TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾKhoa Nông học BÁO CÁO TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI: “Ảnh hưởng của các liều lượng phun phân bón lá SFarm D01 đến sinh trưởng và năng suất cây xà lách tại phường Hương
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Nông học
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“Ảnh hưởng của các liều lượng phun phân bón lá SFarm D01 đến sinh trưởng và năng suất cây xà lách tại phường Hương Long, thành phố Huế,
Thừa Thiên Huế”
Sinh viên thực hiện: Trần Kỳ Duyên
Thời gian thực hiện: 3/2018 – 5/2018
Địa điểm thực hiện: Hương Long, TT.Huế
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Lê Thị Khánh
NĂM 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Huế, đặc
biệt trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo
trường Đại học Nông Lâm Huế, các thầy cô giáo trong khoa Nông Học, đặc biệt
là cô giáo PGS.TS Lê Thị Khánh, người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND phường Hương Long đã cho tôi điều kiện
thí nghiệm nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em, bạn bè và những người thân
đã hết sức giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần trong cả quá trình học tập, rèn
luyện, nghiên cứu và hoàn thiện báo cáo tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do thời gian thực hiện không nhiều, kiến
thức của bản thân và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên không tránh khỏi
những thiếu sót Rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp của quý thầy cô và các
bạn để báo cáo được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Huế, tháng 05 năm 2018 Sinh viên thực hiện Trần Kỳ Duyên
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của xà lách trong 100g ăn được ở một
số nước và Việt Nam
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng rau ở các châu lục trên thế giới
sinh trưởng của xà lách
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều cao cây xà lách
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái ra
lá của cây xà lách
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến đường kính
tán cây xà lách
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều rộng lá cây xà lách
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều dài lá cây xà lách
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến khối lượng
tươi của cây xà lách
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến khối lượng
khô của cây xà lách
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01
đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất xà lách
Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế của các công thức do ảnh hưởng của các liều
lượng phun SFarm D01
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến một số chỉ
tiêu đánh giá hình thái, chất lượng xà lách
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều cao cây xà lách
Biểu đồ 4.2 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
ra lá của cây xà lách
Biểu đồ 4.3 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến đường
kính tán cây xà lách
Biểu đồ 4.4 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều rộng lá cây xà lách
Biểu đồ 4.5 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều dài lá cây xà lách
Biểu đồ 4.6 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến khối
lượng tươi của cây xà lách
Biểu đồ 4.7 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến khối
lượng khô của cây xà lách
Biểu đồ 4.8 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01
đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất xà lách
Trang 6NSLT : Năng suất lí thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
FAO : Food and Agriculture Organization of the UnitedNations (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)
Trang 7MỤC LỤC
Trang 8PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là món ăn không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày của conngười trên khắp hành tinh, đặc biệt khi nguồn lương thực và các loại thức ăngiàu đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau xanh lạicàng tăng lên Rau là thực phẩm thiết yếu cho nhu cầu hàng ngày của con người,những loại rau thường được dùng trong các bữa ăn hàng ngày thường là nhữngloại rau ăn lá hoặc trái: rau cải, đậu, dưa leo, xà lách Trong đó xà lách đượcdùng hàng ngày khá nhiều và phổ biến
Xà lách (Lactuca sativar L.) là loại rau ăn lá và thường có mặt trong bữa
ăn hằng ngày của chúng ta Xà lách có nhiều chất dinh dưỡng như vitamin,protein, lipit, chất xơ và các chất khoáng cung cấp một lượng calo tương đối caocho cơ thể con người Xà lách có tác dụng giải nhiệt, kích thích tiêu hóa, trị ho,suy nhược thần kinh, táo bón, thấp khớp… Xà lách quyết định chất lượng hỗnhợp rau và tính ngon miệng nên được người tiêu dùng ưa chuộng, khả năng tiêuthụ xà lách quanh năm rất lớn Thông thường xà lách được trồng trên đất và bónphân vào hốc Thực tế hiện nay xà lách là loại rau ăn lá (ăn sống) có nhu cầutiêu thụ rất cao, việc chạy theo lợi nhuận người dân đã lạm dụng bón nhiều phân
vô cơ đặc biệt là phân đạm làm cho đất chai cứng, vi sinh vật hoạt động kémdẫn đến hiệu quả sử dụng phân bón không cao Mặc khác thời tiết khí hậu ởThừa Thiên Huế khắc nghiệt mùa mưa thì mưa lớn kéo dài, rửa trôi chất dinhdưỡng, ẩm độ đất cao dẫn đến cây bị bão hòa nước; mùa khô nắng nóng, câysinh trưởng còi cọc dẫn đến năng suất và chất lượng thấp, hiệu quả kinh tế kém
Vì vậy để tăng năng suất và chất lượng cho cây xà lách cũng như đảm bao antoàn thực phẩm người ta thường áp dụng phương pháp phun dung dịch dinhdưỡng lên lá
Bón phân qua lá là một phương pháp nhằm bổ sung chất dinh dưỡng và cácyếu tố vi lượng cần thiết cho cây, giúp cây hấp thụ một cách nhanh chóng.Trong các loại phân bón lá thì SFarm D01 có thành phần là các yếu tố dinhdưỡng cần thiết cho cây, có nguồn gốc hữu cơ nên đảm bảo sạch và an toàn, đápưng nhu cầu của người tiêu dùng
Thừa Thiên Huế là một tỉnh có diện tích trồng xà lách lớn ở khu vực miềnTrung, do đó để đáp ứng được đầy đủ nhu cầu sử dụng xà lách ngoài vấn đề
Trang 9giống, bảo vệ thực vật, thời vụ, mật độ… thì việc sử dụng hợp lý phân bón láSFarm D01 với những đặc tính vượt trội nhằm giảm lượng phân bón so vớitruyền thống là điều cần thiết Vì vậy, đặt ra yêu cần làm gì để phun phân bón lávới nồng độ hợp lý để cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã quyết định thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của các liều lượng phun phân bón lá SFarm D01 đến sinh trưởng và năng suất cây xà lách tại phường Hương Long - thành phố Huế, Thừa Thiên Huế”.
Trang 101.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Xác định được một nồng độ phun phân bón lá tốt nhất cây sinh trưởngkhỏe cho năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp điều kiện sản xuất của địaphương
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc phun phân bón lá cho xà lách
Xà lách (Lactura sativa L.) là loại rau ăn sống quan trọng và phổ biến ở
nhiều nước, đặc biệt ở vùng ôn đới và các nước cận nhiệt đới và nhiệt đới đượctrồng với diện tích lớn nhất trong số các loại rau ăn sống, vì thế nó là loại rauquan trọng nhất trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Tùy theo dòng, loại, hình thức cuộn của lá hoặc đặc điểm hình dạng,thương hiệu, nhiều địa phương có những tên kèm theo như: xà lách búp, xà láchcuộn, xà lách Hải Phòng, xà lách Đại Địa, xà lách hai mũi tên đỏ
Theo Ryder và Whitaker xà lách có nguồn gốc từ Địa Trung Hải được cácnhà truyền đạo, các thương nhân du nhập khắp thế giới, người ta đã tìm thấy dấuhiệu tồn tại của xà lách vào khoảng 4500 năm TCN qua các hình khắc trên mộ
cổ ở Ai Cập, xà lách đã nhanh chóng du nhập vào các nước láng giềng và lanrộng ra tất cả châu lục
Xà lách được sử dụng làm nhiều món ăn trong đời sống của con người
Nó thường được trồng làm rau ăn lá, đặc biệt trong món salad, bánh sandwich,hamburger, và nhiều món ăn khác, hoặc nấu chín, như trong các món ăn củanhiều nước trên thế giới
Trang 112.1.2 Phân loại
Xà lách thuộc họ cúc, chi Lactuca, có số lượng NST 2n = 18, có nhiềuloại xà lách hoang dại được sử dụng như nguồn chống sâu bệnh Xà lách là thựcvật thượng đẳng, có đơn vị phân loại
Dưới họ hoa thìa lìa: Liguliflorae
Chi Lactuca có số lượng NST là 8, 9, 17 cặp
Giống xà lách cuốn: Lactuca sativa L có rất nhiều loài Theo một số tác giả
thì có khoảng 300 loài, có 7 cấp độ NST như 2n = 10, 16, 18, 32, 34, 36, 48
Nhưng chỉ có 4 loài đã được công nhận từ việc thành lập nhóm nhân giốnghữu ích bởi các phương pháp đã có ở giai đoạn 1940 – 1960 [1]
Xà lách được phân thành 4 loài:
- Lactuca sativa: Là loài thông dụng nhất, có nhiều dạng khác nhau, năng
suất cao, ngon, được nhiều người ưa thích và được trồng rộng rãi nhiều nơi
- Lactuca serroila: loài này có hạt rất nhỏ, mầm hình thành ngay ở thân.
