điểm nào đó rồi đón cô gái về nhà mình.Sau đó, đại diện nhà trai đem một con gà trống, một chai rượu, một gói hạt đậutương rang đến nhà gái thông báo cho họ nhà gái biết rằng con gái họ đã nhập

ma nhà trai Còn phía họ nhà trai vẫn làm mâm cơm cúng ông bà tổ tiên để tổtiên nhận cô dâu vào dòng họ Sau lễ cưới này, không phải làm lễ cưới lần hai

Trang 22

bài hát Khóc khi lấychồng, điệu Khóc hồn, Điệu Hôn nhân đau khổ, Mẹ chồng tức giận, điệu Chạy trốn hôn nhân… Mỗi bài ca cất lên lập tức được chị em

cùng cảnh ngộ tiếp nhận và lưu truyền, bồi đắp từ đời này qua đời khác, làmnhững bài ca này trở nên phong phú về nội dung, giàu âm điệu, nhạc điệu

vệ rừng của mình, họ không bao giờ chặt cây tươi mà chỉ chặt những cành khô,gãy Tiêu chuẩn chọn vợ của người Hà Nhì, trước tiên, người ta sẽ xét về góc

độ gia đình tức là truyền thống gia đình này có tốt hay không, có ai sống trụy lạcrơi vào tệ nạn xã hội (tuy nhiên cũng phải phù hợp với gia cảnh của nhà trai để

mà soi xét); tiếp theo là xét về độ chăm chỉ, nếu như thấy nhà này có nhiều củi,nhiều vật nuôi và đầy đủ lương thực thì chứng tỏ phụ nữ nhà đó rất chăm chỉ.Tiêu chí thứ bakhông kém phần quan trọng để đánh giá người phụ nữ Hà Nhì làviệc thêu dệt, khâu quần áo Cuối cùng, người Hà Nhì rất coi trọng trinh tiết củangười con gái trước khi lấy chồng Khi trong bản có người phụ nữ không chồng

mà có con sẽ bị cả bản nói xấu, bôi nhọ, thậm chí là bị xỉ nhục, thành trò cười

Trang 23

cho cả bản, phải nộp phạt cho bản vì hành vi của mình Tuy nhiên, về sau xã hộiphát triển thì vấn đề về trinh tiết cũng không được đặt quá cao.

Tiêu chuẩn chọn chồng: Nếu như tiêu chuẩn chọn vợ của người Hà Nhìgần như là phải chăm chỉ thì người đàn ông Hà Nhì cũng cần phải có một thânhình khỏe mạnh, phải làm được những công việc nặng nhọc như săn thú, làmnhà, kiến tiền… để gánh vác gia đình Đàn ông Hà Nhì khi còn nhỏ phải đi theo

bố, chú, bác để học hỏi những công việc đó, những người đàn ông yếu ớt sẽ bịcoi thường và chê bai Đặc biệt, những người đàn ông có học thức, gia đình vănhóa thì được nhiều người coi trọng và kính nể

Ngoài ra, việc chọn vợ chọn chồng, hai người phải hợp tuổi nhau mới cóthể chung sống hòa thuận với nhau được, rất nhiều trường hợp do không tuântheo những luật tục đó về sau đã dẫn đến gia đình bất hòa, chồng hoặc vợ mấtsớm, gia cảnh rơi vào cảnh khốn cùng

2.3 Đám cưới của người Hà Nhì ở Mù Cả

Cũng như các dân tộc anh em khác, cưới xin là một nghi lễ rất quan trọngđối với người Hà Nhì, thường diễn ra từ tháng 10 đến tháng 4 quanh năm và để

có thể tổ chức một đám cưới, trở thành vợ chồng phải trải qua một quá trình vớimột số bước gồm: chạm ngõ (Tò đu đu), ăn hỏi( Khà mì huuy), tổ chức cưới( cưới bên nhà gái, cưới bên nhà trai)