Lá tương đối rộng, nằm ngang, có thể có răng cưa ở mép lá và bản lá giống hìnhcánh hoa hồng
- Lactuca saligna: gần giống loại hình trên về hình thái nhưng bản lá trải
ngang và có răng cưa
- Lactuca virosa: có hạt to và phẳng, lá có màu xanh lục nhạt có cả dạng hai năm và hằng năm Mỗi loài có 2n = 18 NST, Sativa L và Serriola L giao phấn tự nhiên với nhau và có thể được xếp cùng một loài giống nhau, Saligna L
và Serriola L khác nhau rõ rệt.
2.1.3 Đặc điểm thực vật học
- Bộ rễ: Rễ xà lách thuộc loại rễ chùm, phân bố chủ yếu ở tầng đất 0 – 20
cm, tuy nhiên bộ rễ có thể nhìn thấy hai phần: Rễ cọc và rễ thẳng, khá phát triểnlàm nhiệm vụ giữ cây, bám vào đất được chắc ngoài ra còn làm nhiệm vụ hútnước và dinh dưỡng nuôi cây Trên rễ cọc có rất nhiều rễ phụ giúp cây bám đất,hút nước, dinh dưỡng
Trang 12Bộ rễ ăn nông 10 - 15cm, phân bố hẹp, nhưng phát triển rất nhanh, táisinh mạnh nên thường gieo cây con rồi nhổ đi trồng Rễ xà lách ưa ẩm, có khảnăng chịu úng tốt hơn chịu hạn Nhìn chung xà lách có bộ rễ phát triển mạnh vànhanh.
- Thân: Thân xà lách thuộc thân thảo, mềm, rất ngắn, không phân nhánh,
phát sinh các lá mọc sít nhau, là nơi kết nối giữa thân và lá, chuyển hóa chấtkhoáng do bộ rễ hút và chất hữu cơ do bộ lá tổng hợp nuôi cây Thân xà lách rấtgiòn, trên thân có dịch màu trắng sữa, thời gian đầu phát triển rất chậm nhưnggiai đoạn sau khi cây đạt cao nhất về sinh khối trở nên thân phát triển rất nhanh
và bắt đầu ra hoa
- Lá: Xà lách có số lượng lá lớn, lá sắp xếp trên thân hình xoắn ốc, lúc
dầu mật độ lá rất dày, giai đoạn sau mật độ lá thưa dần, lá ngoài có màu xanhđến xanh đậm, lá trong xanh nhạt đến trắng ngà Các lá phía trong giòn, dày, cóchất dinh dưỡng cao Bề mặt lá không phẳng mà lồi lõm, gấp khúc do đặc tính
di truyền của loài, lá làm nhiệm vụ chủ yếu là tổng hợp các chất hữu cơ để nuôicây Tùy theo giống mà lá có thể khác nhau, cuốn (xà lách) hay không cuốn (raudiếp)
- Hoa: Chùm hoa dạng đầu có số lượng hoa rất lớn, các hoa nhỏ duy trì
chặt chẽ với nhau trên một đế hoa, với 5 đài hoa, 4 nhị và 2 lá nõn Độ tự thụphấn của hoa rất cao Hạt phấn và nõn luôn có độ hữu thụ rất cao
Công thức cấu tạo của hoa: K5C(5)A5G(5).
- Quả và hạt: Quả xà lách thuộc loại quả bế đặc trưng Hạt không có nội
nhũ, hạt hơi dài và dẹt, màu vàng nâu, độ nảy mầm tương đối cao, đạt 80 – 90%
2.1.4 Yêu cầu sinh thái của cây xà lách
Đối với xà lách lá là bộ phận sử dụng, lá có thể khác nhau, cuốn haykhông cuốn, mép lá có răng hay không có răng cưa tùy giống nhưng cũng là cơquan quang hợp và tích lũy chất dinh dưỡng, nếu gặp kiện ngoại cảnh thuận lợi
sẽ cho năng suất cao, chất lượng tốt Do đó, tùy từng giống mà có thể yêu cầuđiều kiện ngoại cảnh khác nhau và đều phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Yêu cầu về nhiệt độ: Xà lách có nguồn gốc vùng ôn đới, ưa nhiệt độ
thấp, tuy nhiên trong quá trình trồng trọt, chọn lọc và thuần hóa, ngày nay cây
xà lách có thể trồng trên nhiều vùng khí hậu khác nhau như nhiệt đới, cận nhiệtđới…, nhiệt độ phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất là 13 – 16 0C,nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm rất quan trọng cho sự sinh trưởng và phát triển
Trang 13của xà lách Nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm thích hợp là 2 – 30C, xà lách cuốnphát triển tốt nhất ở nhiệt độ 15 – 200C, nhiệt độ tối thiểu là 80C.
- Yêu cầu về độ ẩm: Cũng như các loại rau nói chung xà lách cần nhiều
nước để phát triển do có bộ lá lớn, tốc độ thoát hơi nước từ bề mặt lá cao Nếuthiếu nước lá bị xanh, không cuốn, tích lũy chất đắng nhưng nếu mưa kéo dàihay đất úng nước sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển của xà lách
Để đảm bảo nhu cầu nước cho sinh trưởng và phát triển tốt độ ẩm trong đấtthích hợp nhất là 70 – 80%
- Yêu cầu về ánh sáng: Ánh sáng là yếu tố rất quan trọng cho sự sống
của thực vật, đối với xà lách ánh sáng thích hợp là ánh sáng vùng cận nhiệt đớivới cường độ khoảng 17.000 lux Thời gian chiếu sáng 14 – 16 giờ sẽ hìnhthành bắp chắc hơn (đối với xà lách cuốn)
Để xà lách sinh trưởng bình thường và cho năng suất cao thì nhu cầu vềthời gian chiếu sáng trong ngày là 10 – 12 giờ Cường độ ánh sáng không nhữngảnh hưởng đến quá trình tổng hợp các chất hữu cơ trong cây
- Yêu cầu dinh dưỡng và đất: Xà lách không kén đất, có thể sinh trưởng
trên nhiều loại đất khác nhau Nhưng đất cho năng suất cao nhất vẫn là đất tơi xốp,giữ nước, giữ phân tốt như đất thịt, đất thịt nhẹ, đất cát pha, pH từ 5.8 - 6.6 và yêucầu thoát nước nhanh Xà lách là loại cây yêu cầu dinh dưỡng cao, phân hữu cơ cótác dụng rất lớn trong quá trình sinh trưởng, phân giải, cung cấp những yếu tố cầnthiết cho cây Sau trồng từ 30 - 40 ngày có thể thu hoạch được nên đòi hỏi phân dễtiêu Bón lót các loại phân hữu cơ chủ yếu (phân chuồng hoai mục, bánh dầu đậuphụng, đậu tương, phân cút) để làm tăng chất lượng, phân vô cơ thích hợp NPK đểcây phát triển nhanh, tăng năng suất/đơn vị diện tích [6]
2.2 Giá trị của cây xà lách
- Giá trị dinh dưỡng
Cây xà lách (Lactuca sativa L) là một loại rau ăn sống rất được ưa chuộng
trong mỗi bữa ăn hằng ngày Người phương Tây, vùng châu Âu, Nam Mỹ rất thích
ăn xà lách trong nhiều món ăn (trộn salad, món lẩu, súp ) Xà lách là loại rau cógiá trị dinh dưỡng cao, rất giàu khoáng, giàu vitamin, protein, lipid, xơ, cacbuahydrat, và vitamin C (tiền vitamin A: 1650 UI vitamin C: 10mg/100 g phân tích),cacbuahydrat 2.5g, protein 2.1g, khoáng 2.1g (Ca, P, Na, S )
Đặc biệt trong rau còn chứa một số acid amin không thay thế (Thiamin0.09mg/100g, riboflavin 0.13mg/100g), một số loại enzym phân giải những loại
Trang 14thức ăn giàu protein, lipid, cung cấp một lượng calo tương đối cao cho cơ thểcon người, giúp cơ thể tiêu hoá tốt hơn, đặc biệt là một vị thuốc an thần, giúp cơthể chống mệt mỏi.
Xà lách được dùng để ăn sống, trộn thịt cũng có thể nấu chín nhưngtrong quá trình nấu chín dễ bị mất hàm lượng vitamin, hương vị, gây đắng,nguyên nhân là rau rất mềm, khả năng thoát hơi nước mạnh làm bay hơi theocác chất dinh dưỡng khác Theo tài liệu của viện ung thư Mỹ, xà lách có thểngăn chặn một số bệnh ung thư, thân xà lách thuộc loại thân thảo có một loạidịch trắng như sữa có thể dùng làm thuốc trong y học
Trang 15Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của xà lách trong 100g ăn
được ở một số nước và Việt Nam
Trang 16người sản xuất, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm và chủng loại rau Nhìn chungcây rau có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trồng năm, do đólàm tăng sản lượng trên đơn vị đơn vị diện tích Xà lách chiếm vị trí khá quantrọng trong cơ cấu cây trồng thực phẩm nói chung và các loại rau nói riêng.
Xà lách chiếm vị trí cao trong cơ cấu cây rau các loại, với khoảng thờigian sinh trưởng đến thu hoạch ngắn, xà lách thường được trồng gối vụ, trồngxen giữa hai vụ cây lương thực như ngô, khoai, sắn…, nhờ vậy nó góp phầntăng thu nhập cho người dân, tạo thêm việc làm cho người lao động ở khu vựcnông thôn Xà lách còn giúp đất được luân canh với giai đoạn ngắn để đất cóthời gian tiêu hủy chất hữu cơ và phục hồi dinh dưỡng đất với loại cây trồngchính vụ tiếp theo
- Giá trị dược liệu
Trong rau xà lách có chứa Lactucarium là chất có hoạt tính sinh học cao,tác động đến thần kinh, làm giảm đau và gây ngủ, có tác dụng giải nhiệt, kíchthích tiêu hóa, suy nhược tâm thần, táo bón, thấp khớp Người mắc chứng hồihộp, lo âu, khó ngủ nên ăn rau xà lách đều trong các bữa ăn
Từ cây xà lách, có thể chiết ra một loại dịch nhựa, chế thành si rô hoặc đểkhô làm thành viên thuốc chữa bệnh Theo tài liệu nghiên cứu của Viện ung thư
Mỹ, rau xà lách còn có tác dụng củng cố thành mạch, hạn chế lượng cholestorontrong máu, ăn rau xà lách có thể ngăn chặn một số bệnh ung thư [5]
2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau xà lách trên Thế giới và Việt Nam
2.3.1 Trên thế giới
Rau xanh là loại thực phẩm thiết yếu, có nhiều chất dinh dưỡng và là thựcphẩm cần thiết không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày của mọi gia đình.Chất lượng cuộc sống ngày càng cao thì yêu cầu về số lượng và chất lượng raulại càng gia tăng Rau xanh có ý nghĩa như một nhân tố tích cực trong cân bằngdinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ của con người Rau là cây trồng có giá trị kinh tếcao, là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới
Theo số liệu thống kê gần đây của tổ chức FAO, năm 2012 trên toàn thếgiới có 19.21 triệu ha được sử dụng để trồng rau với năng suất 14.34 tấn/ha vàsản lượng 275.38 triệu tấn Năm 2013 trên toàn thế giới có 19.79 triệu ha được
sử dụng để trồng rau với năng suất trung bình là 14.16 tấn/ha và sản lượng
Trang 17280.31 triệu tấn Từ năm 2005 đến 2013 diện tích sản xuất rau của thế giới tăng
từ 16.30 triệu ha năm 2005 đến 19.79 năm 2013
Trang 18Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng rau ở các châu lục
trên thế giới năm 2013
Diện tích (triệu ha)Thế giới 16.30 17.85 18.65 18.52 19.21 19.79Châu
Châu
Châu Á 198.45 214.18 224.89 226.71 238.08 242.64
Trang 19(Nguồn: FAO, năm 2015) [20]
Qua bảng cho thấy rằng diện tích và sản lượng rau ở châu Á là lớn nhấtnhưng năng suất thì châu Âu là lớn nhất Trong năm 2013, diện tích trồng rautrên toàn thế giới là 19.79 triệu ha với sản lượng 280.31 triệu tấn, năng suấtbình quân đạt 14.16 tấn/ha Từ năm 2005 đến năm 2013, diện tích trồng rau trênthế giới có xu hướng tăng và năng suất và sản lượng cũng tăng
2.3.2 Ở Việt Nam
Nghề trồng rau nước ta ra đời từ rất sớm, đa dạng, phong phú và có diệntích lớn nhưng phát triển chưa theo yêu cầu của thị trường, quy trình canh tácchưa thống nhất, nhiều giống rau còn sử dụng giống cũ Mặc dù việc sản xuấtrau phân bố đều trong cả nước vì gần 80% dân số nước ta sống ở nông thôn vàmiền núi nhưng việc sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, không đáp ứng được nhu cầuthị trường về chất lượng, kích thước, hình dáng, mẫu mã và năng suất thấp, đa
số các loại rau không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu và làm nguyên liệu cho ngànhcông nghiệp chế biến
Ở nước ta hiện nay, rau xanh được sản xuất và tiêu dùng rất phổ biến vàngày càng gia tăng Ở xung quanh hầu hết các thành phố lớn đều hình thành cácvùng chuyên canh rau để cung cấp cho dân cư đô thị, ước tính có khoảng 113nghìn ha tương ứng khoảng 40% diện tích và 48% sản lượng rau toàn quốc Tuynhiên, do chịu ảnh hưởng của một nền nông nghiệp tự túc trong nhiều thế kỷ,nên nghành trồng rau còn có một khoảng cách rất xa so với tiềm năng tự nhiên
và trình độ canh tác Những năm gần đây, mức độ phát triển vẫn chưa theo kịpcác nghành khác trong sản xuất nông nghiệp [5]
Cho đến nay cả nước có hơn 70 loài thực vật sử dụng làm rau hoặc chếbiến thành rau Riêng rau trồng có hơn 30 loài trong đó có 15 loài chủ lực, trong
số này có hơn 80% rau ăn lá
Trang 20Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam
so với năm 2010, tuy nhiên năm 2012 diện tích rau tăng trở lại lên 733,204 hađến năm 2013 diện tích trồng rau lại giảm còn 425,927 ha
Về năng suất rau của nước ta có xu hướng biến động Năm 2000 năng suấtrau chỉ đạt 124.36 tạ/ha , năm 2006 đạt 118.83 tạ/ha và năm 2010 năng suất rauđạt cao nhất là 166.25 tạ/ha Giai đoạn 2010-2013 năng suất rau có biến độngnhưng không lớn, năm 2008 có năng suất rau thấp nhất là 117.06 tạ/ha
Sản lượng rau của nước ta tăng lên đáng kể qua các giai đoạn Năm 2000 cảnước thu được 5,632,264.4 tấn, năm 2006 là 6,380,149.1 tấn tăng 747,884.7 tấn sovới năm 2000 Năm 2013 sản lượng rau của nước ta cao nhất, đạt 12,500,531.0tấn, tăng 6,868,266.6 tấn so với năm 2000
2.3.3 Ở Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là vùng có đất đai kém phì nhiêu, khí hậu khắc nghiệt,nhưng cũng rất đa dạng về các loại cây trồng nói chung và cây rau nói riêng.Những năm gần đây cùng với sự phát triển của các nghành khác trong nôngnghiệp thì sản xuất rau đã có những tiến bộ rõ rệt
Trang 21Trong những năm trở lại đây, cùng với sự đa dạng hóa về hệ thống đấtcanh tác đang diễn ra ở cả nước, người nông dân trồng lúa ở Huế cũng đangdần chuyển đổi thế độc canh cây lúa sang trồng một số loại cây rau màungắn ngày nhằm tạo ưu thế cạnh tranh, nâng cao năng suất cho sản phẩmnông nghiệp và cải thiện đời sống kinh tế hộ gia đình lợi nhuận vì trồng rauthường cao hơn lúa 2 - 4 lần.