2.3.1 Chạm ngõ (Tò đu đu)

Khi người con trai đến tuổi lấy vợ, người con trai chủ động tìm ý trungnhân của mình thông qua các hoạt động lao động sản xuất hoặc qua những ngày

lễ hội của bản làng Sau khi đã “ưng cái bụng, đã vừa con mắt”, người con trai

về hỏi nhà gái xem có hợp ngày hay không để về thưa chuyện Bởi vì nghi thứcchạm ngõ này quyền quyết định là do bên nhà gái, nếu đồng ý nhà gái chọn ngàytốt rồi báo về cho nhà trai Sau đó, người con trai nhờ bạn hoặc ông mối sang

nói chuyện, bàn bạc về các vấn đề như: chọn ngày lành tháng tốt để ăn hỏi, mì chxè (tiền bú sữa, tiền công nuôi dưỡng của nhà gái đối với cô dâu), bàn xem

phải cần bao nhiêu kg lợn, bao nhiêu con gà… (nếu như nhà gái nhiều cậu thì

cần nhiều đầu, chân gà) Nhà trai sẽ chọn dế mò là người biết lí lẽ dân tộc và

Trang 24

phải là người trong dòng họ, lành mạnh, khỏe khoắn và chọn phù dâu phù rể, haingười bên nhà trai, hai người bên nhà gái thường là bạn bè của cô dâu và chúrể….

Sau khi hai bên gia đình thống nhất bàn bạc với nhau, con rể tương lai sẽ

ở lại làm rể nhà gái một thời gian để làm quen Tùy từng gia đình,thời gian ở rể

có thể là 3 năm hoặc 5 năm Tuy nhiên, nếu bên nhà trai có lí do không thể ở lạilâu được thì có thể thưa chuyện với nhà gái để bàn bạc thống nhất lại, hai giađình bên nào khó khăn thì sắp xếp thời gian sao cho hợp lí để giúp đỡ cả haibên.Đặc biệt, trong khoảng thời gian ở rể này, cô dâu, chú rể không được phépngủchung giường, nếu lỡ để cô dâu mang thai thì chú rể có thể sẽ bị phạt mộtcon lợn 60kg để tạ lỗi với bố mẹ vì hành vi của mình

Tóm lại, nghi thức chạm ngõ này chủ yếu là để bàn bạc, thống nhất nhữngluật tục mà cô dâu, chú rể phải thực hiện và bàn bạc những công việc phải làmtrong đám cưới về sau giữa hai bên gia đình

2.3.2 Ăn hỏi (Khà mì huuy)

Cũng như một số dân tộc khác, đi ăn hỏi phải đúng giờ đẹp, ngày lành

tháng tốt Khi đi ăn hỏi bên nhà trai sẽ chọn hai dế mò: một chính, một phụ

thường là những người biết ăn nói, có uy tín liên quan đến dòng họ bên nhà trai

là chú, bác hoặc là anh rể, cùng với vài người bạn của chú rể Khi hỏi, chỉ cầnmột bát đỗ tương, một chai rượu, con gà để xem mặt và làm quen đồng thờiđánh tiếng cho người khác biết là cô gái đã có người đến hỏi Người Hà Nhìquan niệm và mong muốn rằng sau này tất cả mọi thứ đều sinh sôi và nảy nở từcon cái đến con giống cây trồng vật nuôi cho nên trong khi ăn hỏi bắt buộc phải

có một bát đỗ tương là vì như vậy Nghi thức này phải được tiến hành nhanhchóng chừng khoảng 15 đến 20 phút (nhằm tối kị những điều xấu có thể ảnhhưởng đến hạnh phúc lứa đôi) Người Hà Nhì xưa có câu:

Á chí hà nhùymà té khò

K’hà ch’lẹmà huuý khò

Á mí sá hố à ha mà bạ chà lá khò

Trang 25

Tạm dịch:

Gà rừng không gáy

Hươu không kêu

Mèo rừng không về bắt gà con [10 ]

Tức là trong thời khắc ăn hỏi đó, đặc biệtkiêng kị những tiếng kêu củanhững con vật trong rừng như tiếng gà rừng, hươu hay mèo rừng vì đây được coi

là điềm gở, có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc lứa đôi Mèo rừng rất nhiều, thường

về săn, bắt những con gà con, tối kị trong giờ phút ăn hỏi không nên những điều

đó gây ảnh hưởng.Trong mâm ăn hỏi rất đơn giản đó là bát đỗ tương và chairượu mà bên nhà trai mang đến, mời đại diện nhà gái ra thưa chuyện, nếu nhưmọi chuyện thuận lợi hai bên đã thống nhất, bên nhà gái sẽ bắt đại diện nhà traimỗi người uống một bát rượu và ăn hết bát đỗ tương nhằm thể hiện sự chân thật.Sau đó, đại diện nhà gái sẽ nói câu:

Mì già ná kho trú lú plu mà sá

À ta ló chí nà kho trú mì plu mà là

[9]