Hiện nay Thừa Thiên Huế có hơn 50/70 loại rau đã được điều tra ở ViệtNam Trong số đó được chia ra làm các nhóm rau chính như: nhóm rau ăn lá,nhóm rau gia vị, nhóm rau ăn quả, nhóm rau ăn hạt và nhóm rau ăn củ
Do phân bố không đều, diện tích chuyên canh nhỏ lẻ, manh mún, sản xuấtmang tính tự cấp theo vụ, năng suất không ổn định và bị thiên tai, dịch bệnh gâyhại cho bà con sản xuất rau Ngoài ra, do khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, thời tiếtthay đổi thất thường nên rau thường bị nhiều loại bệnh phát sinh và gây hạinặng, thường xuyên phải sử dụng thuốc hóa học Mặt khác, còn nhiều khó khănkhách quan và chủ quan trong quá trình sản xuất cũng như tiêu thụ mà ngườitrồng rau đang gặp phải như diện tích đất hẹp, manh mún, khó áp dụng các kỹthuật tiên tiến, khả năng đầu tư tùy theo điều kiện kinh tế hộ gia đình, rau bántrôi nổi trên thị trường, giá cả không ổn định dẫn đến hiệu quả kinh tế chưacao, không sản xuất thì thiếu, sản xuất nhiều thì thừa; việc quản lý sản xuất rau
an toàn khó kiểm soát các yếu tố gây ô nhiễm Trong lúc đó người tiêu dùngcũng chưa tin tưởng vào chất lượng rau an toàn nên chưa chấp nhận giá cả caohơn rau thường
2.4 Tình hình sử Vai trò của việc phun phân bón lá đối với cây trồng nói chung và cây xà lách nói riêng
Phân bón lá SFarm D01 là dung dịch thủy phân trùn quế tươi Acid amintrong dịch trùn quế SFarm D01 có nhiều loại: Alanine, Aspartic, Phenylalanine,Glutamic Acid… Nhờ có các acid amin này mà khi tưới dịch trùn quế, cây sẽ dễdàng hấp thu và hiệu quả nhanh hơn so với các loại phân bón thông thường Trong xu thế của nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới hiện nay, đòi hỏiviệc canh tác nông nghiệp gắn liền với môi trường và chất lượng nông sản caothì sự ứng dụng dịch trùn quế trong nông nghiệp là bước đi đúng đắn và bềnvững mang tính cách mạng vượt trội cho nền nông nghiệp Việc sử dụng dịchtrùn vừa nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, an toàn cho con người vàmôi trường Hiệu quả của dịch trùn thể hiện qua những tác dụng chính như sau:
Trang 22+ Thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp, trao đổi chất trong cây trồng.
+ Giúp cây khỏe mạnh và tăng khả năng chống chịu bệnh hại
+ Thúc đẩy quá trình thụ phấn, tăng khả năng đậu trái cho cây trồng
+ Thúc đẩy quá trình vận chuyển các nguyên tố khoáng trong cây trồng
+ Thúc đẩy hiệu quả cúa các loại thuốc BVTV thông qua khả năng bám dính
Từ những điều trên cho thấy, Dịch trùn quế có những ưu việt vượt trội so vớicác loại phân bón lá thông thường, chúng hoàn toàn sạch và thân thiện môitrường Góp phần phát triển nền nông nghiệp sạch và bền vững trong tương lai
2.5 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài
2.5.1 Cơ sở khoa học
Trong sản xuất nông nghiệp, để thu được năng suất cao ngoài các yếu tốgiống, đất đai, điều kiện khí hậu, thời tiết, kỹ thuật canh tác, thì phân bón là yếu
tố hết sức quan trọng quyết định hiệu quả sản xuất và năng suất cây trồng.Trong đất thiếu hay đủ dinh dưỡng sẽ quyết định đến năng suất và chất lượngsản phẩm của cây trồng Việc bón đầy đủ cho cây trồng sẽ mang lại năng suất vàsản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao
Về nhu cầu dinh dưỡng người dân thường bón lót phân chuồng và thúc cácbằng phân hóa học, đó là vấn đề đang rất được quan tâm Phân hóa học có thànhphần dinh dưỡng lớn tác động mạnh vì thế mà kể từ khi ra đời đã chiếm được sựtin tưởng của người dân Tình trạng lạm dụng phân hóa học ngày nay đã xảy rarất nhiều mà người dung không biết rằng những hậu quả mà nó đã để lại nhưlàm đất bạc màu, mất độ phì, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe conngười…v.v Trong những năm gần đây hiện tượng ngộ độc thường xuyên xảy
ra, đặc biệt là các loại rau do bị tồn dư các chất hóa học đang trở thành mối quantâm chung cho các nhà hoạch định chính sách Người quản lý sản xuất và đặcbiệt là người tiêu dùng
Nghiên cứu và so sánh ảnh hưởng của các liều lượng phân bón lá hữu cơlên cây xà lách, giúp chúng ta làm rõ ảnh hưởng của phân hữu cơ lên rau màunói chung và xà lách nói riêng Nghiên cứu cũng nhằm mang lại diện mạo mớicho ngành nông nghiệp của nước ta, nghành nông nghiệp sạch và an toàn khidùng phân hữu cơ cho trồng trọt
Trang 23Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất để đưa một loại phân bón hữu cơ mớithay thế cho phân bón trong sản xuất thì gặp rất nhiều khó khăn và đặc biệt trình
độ canh tác của nông dân và phong tục tập quán của họ khó thay đổi
Vì vậy, qua nghiên cứu này tôi muốn chứng minh phân bón hữu cơ đem lạinăng suất, chất lượng không thua kém so với các loại phân hóa học mà lại thânthiện với môi trường
2.3.2 Cơ sở thực tiễn
Sử dụng phân bón lá hữu cơ đang là xu hướng của phát triển nông nghiệp,
là dung dịch được chiết xuất hoàn toàn từ tự nhiên cung cấp đầy đủ các chấtdinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Không làm ảnhhưởng đến môi trường, an toàn với sức khỏe con người là những đặc tính nổi bậtcủa dung dịch dinh dưỡng hữu cơ
Thành phố Huế là nơi tiêu thụ rau xà lách nhiều nhất tại Thừa thiên Huế.Tuy nhiên do xà lách thường được bón phân theo cách truyền thống nên có khảnăng tồn dư lượng phân bón, cộng với việc sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệthực vật Điều đó đã dẫn đến chất lượng và tiêu chuẩn an toàn của cây xà láchvẫn chưa đáp ứng được nhu cầu Việc sử dụng phân bón lá hữu cơ là hướng đicho tương lai, an toàn cho người sử dụng, tiết kiệm chi phí phân bón, nâng caonăng suất và chất lượng cây trồng
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Giống thí nghiệm: Rau xà lách cuốn được trồng phổ biến ở phườngHương Long thành phố Huế Đây là giống F1 của công ty Trang nông có khảnăng thích ứng rộng, rất dễ trồng, không kén đất, ưa ẩm, có khả năng chịu rét,cho năng suất cao, phẩm chất tốt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng
- Phân bón lá SFarm D01
Phân bón lá hữu cơ SFarm D01 là dung dịch thủy phân trùn quế tươi Acidamin trong dịch trùn quế SFarm D01 có nhiều loại: Alanine, Aspartic,Phenylalanine, Glutamic Acid…
Trang 24Dịch trùn quế là sản phẩm có nguồn gốc hoàn toàn tự nhiên nên rất tốt chocân trồng Những lí do sau đây làm cho sản phẩm dịch trùn quế ưu việt hơn hẳn
so với các dòng sản phẩm đạm cá và phân bón lá khác:
+ Thủy phân hoàn toàn bằng enzyme thủy phân mà không dùng các EM( Effective microorganism ) Vì vậy, hàm lượng dinh dưỡng Đặc biệt là aminoacid cân đối, chứa đầy đủ 20 loại và cao gấp 04 lần so với phương pháp sử dụng
+ Trong gian đoạn kiến thiết cây, dịch trùn quế giúp cây tươi tốt, vươn chồi– đọt, lóng thân khỏe mạnh và xanh Trong giai đoạn nuôi trái, dịch trùn quếgiúp quả sáng bóng, chắc giem,…
+ Hạn chế hiện tượng suy cây sau thu hoạch
+ Do có nguồn gốc tự nhiên – sinh học nên không cần thời gian cách ly dài
và nghiêm ngặt như các loại phân bón lá có nguồn gốc hóa học khác
+ Dòng sản phẩm có bổ sung các muối chelate, giúp tăng khả năng hấp thụ
và khả năng cây sử dụng tuyệt đối
+ Dịch trùn quế đã khử mùi hôi, nên rất dễ sử dụng
Phân bón lá hữu cơ SFarm D01 là dung dịch thủy phân trùn quế tươi Acidamin trong dịch trùn quế SFarm D01 có nhiều loại: Alanine, Aspartic,Phenylalanine, Glutamic Acid…
Bảng thành phần acid amin trong dịch trùn quế SFarm D01 và vai trò đối với cây trồng
Tên
acid amin
Thành phần(%)
Chức năng
1 Alanine 0.34 Là amino acid chính có ích cho mô liên kết
và giúp cải thiện hệ miễn dịch, cho cây trồng vàcác mô khác lấy năng lượng từ các amino acid
Trang 25Aspartic
0.79 Acid giúp chuyển hóa (tinh bột) thành năng
lượng cho cây trồng Ngoài ra nó còn giúp tăngcường sức đề kháng và hạn chế lượng độc tốtrong cây sau mỗi năm
3
Phenylala
nine
0.2 Cải thiện sức mạnh của các mô liên kết, cải
thiện chứng viêm nhiễm, giúp tạo đề kháng vàgiúp cải thiện quá trình tự phục hồi cây, tái tạocho cây trồng già nua và kém phát triển
4
Glutamic
Acid
1.98 Cũng là một nguồn năng lượng, chất này
quan trọng cho các tế bào sinh trưởng của câytrồng và sự trao đổi chất amino acid
5
Isoleucine
0.24 Cải thiện sự phát triển và sự tập trung Đây
là nguồn nănng lượng quan trọng cho các cơquan như mạch dẫn, thân và tế bào…
6 Glycine 0.25 Giúp tổng hợp các amino acid khác Chất
này có thể giúp làm cân bằng sinh trưởng trongcây trồng
7
Ornithine
0.07 Giúp tạo hormone tăng trưởng, hỗ trợ quá
trình tái tạo, tăng cường sức miễn dịch và hỗ câytăng đề kháng sâu bệnh và các lọai nấm
8 Proline 0.16 Có ích cho mạch dẫn và các mô liên kết, tạo
nhiều năng lượng cho thân cành mập hơn và tạothêm tế bào mới
9 Serine 0.29 Giúp tái tạo năng lượng cho tết bào, giúp
ích cho sự phát triển đồng bộ và cải thiện sự traođổi chất nhanh và hiệu quả, giúp tăng khả năngmiễn dịch Taurine giúp giảm lượng hóa học tồn
dư trong cây trồng
10
Threonine
0.22 Các A min nói chung và riêng loại a amin
Threonine giúp ích cho cây tạo hormone tăngtrưởng, cải thiện hệ miễn dịch, tạo ra tế bào mới
và khỏe mạnh, và là một tiền thân của creatine.11
Tyrosine
0.14 Giúp tăng sự phát triển mạnh mẽ trong cây
và làm kéo dài sự sống cho hạt phấn, giúp tạohormone tăng trưởng, và là tiền thân củadopamine và epinephrine
12
Leucine
0.39 Được dùng làm năng lượng, và thậm chí
giúp giảm khả năng mất cân bằng trong cây
Trang 26Chất này còn giúp cây trồng tái tạo xanh tốt trẻhóa cho vườn cây và làm lành vùng da tổnthương cho cây trồng.
13 Valine 0.41 Dễ hấp thụ trong cây và được hấp thu trực
tiếp vào các bộ phận tế bào của cây
Giúp cây giải độc với một số loại hóa chất,hạn chế tác hại của vô cơ và thuốc BVTV, giúptạo diệp lục tố
14
Histidine
0.12 Được dùng trong điều trị cây bị vi rút và
khủng hoảng dinh dưỡng, nấm bệnh, ngộ độc vô
cơ, và các chứng viêm nhiễm khác Chất nàyquan trọng trong việc tái tạo các mô và tế bàomới cho cây trồng
15 Lysine 0.59 Có lợi cho thân cây và các mô liên kết Chất
này được dùng trong điều trị chứng rộp thân rễcây, và tiêu diệt nhiều loại virus khác Lysine còngiúp phát triển các cành và thân cây nhờ làm tănglượng collagen Khi sử dụng kết hợp với vitamin
C Lysine sẽ giúp cây trồng sử dụng ô xy hiệu quảhơn và hạn chế được tình trạng cây bị bệnh haykém phát triển
* Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí tại phường Hương Long,thành phố Huế
- Thời gian: từ tháng 3/2018 đến tháng 5/2018
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến các chỉtiêu sinh trưởng, thân lá của cây rau xà lách
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến năngsuất, phẩm chất của cây rau xà lách
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức nghiên cứu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Công thức thí nghiệm
Trang 27Bảo vệ
- Công thức thí nghiệm: gồm 5 CT
+ Công thức I (đ/c): Nền (phun nước lã không sử dụng phân bón lá )
+ Công thức II: Nền + SFarm D01 với nồng độ 25 l/ha
+ Công thức III: Nền + SFarm D01 với nồng độ 50 l/ha
+ Công thức IV: Nền + SFarm D01 với nồng độ 70 l/ha
+ Công thức V: Nền + SFarm D01 với nồng độ 100 l/ha
Nền thí nghiệm chung (tính cho 1ha): 5 tấn phân chuồng hoai mục + 200kg
vi sinh + 250 NPK (16-16-8)
- Cách phun phân SFarm D01
+ Pha loãng phân với nước để tưới
+ Tưới phân lên lá hoặc tưới dưới gốc cho cây
+ Khoảng cách: 5 – 7 ngày/ 1 lần tưới
Nên tưới vào sáng sớm, tránh tưới phân vào giữa trưa nắng hoặc buổi tối
3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 5 công thức trong đó có 1 công thức đối chứng Thínghiệm bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên RCBD (RandomizedComplete Block Design) với 3 lần nhắc lại Thí nghiệm được tiến hành ngoàiđồng ruộng
Trang 28Ghi chú: - I, II, III, IV, V là các công thức
- a,b,c là các lần nhắc lại.