Tức là sau này thành đôi vợ chồng chẳng may một trong hai vợ chồng mấtsớm đi chăng nữa thì vẫn phải giữ mình không đi thêm bước nữa và mong hai

vợ chồng sống với nhau lâu dài hòa thuận, chăm lo con cái nên người

Khi nghi lễ ăn hỏi kết thúc, phải nhanh chóng dọn mâm cỗ coi như là đãxong nghi thức ăn hỏi Tiếp đến, mổ gà do nhà trai mang đến rồi bầy mâm cả haibên gia đình nói chuyện và mời nhau ly rượu như bữa cơm bình thường, có thểvui vẻ đến sáng Có trường hợp, đại diện bên nhà trai muốn ra về trước thì phảikéo lạch mâm cơm gọi là thủ tục để gặp may mắn khi ra khỏi nhà Con rể có thể

ở lại chung vui với gia đình lâu hơn và có thể ngủ lại với cô dâu coi như haingười đã thành đôi vợ chồng Từ đây, con rể tương lai chính thức ở lại làm rể tạinhà gái, hôm chạm ngõ chỉ là ở lại làm quen Như trên đã nói mặc dù ở rể nhưnggia đình bên nào khó khăn là về giúp bên đó không áp đặt và trường hợp hai nhà

ở xa nhau thì chú rể thi thoảng vẫn được về thăm nhà, trong khoảng thời gian ở

Trang 26

rể hai vợ chồng có quyền sắm riêng của cải như: tiền bạc, trang sức, quần áo…

để chuẩn bị cho sau này kết hôn và ra ở riêng

2.3.3 Lễ cưới của người Hà Nhì ở Mù Cả

Sau khi đã định ngày cưới, tất cả mọi thứ đều đã chuẩn bị kĩ càng, ổn thỏathì đám cưới sẽ bắt đầu được tổ chức Ngày xưa, người Hà Nhì tổ chức cưới từ 3đến 5 ngày Ngày thứ nhất, cô dâu mặc bộ trang phục đẹp nhất, che mặt lạy cha

mẹ, cô, chú, bác, ông bà tất cả họ hàng nội ngoại là bậc trên của cô dâu, chú rể

và làm lí cúng bái tổ tiên bên nhà chú rể.những ngày sau hát đối đáp dân giangiao duyên (già mì mì chu)

 Tổ chức cưới ở nhà gái

Tùy theo nhà gái có điều kiện hay không, bên nhà trai sẽ phụ giúp và hỗtrợ một phần kinh phí tổ chức cưới Tổ chức cưới bên nhà gái đơn giản hơn, vớimục đích nhằm động viên và an ủi cô dâu sẽ phải đi theo chồng tìm tổ ấm mới.Sau khi mâm cỗ đã chuẩn bị xong xuôi, tất cả họ hàng gần xa mà bên gia đìnhnhà gái đã mời đều đến đôngđủ, bên nhà chú rể cũng sẽ cử một đoàn người ra đểchung vui với nhà gái, khi ấy mọi người nâng li chúc phúc cho cô dâu và chú rể.Hôm đó, cô dâu không được phép ra khỏi buồng, trong khi cô dâu khóc với mẹ,với ông bà, cô dì, chú bác thì những người được phân công sẽ làm những công

việc:Chủ rượu (txúc dự à ma) lo đủ rượu trong đám cưới; Chủ cơm (hồ xạ à ma)

lo nấu cơm; Chủ thịt (xà nhí à ma) lo làm thịt.

Nhà gái mổ lợn biếu một góc phần đuôi cho nhà trai, còn lại làm thức ănngày cưới Ngoài những thức ăn trong ngày cưới, nhà gái phải mổ riêng hai con

gà: một cho phù rể, một cho ông mối(jế mồ) để xem đầu và chân Hai bát chân

gà, đầu gà được đặt trước mặt phù rể và ông mối

Trong khi nhà trai, nhà gái ăn cơm uống rượu ông mối gọi cô dâura rót

rượu, xin lộc (cò lò xá) Hai vợ chồng đi từng mâm cơm cảm ơn, bà con đến dự

đám cưới mừng tặng cô dâu chú rể: tiền, đồ dùng gia đình và cả con giống Khi

đi hết một vòng thì cô dâu cất lời xin, phong tục tập quán này hình thành từ quanniệm tài sản của bố mẹ chỉ con trai mới được thừa hưởng, con gái thành con

Trang 27

người ta, vì vậy khi đi lấy chồng, con gái(jà mì tú ma) phải xin người anh trai trưởng hoặc người em trai út (à mố á ly) xin lộc:

Ngày đăng: 16/06/2021, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w