3.3.3 Điều kiện thí nghiệm
- Đất thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí trên đất bằng phẳng, tầng canh tác10-20 cm, ruộng chuyên trồng rau (cải, xà lách, hành ) có thể chủ động tướitiêu
Cây trồng trước là cây rau như rau cải, hành
- Diễn biến thời tiết trong thời gian thí nghiệm
Thời tiết khí hậu là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến từnggiai đoạn sinh trưởng phát triển của cây trồng, do đó liên quan trực tiếp đếnnăng suất cây trồng Lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm là một trong những yếu tốquan trọng quyết định tới sự phát triển bền vững của cây trồng, chính vì vậy tìmhiểu diễn biến tình hình thời tiết của vùng giúp chúng ta tìm ra mối quan hệtương tác giữa các yếu tố thời tiết đến sự phát triển sinh trưởng của cây xà lách
để bố trí thời vụ hợp lý là điều kiện quan trọng để cây xà lách cho năng suất,chất lượng tốt nhất
Để tìm hiểu ảnh hưởng của thời tiết khí hậu đối với cây xà lách trong thờigian tiến hành thí nghiệm tôi đã thu thập số liệu về một số yếu tố khí tượng cơbản trong vụ Xuân 2018 của trạm khí tượng thủy văn Thừa Thiên Huế và đượctrình bày ở bảng sau
Bảng 3.1 Diễn biến khí hâu, thời tiết vụ Xuân 2018 tại Thừa
Giờnắng(h)
Giócấp
Trang 2904/2018 25,6 29,7 21,4 87 208,4 179 4
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn – Thừa Thiên Huế) [8]
- Trong tháng 02/2018: Thừa Thiên Huế chịu ảnh hưởng của 04 đợtkhông khí lạnh và không khí lạnh tăng cường Nên nhiệt độ và lượng mưa đềuthấp hơn trung bình nhiều năm Theo số liệu thời tiết tháng 2 cho thấy nhiệt độtrung bình đạt 19,8°C Độ ẩm không khí khá cao đạt trên 90% đây là điều kiệnkhông thuận lợi cho quá trình phát triển của xà lách Trong tháng tại khu vựcchịu ảnh hưởng của một số đợt không khí lạnh đã gây mưa và nhiệt độ xuốngthấp ở một số ngày trong tháng nên gây bất lợi cho quá trình sinh trưởng củacây
- Trong tháng 03/2018: Thời kỳ đầu tại khu vực chịu ảnh hưởng của 01đợt không khí lạnh Thời kỳ giữa và cuối chịu ảnh hưởng của áp thấp nóng phíatây gây ra và 03 đợt gió tây khô nóng Nền nhiệt độ và lượng mưa trong tháng
ở mức xấp xỉ trung bình nhiều năm Nền nhiệt độ tăng lên, nhiệt độ trung bình23,7°C, lượng mưa giảm còn 20,8mm Thời gian này khí hậu là không thuậnlợi cho cây xà lách sinh trưởng và phát triển
- Trong tháng 4/2018 nhiệt độ tương đối ổn định trung bình 25,6oC, nhiệt
độ cao nhất là 29,7oC Ở giai đoạn này lượng mưa tăng đến 208,4mm; số giờnắng là 179; độ ẩm trung bình 87%
Nhìn chung, khí hậu thời tiết trong vụ Xuân 2018 tại Thừa Thiên Huế
không thuận lợi cho cây xà lách sinh trưởng phát triển và cho năng suất
Trang 30cm, rãnh luống 20 – 25 cm.
- Chọn xử lý giống:
Giống xà lách địa phương có khả năng thích ứng rộng, giống được xử lý
và gieo trước khi trồng 15 – 20 ngày Làm đất để gieo cũng giống như làmđất để cấy, cũng có thể gieo trong chậu
Chọn cây trồng 3 – 5 lá, cây to, mập , không sâu bệnh, bộ rễ khỏe và pháttriển đồng đều
- Bón phân:
Bón lót phân chuồng hoai mục 5 tấn/ha và 250kg NPK (16-16-8), 400 kgvôi bột, 200 kg lân vi sinh, bón toàn bộ vào buổi sáng sau đó lấp đất lại độsâu lấp đất là 5cm, buổi chiều tiến hành lên luống rồi trồng cây ngay rồi tướinước nhẹ, đều lên mặt luống bằng bình ô roa
Sau khi trồng hồi xanh 7 ngày bắt đầu phun phân bón lá, phun sau trồng 7ngày, 14 ngày và 21 ngày
- Giống trồng:
Giống xà lách địa phương có khả năng thích ứng rộng Chọn cây trồng 4– 5 lá, cây to, mập , không sâu bệnh, bộ rễ khỏe và phát triển đồng đều Khinhổ xà lách đi trồng thì tưới ướt đẫm, hạn chế tối đa đứt rễ
- Mật độ trồng:
Bố trí khoảng cách thích hợp để cây trải đều và sử dụng tốt ánh sáng,tăng hiệu suất quang hợp, khả năng vận chuyển và tăng chất khô trong rau.Mật độ trồng cây cách cây 20 cm, hàng cách hàng 20 cm (20 x 20) mật độđạt 25 cây/m2
Trang 31- Kỹ thuật trồng:
Dụng cụ là bay nhỏ dài 15 cm, bản rộng 3 – 4 cm Lỗ trồng sâu 3,5 – 4 cmđưa cây xuống sau đó ấn nhẹ vào gốc cho cây khỏi bị lung lay, kích thích cây
ra rễ mau, theo kinh nghiệm của người trồng hì trồng bằng tay bới đất trồng
là phương pháp vừa nhanh vừa hiệu quả cao
- Chăm sóc sau trồng:
Sau khi trồng 4 – 6 ngày cây đã bén rễ hồi xanh thì tiến hành dặm những cây
đã chết và thay những cây bị sâu bệnh bằng những cây to khỏe để sinhtrưởng kịp thời với cây đã trồng trước, đối với cây trồng dặm do khả năngphát triển chậm hơn cây trước do khi nhổ cây, cây dặm phải có bầu nhỏ đểhạn chế tổn thương rễ, giúp cây nhanh bén rễ hồi xanh
- Tưới nước:
Sau khi trồng xong tưới nước ngay, tưới 1 – 2 lần/ngày tùy độ ẩm của đất,dùng ô roa để tưới phun mưa, chỉ tưới buổi sáng và chiều, không tưới buổitrưa
Làm cỏ, xới xáo nhẹ tầng đất mặt khi chưa giao tán giúp bộ rễ phát triểnmạnh ăn lên tầng mặt để lấy dinh dưỡng
Các biện pháp kỹ thuật khác được áp dụng đồng đều và thích hợp
3.3.5.Các chỉ tiêu theo dõi
* Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cây:
- Thời gian sinh trưởng và phát triển của rau (ngày): Tính thời gian từ khicấy cây đến thu hoạch Bao gồm các giai đoạn:
Thời gian từ lúc trồng đến bén rễ hồi xanh
Trang 32Thời gian từ lúc trồng đến trải lá
Thời gian từ lúc trồng đến giao tán
Thời gian từ lúc trồng đến thu hoạch
- Theo dõi chiều cao cây (cm): Tiến hành đo chiều cao cây từ mặt đất tựnhiên đến mút lá cao nhất
- Theo dõi số lá (lá): Số lá xác định từ lúc cây bén rễ hồi xanh
- Theo dõi đường kính tán cây (cm): Tiến hành đo đường kính tán tại điểmcây có đường kính tán lớn nhất
- Theo dõi kích thước lá: Đo chiều dài và chiều rộng lá lớn nhất
- Các chỉ tiêu về chiều cao và đường kính tán, kích thước lá được đo 7ngày/lần (các ngày thứ 7, 14, 21, 28 đến khi thu hoạch) tiến hành đo mỗi ô 5cây theo đường chéo góc Dùng thước có vạch chia mm
- Động thái ra lá của cây xà lách (lá/cây): Đếm số lá trên cây, mỗi ô lấy 5cây ngẫu nhiên theo đường chéo góc
- Tình hình sâu bệnh:Theo dõi tình hình sâu bệnh từ lúc trồng cho đến khithu hoạch các công thức Thống kê các loại sâu bệnh hại trong thời gian đó (nếucó)
* Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất:
- Khối lượng tươi xà lách (g/cây): Mỗi CT cân 3 mẫu, đem sấy ở nhiệt độ
35oC trong khoảng 2 tiếng, sau đó sấy ở nhiệt dộ 70oC cân đến khới lượngkhông đổi
- Khối lượng khô xà lách (g/cây): Sau khi cân khối lượng tươi đem vào sấytrong tủ ở nhiệt độ 105oC trong 14 giờ cho đến khi khối lượng không đổi đem racân, để đảm bảo chính xác mỗi cây cân lại 3 lần rồi lấy trung bình
- Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = Mật độ cây/m2 × trọng lượng trung bìnhcủa cây x 10.000 (quy đổi ra ha)/1.000.000 (quy đổi ra tấn)
- Năng suất thực thu (tấn/ha): Năng suất thu được trên thực tế ở mỗi ô thínghiệm rồi tính trung bình mỗi CT (tính cho 1 m2 từ đó tính cho ha)
Cách làm: Cân toàn bộ khối lượng rau thu được/ô chia cho tổng diện tíchtrồng của ô đó ta được năng suất của 1m2 Mỗi CT tính riêng 3 lần nhắc lại sau
Trang 33đó cộng năng suất/m2 của 3 lần nhắc lại chia cho 3 ta được năng suất trung bình/
m2 của một CT rồi tính cho ha
- Năng suất sinh vật học (tấn/ha) = tổng trọng lượng tất cả các cây tính cả 3phần thân, lá, rễ
* Chỉ tiêu về phẩm chất rau:
Đánh giá bằng trực quan và cảm quan
- Hiệu quả kinh tế (đ/ha)
Hiệu quả kinh tế = tổng thu – tổng chi (đ/ha)
Tổng thu = NSTT (kg/ha) x giá bán 1 kg (đ/ha) (tại thời điểm thu thínghiệm)
Tổng chi = Công lao động + tiền phân bón + tiền thuốc BVTV + tiền vôi(tính theo giá tại thời điểm thí nghiệm)
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến thời gian sinh trưởng của cây xà lách
Thời gian sinh trưởng của xà lách phụ thuộc vào đặc tính di truyền củagiống là chủ yếu Tuy nhiên cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng,khí hậu
Qua quá trình nghiên cứu và xử lý số liệu về thời gian sinh trưởng của câycủa xà lách từ các công thức thí nghiệm, tôi thu được kết quả ở bảng sau:
Trang 34Bảng 4.1 Thời gian sinh trưởng của xà lách trong các công
thức thí nghiệm (ngày)
CT
Thời gian từ trồng đếnHồi
xanh Trải lá Giao tán
Thuhoạch
+ Giai đoạn từ trồng đến hồi xanh:
Giai đoạn từ trồng đến hồi xanh có sự khác nhau ở các công thức cụ thể:hai công thức II và III có thời gian hồi xanh nhanh nhất do cây con được trồngtrong đất độ ẩm và hàm lượng chất hữu cơ cao nên kích thích rễ ra nhanh hơnlàm cho cây hồi xanh nhanh Ở các công thức còn lại biến động từ 1- 2 ngày do
bộ rễ của cây đang bị tổn thưởng do nhổ cây con để trồng nên cây bị mất nước
+ Giai đoạn từ trồng đến trải lá:
Sau khi bén rễ hồi xanh, cây bắt đầu sinh trưởng phát triển Thời gian nàycủa xà lách ở các công thức bắt đầu có sự khác nhau Trong đó tất cả các côngthức phun SFarm D01 đều có thời gian trải lá sớm hơn công thức đối chứngphun nước lã, sớm nhất là công thức II và công thức III (9 ngày) sớm hơn so vớiđối chứng 3 ngày, tiếp theo là công thức IV, V (10 ngày) sớm hơn đối chứng 1ngày
+ Giai đoạn từ trồng đến giao tán:
Cây trồng hồi xanh sớm, sinh trưởng tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy cây nhanhchóng bước vào thời kỳ trải lá, thời kỳ này ảnh hưởng lớn đến giai đoạn giaotán Qua thí nghiệm tôi thấy các công thức có thời gian từ trồng đến khi cây giaotán chênh lệch nhau từ 1 – 3 ngày Công thức thức II có thời gian giao tán ngắnnhất chỉ 14 ngày sau gieo Công thức III và IV có thời gian giao tán là 15 ngày,sau đó đến công thức V và thời gian giao tán dài nhất là công thức I với 17 ngàysau trồng
Trang 35+ Giai đoạn từ trồng đến ngày thu hoạch:
Đây là thời gian hoàn thành quá trình sinh trưởng của cây xà lách
Công thức II và công thức III có thời gian bắt đầu trải lá và giao tán sớmhơn các công thức khác 1 - 3 ngày nên tổng thời gian sinh trưởng của 2 côngthức này có thể sớm hơn các công thức khác 1 - 3 ngày Tuy nhiên ở thí nghiệmnày, tôi tiến hành thu hoạch cùng một thời điểm
4.2 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây xà lách
Sinh trưởng là quá trình xảy ra trong suốt chu kỳ sống của cây Trong quátrình sống nếu gặp điều kiện thuận lợi và chế độ canh tác hợp lý sẽ thúc đẩy quátrình sinh trưởng phát triển của cây tốt hơn Sự sinh trưởng của các cơ quan trênmặt đất có quan hệ mật thiết và cho năng suất Vì vậy, việc theo dõi các chỉ tiêusinh trưởng của xà lách là rất quan trọng, cho phép sơ bộ đánh giá khả năng chonăng suất của cây xà lách
Thân lá là những bộ phận tạo hình dáng của cây xà lách đồng thời ảnhhưởng đến năng suất sau này cao hay thấp Vì vậy, sự ra sớm, đủ và sinh trưởngtốt là cơ sở cho năng suất cao Sự sinh trưởng của thân lá biểu hiện rõ các chỉtiêu: Chiều cao cây, số lá, chiều rộng lá, chiều dài lá và đường kính tán của cây.Các chỉ tiêu này chịu sự chi phối của điều kiện sống như thời tiết, khí hậu và đặcbiệt là chịu ảnh hưởng bởi hàm lượng dinh dưỡng cung cấp cho cây
4.2.1 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái tăng trưởng chiều cao cây xà lách
Chiều cao cây là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởngphát triển và cho năng suất, đồng thời nó phản ánh khả năng tổng hợp và tíchlũy chất hữu cơ trong cây Cây sinh trưởng tốt sẽ có chiều cao thích hợp, cân đốigiữa từng thời kỳ Cũng như các chỉ tiêu sinh trưởng khác, chiều cao cây biểuhiện sức sống, sự gia tăng tế bào Chiều cao tăng nhanh chứng tỏ số lượng tếbào tăng nhanh, là cơ sở tăng năng suất sau này Phát triển chiều cao cây nhằmtạo ưu thế cho quá trình quang hợp, tích lũy chất khô, có liên quan đến khả năng
ra lá và chống đổ Chiều cao cây là một đặc tính di truyền, tuy nhiên nó cũngtùy thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và các biện pháp kỹ thuật tác động trong quátrình sinh trưởng Cây sinh trưởng trong điều kiện đủ nước và dinh dưỡng, chiều
Trang 36cao cây tăng lên dẫn đến các yếu tố khác tăng theo và sẽ đạt năng suất cao hơn,phẩm chất tốt hơn.
Chiều cao cây xà lách có ý nghĩa quan trọng và quyết định đến năng suất.Chiều cao cây càng ngắn, số lá trên cây càng nhiều Nhưng ngược lại chiều caocây càng dài thì mắt đốt càng thưa, số lá trên cây càng ít, năng suất sẽ thấp Nếuchiều cao cây quá cao lúc đó cây bị ngồng Kết quả thể hiện ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến
động thái tăng trưởng chiều cao cây xà lách (đơn vị: cm)
Qua bảng cho chúng ta thấy khi phun SFarm D01 thì có ảnh hưởng khácnhau đến chiều cao của cây xà lách trong giai đoạn sinh trưởng
- Giai đoạn 10 ngày sau trồng: Đây là khoảng thời gian cây bắt đầu bén
rễ và bám chặt vào đất, chiều cao cây tăng chậm, nhưng đây là thời kỳ quantrọng quyết định khả năng sống và khả năng tăng trưởng cho năng suất của câysau này Chiều cao cây dao động trong khoảng 6,90 – 9,63 cm/cây, các côngthức phun dịch trùn quế SFarm D01 đều cho chiều cao lớn hơn so với đối chứng
từ 0,73 – 2,73 cm/cây Công thức V có chiều cao cây lớn nhất (9,63cm/cây) tăng
so với đối chứng là 2,73cm Công thức II và I (đ/c) không có sự sai khác
- Giai đoạn 15 ngày sau trồng: Đây là thời kỳ cây bắt đầu phát triển thân,
lá nên qua theo dõi tôi thấy giữa các công thức có sự sai khác nhau Cụ thể,chiều cao cây ở công thức V cao hơn các công thức còn lại ở mức ý nghĩa =0,05 và cao hơn so với đối chứng là 4,46 cm Ở công thức II, chiều cao cây có
Trang 37sai khác với công thức đối chứng nhưng không có ý nghĩa thống kê Các côngthức III, IV, V sai khác với nhau và có ý nghĩa thông kê.
- Giai đoạn 20 ngày sau trồng: Đây là thời kỳ phát triển thân, lá mạnh và
giai đoạn trải lá thì chiều cao cây của các công thức có sự chuyển biến rõ rệt đặcbiệt công thức V cho chiều cao cây cao hơn với các công thức khác, đạt 16,60
cm có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05 và cao hơn đối chứng là 3,10 cm, thấpnhất là chiều cao ở công thức I (đ/c)
- Giai đoạn thu hoạch: Chiều cao cây đạt cao nhất ở công thức V và thấp
nhất ở công thức I, dao động từ 17,50- 23,00 cm Các công thức đều có chiềucao lớn hơn so với đối chứng từ 0,47 – 5,5 cm
Qua phân tích thống kê cho thấy chiều cao cây xà lách có sự sai khác khiphun liều lượng SFarm D01 khác nhau Kết quả cũng chỉ ra rằng, chiều cao câytăng lên khi tăng liều lượng
Để hiểu rõ hơn về động thái tăng trưởng chiều cao cây của xà lách tại cáccông thức thí nghiệm, ta có thể tham khảo đồ thị sau:
0 5 10 15 20 25
I (ĐC) II III IV V
Biểu đồ 4.1 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01
đến động thái tăng trưởng chiều cao cây xà lách
Qua biểu đồ 4.1 ta thấy, giai đoạn 10 - 15 ngày sau trồng cây xà lách cótốc độ tăng trưởng chậm, sau đó tăng dần trong giai đoạn 15 – 20 ngày sau
Trang 38trồng Từ giai đoạn 20 ngày trở đi tốc độ phát triển chiều cao cây chậm dần.Điều này phù hợp với quy luật phát triển của cây xà lách.
Hình trên cũng cho thấy, công thức V có chiều cây cao lớn nhất, tiếp đến
là các công thức có nồng độ phun thấp hơn Công thức I(đ/c) có chiều cao câynhỏ nhất
4.2.2 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái ra lá cây xà lách
Đối với tất cả các loại cây trồng, lá đóng vai trò cực kì quan trọng trongquá trình sinh trưởng, phát triển Chúng tham gia vào quá trình quang hợp tổnghợp nên chất hữu cơ ngoài ra lá có nhiệm vụ thoát hơi nước điều hòa thân nhiệt,đặc biệt đối với những cây rau ăn lá như xà lách, lá có vai trò quyết định năngsuất và phẩm chất rau
Động thái ra lá của xà lách phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thời tiết khíhậu, đất đai, chế độ chăm sóc, đặc tính di truyền của giống
Qua quá trình theo dõi động thái tăng trưởng số lá của xà lách, chúng tôithu được kết quả ở bảng sau:
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến
động thái ra lá của cây xà lách (đơn vị: lá/ cây)
Trang 39- Giai đoạn 10 ngày sau trồng: Trong giai đoạn này, do sự chênh lệch
giữa các cây đưa ra cấy về số lá, đồng thời bộ rễ của cây phát triển chưa hoànthiện, một số cây được dặm chưa kịp hồi xanh nên giữa các công thức thínghiệm có sự sai khác có ý nghĩa so với công thức đối chứng Trong đó côngthức V được phun với nồng độ cao (liều lượng phun 100l/ha) số lá đạt lớn nhất4,00 lá, công thức I(đ/c) đạt 3 lá, thấp nhất trong các công thức thí nghiệm
- Giai đoạn 15 ngày sau trồng: Kết quả theo dõi cho thấy, số lá ở các
công thức chênh lệch nhau không đáng kể và không có sự sai khác Cao nhất làcông thức V Trong đó số lá dao động từ 6,00 – 7,33 lá/cây
- Giai đoạn 20 ngày sau trồng: Qua sử lý thống kê tôi nhận thấy, giai
đoạn này thì số lá/cây ở các công thức phun với nồng độ khác nhau sai khác có
ý nghĩa, điều này cho thấy phân bón lá SFarm D01 đã có tác động tích cực tới
sự phát triển lá của cây xà lách Công thức V đạt 10,67 lá/cây, sai khác hoàntoàn so với công thức II Công thức III và IV không có sự sai khác và saikhác không có ý nghĩa thống kê so với công thức I
- Giai đoạn thu hoạch: Giai đoạn này cây phát triển ổn định, kết thúc quá
trình giao tán bắt đầu thu hoạch nên số lá/ cây cũng ổn định Qua sử lý thống kêchúng tôi nhận thấy giữa các công thức không sai khác nhau
Để hiểu rõ hơn về động thái ra lá của cây xà lách tại các công thức thínghiệm, ta có thể tham khảo biểu đồ sau:
Trang 40Biểu đồ 4.2 Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01
đến động thái ra lá của cây xà lách
Qua biểu đồ 4.2 ta thấy, giai đoạn 10 – 15 ngày sau trồng cây xà lách cótốc độ ra lá chậm, sau đó tăng dần trong giai đoạn 15 – 20 ngày sau trồng Từgiai đoạn 25 ngày trở đi đến khi thu hoạch tốc độ ra lá chậm dần Điều này phùhợp với quy luật phát triển của cây xà lách
Công thức V có số lá lớn nhất đạt 15,67 lá cao hơn so với công thứcI(đ/c) phun 100% nước lã chỉ đạt 14,67 lá Nhưng các công thức không có sựsai khác
So sánh giữa bảng 4.2 và 4.3 cho thấy ở liều lượng phun SFarm D01100l/ha thì cây có chiều cao lớn nhất nhưng số lá không cao hơn các công thứckhác Như vậy, ở thời kỳ giao tán và thu hoạch cây sẽ vống cao, ít lá Ở côngthức đối chứng thì cây có chiều cao thấp nhưng số lá lại nhiều, điều này làm chocây ở giai đoạn thu hoạch bị lùn, dễ bị sâu bệnh